Friday, 19 June 2026

YÊU CHÚA TRÊN HẾT

 Anh chị em thân mến, 

Trong bài Tin Mừng tuần trước, Đức Giê-su đã khuyên các môn đệ đừng sợ mà hãy can đảm thi hành sứ mạng truyền giáo, cho dù phải hy sinh mạng sống thì cũng đừng lo, bởi vì cuộc sống của người môn đệ chân chính là của Chúa và thuộc về Chúa. 

Tin mừng hôm nay là phần kết luận bài giảng truyền giáo của Đức Giê-su. Trong đó, Người đưa ra các tiêu chuẩn mà người môn đệ của Nước Trời cần phải có. Qua Bí Tích Thánh Tẩy chúng ta đã trở thành tín hữu của Chúa và là thành viên của Hội Thánh. Vì thế, việc rao giảng Nước Thiên Chúa là bổn phận. Tuy là như thế, nhưng không phải người tín hữu nào cũng là môn đệ chân chính của Đức Giê-su cả đâu! Có sự khác biệt giữa người môn đệ chân chính và người chỉ khoác trên mình bảng hiệu Ki-tô hữu. 

Căn cứ vào những gì mà Đức Giê-su dậy bảo hôm nay, chúng ta nhận thấy điều kiện để trở thành môn đệ của Chúa không lệ thuộc vào các việc như: tuân giữ các giới răn, siêng năng cầu nguyện, lĩnh nhận các Bí Tích, hăng say tham gia công tác trong xứ đạo và những việc đạo đức khác nữa. 

Vẫn biết rằng, tất cả các điều kể trên là bổn phận của người môn đệ, và chúng ta thật có lỗi nếu không thực hiện các điều này. Nhưng các tiêu chuẩn mà Chúa dành cho các môn đệ hôm nay đòi hỏi chúng ta cần có một chọn lựa, thứ chọn lựa đòi hỏi sự hy sinh. Đây không phải là điều dễ dàng. Bởi vì, yêu sách của Đức Giê-su đưa ra hôm nay rất quyết liệt, khó thực hiện, đòi hỏi người môn đệ phải có thái độ sẵn sàng để dứt bỏ. 

Chúng ta cùng nhau nghe lại điều Chúa phán: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.” (Mt 10: 37) Tình Yêu Chúa của người môn đệ phải vượt lên trên tất cả mọi thứ tình yêu khác. Đức Giê-su đã nói thêm rằng chúng ta phải yêu Chúa hết tâm hồn, hết trí khôn và hết sức mình. Nói chung, yêu Chúa trên hết mọi sự. Yêu Chúa như Chúa yêu. Yêu Chúa rồi làm như Chúa đã dậy trong Bữa Tiệc Ly. Người cầm bánh, dâng lời chúc tụng rồi bẻ ra và trao cho các môn đệ rồi phán “Này là Mình Thầy.” Tình yêu của Đức Giê-su là của lễ hiến dâng lên Cha, rồi trao ban cho các môn đệ. Tất cả cử chỉ của Chúa như hiến dâng, bẻ ra, trao ban đều là các tiêu chuẩn mà các môn đệ của Chúa phải áp dụng. 

Thưa anh chị em,

Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta hãy hồi tâm để xem chúng ta yêu Chúa đến độ nào, có yêu Chúa trên hết mọi sự không? Bởi vì, chỉ có can đảm nhìn nhận, chúng ta mới biết mình là ai? Có phải là môn đệ chân chính của Chúa hay là cứ mãi sống dưới nhãn hiệu của người tín hữu, và các điều cần làm để vui lòng Chúa thì lại bỏ quên.

Để xứng đáng là môn đệ của Chúa, chúng ta phải cố gắng xây dựng và thay đổi nơi chúng ta đang sống thành nơi mà mọi người cùng được nuôi dưỡng và lớn lên trong Tình Yêu Chúa. Và như thế thì mọi mối tương quan mà chúng ta đang xây dựng như vợ chồng, con cái, bạn bè, thân hữu, v.v… đều được đặt trên nền tảng và cùng qui hướng về Tình Yêu Chúa.

Do đó, chúng ta phải nhìn nhận rằng nếu tình yêu của chúng ta dành cho Chúa không quan trọng và chưa lớn hơn tất cả thứ tình yêu khác thì chúng ta làm sao có thể dâng tất cả những sự thuộc về mình cho Chúa được? Làm sao đặt Chúa lên trên mọi sự như thời gian, công sức, tài năng và tiền của cho Người được?

Làm sao chúng ta có thể nói rằng tôi yêu Chúa hơn mọi sự, trên tất cả mọi thứ mà lại không có thời gian để tâm sự với Người. Hơn thế nữa, thời giờ là của Chúa ban cho! 

Dựa vào kinh nghiệm trong cuộc sống, khi yêu nhau là muốn ở bên nhau. Có nhiều đôi bạn trẻ đã chia sẻ rằng họ chỉ mong ở bên nhau, thậm chí chẳng biết và chẳng có chuyện gì để nói. Giống như thế, im lặng để nhìn ngắm Chúa và lắng nghe tiếng Chúa là phương thế cầu nguyện tốt nhất. Anh chị và tôi là những người thật xứng đáng là môn đệ của Chúa, nhưng chúng ta đã yêu Chúa bằng cách dùng thời gian theo ý Chúa hay chưa?

Cùng một cách như thế, chúng ta hãy tự hỏi tôi đã xử dụng khả năng mà Chúa trao ban như thế nào? Để xây dựng công ích, mưu cầu ích lợi chung hay là ích kỷ dùng cho riêng gia đình mình mà thôi.

Tiến xa hơn một bước và cũng thật là khó khăn khi chúng ta đề cập đến việc xử dụng tiền bạc. Vấn đề này rất tế nhị. Bởi vì tiền của gắn liền với sinh hoạt hàng ngày của chúng ta. Trên thực tế, tôi biết rằng có nhiều anh chị em tỏ vẻ chán nản và thất vọng khi nghe linh mục nói đến tiền. Thậm chí, có nhiều người không muốn đến Nhà Thờ vì chẳng nghe được những lời giáo huấn từ cha xứ, thay vào đó chỉ nghe đề cập đến nhà xứ thiếu chỗ này, hụt chỗ kia… tiền ơi là tiền.

Quả thật, bản thân tôi rất ngại khi đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, chúng ta cần phải đối diện với thách đố là chúng ta đã yêu Chúa và đặt Chúa trên mọi nhu cầu và mãnh lực mà tiền bạc có thể chi phối cuộc sống của chúng ta hay chưa? Như chúng ta thường nghe nói “tiền bạc là ông chủ xấu nhưng lại là một đầy tớ tốt”. Vì thế, anh chị em hãy tự vấn mình đã coi tiền của như phương tiện mà Chúa ban để xây dựng công ích hay lại tôn nó lên vai trò của một ông chủ điều khiển cuộc sống mình. 

Người môn đệ chân chính của Chúa hãy học nơi Người lòng quảng đại và tinh thần bác ái trong việc xử dụng tiền của. 

Khi suy niệm và trình bầy mấy điểm nói trên, tôi chợt nhớ đến đời sống và gương sáng của Thánh Nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su. Hành trình đời sống của Ngài chỉ vỏn vẹn 24 năm. Ngoài thời gian thơ ấu sống trong sự bao bọc của cha mẹ, thời gian còn lại Ngài sống trong đan viện của Dòng Kín Ca-mê-lô. Cuộc sống nghèo, chẳng có nhiều tiền để cho ai. Công việc của Ngài thật âm thầm, lo việc trong nhà. Thế mà công trạng của Ngài lại được sánh ngang hàng với Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e bôn ba khắp nơi để truyền giáo. Bởi vì Thánh Nữ đã yêu Chúa bằng cả cuộc đời. Mọi việc Ngài làm, mọi cử chỉ và mọi lời Ngài nói đều phát sinh từ tình yêu mà Ngài dâng tặng cho Chúa để cầu nguyện cho việc truyền giáo.

Giống như Chúa, noi gương Thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, chúng ta phải yêu Chúa trên hết mọi sự, chọn Chúa trước khi chọn lựa các điều khác. Trong cử chỉ, lời nói và việc làm của cuộc sống, chúng ta đừng hỏi tôi muốn gì mà là Chúa muốn gì. Đây không phải là điều dễ làm. Chúa biết rõ nỗi khó khăn mà chúng ta sẽ gặp phải. Vì thế, sau khi đưa ra các điều kiện đòi hỏi người môn đệ cần có, Chúa đã phán tiếp: ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng làm môn đệ của Thầy.

Tóm lại, trên hết mọi sự và trong tất cả, chúng ta hãy yêu Chúa trước. Tình yêu Chúa bao hàm việc hy sinh, từ bỏ và dâng hiến. Tình yêu đáp trả mà chúng ta có được cũng xuất phát từ Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu chúng ta trước. Người yêu con người đến nỗi đã gửi người Con duy nhất, hiến mạng sống của người Con làm quà tặng ban cho chúng ta sự sống đời đời.

Một lần nữa, chúng ta tin vào sự hiện diện của Chúa Phục Sinh trong Bí Tích Thánh Thể mà chúng ta đang cử hành. Đây là quà tặng tình yêu của Thiên Chúa thể hiện trong Thánh Lễ này. Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy, nhớ đến thân xác của Thầy đã hy sinh làm của ăn nuôi sống chúng ta. 

Trước khi đón nhận Mình Chúa, chúng ta thú nhận mình bất xứng. Và sau đó mới đón nhận thân xác Người và được biến đổi để xứng đáng thành người môn đệ của Chúa, và giống như Chúa chúng ta sẽ nỗ lực yêu thương và nuôi sống nhau.

Tình Yêu là thế. Chỉ có ai yêu mến Chúa hơn mọi thứ tình trên trần gian này mới thật là người môn đệ của Chúa và sẽ làm được các việc như Chúa đã làm. Amen! 


ĐỪNG SỢ! HÃY TIN

 Click for audio ĐỪNG SỢ! HÃY TIN

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay vỏn vẹn chỉ có 7 câu, thế mà ba lần Đức Giê-su đã nhắn nhủ các môn đệ “anh em đừng sợ”. Đức Giê-su biết rằng nỗi sợ hãi gắn liền với cuộc sống của chúng ta, đến nỗi có một số người quả quyết rằng đời sống của con người bao gồm một chuỗi ngày của sự sợ hãi! Giờ đây, chúng ta lần lượt xem qua:

Khi còn bé chúng ta sợ bóng tối, sợ ma.

Lớn hơn một tý, chúng ta sợ bị bắt nạt, sợ bị chê là học dốt, sợ bị chê xấu.

Đến tuổi mới lớn, chúng ta sợ bị áp lực, sợ không dám đối diện với thất bại, sợ bị chê mập hay xấu, sợ bị tai tiếng, sợ không bằng chúng bạn… Nhiều nỗi sợ hãi vu vơ khiến con người mất ngủ, thậm chí bị trầm cảm… 

Chúng ta nghĩ rằng đến tuổi trưởng thành các nỗi sợ hãi sẽ dừng lại. Nhưng, đến tuổi lớn khôn, chúng ta lại có nhiều nỗi lo sợ khác. Sợ cuộc sống thiếu an toàn vì những điều không may có thể xẩy đến nên mua bảo hiểm, sợ tương lai xấu, sợ con cái hư hỏng, sợ bị mất việc, sợ tai ương ập đến khiến cuộc sống bị bế tắc, sợ khủng bố, sợ chết, v.v…

Dân công giáo thì sợ bị cám dỗ, sợ tội, sợ bị sa hỏa ngục, sợ bị Chúa phạt. 

Mỗi người chúng ta đều có nỗi lo sợ riêng, sợ chính mình và sợ nhau nữa.

Anh chị em thử tuởng tuợng sống trong một trạng thái sợ hãi như thế thì cuộc sống sẽ ra sao? Sau đây là một vài kinh nghiệm thực tế mà chúng ta có thể đã trải qua.

Cách đây khoảng hơn chục năm, có một lần tôi đuợc diễm phúc nghe tâm tình của một vị có thẩm quyền chuyên lo về giáo dục cho một nhóm trẻ tại Việt Nam. Ông phân tích về hiện tuợng của thế hệ trẻ sống tại quê nhà. Theo sự nhận xét của ông thì những người trẻ hiện nay, đăc biệt những cháu mà ông có trách nhiệm đào tạo và huớng dẫn, đang sống trong trạng thái nghi ngờ và sợ nhau. Nguyên nhân gây ra hiệu quả này là các cháu được sinh ra và lớn lên trong một môi trường mà trong đó hệ thống ‘gài nguời’ làm ăng-ten (antenna) quá tinh vi, đã cắm rễ sâu trong mọi tổ chức. Để giải quyết cho vấn nạn này, ông và các bạn đồng hành cố gắng đào tạo một thế hệ trẻ biết tin tưởng nhau hơn. Và, để thực hiện điều này, ông cho phép những người trẻ mà ông đang huớng dẫn có dịp nói lên những suy tư và ý nghĩ của họ. Sau khi họ phát biểu; thay vì lắng nghe, ông và các bạn lại lựa những người đã có những ý tưởng nguợc lại với ông và khai trừ họ khỏi tổ chức. Vì sợ mất quyền nên ông đã khai trừ lớp trẻ mà Thiên Chúa đã trao cho ông chăm sóc!

Sự cố nói trên xẩy ra trong môi trường giáo dục, còn đời sống thường nhật trong gia đình thì sao. Có những ông chồng may mắn có đuợc vợ đẹp con khôn. Thay vì tin tuởng lại sợ người phối ngẫu và các con vuột khỏi tầm tay của mình, nên ông đã có lối hành xử thống trị, kiểm sóat khiến cho gia đình thành ngục tù với bầu khí đầy thê luơng và tang tóc…Từ đó, ai cũng sợ và né ông, và sợ nhau nữa. Cuối cùng thì điều ông sợ đã biến thành sự thật: gia đình tan vỡ chỉ vì sợ mà đánh mất đi hai yếu tố căn bản của gia đình là tin tưởng và yêu thương nhau.

Thêm nữa là chuyện của các đấng các bậc. Có tu sĩ hay linh mục, chỉ vì sợ mối tuơng quan giữa họ và Thiên Chúa, giữa họ và tha nhân bị phai lạt. Để bù đắp họ tìm mọi phuơng thức để thành công hầu thu phục và nối lại các mối tuơng quan đó. Nhưng thật ra, họ tìm đủ cách để bồi đắp ‘cái tôi’ của họ. Cuối cùng ‘cái tôi’ và ‘sự sợ hãi’ phát triển đồng đều khiến họ bị rối lọan và có thể lạc đuờng.

Đó là các hậu quả rất tiêu cực của nỗi sợ hãi. Giờ đây chúng ta làm thế nào?

Lần theo các sách Tin Mừng, chúng ta nhận thấy Đức Maria cũng sợ nên thiên thần mới phán “Maria, đừng sợ! vì người đã đắc sủng nơi Thiên Chúa”. Được Thiên Chúa yêu thương và sủng hạnh là khí cụ khiến Mẹ chúng mình bớt sợ và tín thác hơn.

Phêrô nhìn Chúa đi trên biển đến với các ông, nhưng vì sợ nên mới tuởng là ma; cho nên Chúa mới củng cố ông “cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mc 6:51). Cậy vào Lời Chúa nói khiến Phê-rô can đảm bước đi với giông tố để đến với Chúa. 

Đức Giê-su cũng sợ, sợ đến độ máu và mô hôi toát ra trong vườn cây dầu. Tuy Người sợ chết, nhưng vui lòng chấp nhận chịu chết vì tin tưởng vào Thánh Ý của Thiên Chúa.

Như vậy, chúng ta nhận thấy giải pháp làm chúng ta bớt sợ, đó là dám đối diện với sự sợ hãi bằng tâm tình phó thác và tin vào Chúa, Đấng luôn yêu thuơng và bao bọc chúng ta. Tin và Yêu là giải pháp giúp chúng ta sống vui hơn. Thật vậy, chúng ta chỉ có thể vuợt qua được nỗi sợ hãi nhờ tin vào Thiên Chúa, Đấng đang hiện diện với chúng ta trong mọi cảnh huống. Ngài yêu thuơng và chăm lo đến từng sợi tóc của chúng ta.

Chúng ta đừng để sợ hãi làm chúng ta vấp ngã. Giả như có vấp ngã - thì cũng là lẽ thường - đừng sợ Chúa phạt. Chúa yêu ta vô bờ bến, thương ta ngay lúc ta còn là tội nhân cơ mà. Con người chỉ thắng được các nỗi sợ hãi nhờ tin vào Ðức Giêsu, Ðấng đã không ngã gục vì sợ hãi, đi tới cùng và tuân theo ý định của Thiên Chúa. Qua sự chết Người đi về nhà Cha thế nào thì con đường mà người môn đệ được chọn để thi hành có thể dẫn họ đến cái chết như thế. Tuy vẫn biết kết cục là như thế, nhưng cho dù là sự chết cũng không làm cản trở ơn trung kiên, lòng chung thủy của các môn đệ với Chúa, là Đấng mà chúng ta đã hết lòng tin tưởng và cậy trông.

Sau cùng, chúng ta vẫn biết rằng không ai có thể tránh được cái chết. Vì thế đừng sợ chết. Sự chết không còn là án phạt mà là ngưỡng cửa dẫn chúng ta bước vào sự sống vĩnh cửu với Chúa

Cầu xin Chúa cho chúng ta đủ can đảm để đối diện và vượt qua mọi nỗi sợ hãi trong cuộc sống mà trung thành trong nhiệm vụ của người môn đệ được Chúa yêu thương. Amen!





Saturday, 13 June 2026

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA SAI TÔI ĐI!

Sau khi hân hoan mừng các ngày Đại Lễ trong Mùa Phục Sinh và các ngày lễ Trọng như Lễ Chúa Ba Ngôi, Lễ Mình Máu Thánh Chúa, Lễ Thánh Tâm. Tuần này, phụng vụ Hội Thánh mời gọi chúng ta quay trở về với phụng vụ của Mùa Thường Niên, và chủ đề của Chúa nhật tuần này là ơn gọi. Một cách nào đó, Hội Thánh mời gọi chúng ta ra đi, trở về cuộc sống đời thường để chu toàn bổn phận của người môn đệ.

Thật vậy, xuất phát từ lòng thương xót của Chúa mà chúng ta đã thấm nhuần từ các mầu nhiệm cao siêu của Thiên Chúa sẽ là nguồn động lực thúc đẩy chúng ta ra đi để thể hiện lòng thương xót của Chúa cho người khác. Họ đang khao khát đón nhận điều mà chúng ta đã được trao ban.

Vì thế trong bài Tin Mừng, Thánh sử bắt đầu mô tả hoàn cảnh của những người theo Chúa. Khuôn mặt họ bộc lộ sự mệt nhọc, những bước chân lê thê, mệt mỏi của họ đã đánh động Lòng thương xót của Chúa. Tâm hồn Chúa bị rung động một cách mãnh liệt. Người biết họ đang khao khát điều gì. Người không thể bỏ rơi họ. Với tấm lòng của người Cha, trái tim Chúa đau nhói vì đám đông theo Người như bầy chiên không người chăn dắt. Người không thể để họ bơ vơ, cho nên Chúa đã động lòng thương. Từ lòng thương xót ấy, Chúa Giêsu nói với các môn đệ hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.

Cánh đồng truyền giáo luôn rộng lớn. Nhu cầu rất khẩn thiết. Nhìn vào hiện tình của thế giới hôm nay, chung quanh chúng ta còn bao nhiêu người chưa nhận biết Chúa, biết bao gia đình đang đối diện với những nguy cơ khiến cho gia đình của họ có thể bị tan vỡ, biết bao người trẻ mất niềm tin và lạc hướng, biết bao người nghèo khổ, sống bơ vơ cần được yêu thương.

Có một chi tiết mà chúng ta nên để ý, đó là sau khi nói các môn đệ xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về thì chính Chúa lại sai họ đi. Có nghĩa là chúng ta không chỉ cầu nguyện cho sứ vụ mà phải sẵn sàng trở thành người được sai đi nữa. Mỗi Kitô hữu đều có sứ mạng mở mang Nước Chúa, không nhất thiết bằng những bài giảng hùng hồn, nhưng bằng đời sống chứng tá, bằng phục vụ, lòng bác ái và niềm vui của Tin Mừng.

Trong phần cuối của bài Tin Mừng, Chúa còn nói thêm rằng: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.” Và như anh chị em còn nhớ. Đức tin là một hồng ân nhưng không. Tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta không phải là phần thưởng vì công nghiệp, nhưng là quà tặng. Vì thế, chúng ta được mời gọi sống ơn gọi của mình một cách quảng đại và chia sẻ cho tha nhân những gì mình đã lãnh nhận.

Vì thế, thưa anh chị em.

Theo truyền thống, ơn gọi được hiểu là ơn gọi trở thành linh mục hay tu sĩ. Nếu chúng ta chấp nhận định nghĩa hạn hẹp này thì cũng phải chấp nhận rằng hiện có một cuộc khủng hoảng ơn gọi ở nhiều nơi trên thế giới. Ở nhiều quốc gia thuộc thế giới Tây Phương, rất ít người xin vào các chủng viện hoặc tu viện. Nhiều nhà thờ bị đóng cửa, nhiều sinh hoạt của các giáo xứ bị gom chung lại với nhau vì thiếu linh mục.

Tại Việt Nam và một số nước thuộc thế giới thứ ba, các chủng viện đầy ắp chủng sinh và có nhiều nhà dòng mới được hình thành. Thoáng nhìn thì chúng ta có cảm tưởng tại các nước đó, Giáo Hội không phải đối mặt với cuộc khủng hoảng thiếu ơn gọi.

Nếu chúng ta nhìn cuộc khủng hoảng ơn gọi từ một góc độ khác, chúng ta có thể coi đó là một cơ hội để nhìn ra quyền năng của Chúa Thánh Thần, Đấng vẫn hoạt động trong Hội Thánh từ buổi sơ khai. Ngày nay, có thể lấy mốc điểm từ khi có Công đồng Vat II, hàng giáo sĩ đã chia sẻ nhiệm vụ và trách nhiệm với giáo dân. Chúng ta thấy nhiều giáo dân đóng vai trò là Thầy sáu vĩnh viễn, Thừa tác viên Thánh Thể, Thừa tác viên Lời Chúa. Họ giúp các linh mục quản xứ trong việc phục vụ cộng đoàn, lại có một số người dấn thân toàn thời gian trong các hoạt động tông đồ của Giáo Hội cấp giáo xứ và địa phận. Cánh cửa phục vụ được mở ra để mời gọi mọi thành phần dân Chúa tham gia vào các hoạt động của Giáo Hội và đó là cơ hội để mọi người chu toàn ơn gọi từ Chúa.

Chúa Giê-su kêu gọi các Tông Đồ và mỗi người chúng ta hãy ở với Người và ra đi. Phần đầu tiên là được ở với Người và ở trong Người. Nếu chúng ta không ở với Người thì việc chúng ta ra đi có thể phát xuất từ những lý do rất ích kỷ. Thảm họa thay cho một cộng đoàn nếu những người tham gia vào các sinh hoạt của Hội Thánh chỉ vì thích quyền bính.

Nói chung, chúng ta đóng những vai trò khác nhau trong Hội Thánh. Nhưng ơn gọi nên Thánh là lời mời gọi chung cho mọi tầng lớp. Chúng ta được mời để ở với Chúa rồi sau đó sống theo ý Người muốn chúng ta sống. Đó chính là điều Thánh Phao-lô, tông đồ dậy bảo tín hữu Cô-rin-tô: “Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ... Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả… Đó là đức mến, lòng thương xót (1 Cr 12,28 – 13,13). Và đó là nền tảng của mọi ơn gọi.

Anh chị em thân mến,

Nhìn lại lịch sử giáo hội, chúng ta thấy rất nhiều gương sáng của những người đã được Chúa sai đi. Họ được sai bởi Chúa và theo gương Chúa họ sẵn sàng hy sinh tất cả, từ bỏ chốn an nhàn ra đi phục vụ những người nghèo khó. Và một trong những người được Chúa đánh động để đến với dân nghèo. Đó là Cha Thánh An Phong. 

Mời anh chị em cùng ôn lại gương sáng của Cha Thánh, nhất là sức mạnh của Chúa hoạt động trong Ngài.  

Trước khi sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế, Cha Thánh An-phong là một linh mục triều, đã dấn thân phục vụ tại các giáo xứ. Với lòng hăng say và nhiệt thành, ngài đã miệt mài trong các công tác mục vụ khiến ngài bị kiệt sức. Vì thế, theo lời đề nghị của bác sĩ thì ngài nên đi nghỉ và dưỡng sức. Ngài đã chọn Scala, thuộc xứ Naples. Scala nằm trên một ngọn núi hướng ra mặt biển, không khí thật trong lành. Quả là nơi lý tưởng để nghỉ ngơi. 

Tuy nhiên, phong cảnh trữ tình và không khí trong lành của Scala cũng không quyến rũ được ngài. Vừa đến nơi, Thánh An Phong đã nhận thấy những người nông dân, kẻ chăn chiên và dân chúng tại Scala là những người bơ vơ, không ai đoái hoài, không ai quan tâm và chăm sóc cho họ, cho nên Ngài và các bạn lập tức mở lớp giáo lý buổi tối tại tư gia để dậy dỗ và chuẩn bị cho họ lĩnh nhận các bí tích. Nghe tiếng ngài, dân chúng thuộc các vùng lân cận lũ lượt kéo đến để nghe giảng dậy. 

Tuy Thánh An Phong được sinh ra trong một gia đình quý tộc, giầu sang và quyền thế. Nhưng tâm hồn của ngài đã gắn liền với những người nghèo, con người bơ vơ, bị bỏ rơi. Vì thế, trông thấy họ, ngài chạnh lòng thương vì họ như những con chiên bị tan tác và không được chăm sóc. Với cảm nghiệm như thế, ngài nhận ra con đường Chúa muốn ngài phải đi, nên đã cùng với các bạn cùng chí hướng ngồi lại với nhau để sáng lập một nhà dòng mà ngày nay chúng ta gọi là Dòng Chúa Cứu Thế, một hội dòng chuyên lo cho những người bị bỏ rơi, bơ vơ không nơi nương tựa, những người nghèo khó.

Noi gương Chúa và được tác động bởi Lòng Thương Xót của Đức Chúa chúng ta đừng để ai sống bơ vơ, bị bỏ rơi và không ai quan tâm. Tâm trạng của người bị bỏ rơi và bơ vơ là trạng thái đau khổ nhất mà con người phải gánh chịu. Muốn chữa lành các vết thương của họ, chúng ta phải đến với họ. Muốn chia sẻ nếp sống của họ chúng ta phải đồng cảm và chia sẻ lối sống của họ. 

Thật vậy, lời khuyên của cha cố trong Dòng vẫn văng vẳng bên tai tôi. Ngài đã nói như sau: “Muốn công việc phục vụ người tất bạt, bơ vơ, nghèo khổ được hữu hiệu, anh em chúng mình, các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế cần phải có con tim rung cảm, con tim bị bốc cháy bằng trái tim nhân hậu và rực cháy lửa yêu mến của Chúa.” Và điều này cần đuợc áp dụng cho anh em mình trước tiên. Đừng bỏ rơi ai và đừng để ai bị bơ vơ!

Còn chúng ta thì sao? Tôi không phải là Chúa. Tôi không thuộc về nhóm 12. Và tôi cũng chẳng phải là Thánh An-Phong. Hẳn nhiên là như thế. Cho dù chúng mình không phải là linh mục hay tu sĩ, nhưng trước hết chúng mình phải là một con người, bình thường, mỏng manh và yếu đuối như bao nhiều người môn đệ khác! 

Đúng vậy, xin bạn đừng lo! Bởi vì Chúa không đòi chúng ta trao ban hơn điều chúng ta có thể nhận lĩnh. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng mọi chương trình mục vụ trước tiên phải được xuất phát từ lòng từ bi và nhân hậu của Đức Giê-su. Đấng luôn thương yêu con người! 

Vì thế, với niềm vinh dự của người môn đệ, nhân danh Chúa Ba Ngôi chúng ta hãy ra đi. Và, trước khi ra đi, chúng ta hãy tập ở với và ở trong Chúa, để đôi mắt của chúng ta nhận ra dấu chân của những con người đang bơ vơ, lạc bước và không ai đoái hoài bằng đôi mắt từ bi, nhân hậu và luôn thương xót của Chúa. Amen!


Tuesday, 26 May 2026

MÌNH VÀ MÁU CHÚA TAN CHẢY TRONG TA.

 Click for audio MÌNH VÀ MÁU CHÚA TAN CHẢY TRONG TA.

Hôm nay cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta hân hoan và vui mừng cử hành Lễ Đức Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể. Đây là một ngày rất đặc biệt vì với việc làm này Đức Giê-su đã kiện toàn Lời Người đã phán trước khi về trời: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28: 20b) Cách thức hiện diện của Người rất thâm sâu, Người nên một với mỗi người, Người làm của ăn nuôi dưỡng chúng ta.

Với lòng khiêm tốn, chúng ta cùng nhau suy gẫm về các bài đọc trong Thánh Lễ và ý nghĩa việc mừng trọng thể Lễ Mình và Máu Thánh Chúa Ki-tô hôm nay.

Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, Mô-sê đã nhắc nhở cho chúng ta nhớ lại vai trò và công trình mà Thiên Chúa đã thực hiện cho dân khi họ lang thang trong hoang địa. Đối diện với các khó khăn mà dân đã trải qua khiến nhiều người chán nản, thất vọng và rên xiết là Thiên Chúa đã bỏ rơi, khiến họ phải chết đói. Thậm chí, có nhiều người lại mong được chết quách bên Ai Cập còn hơn là vất vả theo Chúa, rồi cũng bị mất xác ở nơi hoang vu này. Trong hoàn cảnh đó, Thiên Chúa đã can thiệp và cung cấp của ăn là man-na cho họ. Lần đầu tiên họ nhìn thấy man-na. Họ không biết đó là vật gì. Họ chỉ biết từ trời rơi xuống để nuôi dưỡng cơ thể và làm mới tâm hồn. Thật không may, họ đã nhận món quà theo nghĩa vật lý, đó là thực phẩm làm cho họ khỏi bị chết đói mà hoàn toàn không nắm bắt được ý nghĩa sâu sắc của món quà đó.

Và Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe là một phần trong diễn từ Bánh hằng Sống mà Đức Giê-su đã dùng để giải thích ý nghĩa của Bí Tích Thánh Thể trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an. Đây là một trong các diễn từ quan trọng, có thể thay thế việc thuật lại việc Đức Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể trong truyền thống của Tin Mừng này. Đức Giê-su giải thích cho họ hiểu về ý nghĩa của man-na mới, là chính thân xác và máu huyết của Người. Người là bánh trường sinh, bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Nghe thế, một số người đã không tin, cho nên Chúa Giê-su quả quyết rằng “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” (Gio-an 6: 53-58)

Anh chị em thân mến,

Để nhận ra ý nghĩa sâu xa của Bí Tích, chúng ta cần có đức tin, và đây không phải là điều mà chúng ta đạt được nhờ vào sự khôn ngoan hay năng lực của mình, nhưng từ sự dẫn dắt và lôi kéo của Thiên Chúa, như Lời Người mới phán: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy,…” (Gio-an 6: 44) Như vậy, mọi sự đều phát nguồn từ Thiên Chúa, Đấng hoạt động liên lỷ, lôi kéo và dẫn dắt mọi người đến với Chúa Con để nhờ Người, với Người và trong Người, chúng ta được ban sự sống bằng chính thân xác và máu của Người ngay từ bây giờ và cho đến sau này.

Vì vậy, trong bữa tiệc hôm nay và mỗi khi cử hành Bí tích Thánh Thể, chúng ta nhận được món quà rất đặc biệt: Mình và Máu Chúa Giêsu Kitô. Đây là món quà quý giá từ Thiên Chúa, trong đó Đức Giêsu ban chính mình cho mỗi người chúng ta. Thật vậy, chúng ta nhận ra rằng mỗi khi tham dự Thánh Lễ và nhận được Mình và Máu Chúa Kitô là lúc Người sống trong ta, nuôi dưỡng, nâng đỡ, củng cố, ban cho chúng ta sự bình an và cho chúng ta can đảm để chấp nhận tất cả, đặc biệt là những điều khó khăn mà chúng ta có thể sẽ trải qua trong cuộc sống này.

Hơn nữa, mỗi khi thông hiệp với Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh Thể, chúng ta trải nghiệm một Lễ Vượt Qua. Chúng ta vượt qua sự tham lam, ích kỷ và tội lỗi để đến với sự tốt đẹp, lối sống tử tế, rộng lượng, đầy khoan dung, chan hòa lòng mến và thánh thiện hơn. Trong Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng ta được Người chỉ dẫn cho cách sống. Đây là một bước rất quan trọng trong cuộc sống, trên hành trình đức tin của chúng ta. Cuộc hành trình này đã được bắt đầu từ ngày chúng ta đón nhận phép rửa để trở thành con Chúa, thành viên của gia đình Hội Thánh, và là chi thể trong thân thể của Chúa Kitô.

Do đó, trong Đức Giê-su Kitô, Chúa chúng ta, con người nhận được thịt và máu của Người làm của ăn để bất cứ ai ăn bánh này sẽ sống muôn đời. Với sự hiện diện bền bỉ của Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh Thể, cuộc sống của chúng ta được nối kết, củng cố và duy trì không chỉ với Chúa Kitô mà còn với nhau nữa. Và, tiếp theo sau là lời mời gọi chúng ta hãy chia sẻ đời sống của Chúa Kitô và sống sứ mạng của Người để trở thành của ăn cho nhau.

Trong tinh thần đó, xin mời anh chị em nghe một truyện ngắn.

Có hai người bạn trẻ kia yêu nhau tha thiết. Anh chị đã đính hôn được hơn một năm và trong thời gian chuẩn bị hôn lễ thì chị phát hiện mình mắc phải căn bịnh ung thư. Theo sự chẩn đoán của các bác sĩ chuyên khoa lúc bấy giờ thì chị chỉ còn sống được khoảng một năm nữa mà thôi. Trước tình hình đó, chị đề nghị và khuyên anh nên hủy bỏ hôn lễ. Anh đáp lại rằng: anh đã yêu chị lúc mạnh khỏe thì giờ đây anh cũng sẵn sàng yêu thương chị khi lâm cảnh ốm đau. Và đám cưới của anh chị đã diễn ra như đã được dự trù. Kết quả không chỉ là một năm mà anh chị đã sống bên nhau được mười sáu năm trong cuộc chiến với căn bịnh nan y. Anh chị đã có bốn cháu.

Trong Thánh Lễ cuối đời của chị trong căn phòng tại nhà thương. Tuy thể xác rất hốc hác và gầy còm, nhưng tinh thần của chị thật tỉnh táo. Chị đã cùng gia đình dâng hy lễ cuối cùng, của lễ cuộc đời.

Trong lúc đọc lời truyền phép “…Vì này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con.” Vị Linh Mục, bạn và là người đồng hành với gia đình anh chị đã chia sẻ rằng cuộc sống của chị đã đem lại một ý nghĩa mới về Bí Tích Thánh Thể cho gia đình anh chị và những người thân quen.

Thật vậy, cuộc sống của chị đã được chúc phúc. Chị đã được Chúa thương yêu, dìu dắt và dẫn đưa vào mối tình với chồng và các con của chị. Chính Chúa là tác giả của mối tình đó. Bổn phận của chị là đáp trả tình của Chúa bằng cách hy sinh, bẻ (break) cuộc sống của chị, trao cho chồng và con. Và bằng lời chúc tụng chị đã tán dương Tình Yêu của Chúa trong cuộc sống. Chị càng hy sinh bao nhiêu thì sự cao quí và vẻ đẹp của Thiên Chúa trong cuộc sống của chị càng được bộc lộ bấy nhiêu. Chị có thể làm được các việc đó vì chị sẵn sàng để cho tình Chúa tan chảy trong cuộc sống của chị.

Và chuyện gì phải đến, đã đến. Trước giây phút lâm chung, chị đã phó thác bản thân, gia đình và những người thân quen cho Chúa rồi thanh thản ra đi về ngôi nhà thân yêu mà tại nơi đó chị đã được người Cha thân yêu mở rộng vòng tay hân hoan đón chào.

Phần chúng ta, uớc mong Bí Tích Thánh Thể mà chúng ta cử hành trong các Thánh Lễ sẽ làm cuộc sống mình tan chảy trong tình Chúa và trở thành của ăn hiến tặng nhau. Amen!


THIÊN CHÚA BA NGÔI: SỨC LAN TỎA CỦA TÌNH YÊU.

Click for audio THIÊN CHÚA BA NGÔI: SỨC LAN TỎA CỦA TÌNH YÊU.

Anh chị em thân mến,

Trong các mầu nhiệm của đạo Công Giáo thì mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm cao trọng nhất. Và một khi nói đến mầu nhiệm thì chúng ta phải nhớ rằng cho dù chúng ta có thông minh và khôn ngoan đến đâu chăng nữa thì cũng không thể lĩnh hội và hiểu thấu một cách trọn vẹn về ý nghĩa của các mầu nhiệm.

Chấp nhận trong niềm tin, cầu nguyện với tâm hồn khiêm tốn, phó thác với lòng cậy trông và nhất là sống yêu thương là các yếu tố giúp chúng ta có thể cảm nhận được phần nào về những bí nhiệm mà Thiên Chúa tỏ bầy.

Khi chiêm niệm và suy tư về Thiên Chúa, Thánh Gio-an tông đồ, người môn đệ mà Chúa yêu mến, đã xác tín và san sẻ cho chúng ta biết bản tính của Thiên Chúa, đó chính là Tình Yêu. Tình Yêu là bản chất của Thiên Chúa. Ngài sẽ không còn là Thiên Chúa nếu Ngài không Yêu.

Và một khi đã nói đến Yêu thì chúng ta phải kể đến đối tượng của yêu thương. Tình Yêu mà Thiên Chúa trao ban là quà tặng cho thế gian, như Lời mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin Mừng hôm nay, “quả vậy, Thiên Chúa ban Con của Người cho thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.” (Gio-an 3: 17)

Hơn thế nữa, dựa vào truyền thống của Thánh Kinh, chúng ta nhận ra rằng Thiên Chúa không là một hữu thể đơn độc. Nếu như Thiên Chúa đơn độc một mình thì Người sẽ tự yêu mình. Nhưng Người là ba: Chúa Cha, Chúa Con và Thần Khí. Tuy ba ngôi vị, nhưng lại liên kết với nhau nên một trong tình yêu. Cả ba ngôi vị, hoàn toàn yêu thương nhau, hiến tặng sự sống cho nhau, hoàn toàn tương quan, hiệp nhất với nhau. Cha hoàn toàn là của Con, Con hoàn toàn là của Cha và mối tương quan tình yêu và sự sống này giữa Cha và Con là Thần Khí của Thiên Chúa. Tình yêu mà Người ban tặng cho thế gian nói chung và cho mỗi người chúng ta được xuất phát và luân chuyển từ Thiên Chúa. Sức luân chuyển này làm cho Tình Yêu của Thiên Chúa càng phong phú và đầy tràn hơn.

Trong niềm tin đó, chúng ta tin rằng mỗi người chúng ta có một vị trí thật quan trọng trong trái tim nhân hậu của Thiên Chúa. Và chính vì được ở trong trái tim của Thiên Chúa cho nên chúng ta mới thấu hiểu và lãnh hội Tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa mà chúng ta mừng kính và suy tôn hôm nay.

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi còn là mầu nhiệm của sự hiệp nhất.

Khi nói đến điều này, tôi xin đưa ra một hình ảnh gợi ý cho anh chị em là những người đang sống trong bậc gia đình nhớ rằng anh chị em thật có phúc vì trong cuộc sống gia đình, anh chị em có thể nếm hưởng phần nào mầu nhiệm Tình yêu của Thiên Chúa Ba ngôi.

Khi yêu nhau anh chị mong muốn cho gia đình được hiệp nhất. Ước vọng hiệp nhất và nên một của anh chị sẽ được thực hiện nơi người con mà Thiên Chúa ban cho anh chị. Cháu là của chàng và cũng là của nàng. Cháu không chỉ của chúng ta, mà là chúng ta. Đó chính là tình yêu chung mà anh chị có thể thấy được. Tình yêu giữa hai người đã triển nở thành tình yêu chung trong một ngôi vị thứ ba: Tình yêu của họ được trao ban cho nhau và cho những người con.

Hình ảnh gia đình ấy có thể giúp chúng ta tiếp cận phần nào với mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi - gọi là phần nào - bởi vì mọi hình ảnh đều bất toàn và không thể diễn đạt trọn vẹn về sự vô biên của Thiên Chúa. Chúng ta xác tín rằng Thiên Chúa là tình yêu. Yêu thương là bản tính chung của Ba Ngôi, và yêu thương cũng là nền tảng của gia đình.

Vì vậy, cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa Ba ngôi là sức đẩy cho chúng ta yêu thương nhau.

Thưa anh chị em,

Quả thật, đón nhận sự tác động của Ba Ngôi Thiên Chúa trong cuộc sống thì quan trọng hơn là sự hiểu biết về mầu nhiệm đó. Bởi vì, con đường của Ba Ngôi là con đường đích thực của hiệp nhất. Trong Thiên Chúa Ba Ngôi, mỗi (ngôi vị, cá thể, người) đồng nhất với người kia, trao thân cho nhau và duy trì sự tồn tại của nhau.

Vì vậy, với Chúa Ba Ngôi, chúng ta sẽ làm các việc sau:

• Chúng ta hãy đồng cảm với nhau, nhận ra con người chung, cố gắng tạo thành một mẫu số chung mà chúng ta có với người khác, sẵn sàng chia sẻ đau khổ với nhau, thông cảm, hiểu hoàn cảnh và các nỗi khó khăn của nhau.

• Chúng ta hãy trao thân cho nhau trong công việc phục vụ, sẵn sàng san sẻ và vác những gánh nặng của nhau.

• Chúng ta hãy nhìn nhận sự hiện diện của tha nhân, cùng nhau duy trì sự hiện diện đó trong các tổ chức hay cơ cấu của xã hội; để cùng nhau xây dựng một môi trường trong đó quyền lợi và nhân vị của con người được đảm bảo và nhu cầu của con người được đáp ứng một cách công bằng.

• Chúng ta hãy tha thứ cho các sai lầm của nhau và cùng nhau bước đi trên con đường xây dựng hòa bình.

• Chúng ta hãy chia cho người khác những hồng ân mà chúng ta đã lĩnh nhận từ trong kho lẫm thật phong phú mà Thiên Chúa Ba Ngôi trao ban.

• Chúng ta hãy tôn trọng lối sống của nhau, nhận ra rằng mỗi cuộc sống của con người là một hành động phát sinh từ tình yêu, từ trong trái tim sáng tạo của Thiên Chúa Ba Ngôi.

• Và những điều tương tự giống như thế…

Tóm lại, trong Thiên Chúa, tinh yêu của chúng ta sẽ được khởi động lại bằng cách mở ra, thông ban và chia sẻ cho nhau. Thái độ mở ra, thông ban, chia sẻ nầy đòi hỏi chúng ta phải ra khỏi bản thân, buông bỏ ý riêng và đi đến với người khác. Có nghĩa là chúng ta phải từ bỏ tính ích kỷ, biết lắng nghe và quan tâm đến ích lợi và hạnh phúc của người khác.

Thật vậy, niềm tin và tình yêu của chúng ta vào Thiên Chúa Ba Ngôi thúc bách chúng ta đi tới, phá đổ mọi bức tường ngăn cách sự hiệp nhất để tình yêu hiện diện và lan toả khắp nơi.

Sau cùng, Mầu nhiệm mà chúng ta cử hành hôm nay mời gọi chúng ta sống; sống điều mà Thiên Chúa Ba ngôi đã sống là trao ban Tình Yêu cho nhau và cho nhân loại. Chúng ta cũng cầu xin Chúa ban cho chúng ta biết chia sẻ tình yêu cho nhau và cho tha nhân. Amen.


Saturday, 23 May 2026

THẦN KHÍ THIÊN CHÚA: SỨC MẠNH YÊU THƯƠNG

Click for audio: THẦN KHÍ THIÊN CHÚA: SỨC MẠNH YÊU THƯƠNG

Xin bắt đầu bằng một câu chuyện. Truyện kể như sau

Có hai mẹ con gốc người dân tộc Đu-Ma-Gat bên Phi luật Tân sống trong cảnh nghèo đói và thiếu thốn mọi sự. Đã xẩy ra là con của chị mắc phải một cơn bịnh hiểm nghèo, cần một khoản tiền để chữa trị. Hoàn cảnh của họ, tiền ăn còn chưa đủ lấy đâu tiền viện phí và thuốc men. Cuối cùng, chị cũng đành bó tay nhìn người con ra đi!

Sau tang lễ của cháu, và trong một lần dọn dẹp nhà cửa, chị bỗng nhiên nhìn thấy một gói giấy nằm trong góc tủ, sát bên bức tường bám đầy bụi bặm. Lôi gói giấy đó ra, chị lần mò mở từng lớp rồi từng lớp, cuối cùng chị khám phá ra một xấp tiền. Theo sự suy đoán của chị thì đó là số tiền dành dụm của ông bố chồng. Ông đã nhét vào nơi đó, rồi với cơn bịnh đãng trí nên không còn nhớ đến nó nữa.

Phần kết luận của câu chuyện nói trên dành cho anh chi em!

Câu chuyện nói trên khiến tôi nhớ đến vai trò của Thánh Linh trong cuộc sống mình. Người vẫn có đó, thế mà nhiều lúc tôi cứ nghĩ Người đi vắng. Như người phụ nữ trong câu chuyện, chúng ta có thể sở hữu một năng lực phi thường, có thể giúp mình biến đổi từ trạng thái chết sang sống, thế mà nhiều lần chúng ta đã không nhận ra sự hiện diện của Chúa Thánh Thần.

Thánh Thần không chỉ là quà tặng cao quí nhất mà Thiên Chúa ban cho chúng ta một lần mà thôi. Ngay từ thủa sơ khai, trong trình thuật tạo dựng, tác giả sách Sáng thế đã mô tả sự hiện diện của thần khí Thiên Chúa bay lượn là đà trên mặt nước; rồi đến khi tạo dựng con người như hình ảnh của Thiên Chúa; tác giả một lần nữa, bằng một thể văn rất ấn tượng, ẩn chứa một ý nghĩa thật sâu sắc khi mô tả việc Thiên Chúa thổi sinh khí vào pho tượng mà ban cho con người sự sống. Chính Thần Khí của Thiên Chúa là nguồn sự sống của nhân loại.

Thánh Thần hoạt động liên lỉ trong dòng lịch sử của dân Do Thái nói riêng và toàn thể nhân loại nói chung. Ngài hiện diện với mọi dân tộc. Ngài xuất hiện tựa làn gió, thổi sức mạnh và hơi ấm đến mọi người, mọi nơi và mọi chốn. Không một cá nhân hay tổ chức nào có thể cầm giữ và điều khiển được Ngài.

Rồi đến lượt các Tông đồ, Chúa Thánh Thần hoạt động nơi các ngài. Trước đó các ngài đã từng theo Chúa, đã từng nghe bao lời dạy dỗ của Chúa, đã từng chứng kiến bao điều cả thể của Chúa. Rồi chỉ vì sợ hãi nên sau lần hiện ra, với lời chúc bình an và qua việc Chúa thổi hơi trên các ông; thế mà các ông vẫn trốn chui trốn nhủi trong nhà. Thậm chí đến ngày Người gọi các ông đến chứng kiến cảnh tương Người đi về cùng Cha, thế mà các ông vẫn còn cho rằng đó là lúc Người khôi phục vuơng quyền Israel. Rồi thế nào mà các ông lại không đuợc chia sẻ ít chức quyền. Óc não chính trị. Tìm kiếm chức quyền là những vật cản khiến các ông không nhận ra chân tướng và sứ vụ của Đức Giê-su.

Thế rồi Chúa Thánh Thần ngự đến và các ông được biến đổi hoàn toàn: nhiệt thành và can đảm rao giảng Tin Mừng. Phêrô đã từng run sợ chối Chúa trước mặt những người đầy tớ, thế mà sau biến cố Thánh Thần ngự xuống, ông đã đứng trước một đám đông rao giảng hùng hồn về sự chết và sống lại của Đức Giê-su, khiến cho mấy ngàn người bị đánh đông và trở lại với niềm tin Phục Sinh.

Như Phêrô, chúng ta đuợc mời gọi đóng góp công sức của mình. Nhưng chính Chúa Thánh Thần mới là nguồn động lực họat động nơi kẻ nói và người nghe; để ai nói sẽ nói Lời Chúa và kẻ nghe cũng sẽ đón nhận bằng một con tim bằng thịt mà tin và trở lại với sự thật là Tình Yêu của Chúa đã thể hiện qua sự chết và Phục sinh của Đức Giê-su.

Cụ thể, trong bài đọc một mà chúng ta vừa nghe hôm nay. Sau khi Chúa Thánh Thần ngự xuống, các Tông Đồ nói đuợc các thứ tiếng mà những người nghe đến từ các nơi đều hiểu các ngài muốn nói gì. Chúng ta có thể giải thích rất đơn giản là các ngài được ơn nói ngoại ngữ.

Thật ra, dân chúng tập hợp tại Giê-ru-sa-lem vẫn còn giữ nguyên nền tảng cá biệt của dân tộc họ và ngôn ngữ riêng của họ. Nhưng quyền năng của Chúa Thánh Thần đã hoạt động để các ngài có thể diễn đạt sứ điệp yêu thương của Thiên Chúa cho mọi người.

Như vậy, tuy họ vẫn còn sự khác biệt về văn hoá, ngôn ngữ, chủng tộc hay mầu da; nhưng bằng Tình yêu con người có thể đón nhận và hiểu sứ điệp của Thiên Chúa muốn nói gì qua lời rao giảng của các Tông Đồ. Trong Tình yêu, dù vẫn còn khác nhau, nhưng trong sự khác nhau đó, con người vẫn đồng cảm, thông hiệp và yêu thương nhau hơn. Chỉ có ngôn ngữ của yêu thương mới giúp con người nối kết được với nhau. Tình Yêu là hoa quả mà Chúa Thánh Thần tác động và ban cho con người. Nói khác đi, Chúa Thánh Thần là nguồn suối, hoa quả của yêu thương mà Chúa Cha và Chúa Con trao ban cho những kẻ thuộc về Người.

Sự thán phục của dân chúng từ khắp phương thiên hạ kéo về Giê-ru-sa-lem dành cho các Tông Đồ không phải vì các ngài thông thái hay tài giỏi, can đảm hay mạnh dạn; nhưng vì các ngài đã để cho Thánh Thần ngự xuống trên môi miệng mà ca tụng và loan báo những kỳ công của Thiên Chúa. Như vậy, quả là rõ ràng cho chúng ta nhận thấy rằng Chúa Thánh Thần đã dùng các ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau để truyền đạt sứ điệp của Chúa cho con người. Khác xa với quan niệm cho rằng chỉ có dân tộc này, ngôn ngữ kia, văn hoá nọ mới mang tính ưu vượt và duy nhất để truyền đạt tư tưởng và sứ điệp của Chúa.

Chúa Thánh Thần hoạt động trong mọi dân tộc, như dân thành Ê-phê-sô khi xưa. Họ chưa từng nghe biết về Chúa Thánh Thần, nhưng họ đã tin. Đức Tin này không phải là khám phá của họ, nhưng đó chính là hoa quả của Thần Khí! Ai trong chúng ta dám khẳng định rằng Thánh Thần chưa hoạt động nơi họ. Nếu đã không dám khẳng định thì tin là giải pháp thuận lợi nhất.

Chúa Thánh Thần đã đuợc diễn tả qua các biểu tượng như gió, cuồng phong và lửa. Và như anh chị em đã từng có kinh nghiệm: gió muổn thổi đâu thì thổi, nào ai biết được gió từ đâu đến và sẽ đi về đâu; cuồng phong mà đến thì ai cản được!

Vì thế, trong khi mừng Lễ Chúa Thánh Thần ngự xuống hôm nay, xin mời anh chị em cùng tiếp tục:

• Hãy nói lời yêu thương. Vì một khi chúng ta nói với nhau bằng tiếng nói của yêu thương thì chúng ta sẽ chạm đến những cảm xúc chân thật của con tim; từ đó mọi gắn bó và các dây liên kết của chúng ta sẽ bền chặt hơn bởi Thánh Linh.

• Hãy tạo mọi cơ hội để tiếng nói của mình xứng đáng truyền đạt sứ điệp yêu thương của Thiên Chúa.

• Và, đừng dập tắt hay từ khước nhận ra sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, Đấng đang hiện diện và hoạt động nơi con người tại các nền tôn giáo khác, nơi các dân tộc khác, thậm chí ngay cả trong các tổ chức mà nhiều người lầm tưởng là họ đang chống lại Giáo Hội. Có thể, ở một bình diện nào đó, họ không đồng ý với lối hành xử thiếu tính con người, không có dân chủ trong một hình thức cơ chế nào đó của Giáo Hội. Nhưng qua nỗ lực, sự thành tâm và thiện chí xây dựng; chúng ta tin rằng Chúa Thánh Thần vẫn hiện diện trong các nỗ lực mà họ đang làm để giúp chúng ta hành xử và xây dựng một thân thể nhiệm mầu của Đức Kitô theo đúng ý Chúa hơn.

Sau cùng, xin Chúa Thánh Thần giúp chúng con nhận ra các hoạt động của Người trong cuộc sống của chúng con, và soi sáng để chúng con còn nhận ra sự hiện diện và tác động của Thánh Linh nơi người khác; hầu chúng con đủ can đảm quên đi các sự khác biệt, cùng nắm tay, trọn tâm trọn ý, ra đi làm chứng cho Tin Mừng như các Tông đồ khi xưa. Amen!


Về Trời Và Tiếp Tục Hiện Diện

Click for audio: Về Trời Và Tiếp Tục Hiện Diện

Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta long trọng mừng Lễ Chúa Giê-su lên trời. Bài đọc một và trình thuật Tin Mừng trong phần Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay tuy có một chút khác biệt, nhưng nội dung chính yếu là nói về việc Đức Giê-su được cất nhắc lên trời trước mắt các môn đệ. Như vậy câu hỏi đầu tiên chúng ta cần san sẻ cho nhau là trời ở đâu?

Vào thời Đức Giê-su, và hầu hết những người dân thường ít hiểu biết như chúng ta vẫn còn cho rằng trời ở trên cao, đất là nơi chúng ta đang sống và được bao quanh bởi biển cả và đại dương, và dưới hay trong lòng quả đất này là hỏa ngục.

Trời là nơi Chúa ngự. Ngự trị không nhắm đến nơi chốn cho bằng mô tả sự hiện diện của Chúa. Sự hiện diện này sẽ không còn tuỳ thuộc vào một khoảng không gian nào đó hay một mốc thời gian nào của lịch sử; nhưng là một sự hiện diện không bị giới hạn bởi không gian và không lệ thuộc vào thời gian. Thiên Chúa hiện diện từ trước và cho đến muôn đời, vô thủy vô chung. Như vậy ở đâu có Chúa là ở đó có trời. Và như lời Chúa đã phán thì ở đâu có hai hay ba người họp lại vì danh Chúa thì Chúa hiện diện giữa họ. Ý nghĩa của câu này có thể giải thích là ở đâu có sự hiệp nhất, thông cảm, yêu thương thì có Chúa ở đó; nói khác đi tại nơi đâu mà con người cùng chia sẻ một đức tin, cùng san sẻ và trao ban một lòng mến thì tại nơi đó có sự hiện diện của Chúa. Như vậy, trời hay thiên đàng không ám chỉ đến địa danh hay nơi chốn nào đó cho bằng một cách mà con người dùng để diễn tả khi nói đến nơi ngự trị của Chúa. Nói khác đi, khi mô tả việc Chúa lên trời có nghĩa là chúng ta nói đến việc Chúa Giê-su ngự trị bên hữu Thiên Chúa.

Trên thực tế, làm sao chúng ta có thể giải thích về ý niệm về một vị Thiên Chúa vừa hiện diện lại vừa vắng mặt trong cuộc sống của chúng ta nói riêng và trong các sinh hoạt của thế giới này nói chung. Rất nhiều người trong chúng ta vẫn còn sống với quan niệm về một vị Thiên Chúa ở trên trời, xa vắng với các sinh hoạt của con người. Với cái nhìn như thế, mỗi khi chúng ta gặp khó khăn là lúc chúng ta chạy đến cầu xin với Ngài đến can thiệp và giải quyết thay cho chúng ta.

Có phải cho đến hôm nay Chúa mới đuợc đưa lên trời hay không? Thật ra, Đức Giê-su đã về nhà Cha, tiếp nhận vinh quang như đã có từ Thiên Chúa ngay khi Người trút hơi thở và trao ban Thần Khí cho chúng ta là những người đứng dưới chân Thập Giá. Việc Chúa Giê-su được cất nhắc về trời hôm nay không phải là việc ra đi để rồi không hiện diện nữa; nhưng đây chính là một sự hiện diện mới mà chúng ta và các môn đệ cần cảm nhận bằng con mắt đức tin và thể hiện bằng việc làm để minh chứng điều mà chúng ta và các môn đệ đã tin.

Vì thế, không có chuyện vắng mặt. Đức Giêsu, Đấng đã chịu thương tích và bị giết vào dịp lễ Vượt Qua, vẫn hiện diện và không hề bỏ rơi các môn đệ; Người đã sống lại và tiếp tục sống cho họ và với họ như những gì mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc một hôm nay, đó là “sau cuộc thương khó, Người đã tỏ cho các ông thấy Người vẫn sống, với nhiều bằng chứng Người đã hiện ra với các ông trong khoảng bốn mươi ngày và đàm đạo về Nước Thiên Chúa.”

Cách thức hiện diện tuy khác, nhưng Người không hề bỏ rơi họ. Trong khi thi hành sứ vụ, Người đã không thể ở với mọi người tại mọi nơi khác nhau. Nay qua sự chết trong vâng phục mà Người đã được tôn vinh và hiện diện ở mọi nơi, mọi chốn và ở với mọi người trong mọi cảnh huống của đời họ.

Chúng ta mừng sự thay đổi, hân hoan đón nhận cách thức hiện diện mới của Chúa. Tuy, chúng ta không còn đuợc tiếp cận với con người bằng xương bằng thịt của Chúa nữa. Nhưng với Thân Thể Mầu nhiệm của Đức Ki-tô là Giáo Hội, chúng ta đuợc liên kết với Người như Lời Người đã phán với chúng ta trong bài Tin mừng: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28: 20b)

Mặc dầu các dấu chỉ biểu lộ uy quyền của Thiên Chúa có thể thay đổi so với các việc làm của các tín hữu thuộc các công đoàn sơ khai; nhưng nguồn gốc và sức mạnh vẫn xuất phát từ Chúa. Người vẫn hoạt động thông qua những kẻ đi theo Người. Người về trời ngự bên hữu Thiên Chúa không phải để đuợc tôn vinh mà thôi, nhưng còn tiếp tục làm việc nơi các môn đệ qua quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa, đó chính là sức mạnh của Thánh Linh như Chúa đã hứa “các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong tất cả xứ Giu-đê-a và Sa-ma-ri-a, và cho đến tận cùng trái đất”. Với sức mạnh của Chúa Thánh Linh, các Tông Đồ và nhóm môn đệ mọi thời đã hoàn tất sứ mạng của họ.

Còn chúng ta hôm nay thì sao?

Thực hiện lịnh truyền của Chúa trước khi Người về trời, đó là: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ.” Có nghĩa là:

Sống trong một thế giới đầy tranh chấp và bạo lực, chúng ta đuợc mời gọi trở nên sứ giả của hoà bình.

Sống trong một tập thể mà người ta tìm cách loại bỏ nhau vì ghen ghét, đố kỵ và thù hằn thì chúng ta lại đuợc mời gọi sống yêu thương, tương tác và liên đới với nhau.

Đối diện với một cộng đoàn chỉ biết tham lam và tranh dành địa vị thì chúng ta lại được mời gọi sống bác ái và khiêm nhường trong việc phục vụ.

Tất cả đều là dấu chỉ nói lên lời mời gọi của Chúa Giê-su Phục Sinh, Đấng đã về trời để tiếp tục hiện diện và hoạt động trong cộng đoàn của các kẻ tin.

Vì thế, câu hỏi mà chúng ta phải đối diện hôm nay là sống thế nào trong vai trò chứng nhân về sự hiện diện của Chúa? Đó cũng là thử thách mà Tin mừng đề ra cho các tín hữu tại Ga-li-lê-a khi xưa và cho chúng ta hôm nay “Hỡi những người Ga-li-lê-a, sao còn đứng đó nhìn trời.” Có nghĩa là tại sao chúng ta vẫn còn ngồi đó mà tiếc nuối quá khứ! Sao cứ khư khư ôm lấy vinh quang mà không dám trở về với cuộc sống hiện tại để chu toàn phận sự đã được trao phó?

Khi thi hành nhiệm vụ mà Chúa trao phó hôm nay, chúng ta ý thức rằng mình không tự làm; nhưng sứ mạng được trao ban từ Chúa; Người là vị cứu tinh nhân hậu, đang hiện diện và đồng hành với chúng ta.

Chúng ta nương tựa vào Chúa.

Chúng ta gắn bó và nối kết mật thiết với Người.

Chúng ta không ngồi đó chờ Người làm thay các việc mà chúng ta cần làm.

Chúng ta sẽ không yêu cầu Chúa đến để thay đổi những gì đang xảy ra trong cuộc sống của chúng ta.

Thay vào đó, trong niềm tin, chúng ta biết chắc Người đang đồng hành, soi sáng và mở mắt để chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa trong các sự kiện đang xảy ra. Thiên Chúa đã không rời bỏ chúng ta nhưng hiện diện trong những gì đang diễn ra trong cuộc sống của chúng ta ngay bây giờ và mãi mãi.

Như vậy, Chúa đã đi đâu là việc của Chúa! Việc của chúng ta phải làm là thực hiện lịnh truyền mà Chúa phán trước khi Người được cất nhắc về trời, đó là: “anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất”, và nhờ việc làm của anh em mà mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Người. Amen!