Thursday, 12 February 2026

TẤM LÒNG CHỈ ĐẠO VIỆC LÀM

Click for audio TẤM LÒNG CHỈ ĐẠO VIỆC LÀM

Đức Giê-su đã mở đầu bài giảng trên núi bằng việc công bố các mối phúc dành cho các môn đệ. Họ được chúc phúc không phải vì sẽ được sống sung túc và đầy thuận lợi hơn những người khác, m được tham dự vào sứ mạng cao cả là muối cho đời và làm ánh sáng cho nhân loại. Và, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su tiếp tục đưa ra các việc làm cụ thể mà người môn đệ, công dân của Nước Trời cần thi hành.

Trước hết, chúng ta phải nhìn nhận rằng Đức Giê-su tuyên bố các lịnh truyền như một người có uy quyền, Người phán: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết”. Khi công bố như thế, Người muốn đưa con người trở về ý định ban đầu của Thiên Chúa là thiết lập và xây dựng các mối dây tương quan giữa người và người theo đúng tinh thần của Chúa hơn. Người không đến để bãi bỏ lề luật và sự hướng dẫn của các ngôn sứ; nhưng Người hoàn thành và kiện toàn nó.

Điều mà Đức Giê-su quan tâm ở đây không phải là sống rập khuôn theo các tập tục hay các khoản luật đã bị áp dụng cứng ngắc, đôi khi mất đi mối tương quan giữa người với người. Đức Giêsu quan tâm đến sự thay đổi trái tim, thay đổi lối sống để cho cuộc sống của mình luôn xoay quanh Thiên Chúa. Lối sống này đem lại cho con người sự công chính không dựa trên lề luật, nhưng được xuất phát từ mối quan hệ giữa Thiên Chúa và ta. Từ đó, Đức Giê-su yêu cầu sự công chính của các môn đệ phải vượt trên sự công chính của những người thuộc nhóm Biệt Phái và các ông kinh sư thì mới vào được Nước Trời.

Một cách cụ thể, Đức Giê-su yêu cầu các môn đệ của Người phải kiện toàn các điều như: đừng giận ghét, chớ ngoại tình, đừng ly dị và đừng thề thốt.

Đừng giận ghét: Trong cuộc sống, chúng ta không được phép giết người, mà ngay cả việc giận dữ, nóng giận cũng không được chấp nhận. Điều này làm tôi nhớ lại kinh nghiệm mà tôi đã ghi nhận được trong khi làm việc tại các trại giam tại tiểu bang Victoria. Thoạt tiên, tôi vô cùng ấn tượng trước vẻ lịch sự, hòa nhã, khiêm tốn của một số tù nhân đã phạm tội giết người. Tôi không hiểu tại sao họ có thể giết người được. Sau này, qua nhiều lần tiếp xúc, tôi mới nhận ra được một điều là hình như họ không kiểm soát và kềm chế được cơn nóng giận. Và tất cả các việc làm xẩy ra trong lúc tức giận đều đem lại những kết quả không lường trước được. Cha ông chúng ta đã có câu nói “giận hóa mất khôn!”

Để giúp chúng ta đối phó và diệt trừ tận căn mối nguy hiểm này, Đức Giê-su thúc dục chúng ta cần phải có biện pháp dứt khoát để đối phó với việc giận dữ. Bởi vì nó sẽ trở lại và gây nhiều hậu quả tai hại hơn. Người còn mời gọi chúng ta không chỉ đối diện với việc chúng ta giận ai mà là ai giận chúng ta thì chúng ta cũng cần đi bước trước đến để làm hòa với họ rồi sau đó tiếp tục tế lễ.

Thật ra, chúng ta không thể giải thích và áp dụng điều Đức Giê-su nói ở đây theo nghĩa đen. Ai có thể để lễ vật tại đền thờ rồi đi mấy ngày đường trở về làm hòa với anh em, rồi trở lại để dâng của lễ. Bởi vì, đến khi trở lại thì của lễ có còn nguyên vẹn hay là đã bị hư thối mất rồi!

Như vậy, hòa giải với Thiên Chúa và tha nhân là một việc làm rất quan trọng trong việc tế lễ. Tính cộng đoàn, tình anh em cùng một Cha trên trời được thể hiện bằng đời sống. Và đó chính là lối sống của những ai đã được đổi mới và chỉ có ai được Chúa chúc phúc mới có thể làm được yêu cầu này. Yêu thương nhau là giới lịnh căn bản của người môn đệ, công dân của Nước Trời.

Chớ ngoại tình: Tương tự như vậy, khi nói đến ngoại tình, chúng ta phải đối phó với bất cứ điều gì khơi dậy lòng ham muốn, hành vi chiếm đoạt để thỏa mãn nhu cầu cá nhân hơn là việc tôn trọng và yêu thương mà chúng ta dành cho nhau. Xã hội hôm nay cho chúng ta đầy đủ dữ kiện, với những mẩu chuyện đang hiện ra nhan nhản trong các trang mạng làm chúng ta lo sợ; lại chưa kể đến sự tiến bộ vượt bực, ngoài tầm kiểm soát do các máy ‘điện thoại thông minh-smartphones’ đem đến. Người ta dùng nó để ‘chài mồi-grooming’. Hầu như nếu thiếu cảnh giác thì chúng ta sẽ dễ dàng đi lạc lối.

Giống như cách giải quyết mỗi khi lên cơn giận dữ, ở đây Đức Giê-su truyền chúng ta cần đối diện với hiểm nguy này và có thái độ dứt khoát. Anh chị em hãy nhớ lại kiểu trình bầy của tác giả sách Sáng Thế khi trình bầy tiến trình dụ dỗ, sự tác động và ảnh hưởng trên E-và: Trước tiên nhìn thì khoái, sau đó thèm thuồng và nghĩ đến nó cảm thấy tưng tưng, bèn hái xuống và rủ chồng cùng ăn.

Trình tự đó cũng được ám chỉ ở đây, nhìn người nữ với tâm hồn trong sạch và tôn trọng thì không sao, nhưng nhìn với vẻ thèm thuồng, chảy rãi ra là dấu hiệu không tốt cần phải đối phó và được điều trị đúng cách. Bởi vì từ cái nhìn như thế dẫn đến hành động chẳng xa bao nhiêu. Vì thế, Đức Giê-su yêu cầu khi Người dùng ngôn ngữ móc nó ra, chặt nó xuống hay cắt nó đi. Tất cả kiểu dùng chỉ nói đến yêu cầu dứt khoát mà Đức Giê-su muốn người môn đệ phải thi hành.

Tuy nhiên chúng ta cũng không nên phân tích quá tỉ mỉ để tìm ra điều gì được phép làm, điều nào không được phép hay cái gì nặng cái gì nhẹ. Cuối cùng chúng ta sẽ trở thành những con người sống vị luật, làm theo luật. Vấn đề quan trọng mà Đức Giê-su muốn cho các môn đệ của Người phải có, đó là sự thay đổi của con tim, hướng về Chúa để thanh luyện lối suy nghĩ, sửa lại cách nhìn, điều chỉnh ý hướng và ước muốn sao cho mọi sự được trong sạch như Lời chúc phúc của Đức Giê-su: “Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch.”

Đừng ly dị và đừng thề thốt: Về vấn đề ly dị, Đức Giê-su không truyền dậy một ngoại lệ. Một cuộc hôn nhân bất hợp pháp, dù chiếu theo luật, vẫn không được coi là cuộc hôn nhân thì đâu cần nói đến việc ly dị. Khi nhắc lại khoản luật này, Đức Giê-su không nói về tính hợp pháp của hôn nhân cho bằng đưa con người đi về ý định ban đầu của Thiên Chúa, nơi đó nói đến việc kết hợp, cam kết và gắn bó trọn đời bên nhau trong cuộc sống vợ chồng. Chung thủy vừa là mục tiêu, vừa là nền tảng của hôn nhân. Vì thế, chúng ta hãy nối điều dậy bảo đừng ly dị này với việc đừng thề thốt sẽ tìm ra ý muốn của Đức Giê-su, Người muốn các môn đệ, nam và nữ, đàn ông cũng như đàn bà, phải sống chính trực, trung thành với lời thề hứa. Họ không cần thề hứa rằng đang nói sự thật vì cuộc sống của họ là bằng chứng của sự thật mà họ không cần phải hứa nữa. Họ nên tôn trọng và cam kết sống chung thủy với người phối ngẫu một cách bình đẳng. Họ không được phép coi người bạn đường là sở hữu, rồi muốn bỏ hay giữ tùy theo ý muốn của họ. Tất cả đều là con cái của Cha trên trời, là môn đệ của Đức Ki-tô và là công dân của Nước Thiên Chúa.

Tóm lại, trong các phân đoạn của bài giảng trên núi hôm nay, Đức Giê-su truyền ban các giáo huấn, tuy mới mẻ, nhưng không có ý chống lại các tập tục đã được gầy dựng bởi truyền thống tiền nhân và các lời dậy bảo của các ngôn sứ. Người cũng không đến để phá hủy hệ thống luật lệ; trái lại kiện toàn và đưa chúng trở về với ý nghĩa nguyên thủy; có nghĩa là đem các khoản luật trở về với ý định ban đầu của Thiên Chúa. Tất cả các lề luật và việc thi hành phải được xuất phát từ trong tâm hồn của người môn đệ. Cõi lòng là nơi quyết định cho các hành vi tôn giáo và con người được mời gọi cố gắng hoàn thiện theo mẫu mực của Đấng mà chúng ta yêu mến.

Trong tình yêu thì không còn khoản luật nào trở thành gánh nặng nữa. Và dựa trên kinh nghiệm và cách thế chúng ta đối xử với nhau thì có ai lại đi so bì và tính toán thua thiệt với người mình yêu bao giờ. Đó cũng là điều cần được áp dụng trong cuộc sống của các kẻ tin. Ước mong mối dây liên kết giữa ta với người được mãi bền chặt và thăng hoa trong mối tương giao với Thiên Chúa, Cha chúng ta, Đấng hoàn thiện và muốn cho mọi người được trọn lành như Người. Amen!


Wednesday, 4 February 2026

MUỐI VÀ ÁNH SÁNG ĐỂ LÀM GÌ?

 Click for audio MUỐI VÀ ÁNH SÁNG ĐỂ LÀM GÌ?

Trong các câu cuối của phần loan báo tám mối phúc thật, Đức Giê-su đặc biệt nhấn mạnh đến hoàn cảnh của các tín hữu thời tiên khởi. Họ đã bị cấm cách, bắt bớ, sỉ nhục và vu khống. Kết quả là một số tín hữu đã tháo lui và trốn chạy. Còn những ai trung thành thì nhận được lời chúc phúc của Đức Giê-su. Và việc bị bách hại, bị sỉ vả vì Danh Chúa vẫn là phần phúc dành cho những ai trung thành trong các thời đại sau này nữa.

Thật vậy, nhìn lại lịch sử của Hội Thánh, chúng ta nhận ra một điều là Hội Thánh được phát triển và sinh nhiều hoa lợi trong các hoàn cảnh bị cấm cách và bị bắt bớ. Và những ai bền chí và trung kiên nên nhớ rằng họ đang làm chứng trong sứ mạng là muối cho đời và ánh sáng cho người khác.

Muối và ánh sáng là hai hình ảnh mà Đức Giê-su dùng để nói lên ước vọng của Người dành cho các môn đệ. Muối và ánh sáng không tự nó tồn tại. Cả hai vật dụng này được tạo thành và được dùng theo ý muốn của người đã tạo ra chúng.

Có lẽ ngày nay chúng ta coi thường muối và ánh sáng. Tuy nhiên, những ai sống trước khi ông Ê-đi-son phát minh ra ánh sáng của dòng điện thì họ mới biết ánh sáng quí trọng dường bao.

Trong trình thuật tạo dựng, việc đầu tiên của Thiên Chúa làm là tạo ra ánh sáng. Ánh sáng thật quan trọng đối với Người. Đức Giê-su đã nhiều lần tỏ bầy rằng chính Người là ánh sáng. Và trong bài Tin Mừng hôm nay Đức Giê-su truyền ban nhiệm vụ và vinh dự cao cả đó cho các môn đệ khi phán dậy rằng: “Chính anh (chị) em là ánh sáng cho trần gian.”

Đây là một lịnh truyền thật trọng đại, chúng ta chỉ có thể thực hiện được bổn phận này khi tiếp nhận nguồn ánh sáng từ Đấng đã tạo ra ánh sáng. Tự bản thân chúng ta không tạo ra ánh sáng. Ánh sáng phát sinh từ Chúa và được chiếu giải qua việc làm của chúng ta để ca ngợi và tôn vinh Thiên Chúa, Đấng ngự trên trời.

Chúa nói rất rõ rằng ánh sáng của chúng ta phải được chiếu giải. Người nhấn mạnh đến lịnh truyền bằng động từ ‘PHẢI’, chứ không phải là việc làm theo cảm hứng, thích thì làm còn không thích thì thôi. Nhiệm vụ này được trao ban cho những kẻ mới đón nhận các mối phúc làm gia nghiệp thì PHẢI có bổn phận san sẻ vinh dự cao quí này cho nhân loại.

Đức Giê-su tiếp tục lịnh truyền bằng cách dùng hình ảnh rất quen thuộc mà dân chúng thường áp dụng trong cuộc sống ngày thường. Thời của Đức Giê-su làm gì có điện. Thay vào đó, họ đốt đèn để phát ra ánh sáng. Dựa trên kinh nghiệm của cuộc sống, Đức Giê-su khẳng định không ai đốt đèn cho có ánh sáng, rồi sau đó để đèn (dầu) dưới cái thùng rồi úp lại, như thế ánh sáng của đèn làm sao chiếu tỏa cho mọi nơi trong nhà, chưa kể đèn có thể bị tắt vì thiếu không khí!

Qua việc xử dụng hình ảnh với lời khuyến cáo như thế, Đức Giê-su muốn nhắc nhở rằng ánh sáng đã được đốt lên, trao ban và hiện diện trong cuộc sống của người môn đệ. Nhưng chính cách sống của chúng ta làm cho phạm vi mà ánh sáng có thể chiếu tỏa bị thu gọn lại, như việc để đèn dưới đáy thùng vậy.

Còn về muối thì sao?

Muối được đánh giá cao trong thế giới ngày xưa. Tôi được nghe kể lại, đã có thời người ta coi muối như hàng hiếm, hàng quốc cấm. Vì thế, có nhiều người đi bán muối, ai lọt thì giầu còn ai bị bắt thì bị xử tử; từ đó mới có cụm từ ‘đi bán muối’ để ám chỉ những người quá cố.

Muối được sử dụng như một loại gia vị, chất bảo quản, chất khử trùng và được xem như là một thành phần của lễ vật trong các nghi thức tiến dâng; ngoài ra muối còn được dùng như là một đơn vị trao đổi.

Những người sống cùng thời với Đức Giê-su đã coi muối là vật quí hiếm và rất thông dụng trong cuộc sống. Họ còn dùng muối để hòa trộn với phân bón làm cho thủa đất tốt hơn, sinh nhiều hoa lợi hơn. Cho đến nay, muối được dùng để ướp làm cho thực phẩm khỏi bị ôi, giữ cho thức ăn tươi lâu hơn. Muối còn được dùng làm giảm cơn đau răng, đau cổ họng, v.v…

Tuy nhiên, vị mặn nằm ngay trong muối. Muối không có độ nhạt. Đã ngậm muối thì chúng ta sẽ cảm thấy vị mặn trong miệng. Tôi chưa bao giờ nghe ai nói đến vị nhạt của muối bao giờ. Nhưng nếu chúng ta dùng quá liều lượng sẽ ảnh hưởng đến thực phẩm và sức khỏe. Ngày nay, bác sĩ thường khuyên những bịnh nhân bị bịnh cao huyết áp hãy ăn nhạt hơn, vì độ mặn có thể làm tăng huyết áp.

Khi dùng hình ảnh muối để ám chỉ đến thân phận của người môn đệ, Đức Giê-su nhắc chúng ta nhớ bổn phận của mình là thêm mùi vị cho đời thêm mặn nồng hơn. Nói khác đi, chúng ta là những dụng cụ, các chất xúc tác mà Thiên Chúa dùng để làm cho hương vị của đời sống nhân loại thêm mặn mà và nồng ấm hơn.

Một cách cụ thể, chúng ta được mời gọi đem niềm vui và sự an hòa đến cho những ai đang sống trong sầu khổ, đem bình an đến cho những người có cuộc sống đang bị xáo trộn, đem lại ý nghĩa tích cực cho những ai đang chán nản và bi quan. Nói tóm lại, sự hiện diện của chúng ta sẽ mang lại điều tốt nhất cho xã hội mà chúng ta đang sống trong mọi tình huống.

Để kết thúc phần suy niệm của bài Tin Mừng nói về muối và ánh sáng mà người môn đệ của Đức Ki-tô cần đem đến cho thế giới hôm nay, chúng ta cùng nghe một trong muôn ngàn truyện tích về đời sống gương sáng của Mẹ Thánh Tê-rê-sa thành Calcutta và các nữ tu của mẹ đang miệt mài đem đến cho thế giới buồn tẻ ngày nay những mặn nồng của tình người môn đệ.

Truyện kể như sau:

Vào một ngày kia, có một người đàn ông trung niên đến thăm nhà của Mẹ Thánh Tê-rê-sa dựng nên cho những người nghèo và những người sắp chết ở Calcutta. Ông ta vào nhà và chứng kiến cảnh các nữ tu đang chăm sóc cho một số người sắp chết, mà các sơ mang về từ các vỉa hè và lề đường.

Trong số đó, có một người đàn ông được khiêng về từ máng xối, thân mình của ông ta đầy lở loét. Các nữ tu phục vụ bịnh nhân mà không hề để ý đến sự hiện diện của người khách lạ đang chăm chú theo dõi các việc làm của họ. Còn người khách lạ lại chăm chú nhìn cử chỉ và việc làm của các sơ đang phục vụ trong căn nhà đó.

Đặc biệt, ông quan sát và thấy sự dịu dàng của một nữ tu còn rất trẻ, nhưng lại vô cùng ân cần và thuần thục trong việc săn sóc. Ông nhìn ra nụ cười của sơ khi rửa và băng bó các vết thương hôi thối trên thân xác của người đàn ông đang hấp hối đó. Ông đã không bỏ qua một chi tiết và đọc ra bài học, đó là mọi việc sơ làm đều phát xuất từ con tim của một con người chỉ biết quan tâm và sống cho người khác.

Sau khi chứng kiến các việc làm của các sơ, ông quay sang Mẹ Thánh Tê-re-sa và thưa rằng: Thưa Mẹ, khi đến thăm Mẹ, tôi hoàn tòan không tin vào Thiên Chúa, trái tim của con chứa đầy thù hận. Nhưng bây giờ tôi đã thấy và tôi đã tin. Ông đã thấy tình yêu của Thiên Chúa được chiếu sáng qua các cử chỉ vô cùng trìu mến và mặn nồng mà các nữ tư của Me Thánh đã làm. Thưa Mẹ, giờ này con tin!

Giống như vậy, chúng ta hãy để cho ánh sáng của Chúa chiếu tỏa trong các việc làm của chúng ta, để mỗi người, mỗi việc làm của chúng ta trở thành muối và là chất xúc tác làm cho đời thêm vị nồng thắm của tình Chúa hơn. Amen!


Thursday, 29 January 2026

PHÚC CHO AI NGHÈO KHỔ MÀ BIẾT DỰA VÀO CHÚA

 Click for audio PHÚC CHO AI NGHÈO KHỔ MÀ BIẾT DỰA VÀO CHÚA

Các mối phúc thật trong bài Tin Mừng hôm nay được ban ra trong bối cảnh và lối sống của các cộng đoàn sơ khai, đặc biệt cộng đoàn do Thánh Mát-thêu coi sóc, và dĩ nhiên vẫn còn thích hợp cho hoàn cảnh sống của chúng ta nữa.

Như anh chị em đã biết, vào các thế kỷ đầu tiên, đời sống và sinh hoạt tôn giáo của các tín hữu trong giai đoạn này gặp rất nhiều khó khăn. Họ bị khước từ, bắt bớ, giam cầm và rất nhiều người trong nhóm họ đã trải qua một cuộc sống rất cơ cực, nghèo đói, bị ngược đãi thậm chí còn bị giết chết. Trong bối cảnh đó, những phúc lành của Chúa nâng đỡ đời sống họ. Cho dù những gì họ đang phải đối diện là những điều khó chấp nhận, nhưng lại đem đến cho họ hạnh phúc đích thật và lâu bền.

Hoàn cảnh sống của chúng ta tuy đã khá hơn xưa, cuộc sống không còn bị chèn ép hay bị giết vì danh Đức Ki-tô một cách công khai nữa; nhưng con người ngày nay lại đi tìm và xây dựng hạnh phúc cho cuộc sống của mình khác xa với những yêu sách của Tin Mừng. Và cũng chính vì lối tìm hạnh phúc của chúng ta khác với hạnh phúc Nước Trời nên chúng ta khó chấp nhận giáo huấn và những lời chúc phúc của Đức Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay và mỗi khi nghe liền cảm thấy bị chói tai.

Anh chị em thân mến,

Thật ra ai cũng biết rằng nghèo và khổ, đói và khát thường đi đôi với nhau. Sống trong cảnh nghèo, chúng ta mới thấy được các nỗi khó khăn. Và thật tâm mà nói thì không ai trong chúng ta cứ muốn sống mãi trong hoàn cảnh cơ cực như thế. Họ cần vươn lên, cố gắng vượt qua mọi gian nan để tìm cơ hội phát triển và khẳng định chính bản thân. Nhưng làm thế nào để vươn lên là cách ứng xử và lựa chọn của từng người.

Có người chọn các phương tiện bất chính, trái với lương tâm, thiếu đạo đức, thiếu công bằng … nói chung là họ sẵn sàng làm mọi sự để thoát khỏi cảnh nghèo. Và khi thoát khỏi cảnh cơ cực về mặt vật chất họ lại rơi vào một vũng lầy của tham lam, tư lợi và cuộc sống cũng chẳng được hạnh phúc. Đó không phải là cách lựa chọn đúng đắn.

Trái lại, nếu chúng ta biết chấp nhận cảnh nghèo, sống ngay thẳng và lương thiện rồi tìm cách vươn lên bằng các cố gắng của bản thân để bước đi từ những bước nhỏ nhất thì cho dù chúng ta không thành công, vẫn có thể thành nhân và được mọi người quí mến.

Hạnh phúc là ở đó, không tùy thuộc vào cảnh sống nhưng bằng chính thái độ trong các hoàn cảnh của cuộc sống khiến cho các phúc lành của Thiên Chúa được biểu lộ trong cách sống của mình.

Nói như thế, chúng ta không coi thường người nghèo và ca tụng những người có của; bởi vì giàu có cũng không là điều tất nhiên đem lại hạnh phúc cho con người. Tiền của có thể mua cho họ đủ thứ, nhưng họ khó mua được hạnh phúc đích thật. Dựa vào một số thống kê mà chúng ta biết được con số những người giàu đi tìm cái chết để giải thoát những nỗi cô đơn, trạng thái trầm cảm đông hơn bọn dân nghèo mà biết chấp nhận. Đối với ai giầu có thì hạnh phúc đích thật vẫn còn nằm ngoài tầm tay và sự kiểm soát của họ.

Vấn đề hạnh phúc chủ yếu ở tâm hồn; hạnh phúc không hoàn toàn lệ thuộc vào vật chất hay của cải mà người đó làm ra. Như vậy, mối phúc thật thứ nhất có thể nói là mối phúc căn bản, bao gồm các mối phúc thật khác là “Phúc cho ai có tâm hồn hay tinh thần nghèo khó”.

Nhìn lại lịch sử cứu độ, chúng ta nhận thấy ‘người nghèo’ được Thiên Chúa quan tâm nhiều hơn. Vì trong cảnh nghèo, con người có thể dễ làm bạn với Thiên Chúa hơn. Theo truyền thống của Thánh Kinh thì những “người nghèo của Thiên Chúa” không phải là người có đời sống vật chất khó khăn túng quẫn, mà là kẻ trước hết hoàn toàn tin tưởng phó thác cậy trông nơi Chúa, lấy Chúa làm gia nghiệp, và luôn luôn sống trong tình liên đới với anh em đồng loại.

Hơn thế nữa, căn cứ vào những lời giảng dậy của Đức Giêsu, chúng ta nhận ra rằng hoàn cảnh của “người nghèo của Thiên Chúa” là một cơ hội giúp họ nhận ra họ mới thật là người có phúc, là người may mắn, vì chính Thiên Chúa sẽ là hạnh phúc của họ.

Nói chung, các mối phúc thật xét về mặt nội dung thì cũng chỉ là mối phúc thật duy nhất: “Phúc cho những người sống tinh thần nghèo khó”. Và, chỉ có những người nào sống nghèo mới cảm nhận được sự cần thiết phải nương tựa vào Chúa như thế nào.

Thưa anh chị em,

Vì chúng ta, Đức Giê-su đã trở thành người nghèo nhất. Trong cảnh nghèo tột cùng đó, Người đã để cho quyền năng, sức mạnh và sự giầu có của Thiên Chúa được tỏ hiện. Như vậy, sau cùng các mối phúc thật hôm nay đều quy về một mối: Phúc cho ai có lối sống như Đức Giêsu.

Thật ra, phúc lành của Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người, không phân biệt và cũng không loại trừ một ai. Tuy nhiên, với những ai đang sống cảnh nghèo đói và bị ngược đãi thì họ dễ dàng nhận ra lời chúc phúc của Thiên Chúa dành cho mình hơn. Nhờ nhận ra niềm hạnh phúc đó họ mới cảm nhận được sự an ủi để buớc đi tiếp.

Nói như thế thì một khi chúng ta sống theo tinh thần và những lời hứa của các mối phúc thật trong bài Tin Mừng hôm nay là lúc chúng ta nhìn thế giới bằng chính cái nhìn của Thiên Chúa. Thật vậy, các mối phúc thật đi ngược lại tinh thần và lối sống của thế gian. Các mối phúc thật thách đố chúng ta không nhìn mọi sự theo cách suy nghĩ thông thường của con người, nhưng theo một cái nhìn mới trong đức tin, nhìn như Thiên Chúa nhìn thế giới.

Vì thế, hôm nay khi suy niệm ý nghĩa của các mối phúc thật đối với đời sống mình thì chúng ta cũng được khích lệ và tin rằng, dù đang sống giữa bao khó khăn hằng ngày, chúng ta vẫn sống trong niềm vui và niềm hy vọng. Đồng thời, các mối phúc thật cũng thách đố chúng ta: tuy đang sống trong thế gian này, nhưng chúng ta không thuộc về thế gian này. Chúng ta sống với ánh mắt hướng về thế giới mai sau, nơi chỉ một mình Thiên Chúa là nguồn mạch và cùng đích của niềm vui, lời ca tụng và bình an của chúng ta. Và khi để Thiên Chúa thực sự là Thiên Chúa của chúng ta, thì ngay tại đây và lúc này, chúng ta đã có thể đạt được hạnh phúc.

Trong tinh thần đó, chúng ta có thể tuyên xưng hay nói với nhau rằng: những điều chúc phúc của Đức Giê-su trong các mối phúc thật mà tai chúng ta vừa nghe đã được ứng nghiệm một cách thật hữu hiệu trong cuộc sống nghèo nhưng luôn lệ thuộc vào Thiên Chúa là nguồn và cùng đích hạnh phúc của chúng ta. Amen!


Thursday, 22 January 2026

SÁM HỐI VÌ NƯỚC TRỜI ĐÃ GẦN ĐẾN

 Click for audio SÁM HỐI VÌ NƯỚC TRỜI ĐÃ GẦN ĐẾN

Sứ điệp của Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay là hãy sám hối vì Nước Trời đã gần đến. Sau đó Đức Giêsu kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên lên đường theo Người trong việc mở mang Nước Chúa. Điều này cho chúng ta nhận ra sự quan tâm của Chúa trong việc đào tạo các môn đệ.

Người muốn tất cả mọi người trở thành môn đệ. Bản chất của ơn gọi trở thành môn đệ của Chúa thì giống nhau, đó là trở thành con Chúa, không phân biệt giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân. Tất cả đều được mời gọi tham dự vào công cuộc mở mang Nước Chúa.

Chính vì thế trước khi kêu gọi Si-mon, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an trở nên những môn đệ, Chúa công bố Nước Thiên Chúa đã gần đến. Có lẽ Đức Giêsu không loan báo một thời điểm cụ thể khi nào Nước Trời đến, Người muốn chúng ta phải tỉnh thức và cảnh giác để nhận ra sự hiện diện của Nước Thiên Chúa xuất hiện vào bất cứ thời điểm nào của lịch sử, và để đáp trả, chúng ta phải sám hối và tin.

Hành vi sám hối và tin có thể xẩy ra trong một biến cố đáng được ghi nhớ như ngày được thanh tẩy và trở thành Kitô hữu, nhưng thường kéo dài trong suốt cuộc sống và lập đi lập lại nhiều lần.

Thưa anh chị em,

Nhìn lại lịch sử ơn cứu độ, chúng ta khám phá ra một điều là sám hối không phải là một ý niệm rời rạc hay chỉ xuất hiện trong một giai đoạn nào đó, nhưng sám hối là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hành trình cứu độ, lôi kéo con người quay về với quĩ đạo yêu thương của Thiên Chúa.

Ngay từ đầu, Thiên Chúa đã không loại trừ con người, nhưng luôn mời gọi con người sám hối và trở về với Người là Thiên Chúa trung tín và giàu lòng xót thương. Trong sự tích sa ngã của con người trong sách Sáng Thế. Chúng ta nhận thấy sự tội đã hiện diện trước khi con người bất tuân. Con người không tạo ra tội, nhưng tiếp tục sự hiện hữu của nó bằng việc ưng thuận và để cho quyền lực của sự tội thống trị. Tội có nguồn gốc riêng, luôn luôn đối nghịch với uy quyền của Thiên Chúa, và con người vừa là nạn nhân vừa là tác nhân cho sự hoành hành và phát triển đó.

Bằng kinh nghiệm sống, chúng ta cảm nghiệm được sự thống trị này: con người khó khăn trong việc thiện và dễ dàng chiều theo sự xấu. Chúng ta thường sống theo ý muốn của mình hơn là ý định của Thiên Chúa. Và như vậy tương quan giữa Thiên Chúa và ta cũng bị đứt đoạn. Từ sự đứt đoạn đó, như Adam, chúng ta đi trốn: trốn Thiên Chúa, trốn nhau và trốn chính mình.

Từ sự rạn nứt trong tương quan với Thiên Chúa, con người đi đến sự đổ vỡ khác. Câu nói ngọt ngào “phen này nàng là xương bởi xương tôi thịt bởi thịt tôi” của giây phút thân tình, đã biến thành kiểu nói gay gắt: tại cái người đàn bà mà Chúa đã đặt bên con nên con đã ra nông nỗi này. Con người không dám nhìn nhận việc mình đã làm, lại đổ thừa cho người khác và gián tiếp đổ thừa cho Chúa: giả như không có người đàn bà đó thì đời con đâu có đen đến thế này.

Từ sự rạn nứt nghĩa phu thê kéo đến tình anh em cũng chẳng còn: giết nhau chỉ vì ghen tương như trường hợp của Cain và Abel. Và lối cư xử đó như vết dầu loang, cứ thế lan rộng ra, bao trùm cả xã hội và toàn thế giới. Con người đã đi vào ngõ cụt!

Trong hoàn cảnh đó, nhất là lúc mà con người nhận ra rằng mình không còn lối thoát thì chúng ta mới thấy được điều mới lạ trong lời công bố của Đức Giêsu hôm nay. Nước Thiên Chúa hiện diện nói lên uy quyền và sức mạnh của Thiên Chúa nơi bản thân Người, Đấng chiến thắng và thống trị quyền lực đó. Đấng ban cho con người niềm vui, sự hoan lạc và ơn cứu độ. Để được hưởng lợi ích này con người đòi buộc phải ăn năn, sám hối và tin vào Lời Chúa.

Nhìn vào cuộc đời của Đức Giêsu, chúng ta thấy đa số những ai thành tâm đi theo Chúa, trở thành bạn hữu của Người là những người tội lỗi, bị áp bức, bị chà đạp, bị tẩy chay bởi những ai có quyền lực. Họ không tạo một khó khăn hay rắc rối nào cho Chúa. Họ quá nghèo về tinh thần lẫn vật chất nên dễ dàng đón nhận lời mời và các thách đố của Đức Giê-su. Trái lại, những người tự nhận mình là công chính thì khác. Họ quá giầu công đức. Công nghiệp đã choán hết chổ trong lòng họ, khiến mắt họ không còn mở ra được và tai họ cũng bị che lấp. Họ đến với Chúa để gài bẫy. Họ thiếu thành tâm khi gặp Chúa. Họ âm mưu khi theo Chúa.

Sự khác biệt của hai nhóm này cũng dễ hiểu: như những nguời đau yếu cần đến thầy thuốc thế nào thì những người tội lỗi cần đến sự tha thứ của Chúa như thế. Còn người công chính, tự nhận mình là kẻ không có tội thì cần gì phải sám hối

Tuy nhiên, việc Thiên Chúa yêu thương người tội lỗi không có nghĩa là Người dung thứ tội lỗi. Tình yêu thương của Thiên Chúa không miễn trừ việc nhìn nhận lỗi lầm của con người, cũng không cho phép con người lạm dụng lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã đến để giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Người thấu hiểu và thông cảm cho sự yếu đuối của con người và sẵn sàng tha thứ, nhưng con người phải thành thật nhìn nhận tội lỗi, sám hối và trở lại với Người.

Như vậy, để đáp trả lời kêu gọi và trở nên môn đệ của Chúa, việc đầu tiên chúng ta phải làm là sám hối, phải từ bỏ cuộc sống cũ, xếp lại các tham vọng, ích kỷ và những ước mơ cũ ở lại sau lưng; rồi tin vào sự hiện diện của Nước Thiên Chúa, chấp nhận theo Đức Giêsu và sống theo các huấn lệnh của Người. Các điều đó sẽ làm cho chúng ta xứng đáng trở nên môn đệ, thành viên của Nước Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta không thể tách rời các yếu tố: sám hối, từ bỏ, tin, chấp nhận rồi theo Chúa thành các phần riêng biệt để thực hiện. Các yếu tố này xẩy ra trong lúc chúng ta đưa ra chọn lựa và quyết định. Không ai khác có thể làm thay chúng ta. Không có việc từ bỏ trước rồi mới thành môn đệ sau. Không có việc hôm nay quyết định dấn thân, rồi mai này khi gặp hoàn cảnh khó khăn sẽ tháo lui hay bỏ chạy.

Nhưng, thực tế cho biết rằng các yếu tố như: thời gian chờ đợi, các thử thách trước mắt, sự yếu hèn của bản thân đều có thể là nguyên nhân khiến cho lời cam kết mang đầy nhiệt huyết của những ngày đầu tiên trong hành trình làm môn đệ của chúng ta bị bóp nghẽn và chết đi. Chỉ có nhờ quyền năng và sống trong sức mạnh của Chúa mới giúp chúng ta vực lại tính hang say, phục hồi bầu nhiệt huyết và trung tín với các lời cam kết để hoàn thành sứ mạng của người môn đệ.

Sau cùng, cầu cho Nước Cha trị đến là một việc làm cần thiết, nhưng để cho các tiêu chuẩn của Nước Thiên Chúa xâm nhập vào trái tim và biến đổi chúng ta cũng là việc làm của người môn đệ. Vì vậy, hãy hối cải và để Chúa biến đổi rồi chúng ta can đảm mà tin vào Thiên Chúa, Người luôn thành tín và chỉ dẫn cho chúng ta biết sống sao cho phù hợp với các tiêu chuẩn của Nước Thiên Chúa đã được loan báo bởi Đức Giê-su, Amen!


Thursday, 15 January 2026

CHỨNG THẬT HAY CHỨNG GIAN!

 Click for audio CHỨNG THẬT HAY CHỨNG GIAN!

Ngày nay, song song với các phát minh trong các lãnh vực khoa học thì môn công nghệ thông tin có những tiến bộ vượt bực. Mọi tin tức được phát sóng và truyền đi mau hơn khiến chúng ta có cảm tưởng là thế giới bị thu gọn lại. Việc xẩy ra ở tận phương trời nào cũng được tường trình như là các sự kiện xẩy ra trước mắt mình. Đó là công việc của các phóng viên và ký giả mà chúng ta gọi họ là những ‘nhân chứng sống – eyewitnesses.’ Tuy nhiên, cũng bởi tài năng mà các nhà chuyên môn có thể ‘chỉnh - sửa’ và cho chúng ta nhìn và nghe những gì họ muốn. Nói chung, con người vẫn dành phần kiểm soát thông tin được truyền đi vì lợi ích của mình.

Trong sinh hoạt nhà đạo, môn công nghệ thông tin này cũng được tận dụng. Các nhà giảng thuyết nổi tiếng có tài hùng biện, lập luận vững chắc để thuyết phục người nghe, thêm vào đó là sự hiện diện của các nhân chứng để củng cố cho nội dung các lời giảng dậy của họ. Tuy nhiên, cách xử dụng nhân chứng của một số người cũng gây ra nhiều tranh luận. Có những người được dùng làm nhân chứng cò mồi!

Trong khi đó chúng ta biêt rằng cuộc sống của một nhân chứng phải phù hợp với bài giảng thì chứng từ của họ mới có tính thuyết phục và có hiệu quả lâu dài.

Chúng ta đừng bao giờ dùng Lời Chúa hay giải thích giáo huấn của Hội Thánh để hỗ trợ cho lập luận và ý tưởng của cá nhân mình.

Anh chị em thân mến,

Tuần trước chúng ta đã khai mạc sứ vụ công khai của Chúa bằng việc cử hành lễ Chúa chịu phép rửa của Gio-an bên bờ sông Gio-đan. Trong cùng một ý hướng nói trên, hôm nay phụng vụ Hội Thánh không còn tập trung vào các biến cố thời thơ ấu của Chúa nữa, nhưng lại giới thiệu và đặt trước mắt chúng ta một nhân chứng: đó là Gioan Tẩy Giả. Thánh nhân đã không chỉ giới thiệu và làm chứng cho Chúa bằng lời rao giảng, mà còn bằng chứng tá sống động của Ngài nữa, cho dù phải chết.

Dựa trên các bản văn đã ghi lại trong các sách Tin Mừng, chúng ta được biết Gio-an xuất thân từ một gia đình vọng tộc và danh giá. Ông Da-ca-ri-a, cha của Gio-an thuộc dòng tộc tư tế A-a-ron. Nhưng Gio-an có đuợc dậy dỗ và lớn lên trong khung cảnh của đền thờ hay không thì không ai hay biết. Chúng ta chỉ biết rằng Gio-an càng lớn càng thêm mạnh mẽ. Và, ngay từ thủa ấu thơ, Gio-an đã sống trong hoang địa cho đến ngày ông ra mắt toàn dân Ít-ra-en.

Tại hoang địa, Gio-an đã có kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa. Và chính trong hoang địa mà Gio-an đã khám phá ra ơn gọi, sứ mạng mà Thiên Chúa muốn ông thi hành. Qua Gio-an chúng ta nhận thấy bài học của Chúa, có nghĩa là chỉ có những lúc chúng ta đối diện với sự thật của đời mình, trút bỏ hoàn toàn các mặt nạ, trút bỏ kiêu ngạo, lo lắng, phân tán đi vào cõi sa mạc của chính mình để lắng nghe Lời Chúa thì chúng ta mới có thể gặp gỡ Thiên Chúa, có cơ hội khám phá ra Thánh Ý của Ngài, như trường hợp của Gio-an Tẩy Giả.

Trước khi kêu gọi dân chúng dọn sẵn con đường cho Chúa đến, sửa lối cho thẳng để Người đi thế nào thì bản thân Gio-an cần có cảm nghiệm về việc chuẩn bị, thống hối và dọn đuờng cho Chúa nơi chính mình trước. Như thế, chúng ta nhận ra rằng: thời gian sống trong hoang địa thật quan trọng đối với sứ vụ và sứ điệp của ông. Đây là một hành trình cần phải có để ông chuẩn bị hoàn thành tốt sứ vụ làm người tiền hô, đi trước để dọn đường cho sự xuất hiện của Đức Ki-tô, Đấng sẽ đến để cứu chuộc dân Người.

Ngay tại bờ sông Gio-đan, Thánh nhân đã được nhiều người biết đến. Lối sống và lời rao giảng của Gio-an thu đã hút họ, và người ta đã lầm tưởng và coi ông như Đấng Thiên Sai, nhưng Gio-an chỉ nghĩ đến sứ mạng mà Thiên Chúa đã trao ban cho là giới thiệu về Đức Giêsu cho nhân loại.

Ông đã không tự làm chứng về mình. Chứng từ của ông qui về Đức Giê-su. Lời chứng này nói lên điều Gio-an đã thấy. Cái thấy của ông hôm nay là hồng ân được ban tặng từ Chúa Cha, và soi sáng bởi Chúa Thánh Linh, nên Gio-an đã nói “Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.” Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.” (Gio-an 1:33-34)

Trước đó, Gio-an đã làm chứng và giới thiệu Đức Giê-su là Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian. Khi nghe đến các tước hiệu hay danh xưng này, chúng ta nghĩ và hiểu ngay căn tính của con người mà Gio-an muốn giới thiệu. Đó chính là Đức Giê-su, Con Chiên vẹn toàn đã hy sinh cuộc sống của Người để cứu độ và ban cho chúng ta ơn tha tội. Nhưng những người cùng thời với Đức Giê-su, ngay cả Gio-an vẫn còn mù mờ về chân tướng của Đức Giê-su.

Thật vậy, khi ở trong tù, các môn đệ của Gio-an đã báo cho ông biết về những việc mà Đức Giê-su đã làm khiến ông phải sai họ đến hỏi Chúa rằng: Thầy có phải là Đấng mà chúng tôi đang mong đợi hay chúng tôi còn phải chờ Đấng khác. Có lẽ trong hoàn cảnh đang bị tù đầy như thế, Gio-an đã nghĩ rằng nếu Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, người được Thiên Chúa tuyển chọn thì Chúa phải vào để cứu ông ra khỏi tù và kết tội vua Herode về tội lỗi mà nhà vua đã phạm. Trái lại, Đức Giê-su dường như không chỉ im lặng trước bạo quyền, không binh vực những người công chính như ông mà còn làm bạn với những người tội lỗi nữa.

Đức Giê-su đã không trả lời trực tiếp câu hỏi của Gio-an, Người gián tiếp nói cho Gio-an về các điều mà các môn đệ của ông đã thấy và đã nghe, đó chính là người mù được sáng mắt và nhìn thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết được sống lại và những người nghèo được nghe Tin Mừng.

Sau đó, Đức Giê-su còn gửi cho Gio-an một sứ điệp, Gio-an thật có phúc, nếu không bị vấp ngã vì các công việc mà Đức Giê-su đã làm. Ở đây, Đức Giê-su muốn nói với Gio-an rằng: qua lời tường trình về các công việc Đức Giê-su đã làm mà các ngôn sứ đã loan báo thì ông có tin Người là Đấng Thiên Sai hay không?

Chúng ta không hề hay biết Gio-an có đón nhận lời chúc phúc của Đức Giê-su hay không? Qua cách nói gián tiếp để ca tụng lối sống chứng nhân của Gio-an, chúng ta thấy được Đức Chúa đã coi trọng Gioan đến dường nào! Ông đuợc ví như cây sậy tuy phất phơ và ngả nghiêng trước gió, nhưng đã không bị lôi cuốn và gục ngã trước quyền lực. Gio-an tôn trọng sự thật nên đã không vì hư danh mà đánh lừa dân chúng. Ngài can đảm làm chứng về sự thật. Và vì sự thật mà Ngài phải giữ đúng vị trí của mình, là tiền hô, người dọn đường cho Đức Chúa. Và đã là người dọn đường thì Gio-an phải biết đứng bên lề đường, nhường lối đi cho người được Thiên Chúa tuyển chọn bước vào. Đó là sự thật mà không mấy ai trong chúng ta đủ can đảm đón nhận.

Thật vậy, lối cư xử của Gio-an hoàn toàn ngược lại với lối sống của một số người trong chúng ta hôm nay. Chúng ta muốn thể hiện chính mình, muốn được tuyên dương công trạng, thích phô trương thành tích, muốn được triệu người ‘like’. Vì thế, chúng ta có khuynh hướng sống ảo. Thật và giả lẫn lộn cho đến một ngày mình cũng không còn biết mình là ai nữa! Sự thật dần dần biến mất để nhường chỗ cho giả dối. Sống giả mà được nhiều người ‘like’ thì vẫn thích hơn là sống thật mà bị ghét là quan niệm sống và giao tiếp của nhiều người hôm nay. Đứng trước các hiện tượng xem ra có vẻ bi quan như thế, chúng ta nên ngồi lại mà chỉnh sửa sao cho đúng với căn tính của người tín hữu.

Gương chứng nhân và chứng từ của Gio-an trong bài Tin Mừng hôm nay là lời mời gọi mà Chúa muốn nhắc nhở chúng ta. Chúng ta xác tín rằng tín hữu không chỉ là một tước hiệu, nhưng đó là đặc ân của Thiên Chúa dành cho những người được tuyển chọn. Tín hữu là những người bước theo chân Đức Ki-tô để thực hiện và chia sẻ nhiệm vụ của ‘Chiên Thiên Chúa’, sẵn sàng gánh và hứng chịu những khổ đau của tha nhân.

Noi theo gương sáng của Gioan, chúng ta sẽ không nói về mình, mà giới thiệu Chúa cho người khác bằng chính cuộc sống mình. Thật vậy, làm chứng cho Chúa không phải là nói hay, mà là sống đúng những điều Chúa dậy.

Như Gio-an, chúng ta tôn trọng sự thật, không sống vì hư danh, không làm để khoe khoang mà sẽ làm mọi sự để nói về tình yêu và gương hy sinh của Đức Giê-su trong bổn phận của một nhân chứng. Vì thế, khi Chúa Giêsu xuất hiện, Gio-an sẵn sàng lùi lại, để Chúa được lớn lên.

Người làm chứng thật không tìm tiếng khen cho mình, mà để người khác nhận ra Chúa.

Sau cùng, xin Chúa giúp chúng ta trở thành những chứng nhân âm thầm nhưng chân thành, để qua đời sống của chúng ta, người khác nhận ra Chúa đang sống giữa trần gian. Amen.


Wednesday, 7 January 2026

PHÉP RỬA, KHỞI ĐIỂM CỦA SỨ VỤ

 Click for audio PHÉP RỬA, KHỞI ĐIỂM CỦA SỨ VỤ

Trong cuộc sống, có những cuộc gặp gỡ để lại các dấu ấn và những kỷ niệm khó quên. Cũng có những biến cố khiến chúng ta phải đưa ra quyết định, dù đi theo hướng nào cũng đòi hỏi sự hy sinh và một khi đã chọn lựa rồi thì chúng ta phải toàn tâm toàn ý mà chu toàn cho khỏi lỡ việc. Nói chung, tất cả mọi sự kiện hay những dịp tao ngộ luôn là lời mời gọi hay là dấu chỉ giúp chúng ta trưởng thành hơn.

Sau đây là một thí dụ điển hình.

Thánh An Phong được sinh ra và lớn lên trong một gia đình quí tộc. Năm 17 tuổi, ngài đã đạt được hai tước vị: tiến sĩ giáo luật và tiến sĩ dân luật. Sau đó, Ngài hành nghề trạng sư. Một trạng sư trẻ, nổi tiếng và hầu như chưa thua một vụ kiện tụng nào. Cho đến một ngày kia, trong một vụ kiện, An Phong đã nắm chắc phần thắng trong tay; nhưng ai ngờ kết quả hoàn toàn trái ngược, thân chủ của ngài bị xử thua, bởi vì vụ kiện đã được quyết định bởi vị thẩm phán trước khi phiên tòa bắt đầu.

Sau khi thua cuộc, theo như sử liệu ghi lại, An Phong đã tự nhốt mình 3 ngày trong phòng. Sau đó, ngài đi thăm các bịnh nhân mang các chứng bịnh nan không có thuốc chữa như bịnh Si-da ngày nay. Trong thời gian phục vụ các bịnh nhân, An Phong nhận được ánh sáng của Thiên Chúa trong một thị kiến yêu cầu ngài từ bỏ con đường vinh hoa của thế gian để phục vụ Hội Thánh và vinh quang của Thiên Chúa.

Như vậy biến cố thua kiện được coi như một dấu chỉ mở đầu cho một hành trình tìm kiếm Thiên Chúa của An Phong. Từ dấu chỉ đầu tiên như ngôi sao dẫn đường đó, An Phong nhận ra một sự thật là Thiên Chúa đang chờ ngài. Ngài đã lên đường tìm kiếm, không chỉ qua việc sống thân mật với Thiên Chúa mà thôi, mà còn nhìn thấy Chúa qua việc phục vụ bịnh nhân nữa. Tất cả nói lên nỗ lực tìm kiếm để đi đến một quyết định thay đổi cuộc sống của Ngài. Ngài đã hiến thân phục vụ Hội Thánh và sau này qua việc gặp gỡ dân nghèo tại Scala, An Phong, lúc đó đã là một linh mục, tiến thêm một bước quan trọng khác, không chỉ làm thay đổi đời ngài mà còn làm thay đổi bao thế hệ con cháu của ngài sau này nữa, đó là việc thành lập một Hội Dòng chuyên lo việc rao giảng và phục vụ người nghèo, đó là Dòng Chúa Cứu Thế. Nói gì thì nói, việc thua kiện vẫn là biến cố đầu tiên đánh động và làm thay đổi vận mạng của Cha Thánh An Phong.

Cuộc đời của chúng ta cũng thế, đã có những cuộc gặp gỡ để lại dấu ấn và những kỷ niệm khó phai mờ. Lại có những người nhận ra hướng đi mà Thiên Chúa muốn họ thực hiện chỉ sau một lần tĩnh tâm. Đã là con người, chúng ta sẽ phải đối diện với những khoảnh khắc như thế. Dù cho tiến trình tìm kiếm và biện phân khó khăn và dài đến đâu, chúng ta cũng cần có quyết định sao cho phù hợp với lối sống của chúng ta.

Một người đàn ông đã lập gia đình, lại vô tình gặp phải một mối quan hệ với bạn đồng nghiệp tại nơi làm việc khiến cho mối tình chung thủy mà anh đã hứa với vợ anh có thể bị đe dọa. Trong giây phút đó, anh biết mình sẽ phải làm gì để tín trung với lời thề nguyền trong ngày hôn lễ và đem lại hạnh phúc cho gia đình của anh.

Lại có một nam tu sĩ kia, sau khi đã tuyên khấn và đi thực tế để học thêm kinh nghiệm cho đời tu. Trong thời gian đó, thầy đã gặp một cô thiếu nữ đang cần sự giúp đỡ. Và dĩ nhiên, với một con tim nhậy cảm, tấm lòng chạnh thương trước những khó khăn mà cô đang gặp phải, thầy tận tâm lo lắng cho cô. Cho đến một hôm kia, thầy nhận ra rằng mối quan hệ của họ không còn thuần túy là mối liên hệ giữa một hướng dẫn viên và một người đang cần được hướng dẫn nữa. Mối quan hệ, tuy chưa có gì là sai trái, nhưng dường như đã hơi vượt qua ranh giới. Thầy hồi tâm và biết mình cần phải làm gì. Thầy cần có quyết định!

Hầu hết tất cả mọi quyết định đều đòi hỏi lòng hy sinh. Tuy nhiên, chúng ta vẫn hy vọng rằng quyết định và sự hy sinh của chúng ta dành cho nhau sẽ đem đến hạnh phúc và giá trị lâu bền. Chúng ta hướng về tương lai và mong chờ nhiều cơ hội mới sẽ diễn ra với những giải pháp thật tốt đẹp đang chờ đợi. Như vậy, thời gian này cũng thật thú vị. Đó là thời gian của sự khởi đầu mới.

Anh chị em thân mến,

Đức Giê-su cũng đã trải qua kinh nghiệm này. Trong cuộc đời của Người thì biến cố lĩnh nhận phép rửa hôm nay đánh dấu một bước ngoặt lớn. Nó có thể được coi như là sự kiện kết thúc quãng đời ẩn dật và báo trước cuộc sống công khai của Người.

Trong thời gian qua chúng ta đã hân hoan mừng kính mầu nhiệm Giáng Sinh và việc Chúa tỏ mình cho muôn dân trong Lễ Hiển Linh. Ngày hôm nay, chúng ta quay về đời sống thường nhật của Chúa.

Tại bờ sông Gióc-đan, Đức Giê-su tự nguyện đón nhận phép rửa của Gio-an Tẩy giả. Cho dù Người vô tội, nhưng Người muốn đi vào thế giới của chúng ta. Người hòa nhập vào lớp tội nhân và nên một giữa chúng ta. Giữa Người và chúng ta không có một rào cản nào. Người không chôn mình trong hoang địa, không xa lánh thế trần, nhưng là người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.

Qua hành động dìm mình vào trong nước hôm nay, Đức Giê-su còn chứng tỏ cho chúng ta thấy tình thương và sự hiệp thông mà Người đem đến. Đức Giê-su đã nên một với chúng ta để chúng ta có cơ hội nên một với Người, trong phép rửa mà Người sẽ trải qua và ban cho chúng ta sau này.

Sau khi đón nhận phép rửa bởi Gio-an, và lúc Người vừa từ dưới nước bước lên thì tầng trời mở ra, Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống và ngự xuống trên Người và những người chung quanh. Có nghĩa là trong ngày Chúa nhận thanh tẩy, Thánh Thần ngự xuống trên Người. Ngự xuống, không phải cho riêng mình Người. Nhưng, ngự xuống để Người đem một nền “công chính đích thực” đến cho và đến với mọi người. Ở nơi mà nền công chính đích thực đó, mọi người đều có những gì mình cần. Ở chốn ấy, phẩm cách của họ được công nhận. Và, người người được sống trong tương quan anh em trong yêu thương, tôn trọng và tha thứ cho nhau.

Chúa chịu phép rửa hôm nay đánh dấu một khởi điểm mới. Thời đại của ân sủng được khai mạc. Con người được tặng ban những ơn cần thiết. Như một phàm nhân, Đức Giê-su đã phục hồi phẩm giá của con người. Mọi người đều được tôn trọng và đối xử thật công bằng. Ai ai cũng cảm nhận được tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa. Một nền hòa bình vĩnh cửu được hiển trị nói lên triều đại công chính của Thiên Chúa đã hiện diện nơi sứ vụ mà Đức Giê-su khai mạc qua phép rửa của Gio-an hôm nay.

Cử hành lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa hôm nay còn là cơ hội để ta suy tư về chính ơn thanh tẩy mà ta lĩnh nhận. Đây không chỉ là nghi thức công nhận ta trở thành tín hữu và môn đệ của Chúa. Nhưng, là khởi đầu của một hành trình trải dài trong cuộc sống của người môn đệ.

Trong bí tích rửa tội chúng ta được mời gọi bước vào một hành trình không có đoạn kết. Phép rửa mời gọi ta dấn bước theo Chúa. Vì thế, chúng ta quyết tâm canh tân, làm mới điều chúng ta tin và mạnh dạn làm chứng hành trình theo Chúa của chúng ta. Có nghĩa là trên hành trình đó, chúng ta chỉ mong ước thi hành ý Chúa mà thôi.

Tóm lại, theo Chúa, hợp tác với Chúa trong sứ mạng loan báo Tin Mừng, đem tin vui đến cho người khác là sứ vụ mà chúng ta cần được hâm nóng trong Thánh lễ chịu phép rửa hôm nay. Đây còn là ngày khai mạc sứ vụ của Đức Giê-su, Đấng đã dìm mình dưới nước của dòng sông Gióc-đan để kéo chúng ta lên và bước đi với sứ vụ của Người luôn mãi. Amen!


Wednesday, 31 December 2025

AI TÌM AI: TA hay CHÚA

 Click for audio: AI TÌM AI: TA hay CHÚA

Hôm nay, chúng ta mừng Lễ Chúa Hiển Linh, Lễ tưởng niệm và làm sống mầu nhiệm tỏ mình của Chúa cho muôn dân.

Lễ này còn được gọi là Lễ Ba Vua. Tuy nhiên, hầu hết các nhà chuyên môn về Thánh Kinh đều cho rằng chẳng có vua chúa trần gian nào đến bái thờ hài nhi Giêsu trong hang đá Bê-Lem hết, ngoại trừ Vua Hê-rô-đê, một bạo chúa đã tìm cách giết Người. Vậy, ai là những người đã đến từ Phương Đông để tôn thờ Hài Nhi? Họ là các nhà chiêm tinh, chuyên nghiên cứu thiên văn và nhìn ngắm sao trời để đoán ra vận mạng của môt số người nổi tiếng. Tuy hành trình và mục tiêu kiếm tìm của họ đáng cho chúng ta ngưỡng mộ và noi gương. Nhưng việc hệ trọng hơn cả là việc Thiên Chúa hiện diện trong thân phận con người cho muôn dân; chứ không chỉ cho dân Do Thái mà thôi.

Hiển Linh giúp chúng ta nhận ra chiều kích tràn đầy của việc Giáng Sinh. Giáng Sinh dù thế nào vẫn chỉ là cuộc viếng thăm của Thiên Chúa dành cho dân Israel, dân riêng của Ngài. Với Lễ Hiển Linh, mầu nhiệm đó đạt đến mức toàn diện. Thiên Chúa sinh ra làm người và tỏ mình không chỉ cho dân Do Thái; mà còn tỏ mình cho muôn dân muôn nuớc, bao gồm cả chúng ta nữa. Việc tỏ mình là sáng kiến của Thiên Chúa, không ai có thể yêu cầu hay buộc Ngài phải làm chuyện đó. Nhưng, nếu chúng ta không nhận biết, không đón nhận và không loan báo cho nhau thì quả là một điều thiếu sót. Như thế, biến cố này đóng một vai trò thật quan trọng trong hành trình niềm tin và cách sống đạo của chúng ta.

Ngày xưa, có nhiều người đã gặp Đức Giêsu. Họ đã cùng lớn lên với Người tại Na-za-reth. Họ đã dong duổi theo Người trên bước đuờng rao giảng, từ làng này qua làng kia, từ tỉnh này đến thành phố kia. Họ còn đuợc Người nuôi ăn trong cơn đói khát. Họ đã chứng kiến các phép lạ. Cuối cùng thì sao, đâu cũng hoàn đấy? Dân Na-za-reth, dân Ga-li-lê-a hay dân Giê-ru-sa-lem cũng tìm cách bỏ Người.

Nhưng các nhà chiêm tinh hôm nay lại khác. Họ đã không nhận ra sự xuất hiện của Thiên Chúa bằng truyền thống, hay tìm ra Chúa qua mớ giáo lý kinh điển do cha ông truyền lại. Thiên Chúa đã đến trong hoàn cảnh, lối sống và khả năng chuyên môn của họ. Ngài đã xuất hiện ngay trong tầm nhận biết của họ.

Cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và họ cũng giống như việc Chúa kêu gọi các môn đệ của Người. Người đã đến trong lúc Phê-rô và các bạn đồng nghiệp đang chài lưới để kiếm ăn. Người đã đến trong lúc Phaolô thi hành bổn phận chống lại Người. Người gọi Mat-thew khi ông ta đang ngồi thu thuế. Không ai có đặc quyền hay đặc lợi. Sáng kiến là của Thiên Chúa. Ngài đã đến ngay tại nhà, trong hoàn cảnh riêng của mỗi người.

Như các nhà chiêm tinh, chúng ta hãy lên đuờng.

Hành trình tìm kiếm của họ không dễ dàng. Dù có ngôi sao dẫn đuờng, nhưng ngôi sao lại có lúc ẩn lúc hiện. Cũng có lúc các ông bị mất dấu; không phải do các ông đi lạc; nhưng ngôi sao không xuất hiện thì biết lối nào để đi. Trong hoàn cảnh đó, họ không hề thất vọng; tiếp tục tìm kiếm bằng cách dò hỏi những ai đã đuợc tiên báo về sự xuất hiện của con trẻ Giê-su. Đó là các thượng tế và kinh sư của đạo Do Thái, dân riêng của Chúa; nắm giữ trong đầu các lời loan báo của các ngôn sứ về nơi chốn của vị lãnh tụ, đấng chăn dắt dân của Thiên Chúa sẽ ra đời. Các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó biết theo kinh điển mà không hề cất bước đi tìm nên cái biết của họ đã chẳng giúp gì cho họ. Vua Hê-rô-đê cũng biết; nhưng điều mà vua biết không đem vua lại gần Chúa; trái lại cái biết đó lại là nguyên nhân đem đến cho vua nỗi lo sợ. Phát sinh từ nỗi sợ hãi hoang tưởng, sợ mất quyền hành; vua đã tìm cách tiêu diệt bằng cách giết lầm hơn bỏ sót, ông ta đã giết hết những ai là mầm mống đe doạ sẽ lật đổ ngai vàng của ông.

Hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh không phải là mối bận tâm của Thánh Sử. Nếu chỉ có cuộc tìm kiếm của Ba Nhà Chiêm Tinh, thì Hiển Linh chưa trọn vẹn. Điều làm nên mầu nhiệm của ngày lễ hôm nay chính là việc Thiên Chúa đã đi bước trước. Thiên Chúa đã giáng trần. Ngài không đợi con người leo lên tới trời để gặp Ngài, nhưng đã từ trời hạ sinh làm người, không trong vương quyền của thế trần, mà trong thân phận của kẻ nghèo hèn; không trong ánh hào quang của cung điện, mà trong âm thầm của máng cỏ.

Vì thế, ngày lễ Hiển Linh không chỉ là ngày con người tìm thấy Thiên Chúa, mà trước hết là ngày Thiên Chúa tỏ mình và đi tìm con người. Như vậy, Thiên Chúa luôn làm chủ và soi sáng cho những ai tha thiết tìm ơn cứu độ, dù đôi khi họ cảm thấy đường đi không rõ và tương lai lại mịt mù.

Việc hiển linh đã trở nên trọn vẹn khi Đức Giê-su đã cho đi tận cùng cuộc sống của mình. Chính việc cho đi và tự hiến sau cùng của Người lại là cuộc tỏ mình huy hoàng nhất về chân tuớng đích thật của Người qua biến cố Phục Sinh. Và các môn đệ là nhân chứng về cuộc Hiển Linh Phục Sinh ấy. Niềm tin của chúng ta hôm nay cũng dựa vào lời chứng của các tín hữu tiên khởi; đó chính là: Thiên Chúa đã tỏ mình trong thân phận con người của Đức Giêsu, Người đã ở giữa chúng tôi và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người từ Chúa Cha mà đến.

Với trình thuật Hiển Linh, Thiên Chúa tỏ mình cho mọi người biết rằng: với Chúa không ai là người ngoài cuộc hết. Tất cả đều được mời gọi đón nhận ơn cứu độ. Ai ai cũng đựợc diễm phúc làm con của Ngài. Ai ai cũng đuợc mời gọi sống để tỏ bầy sự hiện diện của Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến,

Thiên Chúa đã làm người, đã tỏ chân tướng đích thật của Ngài cho chúng ta nhận biết. Nhưng chúng ta đã làm gì để việc hiển linh của Thiên Chúa trở thành lời chứng sống động trong cuộc sống mình? Cũng có lúc chúng ta cảm thấy Chúa quá gần gũi, sát bên mình và thúc giục chúng ta ra đi để thực hiện các việc cả thể. Với ý ngay lành chúng ta tuởng như là Chúa rất cần chúng ta để làm các việc phi thường… Nhưng rồi đường đời đâu có dễ, Những khó khăn, chống đối hay các nghịch cảnh làm chúng ta muốn buông xuôi, thất vọng và sinh ra chán nản và muốn bỏ cuộc. Nhưng có một điều khiến ta ngạc nhiên và ngạc nhiên luôn mãi là Thiên Chúa không chán, không thất vọng về ta. Ngài dùng đủ mọi cách thức để bộc lộ và hướng dẫn chúng ta: Từ ngôi sao lúc ẩn lúc hiện, đến người không tin như Hê-rô-đê và các bậc vị vọng am tường đạo Chúa. Thiên Chúa vẫn dùng họ, không chừa một ai, để hỗ trợ, động viên, nhắn gửi cho ta một sứ điệp là ta vẫn đáng tin, đừng chán nản, hãy tiếp tục lên đuờng, căng buồm xuôi gió ra khơi.

Như vậy, cuộc sống làm chứng về việc tỏ mình, hiển linh của Thiên Chúa không nằm xa và ở ngoài khả năng của chúng ta. Nó nằm ngay bản thân, trong gia đình, giữa vợ chồng và con cái, giữa kẻ tin và người không tin, giữa những ai đủ can đảm để cho chất ‘người’ lớn hơn và bóp nghẹt chất con (vật) của mình.

Đó chính là:

Những nụ cuời, các câu nói cảm thông mà chúng ta trao gửi chon hau hơn là những lời trách móc, ghen tỵ và oán than nhau.

Những con tim mở rộng để đón tiếp, khoan hồng và dung thứ cho những thiếu sót và bất toàn của nhau.

Các bàn tay nhân ái để chào đón, tiếp nhận hơn là loại bỏ, hất hủi và xua đuổi nhau.

Các công việc tìm kiếm và thực thi lời Chúa như: các lời yêu thương, sự nâng đỡ, hỗ trợ và khích lệ nhau, chứ không chỉ ngồi đó mà kêu nài Lậy Chúa và Lậy Chúa xuông thôi đâu.

Đó là một số việc làm tiêu biểu được đề nghị mà ai trong chúng ta cũng có thể thực hiện.

Sau cùng, chúng ta ý thức rằng: tất cả đều là cơ hội để vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện qua lối sống chứng nhân, tuy tầm thường nhưng lại chứa đựng quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa trong chúng ta.

Cầu xin được như thế. Amen!