Wednesday, 22 July 2026

CON NGƯỜI LÀ BẢO VẬT TRÂN QÚY NHẤT.

 CON NGƯỜI LÀ BẢO VẬT TRÂN QÚY NHẤT.

Dụ ngôn lưới cá mà chúng ta vừa nghe giống như dụ ngôn lúa và cỏ lùng trong bài Tin Mừng tuần trước. Trong dụ ngôn này, Đức Giêsu đã ví Nước Trời giống như một chiếc lưới ném xuống biển bắt đủ mọi loại cá. Khi lưới đầy, nó được đưa vào bờ. Những con cá tốt được bỏ vào giỏ, và những con cá xấu bị ném đi. Dụ ngôn này mang âm hưởng và ý nghĩa giống như dụ ngôn cỏ lùng. Giống như lúa tốt và cỏ lùng cùng lớn lên thế nào thì những con cá tốt và xấu bơi chung một vùng biển như thế. 

Giống như dụ ngôn cỏ lùng hướng về ngày thu hoạch, dụ ngôn lưới cá hôm nay cũng hướng chúng ta về ngày tận thế, về sự phán xét sau cùng, trong đó người xấu xa, độc ác (mô tả là những con cá xấu) sẽ bị tách ra khỏi đội ngũ của những người công chính và bị quẳng xuống địa ngục.

Còn hai dụ ngôn kho báu và ngọc quý nhằm nói đến giá trị cao quí của Nước Trời mà không một thứ gì trên trần gian có thể so sánh được. Tuy Nước Trời là một bảo vật được chuẩn bị và tặng ban cho chúng ta qua cuộc sống và sứ vụ của Đức Giê-su, nhưng để có thể sống theo đúng tiêu chuẩn của Nước Trời đề ra thì con người cần có một quyết tâm thật mãnh liệt, cho dù có phải hy sinh tất cả mọi sự thì người đó vẫn vui mừng đánh đổi để tậu cho được kho báu hay viên ngọc.

Như chúng ta đã biết, Nước Trời đã được xuất hiện bởi lời rao giảng và việc làm của Đức Giêsu. Lối sống của Người thật mới mẻ và không một ai trong hàng ngũ lãnh đạo của Do thái giáo lúc bấy giờ dám thực hiện, và họ cũng không đủ can đảm chấp nhận lối sống mất mát và hy sinh như thế. Đức Giêsu đã chọn những người tội lỗi, những người gái điếm, hạng thu thuế, những người nghèo khổ, những người không nhà không cửa và những người sống bên lề xã hội làm bạn. 

Tìm kiếm sự hiện diện của Nước Trời để nhận ra giá trị và sức mạnh vô song mà Nước ấy đem lại là nghĩa vụ và bổn phận của các Kitô hữu. Điều này có nghĩa là chúng ta phải cùng với Đức Giêsu, Đấng đang hiện diện và đồng hành với cuộc sống của mỗi người, để lên đường ra đi tìm kiếm và kết bạn với những người bất hạnh mà chúng ta vừa đề cập ở trên. Đây chính là ước muốn của Đức Giê-su, Chúa chúng ta. Và điều mà Chúa mong ước này thúc đẩy niềm mong ước của chúng ta. Như vậy, muốn làm chứng về Nước Trời thì chúng ta phải có lối sống mới như Đức Giê-su.

Thật vậy, nhìn vào cuộc sống và sứ vụ của Đức Giêsu, con người sẽ khám phá ra mầu nhiệm của Nước Trời; và ngay lúc đó, chúng ta biết là đã tìm đuợc một kho tàng. Kho báu này làm thỏa mãn mọi khát vọng và đam mê của đời mình. Và từ trong nỗi khát khao đó, con nguời đuợc tự do, chứ không bị ép buộc, bán tất cả mọi sự để mua cho được kho báu đó.

Tuy vẫn biết là như thế, nhưng đâu là kho báu, đâu là gia nghiệp, đâu là quà tặng, đâu là viên ngọc qúy mà Thiên Chúa đã ban và yêu cầu mình tìm kiếm đây? 

Có một câu chuyện nghe như truyện cổ tích nhưng đọc kỹ lại thì hình như là truyện của mình. Truyện như sau: Tại một xóm giáo kia, có một ông chồng chuyên cần trong việc bổn phận đến mức độ quên ăn và mất ngủ. Ông mong ước mọi người chung quanh nhận ra nỗ lực và mọi cố gắng của ông. Mơ ước của ông là được thăng tiến trong sự nghiệp và leo lên vị trí lãnh đạo trong xã hội. Ông đã làm việc rất chăm chỉ. Ông coi việc làm là lẽ sống. Ông dành trọn thời gian và mọi nỗ lực cho công việc. Ông có rất ít gần như chẳng còn thời gian cho gia đình, thậm chí ông đã dành rất ít thời gian để quan tâm cho cuộc sống của mình. Và, qua lối sống như thế chúng ta đều biết rõ kho tàng của ông ta ở đâu!

Nhưng, vào một ngày kia, ông bị nhồi máu cơ tim, được đưa đến bệnh viện để cấp cứu. Ông đã nằm trong bịnh viện nhiều ngày, nhiều tháng. Lúc mê lúc tỉnh và không biết mình sẽ sống hay chết. Có những lúc ông nhận ra những bóng người đang đứng bên giường mình, lúc khác lại không nhận ra. Cho đến một ngày nọ, những người đó xuất hiện rõ hơn và ông lập tức nhận ra họ. Họ là vợ và các con, túc trực ngày đêm bên giường bệnh của ông.

Trong khoảnh khắc đó ông đã nhìn thấy kho báu của mình ở đâu. Kho báu đó được đặt trong gia đình ông, trong món quà cuộc sống đáng gìn giữ mà ông một chút nữa đã đánh mất, và tất nhiên đó là kho báu của Chúa, đã ban cho ông. Trong giây phút đó, ông đã thì thầm xin Chúa trả lại cuộc đời cho ông để ông có cơ hội thay đổi lối sống và làm chứng cho Chúa về kho báu mà ông đã lãng quên.

Sau cùng ông được xuất viện. Trong quãng đời còn lại, ông đã thay đổi lối sống. Thay vì chú tâm đến những mơ ước của bản thân thì nay ông mở ra cho mọi người, trước tiên là vợ và các con. Rồi sau đó cùng với mọi thành viên trong gia đình, ông mở ra và đón nhận tất cả mọi người ông gặp hàng ngày. Cũng kể từ ngày hôm đó, mọi người nhận ra ông vui vẻ và khỏe mạnh hơn. Phục vụ trong yêu thương và hy sinh là kho báu mà ông tậu được. Đó chính là kho tàng vĩnh cửu mà mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không ăn cắp được.

Qua kinh nghiệm nói trên, chúng ta nhớ rằng con người là bảo vật, là viên ngọc tinh khiết mà Chúa cất công tìm kiếm trước. Ngay từ ngày đầu, Thiên Chúa đã lên đường tìm kiếm con người, cho dù phải thắp đèn, quét nhà, moi móc mọi nơi mọi chốn thì Người cũng phải tìm cho ra bảo vật đó; rồi mời bà con lối xóm đến cùng chia vui. Tất cả nghĩa cử đó nói lên tình yêu của Thiên Chúa muốn bộc lộ cho con người là bảo vật quí báu của Người. Phần chúng ta hãy quyết tâm sống xứng đáng như một bảo vật quí giá của Thiên Chúa dành cho tha nhân, và tiếp tục khám phá vẻ đẹp, sự mới mẻ và những nét trân quý nơi mình và nơi người khác, vì tất cả đều là những viên ngọc tinh xảo mà Thiên Chúa đã dựng nên. Amen!



HÃY KIÊN TÂM VÌ NƯỚC TRỜI

Click for audio HÃY KIÊN TÂM VÌ NƯỚC TRỜI.

Tiếp theo dụ ngôn “người gieo giống” mà Giáo Hội đã công bố tuần trước. Hôm nay trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su tiếp tục dùng dụ ngôn để nói về Nước Thiên Chúa. Nước Trời được ví như việc làm của ông nông gia gieo giống tốt trong thửa ruộng của ông. Nhưng không may, giữa lúa tốt ấy lại có cỏ lùng do kẻ thù của ông gieo khi ông ngủ, khiến cho sự tăng trưởng của hạt giống bị cản trở. 

Cho nên, chúng ta không ngạc nhiên khi nghe những người giúp việc đề nghị với ông chủ cho phép họ đi gom cỏ lùng lại mà đốt đi. Và xét theo thói của đời thường thì ông chủ sẽ hoan nghinh, tán thành và cổ võ cách xử lý này. Nhưng, ông chủ lại không cho phép họ làm như thế. Lời từ chối của ông làm chúng ta ngạc nhiên; nhưng lý do ông đưa ra thật chí lý. Ông biết cách suy nghĩ và khả năng của họ, thay vì nhổ cỏ lùng thì họ có thể làm bật luôn cả rễ của lúa.

Cách xử lý nhổ cỏ lùng như thế giống như khuynh hướng tiêu diệt điều ác mà con người chủ trương. Ngay cả Gio-an Tẩy Giả cũng nghĩ rằng khi Đức Giê-su đến, Người sẽ thu thóc tốt vào lẫm và đổ rác và thóc lép vào lò lửa không bao giờ tắt để đốt đi. Nhưng chủ ý của Đức Giê-su khác với lối cư xử của chúng ta. Người muốn chúng ta hãy nhớ thân phận và vị trí của mình, dù có vai trò hay nắm giữ nhiệm vụ nào đi chăng nữa chúng ta vẫn chỉ là những người thừa hành. Quyền bính mà chúng ta có cũng được ban tặng từ Chúa, vì thế Người không muốn chúng ta hành xử thay quyền Người. Ngoại trừ Thiên Chúa, Đấng thấu suốt mọi sự, nhìn thấy tỏ tường ý định, cách suy nghĩ và tâm can của con người, thì không một ai trong chúng ta có thể ‘biện phân’ rõ ràng giữa thiện và ác, tốt và xấu. 

Một cuộc chiến giữa lành và dữ vẫn bám lấy chúng ta. Tự bản thân, chúng ta không thể thẩm định được, như kinh nghiệm chiến đấu mà Thánh Phao-lô đã chia sẻ như sau: “Việc lành tôi muốn tôi không làm, còn việc dữ tôi không muốn thì tôi lại làm.” Một sự căng thẳng giữa tốt và xấu, thiện và ác, lành và dữ vẫn hiện diện trong ta. Không ai xấu hoàn toàn và cũng không ai tốt về mọi phương diện. Cái xấu ngày hôm nay có thể được biến đổi để trở thành tốt. Điều mà chúng ta nhìn thấy và chủ quan cho là tốt chưa hẳn sẽ theo ta mãi. Cuộc sống là một chuỗi ngày thử thách, cần được thanh luyện và mài dũa; sau cùng điều thiện hảo, điều tốt lành sẽ hiện diện và tồn tại trong Thiên Chúa, Đấng biến đổi xấu thành tốt, làm mọi sự trở nên tốt lành và thánh thiện hơn. Chúng ta hãy ôn lại gương sáng và cách cư xử của Người đối với sự dữ. 

Thật vậy, Đức Giê-su đã khai mạc và loan báo về Nước Thiên Chúa. Người còn dậy chúng ta về cách xử thế theo đúng tiêu chuẩn của Nước Thiên Chúa: Thay vì phá hủy thì Người kiện toàn; thay vì hủy diệt thì Người cứu sống, thay vì loại bỏ thì Người vui mừng đón tiếp, thay vì đi đến với người quyền thế, có danh có giá thì Người chọn làm bạn với bọn bất lương, phường tội lỗi, thay vì tiêu diệt tận gốc kẻ thù là đứa phá hoại thì Người lại yêu cầu chúng ta cầu nguyện cho kẻ bách hại mình, và Người còn nhiều nói và làm điều mới lạ khác nữa. 

Như vậy, điều mà chúng ta yêu cầu nhổ cỏ lùng trước mùa gặt chỉ là việc lấy cái dốt của mình dậy khôn Thiên Chúa, dùng tài khôn lỏi để xúc phạm đến sự thông biết mọi sự của Thiên Chúa. Rõ mù lại làm ra vẻ sáng mắt nên cuối cùng lăn đùng xuống hố. Bao lâu còn sống là còn đấu tranh. Bao lâu còn tồn tại là còn cơ may để thay đổi. Chúng ta cần chấp nhận một sự thật, cho dù chua cay, nhưng vẫn là sự thật. Đó là trên thế giới, trong gia đình, ngoài xã hội và ngay trong cộng đòan của những kẻ tin vẫn còn bao gồm những người tốt và xấu. 

Việc ông chủ không cho phép những người giúp việc gom cỏ lùng để đốt đi đuợc giải thích rằng ông thật khoan dung và nhân hậu khi đối xử với người xấu, không trừng phạt ngay nhưng chờ họ trở về. Nhưng, lại có một số người khác diễn giải rằng thái độ và cách ứng xử của ông chủ duờng như hỗ trợ cho sự ác, cho phép bạo động bành truớng và tội ác phát triển. Thật ra, theo tinh thần của bản văn thì hành động của ông chủ đuợc xuất phát từ sự khôn ngoan. Ông biết rõ giới hạn và khả năng ‘phán đóan’ của những nguời giúp việc. Họ, tuy nhiệt thành và hăng say nhưng lại thiếu khôn ngoan trong việc biện phân nên dễ biến thành những người cuồng tín, rồi thay vì đi nhặt cỏ lùng, họ lại đi gom cả lúa vào thì hư hết việc. Kinh nghiệm trong cuộc sống dậy chúng ta rằng: những ai hăng say và nhiệt thành, nhưng thiếu óc phán đóan và khôn ngoan, có nhiều cơ may biến thành ‘hăng máu’; và kết quả thuờng gặp là đụng chạm và đổ vỡ.

Quả thật, thế giới mà chúng ta đang sống, cộng đòan nơi chúng ta đang sinh họat, thậm chí Hội Thánh mà chúng ta là thành phần… vẫn không hoàn hảo. Hãy nhớ lại thời đại mà Hội Thánh đã có lối cư xử bất khoan dung, không nhân nhượng với tà giáo, với những ai có những quan điểm hay phổ biến các giáo thuyết hay tín điều khác với mình. Tòa án dị giáo được thành hình để tiêu diệt những kẻ chống đối. Đây là một thực tế mà không ai trong chúng ta có thể lọai bỏ đuợc!

Như vậy, không lẽ chúng ta cứ sống mãi như thế, đồng lõa với sự ác. Không phải thế. Ngay trong dụ ngôn, Đức Giêsu nói cho chúng ta biết rằng cỏ lùng sẽ bị đốt, tội ác sẽ bị tiêu diệt. Thời gian mà tội ác hòanh hành trên thế giới, trong gia đình, ngay bản thân của mỗi người chỉ là tạm thời. Những điều tốt đẹp và các việc lành sẽ tồn tại muôn đời. Chúng ta đuợc mời gọi sống trong niềm xác tín rằng rồi mùa thu hoạch chắc chắn sẽ đến. Và, khi mùa thu họach đến, cả thế giới này sẽ tràn ngập niềm vui và tiếng cuời. 

Từ niềm xác tín này chúng ta tìm hiểu và suy niệm dụ ngôn “hạt cải” và “men trong bột” tiếp theo. Nước Trời còn được ví như hạt cải nhỏ bé tí nhưng khi lớn lên lại như cây lớn mà chim trời có thể đậu. Và, Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men.  

Muốn đạt đuợc kết quả như thế, chúng ta nghĩ ngay đến sự can thiệp của một sức mạnh siêu nhiên làm cho hạt cải lớn thành cây đại thụ. Cũng giống như thế về việc cả khối bột dậy men của người đàn bà trong dụ ngôn “men trong bột.” Nước Trời bắt đầu thật nhỏ bé, đối diện với muôn ngàn khó khăn từ trong ra ngoài. Tuy nhiên, Nước Trời chứa đựng một mầm sống thật mãnh liệt mà không một quyền lực nào có thể ngăn chận sự phát triển của nó. Yếu tố quan trọng là bàn tay và sức mạnh của Thiên Chúa, Đấng làm chủ và làm cho Nước ấy trở nên mạnh mẽ. Người có chương trình của Người. Hãy kiên trì, cộng tác và trao quyền làm Chủ triều đại Thiên Chúa cho Người, bởi vì nó thuộc về Thiên Chúa.   

Một cách tương tự, hai dụ ngôn nói trên có thể đuợc viết lại bằng ngôn ngữ của thời đại chúng ta như sau: “Nước Trời giống như công việc của một cha xứ trong một thành phố gần 2 triệu dân, mà chỉ có vài chục tín hữu đến nghe ngài giảng. Ngài kiên tâm bền chí rao giảng cho đến khi mọi người trong thành trở lại và tin vào Tin Mừng.” 

Tóm lại, Đức Giêsu dùng các dụ ngôn để giảng dậy cho chúng ta về Nước Trời, chứ không phải là lời tiên báo, cho dù về sự phát triển rộng lớn và mạnh mẽ của Giáo Hội. Qua các dụ ngôn này, Đức Giêsu nói về ngày mùa, ngày gặt hái chung thẩm của Nước Trời sẽ bội thu. Vì thế, thay vì dùng các dụ ngôn như một lời giải thích về sự thành công hay như một đảm bảo cho sự phát triển của Giáo Hội, thì chúng ta nên nghĩ rằng; qua các dụ ngôn này, Giáo Hội luôn được mời gọi để nhìn lại lối sống của mình mà nhận ra rằng: Nuớc Trời đã khai mạc bởi Đức Gie-su, đã được hoàn tất bởi sự nghiệp của Người. Tuy nhiên, đối với chúng ta thì Nước Trời vẫn còn nằm ngòai tầm với, chúng ta cần phải cố gắng hơn để đạt được nó. Hiện tại, chúng ta cần mở lòng ra chấp nhận nhau, tốt lẫn xấu, cùng bắt tay, nỗ lực hơn trong việc làm chứng về sự hiện của Nuớc Trời bằng lối sống của Đức Giêsu đã dậy và làm guơng cho chúng ta. Amen!



Tuesday, 7 July 2026

KIÊN TÂM RAO GIẢNG

 Click for audio KIÊN TÂM RAO GIẢNG

Thưa anh chị em,

Trình thuật Tin Mừng Chúa Nhật thứ 15 hôm nay kể lại câu chuyện “người gieo giống.” Hạt giống được gieo mọi chỗ: vệ đường, đá sỏi, bụi gai và đất tốt. Đó là những mảnh đất mà ông ta đã gieo hạt. Hòan cảnh địa lý của xứ Palestine như thế, một vùng đất khô cằn sỏi đá, rất khó khăn cho việc trồng cấy. Người gieo giống còn biết làm gì hơn! Ông ta thích nghi với môi truờng và hy vọng là những hạt giống gieo vào các vùng đất tốt sẽ sinh hoa kết trái khi mùa gặt đến. Qua đó, chúng ta thấy mục đích của dụ ngôn không nhắm đến hòan cảnh địa lý cho bằng công việc của người gieo: gieo và tiếp tục gieo trồng hạt giống.

Khi ghi lại dụ ngôn này, Thánh Mat-theu không có ý nhấn mạnh đến bản chất và điều kiện tại những nơi mà hạt giống được gieo. Mảnh đất dù tốt hay xấu đều đuợc đón nhận hạt giống. Thánh sử hiểu rõ công việc của người gieo. Và khi gieo như thế, ông biết chắc số phận của những hạt giống rơi vào các vùng đất khô cằn khó trổ sinh hoa mầu như vùng đất “chó ăn đá gà ăn sỏi.” Nhưng ông không nản lòng. Nhiệm vụ của ông là gieo, Chúa mới làm cho lớn lên. 

Còn đối với Đức Giê-su, với dụ ngôn người gieo giống Người muốn chia sẻ kinh nghiệm rao giảng Lời Chúa của Người. Đức Giê-su là Ngôi Lời. Chính Người là Lời Thiên Chúa. Người đến rao giảng và ban phát ân huệ của Nuớc Thiên Chúa; nhưng ân huệ và Lời rao giảng của Người như rơi vào sỏi đá và bụi gai, hậu quả là Người đã bị trục xuất ra khỏi hội đuờng! Trong khi Lời Người rao giảng và uy quyền của Chúa xuất phát từ Thiên Chúa, thì lại bị đánh giá là do quyền lực của ma quỷ! Hơn thế nữa, những người theo Chúa có mấy ai tuân phục ý Người, dân chúng theo Người cũng chỉ vì quyền lợi và nhu cầu bản thân: đuợc bánh ăn cho khỏi đói… 

Nhìn chung, Đức Giêsu đã thất bại… Nhưng không vì thế mà Người mất niềm tin vào việc rao giảng và công bố Lời Chúa. Người không lùi buớc, gieo và tiếp tục gieo trồng hạt giống, gieo trong niềm hy vọng là Thiên Chúa sẽ họat động trong và nơi các vùng đất tốt để làm cho nó sinh hoa kết trái, chỗ thì ba mươi, nơi thì sáu mươi, chỗ nọ một trăm. Ai nghe và cộng tác thì đạt kết quả.

Trong cùng một lối suy tư đó, tôi nghĩ đến bổn phận của chúng ta là những kẻ tin, những người đã bị Lời Chúa chiếm đoạt, không thể buông xuôi và thất vọng khi gặp những khó khăn. Hãy tiếp tục reo vãi, gieo trồng cho đến khi Thiên Chúa ban cho kết quả. Chúng ta hãy tin vào lời hứa của Thiên Chúa qua miệng ngôn sứ I-sa-ia trong bài đọc một, đó là một khi Lời đã được xuất phát từ miệng Chúa thì sẽ không trở về với Người nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Người, chưa chu toàn sứ mạng mà Thiên Chúa giao phó.

Thưa anh chị em,

Giờ đây chúng ta hãy dành đôi phút để kiểm tra hiệu quả của Lời Chúa trên cuộc sống mình. Về việc áp dụng Lời của Thiên Chúa thì cuộc đời chúng ta giống như thủa đất trải qua nhiều mùa. 

Có những lúc chúng ta đối diện với các khó khăn, những bon chen của cuộc sống khiến cho tâm hồn của chúng ta tuy đã đón nhận Lời của Chúa, nhưng chưa bị chọc thủng hay đâm sâu nên không bén rễ. 

Rồi cũng có lúc chúng ta cảm thấy được Lời ủi an, nâng đỡ; nhưng khi cơn hoạn nạn trôi qua, những đớn đau không còn mình lại trở về lối cũ. Nói chung, tuy chúng ta là tín hữu, nhưng cuộc sống vẫn còn bám víu bởi danh vọng, uy tín, vụ hình thức mà chưa để cho Lời Chúa thấm nhập, điều khiển và hướng dẫn mọi hành vi cho nên chưa thể sinh hoat kết trái theo như ý muốn của ông chủ. 

Tuy là như thế, nhưng chúng ta tin và hy vọng rằng Lời vẫn hoạt động âm thầm cho đến một ngày trổ sinh hoa trái bội thu để bù lại những mất mát do sự chọn lựa không sống theo Lời Chúa và các ân huệ của Người ban cho chúng ta.

Hơn thế nữa, mỗi người chúng ta còn được kêu gọi để rao giảng, muốn được như thế thì Lời Chúa phải được ăn sâu vào cuộc sống của chúng ta trước rồi sau đó với lòng kiên tâm, chúng ta miệt mài rao giảng cho đến khi Lời mang đến hiệu quả theo như ý Chúa. 

Trong tâm tình đó, với niềm kính trọng, xin gửi đến anh chị em, những người đang sống trong bổn phận làm cha mẹ, một kinh nghiệm mà tôi học được như sau.

Gia đình bạn tôi có 4 người con. Anh chị cố gắng chu tòan bổn phận và trách nhiệm làm cha mẹ trong môi truờng của một xã hội mà chính họ còn bỡ ngỡ. Khi còn nhỏ, cháu nào cháu ấy thật kháu khỉnh và dễ thương, chăm chỉ học hành, vâng lời anh chị, ngoan ngõan trong công việc. Đến khi cậu con trai lên mười tám, có bồ, bỏ học… mang cả bồ về nhà mà không xin phép bố mẹ… Cô gái thứ thua anh hai tuổi, cũng làm như thế, công khai đi với bạn trai và cũng đôi ba lần kéo nhau về nhà… Chú em thứ ba, nay đã đuợc mười tám, tuy không giống như anh chị cháu; nhưng đã làm cho anh chị buồn và lo lắng rất nhiều; còn cô gái út thì chưa biết ra sao? 

Vẫn biết yếu tố văn hóa và tập tục của các thế hệ trong gia đình người bạn khác nhau, cho nên cách suy nghĩ về đời sống luân lý và lối sống đạo cũng khác. Nói như thế, không phải để bào chữa cho các cháu. Nhưng chúng ta không thể áp đặt lối suy nghĩ và cách sống đạo của chúng ta trên nếp trẻ được. Cuộc sống bất đồng và những ý nghĩa dị biệt vẫn có thể làm cho đôi bên dừng lại, nhìn lại chính mình rồi tìm ra một giải pháp thỏa đáng để thông cảm cho nhau.

Nói chung, anh chị đã cố gắng hết sức mình để trao ban những gì tốt đẹp nhất cho con cái mình. Thế mà kết quả lại không được như anh chị mong ước. Chúng ta thông cảm và chia sẻ nỗi khó khăn, niềm lo âu và cơn buồn phiền trong đời sống với anh chị. Chúng ta còn phải cảm phục lòng can đảm, hy sinh, lòng kiên nhẫn trong yêu thương mà anh chị dành cho các cháu. Anh chị vẫn kiên trì gieo những hạt giống trên thủa ruộng cuộc sống của các cháu, gieo miệt mài trong niềm hy vọng là các hạt giống đó sinh hoa kết trái sau này.

Dụ ngôn người gieo giống được diễn giải trong cuộc sống của chúng ta như thế đó. Chúng ta là những con người bất tòan mà còn biết hành xử với con cái mình như thế, gieo và tiếp tục gieo hạt giống tin yêu và hy vọng chờ ngày sinh hoa kết trái; phuơng chi là Thiên Chúa. Người yêu thuơng, tiếp tục ban phát ân huệ, kiên tâm chờ đợi kết quả của ngày mùa. Mùa thu họach sẽ được bội thu, hạt thì ba mươi, hạt khác sáu mươi và hạt kia một trăm, v.v… Ai có tai thì hãy nghe. 

Dụ ngôn hôm nay nhắc nhở chúng ta hãy cho Chúa cơ hội, tiếp tục đặt niềm hy vọng nơi Chúa, Người mới làm chủ vụ mùa. Người sẽ có cách làm cho những hạt giống đâm chồi nẩy lộc và sinh nhiều hoa trái. Thật đúng như câu kết: “Ai có tai thì hãy nghe.” Chúa đã ban cho chúng ta sự tự do, và Người luôn tôn trọng cách xử dụng tự do của chúng ta, với niềm hy vọng chúng ta sẽ cho Người cơ hội làm cho mảnh đất Người gieo trồng đuợc tràn đầy mầu mỡ.

Chúa có lối giáo dục của Người. Đường lối của Người chúng ta không thể dò thấu. Nhưng chúng ta xác tín là Người sẽ không để cho bất cứ một hạt nào mà Người đã gieo lại trở về với Người mà không sinh hoa lợi.

Tóm lại, sứ điệp mà Chúa muốn gửi cho chúng ta hôm nay là lòng quảng đại và kiên tâm của Thiên Chúa, Đấng vì yêu thương đã ban phát Lời Chúa mà không áp đặt, không ép buộc, trái lại luôn tôn trọng quyền tự do của con người. Để đáp trả, chúng ta hãy đón nhận Lời Chúa, để cho Lời Chúa thấm nhập, ăn sâu vào tận đáy lòng chúng ta, rồi sống yêu thuơng, tha thứ, cởi mở, đón nhận và giúp nhau trổ sinh hoa trái bội thu cho ngày mùa sẽ đến. Amen!


Thursday, 2 July 2026

HÃY HỌC VỚI CHÚA

 Click for audio HÃY HỌC VỚI CHÚA.

Thưa anh chị em,

Vừa thoạt nghe bài Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay, chúng ta có cảm tưởng rằng Chúa Giêsu có thành kiến và không ưa những người thông minh! Thật ra, không hẳn là như thế, Chúa yêu quý tất cả mọi người. Người đón nhận những người biết tìm kiếm sự thật. Người thường đối thoại với các kinh sư và người Pharisêu như trường hợp của ông Ni-cô-dê-mô. Ông đã tìm gặp Chúa vào ban đêm để học hỏi và sau này còn can đảm bênh vực và mai táng Chúa.

Điều này cho thấy Chúa yêu thương và không loại trừ một ai. Tất cả đều được Chúa đón tiếp. Nhưng Chúa phê phán sự kiêu ngạo của những người tự cho mình là khôn ngoan như Người đã phán trong bài Tin Mừng hôm nay rằng: “Lạy Cha, con ngợi khen Cha vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn." (Mt 11,25)

Ở đây, cụm từ "khôn ngoan thông thái" không ám chỉ những người có kiến thức, nhưng là những người tự phụ, cho rằng mình đã biết tất cả nên không còn mở lòng đón nhận mạc khải của Chúa nữa.

Thật ra, thông minh, tài giỏi đâu phải là một tội. Nhiều người trong chúng ta vẫn cầu xin cho mình hay con cái được thông minh và học giỏi đó hay sao! Thông minh là quà tặng của Thiên Chúa. Người ban cho ai tùy ý Người. Tuy nhiên, thông minh tài giỏi thuờng hay đưa con người rơi vào sự cám dỗ của tính kiêu căng và ngạo mạn. Và con người với tính kiêu ngạo như thế thì họ còn coi ai ra gì nữa! Họ nghĩ là với tài trí mà họ đang có thì họ có thể làm chủ đời họ (rồi làm chủ và thống trị người khác), sau đó thì không cần đến Thiên Chúa.

Trong cuộc sống tại thế, Đức Giêsu đã trải qua kinh nghiệm đắng cay này: những người thông minh thay vì đón nhận lại từ chối Người. Thật vậy, những người trong hàng ngũ lãnh đạo tôn giáo thời Đức Chúa thuờng là những người thông thái, hiểu biết và giải thích lề luật cho người khác theo; nhưng chính vì quá thông minh nên họ không nhận ra căn tính của Đức Giêsu. Trong khi đó, vì hòan cảnh và điều kiện của cuộc sống cho nên những người thấp cổ bé miệng, ít học thuờng có nhiều cơ hội để đón nhận điều mới. Họ có thể đón nhận Lời giảng dậy của Người một cách dễ dàng hơn.

Đức Giêsu đã nhận ra tình trạng sống của bọn dân đen, những người thấp cổ, bé mọn. Họ bị những người lãnh đạo, thông luật bó những gánh nặng chất lên vai họ. Chính vì thế, phần kế tiếp trong trình thuật Tin Mừng là lời mời gọi của Chúa dành cho những ai đang vất vả mang gánh năng nề (nặng nề trong cuộc sống, nặng nề vì tuân giữ lề luật, nặng nề vì quá khứ tội lỗi… v.v);  Hãy đến với Người, học nơi Người, tôn Người làm Thầy; và Người sẽ bổ duỡng để họ đủ sức mà tiếp tục buớc theo Người.

 Như anh chị em đã biết, sống theo những đòi hỏi của Tin Mừng không phải là điều dễ dàng. Học theo lối sống của Đức Giêsu rất khó khăn vì đó là cuộc sống từ bỏ, hy sinh. Và, chúng ta cũng không nên lầm tuởng là Người đến để phá hủy (gánh nặng của) lề luật; nhưng kiện tòan. Và điều trọng đại nhất mà Đức Giêsu muốn là Tình Yêu, Lòng Nhân Nghĩa.

Thưa anh chị em,

Tôi không quá lạc quan hoặc bi quan quá khi nhìn về cuộc đời. Ta có thể nói cuộc sống là chuỗi ngày vui buồn lẫn lộn. Không ai vui cả đời và không ai sầu muôn kiếp. Trong thi thi hành bổn phận đuợc trao phó, các tu sĩ và linh mục cũng gặp những gánh nặng không sao kể xiết! Trong cuộc sống gia đình, anh chị em đã trải qua trăm cay nghìn đắng nào ai thấu cho!

Nói chung, dù sống theo ơn gọi nào, đã là con người thì đau khổ, gánh nặng, niềm vui và nỗi buồn gắn liền với cuộc sống. Không ai tránh thoát và cũng không có ai đuợc sai đến để cất đi các nỗi cơ cực và nhọc nhằn trong cuộc sống của chúng ta. Chúa mời mọi người, tất cả chúng ta, không loại trừ một ai: “Hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách (gánh nặng) của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”

Hãy đến cùng Chúa và học với Người. Người không dậy bằng lý thuyết, nhưng bằng những kinh nghiệm. Cuộc sống của Người là chứng từ hùng hồn về bài học hôm nay.

Đức Giêsu, khi chấp nhận cuộc sống ở trần gian, Người cũng không có ngoại lệ. Người đã đối diện và thắng vuợt các gánh nặng: như gánh nặng của lề luật, gánh nặng của trách nhiệm, gánh nặng khi đối diện với những kẻ chống đối rồi giết Người, gánh năng để bảo vệ nhân phẩm và căn tính làm người của đàn chiên mà Thiên Chúa trao phó cho Người; và gánh nặng duy nhất là Người phải từ bỏ ý riêng mình mà vâng phục ý định của Cha. Người đã sống như một trẻ nhỏ, hoàn toàn lệ thuộc vào Cha. Và, với thân phận bé mọn của một trẻ thơ, Người đã đón nhận Mạc Khải của Cha một cách thật trọn vẹn; và sẵn sàng chia sẻ bí nhiệm đó cho những ai bé mọn. (Mt 11:25)

Hơn nữa, Chúa đã không hứa sẽ cất đi tòan bộ gánh nặng trong cuộc đời của chúng ta. Chính vì thế, cho dù vất vả với cuộc sống, cần tuân giữ các khỏan luật. Nhưng chúng ta không mang gánh nặng một mình. Con đuờng chúng ta đuợc mời gọi buớc đi là con đuờng của Chúa. Chúa đã đi truớc. Hôm nay, Chúa mời chúng ta: Hãy đến với Chúa, ngồi nghỉ duới chân Người, lắng nghe và kể cho Người nghe về cuộc đời mình. Hãy mời Chúa đến không như một vị khách quí mà thôi; nhưng còn là người tình để cùng dùng bữa với nhau. (Kh 3:20) Người sẽ thật vui mừng đến chia vui, sẻ buồn với chúng ta như đã chia sẻ với Maria, và đó là phần tốt nhất mà Maria đã chọn (Lc 10:42). Trong tinh thần đó, thì gánh nặng không còn. Trong Tình Yêu tất cả đều nhẹ nhàng.

Và với khí cụ ‘hiền lành và khiêm nhường’ Người đã hoàn thành chuơng trình mà Cha muốn Người thi hành. Hiền lành và khiêm nhường không chỉ là các nhân đức cho bằng đó là cách sống của Chúa. Hiền lành để mời gọi mọi người đến với Người. Khiêm nhường để uy quyền cuả Thiên Chúa đuợc tỏ hiện như lời của Thánh Phaolô “Đức Giê-su Ki-tô… đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, hạ mình vâng lời cho đến nỗi chết. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người.”(Phi-lip-phê 2:6-9)

Tóm lại, Tin mừng của Chúa hôm nay là lời mời gọi không chỉ dành cho những ai đang vất vả lầm than mà thôi; nhưng đó là lời mời gọi dành cho tất cả chúng ta: Hãy đến với Nguời, hãy học nơi Người; bởi Người muốn tham dự, đồng hành và chia sẻ với cuộc đời chúng ta. Thật vậy, trong Đức Giêsu chúng ta được bổ sức để thi hành Ý của Thiên Chúa như Lời đã phán hãy mang lấy ách của Chúa.

Thật vậy, Đức Giê-su không mời gọi chúng ta đi theo Người để có cuộc sống thoải mái và không còn đau khổ nữa. Trái lại, theo Chúa là chấp nhận một cuộc sống bấp bênh, liều lĩnh đối diện với mọi hiểm nguy với đầy thách thức mà chúng ta phải vượt qua. Con đường và cuộc sống mà Chúa dọn cho chúng ta bước vào là một cuộc sống mà trong đó con người đối xử với nhau một cách thật nhân từ và khiêm cung để phục vụ nhau. Tuy nhiên, ai được mời gọi đi vào nếp sống như thế đều cảm nhận được sự thanh nhàn khi phục vụ; vui vẻ khi phục vụ như một người anh em, không ai làm nô lệ ai. Vì là anh em cho nên họ cũng được kêu gọi để làm người phục vụ nhau như gương của Chúa, Đấng đã đến, không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.

Như thế, để hoàn thành nhiệm vụ cao cả của người môn đệ, chúng ta hãy đến với Chúa, hãy học nơi Người. Đừng trì hoãn, đừng nại vào các lý do như: con không xứng đáng, con đã có hẹn, con yếu đuối và tội lỗi, con lo sợ, con phải đi thăm thân nhân, người nghèo, kẻ ốm đau và thiếu thốn hay các lý do khác giống như thế. Những điều đó Chúa đều biết. Hãy đến với Chúa ngay, rồi Người sẽ bổ sức và ban sức mạnh để chúng ta trở thành nguồn trợ lực và bổ sức cho nhau. Amen!

 

 

Friday, 19 June 2026

YÊU CHÚA TRÊN HẾT


Click for audio YÊU CHÚA TRÊN HẾT

 Anh chị em thân mến, 

Trong bài Tin Mừng tuần trước, Đức Giê-su đã khuyên các môn đệ đừng sợ mà hãy can đảm thi hành sứ mạng truyền giáo, cho dù phải hy sinh mạng sống thì cũng đừng lo, bởi vì cuộc sống của người môn đệ chân chính là của Chúa và thuộc về Chúa. 

Tin mừng hôm nay là phần kết luận bài giảng truyền giáo của Đức Giê-su. Trong đó, Người đưa ra các tiêu chuẩn mà người môn đệ của Nước Trời cần phải có. Qua Bí Tích Thánh Tẩy chúng ta đã trở thành tín hữu của Chúa và là thành viên của Hội Thánh. Vì thế, việc rao giảng Nước Thiên Chúa là bổn phận. Tuy là như thế, nhưng không phải người tín hữu nào cũng là môn đệ chân chính của Đức Giê-su cả đâu! Có sự khác biệt giữa người môn đệ chân chính và người chỉ khoác trên mình bảng hiệu Ki-tô hữu. 

Căn cứ vào những gì mà Đức Giê-su dậy bảo hôm nay, chúng ta nhận thấy điều kiện để trở thành môn đệ của Chúa không lệ thuộc vào các việc như: tuân giữ các giới răn, siêng năng cầu nguyện, lĩnh nhận các Bí Tích, hăng say tham gia công tác trong xứ đạo và những việc đạo đức khác nữa. 

Vẫn biết rằng, tất cả các điều kể trên là bổn phận của người môn đệ, và chúng ta thật có lỗi nếu không thực hiện các điều này. Nhưng các tiêu chuẩn mà Chúa dành cho các môn đệ hôm nay đòi hỏi chúng ta cần có một chọn lựa, thứ chọn lựa đòi hỏi sự hy sinh. Đây không phải là điều dễ dàng. Bởi vì, yêu sách của Đức Giê-su đưa ra hôm nay rất quyết liệt, khó thực hiện, đòi hỏi người môn đệ phải có thái độ sẵn sàng để dứt bỏ. 

Chúng ta cùng nhau nghe lại điều Chúa phán: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.” (Mt 10: 37) Tình Yêu Chúa của người môn đệ phải vượt lên trên tất cả mọi thứ tình yêu khác. Đức Giê-su đã nói thêm rằng chúng ta phải yêu Chúa hết tâm hồn, hết trí khôn và hết sức mình. Nói chung, yêu Chúa trên hết mọi sự. Yêu Chúa như Chúa yêu. Yêu Chúa rồi làm như Chúa đã dậy trong Bữa Tiệc Ly. Người cầm bánh, dâng lời chúc tụng rồi bẻ ra và trao cho các môn đệ rồi phán “Này là Mình Thầy.” Tình yêu của Đức Giê-su là của lễ hiến dâng lên Cha, rồi trao ban cho các môn đệ. Tất cả cử chỉ của Chúa như hiến dâng, bẻ ra, trao ban đều là các tiêu chuẩn mà các môn đệ của Chúa phải áp dụng. 

Thưa anh chị em,

Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta hãy hồi tâm để xem chúng ta yêu Chúa đến độ nào, có yêu Chúa trên hết mọi sự không? Bởi vì, chỉ có can đảm nhìn nhận, chúng ta mới biết mình là ai? Có phải là môn đệ chân chính của Chúa hay là cứ mãi sống dưới nhãn hiệu của người tín hữu, và các điều cần làm để vui lòng Chúa thì lại bỏ quên.

Để xứng đáng là môn đệ của Chúa, chúng ta phải cố gắng xây dựng và thay đổi nơi chúng ta đang sống thành nơi mà mọi người cùng được nuôi dưỡng và lớn lên trong Tình Yêu Chúa. Và như thế thì mọi mối tương quan mà chúng ta đang xây dựng như vợ chồng, con cái, bạn bè, thân hữu, v.v… đều được đặt trên nền tảng và cùng qui hướng về Tình Yêu Chúa.

Do đó, chúng ta phải nhìn nhận rằng nếu tình yêu của chúng ta dành cho Chúa không quan trọng và chưa lớn hơn tất cả thứ tình yêu khác thì chúng ta làm sao có thể dâng tất cả những sự thuộc về mình cho Chúa được? Làm sao đặt Chúa lên trên mọi sự như thời gian, công sức, tài năng và tiền của cho Người được?

Làm sao chúng ta có thể nói rằng tôi yêu Chúa hơn mọi sự, trên tất cả mọi thứ mà lại không có thời gian để tâm sự với Người. Hơn thế nữa, thời giờ là của Chúa ban cho! 

Dựa vào kinh nghiệm trong cuộc sống, khi yêu nhau là muốn ở bên nhau. Có nhiều đôi bạn trẻ đã chia sẻ rằng họ chỉ mong ở bên nhau, thậm chí chẳng biết và chẳng có chuyện gì để nói. Giống như thế, im lặng để nhìn ngắm Chúa và lắng nghe tiếng Chúa là phương thế cầu nguyện tốt nhất. Anh chị và tôi là những người thật xứng đáng là môn đệ của Chúa, nhưng chúng ta đã yêu Chúa bằng cách dùng thời gian theo ý Chúa hay chưa?

Cùng một cách như thế, chúng ta hãy tự hỏi tôi đã xử dụng khả năng mà Chúa trao ban như thế nào? Để xây dựng công ích, mưu cầu ích lợi chung hay là ích kỷ dùng cho riêng gia đình mình mà thôi.

Tiến xa hơn một bước và cũng thật là khó khăn khi chúng ta đề cập đến việc xử dụng tiền bạc. Vấn đề này rất tế nhị. Bởi vì tiền của gắn liền với sinh hoạt hàng ngày của chúng ta. Trên thực tế, tôi biết rằng có nhiều anh chị em tỏ vẻ chán nản và thất vọng khi nghe linh mục nói đến tiền. Thậm chí, có nhiều người không muốn đến Nhà Thờ vì chẳng nghe được những lời giáo huấn từ cha xứ, thay vào đó chỉ nghe đề cập đến nhà xứ thiếu chỗ này, hụt chỗ kia… tiền ơi là tiền.

Quả thật, bản thân tôi rất ngại khi đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, chúng ta cần phải đối diện với thách đố là chúng ta đã yêu Chúa và đặt Chúa trên mọi nhu cầu và mãnh lực mà tiền bạc có thể chi phối cuộc sống của chúng ta hay chưa? Như chúng ta thường nghe nói “tiền bạc là ông chủ xấu nhưng lại là một đầy tớ tốt”. Vì thế, anh chị em hãy tự vấn mình đã coi tiền của như phương tiện mà Chúa ban để xây dựng công ích hay lại tôn nó lên vai trò của một ông chủ điều khiển cuộc sống mình. 

Người môn đệ chân chính của Chúa hãy học nơi Người lòng quảng đại và tinh thần bác ái trong việc xử dụng tiền của. 

Khi suy niệm và trình bầy mấy điểm nói trên, tôi chợt nhớ đến đời sống và gương sáng của Thánh Nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su. Hành trình đời sống của Ngài chỉ vỏn vẹn 24 năm. Ngoài thời gian thơ ấu sống trong sự bao bọc của cha mẹ, thời gian còn lại Ngài sống trong đan viện của Dòng Kín Ca-mê-lô. Cuộc sống nghèo, chẳng có nhiều tiền để cho ai. Công việc của Ngài thật âm thầm, lo việc trong nhà. Thế mà công trạng của Ngài lại được sánh ngang hàng với Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e bôn ba khắp nơi để truyền giáo. Bởi vì Thánh Nữ đã yêu Chúa bằng cả cuộc đời. Mọi việc Ngài làm, mọi cử chỉ và mọi lời Ngài nói đều phát sinh từ tình yêu mà Ngài dâng tặng cho Chúa để cầu nguyện cho việc truyền giáo.

Giống như Chúa, noi gương Thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, chúng ta phải yêu Chúa trên hết mọi sự, chọn Chúa trước khi chọn lựa các điều khác. Trong cử chỉ, lời nói và việc làm của cuộc sống, chúng ta đừng hỏi tôi muốn gì mà là Chúa muốn gì. Đây không phải là điều dễ làm. Chúa biết rõ nỗi khó khăn mà chúng ta sẽ gặp phải. Vì thế, sau khi đưa ra các điều kiện đòi hỏi người môn đệ cần có, Chúa đã phán tiếp: ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng làm môn đệ của Thầy.

Tóm lại, trên hết mọi sự và trong tất cả, chúng ta hãy yêu Chúa trước. Tình yêu Chúa bao hàm việc hy sinh, từ bỏ và dâng hiến. Tình yêu đáp trả mà chúng ta có được cũng xuất phát từ Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu chúng ta trước. Người yêu con người đến nỗi đã gửi người Con duy nhất, hiến mạng sống của người Con làm quà tặng ban cho chúng ta sự sống đời đời.

Một lần nữa, chúng ta tin vào sự hiện diện của Chúa Phục Sinh trong Bí Tích Thánh Thể mà chúng ta đang cử hành. Đây là quà tặng tình yêu của Thiên Chúa thể hiện trong Thánh Lễ này. Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy, nhớ đến thân xác của Thầy đã hy sinh làm của ăn nuôi sống chúng ta. 

Trước khi đón nhận Mình Chúa, chúng ta thú nhận mình bất xứng. Và sau đó mới đón nhận thân xác Người và được biến đổi để xứng đáng thành người môn đệ của Chúa, và giống như Chúa chúng ta sẽ nỗ lực yêu thương và nuôi sống nhau.

Tình Yêu là thế. Chỉ có ai yêu mến Chúa hơn mọi thứ tình trên trần gian này mới thật là người môn đệ của Chúa và sẽ làm được các việc như Chúa đã làm. Amen! 


ĐỪNG SỢ! HÃY TIN

 Click for audio ĐỪNG SỢ! HÃY TIN

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay vỏn vẹn chỉ có 7 câu, thế mà ba lần Đức Giê-su đã nhắn nhủ các môn đệ “anh em đừng sợ”. Đức Giê-su biết rằng nỗi sợ hãi gắn liền với cuộc sống của chúng ta, đến nỗi có một số người quả quyết rằng đời sống của con người bao gồm một chuỗi ngày của sự sợ hãi! Giờ đây, chúng ta lần lượt xem qua:

Khi còn bé chúng ta sợ bóng tối, sợ ma.

Lớn hơn một tý, chúng ta sợ bị bắt nạt, sợ bị chê là học dốt, sợ bị chê xấu.

Đến tuổi mới lớn, chúng ta sợ bị áp lực, sợ không dám đối diện với thất bại, sợ bị chê mập hay xấu, sợ bị tai tiếng, sợ không bằng chúng bạn… Nhiều nỗi sợ hãi vu vơ khiến con người mất ngủ, thậm chí bị trầm cảm… 

Chúng ta nghĩ rằng đến tuổi trưởng thành các nỗi sợ hãi sẽ dừng lại. Nhưng, đến tuổi lớn khôn, chúng ta lại có nhiều nỗi lo sợ khác. Sợ cuộc sống thiếu an toàn vì những điều không may có thể xẩy đến nên mua bảo hiểm, sợ tương lai xấu, sợ con cái hư hỏng, sợ bị mất việc, sợ tai ương ập đến khiến cuộc sống bị bế tắc, sợ khủng bố, sợ chết, v.v…

Dân công giáo thì sợ bị cám dỗ, sợ tội, sợ bị sa hỏa ngục, sợ bị Chúa phạt. 

Mỗi người chúng ta đều có nỗi lo sợ riêng, sợ chính mình và sợ nhau nữa.

Anh chị em thử tuởng tuợng sống trong một trạng thái sợ hãi như thế thì cuộc sống sẽ ra sao? Sau đây là một vài kinh nghiệm thực tế mà chúng ta có thể đã trải qua.

Cách đây khoảng hơn chục năm, có một lần tôi đuợc diễm phúc nghe tâm tình của một vị có thẩm quyền chuyên lo về giáo dục cho một nhóm trẻ tại Việt Nam. Ông phân tích về hiện tuợng của thế hệ trẻ sống tại quê nhà. Theo sự nhận xét của ông thì những người trẻ hiện nay, đăc biệt những cháu mà ông có trách nhiệm đào tạo và huớng dẫn, đang sống trong trạng thái nghi ngờ và sợ nhau. Nguyên nhân gây ra hiệu quả này là các cháu được sinh ra và lớn lên trong một môi trường mà trong đó hệ thống ‘gài nguời’ làm ăng-ten (antenna) quá tinh vi, đã cắm rễ sâu trong mọi tổ chức. Để giải quyết cho vấn nạn này, ông và các bạn đồng hành cố gắng đào tạo một thế hệ trẻ biết tin tưởng nhau hơn. Và, để thực hiện điều này, ông cho phép những người trẻ mà ông đang huớng dẫn có dịp nói lên những suy tư và ý nghĩ của họ. Sau khi họ phát biểu; thay vì lắng nghe, ông và các bạn lại lựa những người đã có những ý tưởng nguợc lại với ông và khai trừ họ khỏi tổ chức. Vì sợ mất quyền nên ông đã khai trừ lớp trẻ mà Thiên Chúa đã trao cho ông chăm sóc!

Sự cố nói trên xẩy ra trong môi trường giáo dục, còn đời sống thường nhật trong gia đình thì sao. Có những ông chồng may mắn có đuợc vợ đẹp con khôn. Thay vì tin tuởng lại sợ người phối ngẫu và các con vuột khỏi tầm tay của mình, nên ông đã có lối hành xử thống trị, kiểm sóat khiến cho gia đình thành ngục tù với bầu khí đầy thê luơng và tang tóc…Từ đó, ai cũng sợ và né ông, và sợ nhau nữa. Cuối cùng thì điều ông sợ đã biến thành sự thật: gia đình tan vỡ chỉ vì sợ mà đánh mất đi hai yếu tố căn bản của gia đình là tin tưởng và yêu thương nhau.

Thêm nữa là chuyện của các đấng các bậc. Có tu sĩ hay linh mục, chỉ vì sợ mối tuơng quan giữa họ và Thiên Chúa, giữa họ và tha nhân bị phai lạt. Để bù đắp họ tìm mọi phuơng thức để thành công hầu thu phục và nối lại các mối tuơng quan đó. Nhưng thật ra, họ tìm đủ cách để bồi đắp ‘cái tôi’ của họ. Cuối cùng ‘cái tôi’ và ‘sự sợ hãi’ phát triển đồng đều khiến họ bị rối lọan và có thể lạc đuờng.

Đó là các hậu quả rất tiêu cực của nỗi sợ hãi. Giờ đây chúng ta làm thế nào?

Lần theo các sách Tin Mừng, chúng ta nhận thấy Đức Maria cũng sợ nên thiên thần mới phán “Maria, đừng sợ! vì người đã đắc sủng nơi Thiên Chúa”. Được Thiên Chúa yêu thương và sủng hạnh là khí cụ khiến Mẹ chúng mình bớt sợ và tín thác hơn.

Phêrô nhìn Chúa đi trên biển đến với các ông, nhưng vì sợ nên mới tuởng là ma; cho nên Chúa mới củng cố ông “cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mc 6:51). Cậy vào Lời Chúa nói khiến Phê-rô can đảm bước đi với giông tố để đến với Chúa. 

Đức Giê-su cũng sợ, sợ đến độ máu và mô hôi toát ra trong vườn cây dầu. Tuy Người sợ chết, nhưng vui lòng chấp nhận chịu chết vì tin tưởng vào Thánh Ý của Thiên Chúa.

Như vậy, chúng ta nhận thấy giải pháp làm chúng ta bớt sợ, đó là dám đối diện với sự sợ hãi bằng tâm tình phó thác và tin vào Chúa, Đấng luôn yêu thuơng và bao bọc chúng ta. Tin và Yêu là giải pháp giúp chúng ta sống vui hơn. Thật vậy, chúng ta chỉ có thể vuợt qua được nỗi sợ hãi nhờ tin vào Thiên Chúa, Đấng đang hiện diện với chúng ta trong mọi cảnh huống. Ngài yêu thuơng và chăm lo đến từng sợi tóc của chúng ta.

Chúng ta đừng để sợ hãi làm chúng ta vấp ngã. Giả như có vấp ngã - thì cũng là lẽ thường - đừng sợ Chúa phạt. Chúa yêu ta vô bờ bến, thương ta ngay lúc ta còn là tội nhân cơ mà. Con người chỉ thắng được các nỗi sợ hãi nhờ tin vào Ðức Giêsu, Ðấng đã không ngã gục vì sợ hãi, đi tới cùng và tuân theo ý định của Thiên Chúa. Qua sự chết Người đi về nhà Cha thế nào thì con đường mà người môn đệ được chọn để thi hành có thể dẫn họ đến cái chết như thế. Tuy vẫn biết kết cục là như thế, nhưng cho dù là sự chết cũng không làm cản trở ơn trung kiên, lòng chung thủy của các môn đệ với Chúa, là Đấng mà chúng ta đã hết lòng tin tưởng và cậy trông.

Sau cùng, chúng ta vẫn biết rằng không ai có thể tránh được cái chết. Vì thế đừng sợ chết. Sự chết không còn là án phạt mà là ngưỡng cửa dẫn chúng ta bước vào sự sống vĩnh cửu với Chúa

Cầu xin Chúa cho chúng ta đủ can đảm để đối diện và vượt qua mọi nỗi sợ hãi trong cuộc sống mà trung thành trong nhiệm vụ của người môn đệ được Chúa yêu thương. Amen!





Saturday, 13 June 2026

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA SAI TÔI ĐI!

Sau khi hân hoan mừng các ngày Đại Lễ trong Mùa Phục Sinh và các ngày lễ Trọng như Lễ Chúa Ba Ngôi, Lễ Mình Máu Thánh Chúa, Lễ Thánh Tâm. Tuần này, phụng vụ Hội Thánh mời gọi chúng ta quay trở về với phụng vụ của Mùa Thường Niên, và chủ đề của Chúa nhật tuần này là ơn gọi. Một cách nào đó, Hội Thánh mời gọi chúng ta ra đi, trở về cuộc sống đời thường để chu toàn bổn phận của người môn đệ.

Thật vậy, xuất phát từ lòng thương xót của Chúa mà chúng ta đã thấm nhuần từ các mầu nhiệm cao siêu của Thiên Chúa sẽ là nguồn động lực thúc đẩy chúng ta ra đi để thể hiện lòng thương xót của Chúa cho người khác. Họ đang khao khát đón nhận điều mà chúng ta đã được trao ban.

Vì thế trong bài Tin Mừng, Thánh sử bắt đầu mô tả hoàn cảnh của những người theo Chúa. Khuôn mặt họ bộc lộ sự mệt nhọc, những bước chân lê thê, mệt mỏi của họ đã đánh động Lòng thương xót của Chúa. Tâm hồn Chúa bị rung động một cách mãnh liệt. Người biết họ đang khao khát điều gì. Người không thể bỏ rơi họ. Với tấm lòng của người Cha, trái tim Chúa đau nhói vì đám đông theo Người như bầy chiên không người chăn dắt. Người không thể để họ bơ vơ, cho nên Chúa đã động lòng thương. Từ lòng thương xót ấy, Chúa Giêsu nói với các môn đệ hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.

Cánh đồng truyền giáo luôn rộng lớn. Nhu cầu rất khẩn thiết. Nhìn vào hiện tình của thế giới hôm nay, chung quanh chúng ta còn bao nhiêu người chưa nhận biết Chúa, biết bao gia đình đang đối diện với những nguy cơ khiến cho gia đình của họ có thể bị tan vỡ, biết bao người trẻ mất niềm tin và lạc hướng, biết bao người nghèo khổ, sống bơ vơ cần được yêu thương.

Có một chi tiết mà chúng ta nên để ý, đó là sau khi nói các môn đệ xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về thì chính Chúa lại sai họ đi. Có nghĩa là chúng ta không chỉ cầu nguyện cho sứ vụ mà phải sẵn sàng trở thành người được sai đi nữa. Mỗi Kitô hữu đều có sứ mạng mở mang Nước Chúa, không nhất thiết bằng những bài giảng hùng hồn, nhưng bằng đời sống chứng tá, bằng phục vụ, lòng bác ái và niềm vui của Tin Mừng.

Trong phần cuối của bài Tin Mừng, Chúa còn nói thêm rằng: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.” Và như anh chị em còn nhớ. Đức tin là một hồng ân nhưng không. Tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta không phải là phần thưởng vì công nghiệp, nhưng là quà tặng. Vì thế, chúng ta được mời gọi sống ơn gọi của mình một cách quảng đại và chia sẻ cho tha nhân những gì mình đã lãnh nhận.

Vì thế, thưa anh chị em.

Theo truyền thống, ơn gọi được hiểu là ơn gọi trở thành linh mục hay tu sĩ. Nếu chúng ta chấp nhận định nghĩa hạn hẹp này thì cũng phải chấp nhận rằng hiện có một cuộc khủng hoảng ơn gọi ở nhiều nơi trên thế giới. Ở nhiều quốc gia thuộc thế giới Tây Phương, rất ít người xin vào các chủng viện hoặc tu viện. Nhiều nhà thờ bị đóng cửa, nhiều sinh hoạt của các giáo xứ bị gom chung lại với nhau vì thiếu linh mục.

Tại Việt Nam và một số nước thuộc thế giới thứ ba, các chủng viện đầy ắp chủng sinh và có nhiều nhà dòng mới được hình thành. Thoáng nhìn thì chúng ta có cảm tưởng tại các nước đó, Giáo Hội không phải đối mặt với cuộc khủng hoảng thiếu ơn gọi.

Nếu chúng ta nhìn cuộc khủng hoảng ơn gọi từ một góc độ khác, chúng ta có thể coi đó là một cơ hội để nhìn ra quyền năng của Chúa Thánh Thần, Đấng vẫn hoạt động trong Hội Thánh từ buổi sơ khai. Ngày nay, có thể lấy mốc điểm từ khi có Công đồng Vat II, hàng giáo sĩ đã chia sẻ nhiệm vụ và trách nhiệm với giáo dân. Chúng ta thấy nhiều giáo dân đóng vai trò là Thầy sáu vĩnh viễn, Thừa tác viên Thánh Thể, Thừa tác viên Lời Chúa. Họ giúp các linh mục quản xứ trong việc phục vụ cộng đoàn, lại có một số người dấn thân toàn thời gian trong các hoạt động tông đồ của Giáo Hội cấp giáo xứ và địa phận. Cánh cửa phục vụ được mở ra để mời gọi mọi thành phần dân Chúa tham gia vào các hoạt động của Giáo Hội và đó là cơ hội để mọi người chu toàn ơn gọi từ Chúa.

Chúa Giê-su kêu gọi các Tông Đồ và mỗi người chúng ta hãy ở với Người và ra đi. Phần đầu tiên là được ở với Người và ở trong Người. Nếu chúng ta không ở với Người thì việc chúng ta ra đi có thể phát xuất từ những lý do rất ích kỷ. Thảm họa thay cho một cộng đoàn nếu những người tham gia vào các sinh hoạt của Hội Thánh chỉ vì thích quyền bính.

Nói chung, chúng ta đóng những vai trò khác nhau trong Hội Thánh. Nhưng ơn gọi nên Thánh là lời mời gọi chung cho mọi tầng lớp. Chúng ta được mời để ở với Chúa rồi sau đó sống theo ý Người muốn chúng ta sống. Đó chính là điều Thánh Phao-lô, tông đồ dậy bảo tín hữu Cô-rin-tô: “Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ... Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả… Đó là đức mến, lòng thương xót (1 Cr 12,28 – 13,13). Và đó là nền tảng của mọi ơn gọi.

Anh chị em thân mến,

Nhìn lại lịch sử giáo hội, chúng ta thấy rất nhiều gương sáng của những người đã được Chúa sai đi. Họ được sai bởi Chúa và theo gương Chúa họ sẵn sàng hy sinh tất cả, từ bỏ chốn an nhàn ra đi phục vụ những người nghèo khó. Và một trong những người được Chúa đánh động để đến với dân nghèo. Đó là Cha Thánh An Phong. 

Mời anh chị em cùng ôn lại gương sáng của Cha Thánh, nhất là sức mạnh của Chúa hoạt động trong Ngài.  

Trước khi sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế, Cha Thánh An-phong là một linh mục triều, đã dấn thân phục vụ tại các giáo xứ. Với lòng hăng say và nhiệt thành, ngài đã miệt mài trong các công tác mục vụ khiến ngài bị kiệt sức. Vì thế, theo lời đề nghị của bác sĩ thì ngài nên đi nghỉ và dưỡng sức. Ngài đã chọn Scala, thuộc xứ Naples. Scala nằm trên một ngọn núi hướng ra mặt biển, không khí thật trong lành. Quả là nơi lý tưởng để nghỉ ngơi. 

Tuy nhiên, phong cảnh trữ tình và không khí trong lành của Scala cũng không quyến rũ được ngài. Vừa đến nơi, Thánh An Phong đã nhận thấy những người nông dân, kẻ chăn chiên và dân chúng tại Scala là những người bơ vơ, không ai đoái hoài, không ai quan tâm và chăm sóc cho họ, cho nên Ngài và các bạn lập tức mở lớp giáo lý buổi tối tại tư gia để dậy dỗ và chuẩn bị cho họ lĩnh nhận các bí tích. Nghe tiếng ngài, dân chúng thuộc các vùng lân cận lũ lượt kéo đến để nghe giảng dậy. 

Tuy Thánh An Phong được sinh ra trong một gia đình quý tộc, giầu sang và quyền thế. Nhưng tâm hồn của ngài đã gắn liền với những người nghèo, con người bơ vơ, bị bỏ rơi. Vì thế, trông thấy họ, ngài chạnh lòng thương vì họ như những con chiên bị tan tác và không được chăm sóc. Với cảm nghiệm như thế, ngài nhận ra con đường Chúa muốn ngài phải đi, nên đã cùng với các bạn cùng chí hướng ngồi lại với nhau để sáng lập một nhà dòng mà ngày nay chúng ta gọi là Dòng Chúa Cứu Thế, một hội dòng chuyên lo cho những người bị bỏ rơi, bơ vơ không nơi nương tựa, những người nghèo khó.

Noi gương Chúa và được tác động bởi Lòng Thương Xót của Đức Chúa chúng ta đừng để ai sống bơ vơ, bị bỏ rơi và không ai quan tâm. Tâm trạng của người bị bỏ rơi và bơ vơ là trạng thái đau khổ nhất mà con người phải gánh chịu. Muốn chữa lành các vết thương của họ, chúng ta phải đến với họ. Muốn chia sẻ nếp sống của họ chúng ta phải đồng cảm và chia sẻ lối sống của họ. 

Thật vậy, lời khuyên của cha cố trong Dòng vẫn văng vẳng bên tai tôi. Ngài đã nói như sau: “Muốn công việc phục vụ người tất bạt, bơ vơ, nghèo khổ được hữu hiệu, anh em chúng mình, các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế cần phải có con tim rung cảm, con tim bị bốc cháy bằng trái tim nhân hậu và rực cháy lửa yêu mến của Chúa.” Và điều này cần đuợc áp dụng cho anh em mình trước tiên. Đừng bỏ rơi ai và đừng để ai bị bơ vơ!

Còn chúng ta thì sao? Tôi không phải là Chúa. Tôi không thuộc về nhóm 12. Và tôi cũng chẳng phải là Thánh An-Phong. Hẳn nhiên là như thế. Cho dù chúng mình không phải là linh mục hay tu sĩ, nhưng trước hết chúng mình phải là một con người, bình thường, mỏng manh và yếu đuối như bao nhiều người môn đệ khác! 

Đúng vậy, xin bạn đừng lo! Bởi vì Chúa không đòi chúng ta trao ban hơn điều chúng ta có thể nhận lĩnh. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng mọi chương trình mục vụ trước tiên phải được xuất phát từ lòng từ bi và nhân hậu của Đức Giê-su. Đấng luôn thương yêu con người! 

Vì thế, với niềm vinh dự của người môn đệ, nhân danh Chúa Ba Ngôi chúng ta hãy ra đi. Và, trước khi ra đi, chúng ta hãy tập ở với và ở trong Chúa, để đôi mắt của chúng ta nhận ra dấu chân của những con người đang bơ vơ, lạc bước và không ai đoái hoài bằng đôi mắt từ bi, nhân hậu và luôn thương xót của Chúa. Amen!