Friday, 19 June 2026

YÊU CHÚA TRÊN HẾT

 Anh chị em thân mến, 

Trong bài Tin Mừng tuần trước, Đức Giê-su đã khuyên các môn đệ đừng sợ mà hãy can đảm thi hành sứ mạng truyền giáo, cho dù phải hy sinh mạng sống thì cũng đừng lo, bởi vì cuộc sống của người môn đệ chân chính là của Chúa và thuộc về Chúa. 

Tin mừng hôm nay là phần kết luận bài giảng truyền giáo của Đức Giê-su. Trong đó, Người đưa ra các tiêu chuẩn mà người môn đệ của Nước Trời cần phải có. Qua Bí Tích Thánh Tẩy chúng ta đã trở thành tín hữu của Chúa và là thành viên của Hội Thánh. Vì thế, việc rao giảng Nước Thiên Chúa là bổn phận. Tuy là như thế, nhưng không phải người tín hữu nào cũng là môn đệ chân chính của Đức Giê-su cả đâu! Có sự khác biệt giữa người môn đệ chân chính và người chỉ khoác trên mình bảng hiệu Ki-tô hữu. 

Căn cứ vào những gì mà Đức Giê-su dậy bảo hôm nay, chúng ta nhận thấy điều kiện để trở thành môn đệ của Chúa không lệ thuộc vào các việc như: tuân giữ các giới răn, siêng năng cầu nguyện, lĩnh nhận các Bí Tích, hăng say tham gia công tác trong xứ đạo và những việc đạo đức khác nữa. 

Vẫn biết rằng, tất cả các điều kể trên là bổn phận của người môn đệ, và chúng ta thật có lỗi nếu không thực hiện các điều này. Nhưng các tiêu chuẩn mà Chúa dành cho các môn đệ hôm nay đòi hỏi chúng ta cần có một chọn lựa, thứ chọn lựa đòi hỏi sự hy sinh. Đây không phải là điều dễ dàng. Bởi vì, yêu sách của Đức Giê-su đưa ra hôm nay rất quyết liệt, khó thực hiện, đòi hỏi người môn đệ phải có thái độ sẵn sàng để dứt bỏ. 

Chúng ta cùng nhau nghe lại điều Chúa phán: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.” (Mt 10: 37) Tình Yêu Chúa của người môn đệ phải vượt lên trên tất cả mọi thứ tình yêu khác. Đức Giê-su đã nói thêm rằng chúng ta phải yêu Chúa hết tâm hồn, hết trí khôn và hết sức mình. Nói chung, yêu Chúa trên hết mọi sự. Yêu Chúa như Chúa yêu. Yêu Chúa rồi làm như Chúa đã dậy trong Bữa Tiệc Ly. Người cầm bánh, dâng lời chúc tụng rồi bẻ ra và trao cho các môn đệ rồi phán “Này là Mình Thầy.” Tình yêu của Đức Giê-su là của lễ hiến dâng lên Cha, rồi trao ban cho các môn đệ. Tất cả cử chỉ của Chúa như hiến dâng, bẻ ra, trao ban đều là các tiêu chuẩn mà các môn đệ của Chúa phải áp dụng. 

Thưa anh chị em,

Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta hãy hồi tâm để xem chúng ta yêu Chúa đến độ nào, có yêu Chúa trên hết mọi sự không? Bởi vì, chỉ có can đảm nhìn nhận, chúng ta mới biết mình là ai? Có phải là môn đệ chân chính của Chúa hay là cứ mãi sống dưới nhãn hiệu của người tín hữu, và các điều cần làm để vui lòng Chúa thì lại bỏ quên.

Để xứng đáng là môn đệ của Chúa, chúng ta phải cố gắng xây dựng và thay đổi nơi chúng ta đang sống thành nơi mà mọi người cùng được nuôi dưỡng và lớn lên trong Tình Yêu Chúa. Và như thế thì mọi mối tương quan mà chúng ta đang xây dựng như vợ chồng, con cái, bạn bè, thân hữu, v.v… đều được đặt trên nền tảng và cùng qui hướng về Tình Yêu Chúa.

Do đó, chúng ta phải nhìn nhận rằng nếu tình yêu của chúng ta dành cho Chúa không quan trọng và chưa lớn hơn tất cả thứ tình yêu khác thì chúng ta làm sao có thể dâng tất cả những sự thuộc về mình cho Chúa được? Làm sao đặt Chúa lên trên mọi sự như thời gian, công sức, tài năng và tiền của cho Người được?

Làm sao chúng ta có thể nói rằng tôi yêu Chúa hơn mọi sự, trên tất cả mọi thứ mà lại không có thời gian để tâm sự với Người. Hơn thế nữa, thời giờ là của Chúa ban cho! 

Dựa vào kinh nghiệm trong cuộc sống, khi yêu nhau là muốn ở bên nhau. Có nhiều đôi bạn trẻ đã chia sẻ rằng họ chỉ mong ở bên nhau, thậm chí chẳng biết và chẳng có chuyện gì để nói. Giống như thế, im lặng để nhìn ngắm Chúa và lắng nghe tiếng Chúa là phương thế cầu nguyện tốt nhất. Anh chị và tôi là những người thật xứng đáng là môn đệ của Chúa, nhưng chúng ta đã yêu Chúa bằng cách dùng thời gian theo ý Chúa hay chưa?

Cùng một cách như thế, chúng ta hãy tự hỏi tôi đã xử dụng khả năng mà Chúa trao ban như thế nào? Để xây dựng công ích, mưu cầu ích lợi chung hay là ích kỷ dùng cho riêng gia đình mình mà thôi.

Tiến xa hơn một bước và cũng thật là khó khăn khi chúng ta đề cập đến việc xử dụng tiền bạc. Vấn đề này rất tế nhị. Bởi vì tiền của gắn liền với sinh hoạt hàng ngày của chúng ta. Trên thực tế, tôi biết rằng có nhiều anh chị em tỏ vẻ chán nản và thất vọng khi nghe linh mục nói đến tiền. Thậm chí, có nhiều người không muốn đến Nhà Thờ vì chẳng nghe được những lời giáo huấn từ cha xứ, thay vào đó chỉ nghe đề cập đến nhà xứ thiếu chỗ này, hụt chỗ kia… tiền ơi là tiền.

Quả thật, bản thân tôi rất ngại khi đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, chúng ta cần phải đối diện với thách đố là chúng ta đã yêu Chúa và đặt Chúa trên mọi nhu cầu và mãnh lực mà tiền bạc có thể chi phối cuộc sống của chúng ta hay chưa? Như chúng ta thường nghe nói “tiền bạc là ông chủ xấu nhưng lại là một đầy tớ tốt”. Vì thế, anh chị em hãy tự vấn mình đã coi tiền của như phương tiện mà Chúa ban để xây dựng công ích hay lại tôn nó lên vai trò của một ông chủ điều khiển cuộc sống mình. 

Người môn đệ chân chính của Chúa hãy học nơi Người lòng quảng đại và tinh thần bác ái trong việc xử dụng tiền của. 

Khi suy niệm và trình bầy mấy điểm nói trên, tôi chợt nhớ đến đời sống và gương sáng của Thánh Nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su. Hành trình đời sống của Ngài chỉ vỏn vẹn 24 năm. Ngoài thời gian thơ ấu sống trong sự bao bọc của cha mẹ, thời gian còn lại Ngài sống trong đan viện của Dòng Kín Ca-mê-lô. Cuộc sống nghèo, chẳng có nhiều tiền để cho ai. Công việc của Ngài thật âm thầm, lo việc trong nhà. Thế mà công trạng của Ngài lại được sánh ngang hàng với Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e bôn ba khắp nơi để truyền giáo. Bởi vì Thánh Nữ đã yêu Chúa bằng cả cuộc đời. Mọi việc Ngài làm, mọi cử chỉ và mọi lời Ngài nói đều phát sinh từ tình yêu mà Ngài dâng tặng cho Chúa để cầu nguyện cho việc truyền giáo.

Giống như Chúa, noi gương Thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, chúng ta phải yêu Chúa trên hết mọi sự, chọn Chúa trước khi chọn lựa các điều khác. Trong cử chỉ, lời nói và việc làm của cuộc sống, chúng ta đừng hỏi tôi muốn gì mà là Chúa muốn gì. Đây không phải là điều dễ làm. Chúa biết rõ nỗi khó khăn mà chúng ta sẽ gặp phải. Vì thế, sau khi đưa ra các điều kiện đòi hỏi người môn đệ cần có, Chúa đã phán tiếp: ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng làm môn đệ của Thầy.

Tóm lại, trên hết mọi sự và trong tất cả, chúng ta hãy yêu Chúa trước. Tình yêu Chúa bao hàm việc hy sinh, từ bỏ và dâng hiến. Tình yêu đáp trả mà chúng ta có được cũng xuất phát từ Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu chúng ta trước. Người yêu con người đến nỗi đã gửi người Con duy nhất, hiến mạng sống của người Con làm quà tặng ban cho chúng ta sự sống đời đời.

Một lần nữa, chúng ta tin vào sự hiện diện của Chúa Phục Sinh trong Bí Tích Thánh Thể mà chúng ta đang cử hành. Đây là quà tặng tình yêu của Thiên Chúa thể hiện trong Thánh Lễ này. Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy, nhớ đến thân xác của Thầy đã hy sinh làm của ăn nuôi sống chúng ta. 

Trước khi đón nhận Mình Chúa, chúng ta thú nhận mình bất xứng. Và sau đó mới đón nhận thân xác Người và được biến đổi để xứng đáng thành người môn đệ của Chúa, và giống như Chúa chúng ta sẽ nỗ lực yêu thương và nuôi sống nhau.

Tình Yêu là thế. Chỉ có ai yêu mến Chúa hơn mọi thứ tình trên trần gian này mới thật là người môn đệ của Chúa và sẽ làm được các việc như Chúa đã làm. Amen! 


ĐỪNG SỢ! HÃY TIN

 Click for audio ĐỪNG SỢ! HÃY TIN

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay vỏn vẹn chỉ có 7 câu, thế mà ba lần Đức Giê-su đã nhắn nhủ các môn đệ “anh em đừng sợ”. Đức Giê-su biết rằng nỗi sợ hãi gắn liền với cuộc sống của chúng ta, đến nỗi có một số người quả quyết rằng đời sống của con người bao gồm một chuỗi ngày của sự sợ hãi! Giờ đây, chúng ta lần lượt xem qua:

Khi còn bé chúng ta sợ bóng tối, sợ ma.

Lớn hơn một tý, chúng ta sợ bị bắt nạt, sợ bị chê là học dốt, sợ bị chê xấu.

Đến tuổi mới lớn, chúng ta sợ bị áp lực, sợ không dám đối diện với thất bại, sợ bị chê mập hay xấu, sợ bị tai tiếng, sợ không bằng chúng bạn… Nhiều nỗi sợ hãi vu vơ khiến con người mất ngủ, thậm chí bị trầm cảm… 

Chúng ta nghĩ rằng đến tuổi trưởng thành các nỗi sợ hãi sẽ dừng lại. Nhưng, đến tuổi lớn khôn, chúng ta lại có nhiều nỗi lo sợ khác. Sợ cuộc sống thiếu an toàn vì những điều không may có thể xẩy đến nên mua bảo hiểm, sợ tương lai xấu, sợ con cái hư hỏng, sợ bị mất việc, sợ tai ương ập đến khiến cuộc sống bị bế tắc, sợ khủng bố, sợ chết, v.v…

Dân công giáo thì sợ bị cám dỗ, sợ tội, sợ bị sa hỏa ngục, sợ bị Chúa phạt. 

Mỗi người chúng ta đều có nỗi lo sợ riêng, sợ chính mình và sợ nhau nữa.

Anh chị em thử tuởng tuợng sống trong một trạng thái sợ hãi như thế thì cuộc sống sẽ ra sao? Sau đây là một vài kinh nghiệm thực tế mà chúng ta có thể đã trải qua.

Cách đây khoảng hơn chục năm, có một lần tôi đuợc diễm phúc nghe tâm tình của một vị có thẩm quyền chuyên lo về giáo dục cho một nhóm trẻ tại Việt Nam. Ông phân tích về hiện tuợng của thế hệ trẻ sống tại quê nhà. Theo sự nhận xét của ông thì những người trẻ hiện nay, đăc biệt những cháu mà ông có trách nhiệm đào tạo và huớng dẫn, đang sống trong trạng thái nghi ngờ và sợ nhau. Nguyên nhân gây ra hiệu quả này là các cháu được sinh ra và lớn lên trong một môi trường mà trong đó hệ thống ‘gài nguời’ làm ăng-ten (antenna) quá tinh vi, đã cắm rễ sâu trong mọi tổ chức. Để giải quyết cho vấn nạn này, ông và các bạn đồng hành cố gắng đào tạo một thế hệ trẻ biết tin tưởng nhau hơn. Và, để thực hiện điều này, ông cho phép những người trẻ mà ông đang huớng dẫn có dịp nói lên những suy tư và ý nghĩ của họ. Sau khi họ phát biểu; thay vì lắng nghe, ông và các bạn lại lựa những người đã có những ý tưởng nguợc lại với ông và khai trừ họ khỏi tổ chức. Vì sợ mất quyền nên ông đã khai trừ lớp trẻ mà Thiên Chúa đã trao cho ông chăm sóc!

Sự cố nói trên xẩy ra trong môi trường giáo dục, còn đời sống thường nhật trong gia đình thì sao. Có những ông chồng may mắn có đuợc vợ đẹp con khôn. Thay vì tin tuởng lại sợ người phối ngẫu và các con vuột khỏi tầm tay của mình, nên ông đã có lối hành xử thống trị, kiểm sóat khiến cho gia đình thành ngục tù với bầu khí đầy thê luơng và tang tóc…Từ đó, ai cũng sợ và né ông, và sợ nhau nữa. Cuối cùng thì điều ông sợ đã biến thành sự thật: gia đình tan vỡ chỉ vì sợ mà đánh mất đi hai yếu tố căn bản của gia đình là tin tưởng và yêu thương nhau.

Thêm nữa là chuyện của các đấng các bậc. Có tu sĩ hay linh mục, chỉ vì sợ mối tuơng quan giữa họ và Thiên Chúa, giữa họ và tha nhân bị phai lạt. Để bù đắp họ tìm mọi phuơng thức để thành công hầu thu phục và nối lại các mối tuơng quan đó. Nhưng thật ra, họ tìm đủ cách để bồi đắp ‘cái tôi’ của họ. Cuối cùng ‘cái tôi’ và ‘sự sợ hãi’ phát triển đồng đều khiến họ bị rối lọan và có thể lạc đuờng.

Đó là các hậu quả rất tiêu cực của nỗi sợ hãi. Giờ đây chúng ta làm thế nào?

Lần theo các sách Tin Mừng, chúng ta nhận thấy Đức Maria cũng sợ nên thiên thần mới phán “Maria, đừng sợ! vì người đã đắc sủng nơi Thiên Chúa”. Được Thiên Chúa yêu thương và sủng hạnh là khí cụ khiến Mẹ chúng mình bớt sợ và tín thác hơn.

Phêrô nhìn Chúa đi trên biển đến với các ông, nhưng vì sợ nên mới tuởng là ma; cho nên Chúa mới củng cố ông “cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mc 6:51). Cậy vào Lời Chúa nói khiến Phê-rô can đảm bước đi với giông tố để đến với Chúa. 

Đức Giê-su cũng sợ, sợ đến độ máu và mô hôi toát ra trong vườn cây dầu. Tuy Người sợ chết, nhưng vui lòng chấp nhận chịu chết vì tin tưởng vào Thánh Ý của Thiên Chúa.

Như vậy, chúng ta nhận thấy giải pháp làm chúng ta bớt sợ, đó là dám đối diện với sự sợ hãi bằng tâm tình phó thác và tin vào Chúa, Đấng luôn yêu thuơng và bao bọc chúng ta. Tin và Yêu là giải pháp giúp chúng ta sống vui hơn. Thật vậy, chúng ta chỉ có thể vuợt qua được nỗi sợ hãi nhờ tin vào Thiên Chúa, Đấng đang hiện diện với chúng ta trong mọi cảnh huống. Ngài yêu thuơng và chăm lo đến từng sợi tóc của chúng ta.

Chúng ta đừng để sợ hãi làm chúng ta vấp ngã. Giả như có vấp ngã - thì cũng là lẽ thường - đừng sợ Chúa phạt. Chúa yêu ta vô bờ bến, thương ta ngay lúc ta còn là tội nhân cơ mà. Con người chỉ thắng được các nỗi sợ hãi nhờ tin vào Ðức Giêsu, Ðấng đã không ngã gục vì sợ hãi, đi tới cùng và tuân theo ý định của Thiên Chúa. Qua sự chết Người đi về nhà Cha thế nào thì con đường mà người môn đệ được chọn để thi hành có thể dẫn họ đến cái chết như thế. Tuy vẫn biết kết cục là như thế, nhưng cho dù là sự chết cũng không làm cản trở ơn trung kiên, lòng chung thủy của các môn đệ với Chúa, là Đấng mà chúng ta đã hết lòng tin tưởng và cậy trông.

Sau cùng, chúng ta vẫn biết rằng không ai có thể tránh được cái chết. Vì thế đừng sợ chết. Sự chết không còn là án phạt mà là ngưỡng cửa dẫn chúng ta bước vào sự sống vĩnh cửu với Chúa

Cầu xin Chúa cho chúng ta đủ can đảm để đối diện và vượt qua mọi nỗi sợ hãi trong cuộc sống mà trung thành trong nhiệm vụ của người môn đệ được Chúa yêu thương. Amen!





Saturday, 13 June 2026

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA SAI TÔI ĐI!

Sau khi hân hoan mừng các ngày Đại Lễ trong Mùa Phục Sinh và các ngày lễ Trọng như Lễ Chúa Ba Ngôi, Lễ Mình Máu Thánh Chúa, Lễ Thánh Tâm. Tuần này, phụng vụ Hội Thánh mời gọi chúng ta quay trở về với phụng vụ của Mùa Thường Niên, và chủ đề của Chúa nhật tuần này là ơn gọi. Một cách nào đó, Hội Thánh mời gọi chúng ta ra đi, trở về cuộc sống đời thường để chu toàn bổn phận của người môn đệ.

Thật vậy, xuất phát từ lòng thương xót của Chúa mà chúng ta đã thấm nhuần từ các mầu nhiệm cao siêu của Thiên Chúa sẽ là nguồn động lực thúc đẩy chúng ta ra đi để thể hiện lòng thương xót của Chúa cho người khác. Họ đang khao khát đón nhận điều mà chúng ta đã được trao ban.

Vì thế trong bài Tin Mừng, Thánh sử bắt đầu mô tả hoàn cảnh của những người theo Chúa. Khuôn mặt họ bộc lộ sự mệt nhọc, những bước chân lê thê, mệt mỏi của họ đã đánh động Lòng thương xót của Chúa. Tâm hồn Chúa bị rung động một cách mãnh liệt. Người biết họ đang khao khát điều gì. Người không thể bỏ rơi họ. Với tấm lòng của người Cha, trái tim Chúa đau nhói vì đám đông theo Người như bầy chiên không người chăn dắt. Người không thể để họ bơ vơ, cho nên Chúa đã động lòng thương. Từ lòng thương xót ấy, Chúa Giêsu nói với các môn đệ hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.

Cánh đồng truyền giáo luôn rộng lớn. Nhu cầu rất khẩn thiết. Nhìn vào hiện tình của thế giới hôm nay, chung quanh chúng ta còn bao nhiêu người chưa nhận biết Chúa, biết bao gia đình đang đối diện với những nguy cơ khiến cho gia đình của họ có thể bị tan vỡ, biết bao người trẻ mất niềm tin và lạc hướng, biết bao người nghèo khổ, sống bơ vơ cần được yêu thương.

Có một chi tiết mà chúng ta nên để ý, đó là sau khi nói các môn đệ xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về thì chính Chúa lại sai họ đi. Có nghĩa là chúng ta không chỉ cầu nguyện cho sứ vụ mà phải sẵn sàng trở thành người được sai đi nữa. Mỗi Kitô hữu đều có sứ mạng mở mang Nước Chúa, không nhất thiết bằng những bài giảng hùng hồn, nhưng bằng đời sống chứng tá, bằng phục vụ, lòng bác ái và niềm vui của Tin Mừng.

Trong phần cuối của bài Tin Mừng, Chúa còn nói thêm rằng: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.” Và như anh chị em còn nhớ. Đức tin là một hồng ân nhưng không. Tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta không phải là phần thưởng vì công nghiệp, nhưng là quà tặng. Vì thế, chúng ta được mời gọi sống ơn gọi của mình một cách quảng đại và chia sẻ cho tha nhân những gì mình đã lãnh nhận.

Vì thế, thưa anh chị em.

Theo truyền thống, ơn gọi được hiểu là ơn gọi trở thành linh mục hay tu sĩ. Nếu chúng ta chấp nhận định nghĩa hạn hẹp này thì cũng phải chấp nhận rằng hiện có một cuộc khủng hoảng ơn gọi ở nhiều nơi trên thế giới. Ở nhiều quốc gia thuộc thế giới Tây Phương, rất ít người xin vào các chủng viện hoặc tu viện. Nhiều nhà thờ bị đóng cửa, nhiều sinh hoạt của các giáo xứ bị gom chung lại với nhau vì thiếu linh mục.

Tại Việt Nam và một số nước thuộc thế giới thứ ba, các chủng viện đầy ắp chủng sinh và có nhiều nhà dòng mới được hình thành. Thoáng nhìn thì chúng ta có cảm tưởng tại các nước đó, Giáo Hội không phải đối mặt với cuộc khủng hoảng thiếu ơn gọi.

Nếu chúng ta nhìn cuộc khủng hoảng ơn gọi từ một góc độ khác, chúng ta có thể coi đó là một cơ hội để nhìn ra quyền năng của Chúa Thánh Thần, Đấng vẫn hoạt động trong Hội Thánh từ buổi sơ khai. Ngày nay, có thể lấy mốc điểm từ khi có Công đồng Vat II, hàng giáo sĩ đã chia sẻ nhiệm vụ và trách nhiệm với giáo dân. Chúng ta thấy nhiều giáo dân đóng vai trò là Thầy sáu vĩnh viễn, Thừa tác viên Thánh Thể, Thừa tác viên Lời Chúa. Họ giúp các linh mục quản xứ trong việc phục vụ cộng đoàn, lại có một số người dấn thân toàn thời gian trong các hoạt động tông đồ của Giáo Hội cấp giáo xứ và địa phận. Cánh cửa phục vụ được mở ra để mời gọi mọi thành phần dân Chúa tham gia vào các hoạt động của Giáo Hội và đó là cơ hội để mọi người chu toàn ơn gọi từ Chúa.

Chúa Giê-su kêu gọi các Tông Đồ và mỗi người chúng ta hãy ở với Người và ra đi. Phần đầu tiên là được ở với Người và ở trong Người. Nếu chúng ta không ở với Người thì việc chúng ta ra đi có thể phát xuất từ những lý do rất ích kỷ. Thảm họa thay cho một cộng đoàn nếu những người tham gia vào các sinh hoạt của Hội Thánh chỉ vì thích quyền bính.

Nói chung, chúng ta đóng những vai trò khác nhau trong Hội Thánh. Nhưng ơn gọi nên Thánh là lời mời gọi chung cho mọi tầng lớp. Chúng ta được mời để ở với Chúa rồi sau đó sống theo ý Người muốn chúng ta sống. Đó chính là điều Thánh Phao-lô, tông đồ dậy bảo tín hữu Cô-rin-tô: “Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ... Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả… Đó là đức mến, lòng thương xót (1 Cr 12,28 – 13,13). Và đó là nền tảng của mọi ơn gọi.

Anh chị em thân mến,

Nhìn lại lịch sử giáo hội, chúng ta thấy rất nhiều gương sáng của những người đã được Chúa sai đi. Họ được sai bởi Chúa và theo gương Chúa họ sẵn sàng hy sinh tất cả, từ bỏ chốn an nhàn ra đi phục vụ những người nghèo khó. Và một trong những người được Chúa đánh động để đến với dân nghèo. Đó là Cha Thánh An Phong. 

Mời anh chị em cùng ôn lại gương sáng của Cha Thánh, nhất là sức mạnh của Chúa hoạt động trong Ngài.  

Trước khi sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế, Cha Thánh An-phong là một linh mục triều, đã dấn thân phục vụ tại các giáo xứ. Với lòng hăng say và nhiệt thành, ngài đã miệt mài trong các công tác mục vụ khiến ngài bị kiệt sức. Vì thế, theo lời đề nghị của bác sĩ thì ngài nên đi nghỉ và dưỡng sức. Ngài đã chọn Scala, thuộc xứ Naples. Scala nằm trên một ngọn núi hướng ra mặt biển, không khí thật trong lành. Quả là nơi lý tưởng để nghỉ ngơi. 

Tuy nhiên, phong cảnh trữ tình và không khí trong lành của Scala cũng không quyến rũ được ngài. Vừa đến nơi, Thánh An Phong đã nhận thấy những người nông dân, kẻ chăn chiên và dân chúng tại Scala là những người bơ vơ, không ai đoái hoài, không ai quan tâm và chăm sóc cho họ, cho nên Ngài và các bạn lập tức mở lớp giáo lý buổi tối tại tư gia để dậy dỗ và chuẩn bị cho họ lĩnh nhận các bí tích. Nghe tiếng ngài, dân chúng thuộc các vùng lân cận lũ lượt kéo đến để nghe giảng dậy. 

Tuy Thánh An Phong được sinh ra trong một gia đình quý tộc, giầu sang và quyền thế. Nhưng tâm hồn của ngài đã gắn liền với những người nghèo, con người bơ vơ, bị bỏ rơi. Vì thế, trông thấy họ, ngài chạnh lòng thương vì họ như những con chiên bị tan tác và không được chăm sóc. Với cảm nghiệm như thế, ngài nhận ra con đường Chúa muốn ngài phải đi, nên đã cùng với các bạn cùng chí hướng ngồi lại với nhau để sáng lập một nhà dòng mà ngày nay chúng ta gọi là Dòng Chúa Cứu Thế, một hội dòng chuyên lo cho những người bị bỏ rơi, bơ vơ không nơi nương tựa, những người nghèo khó.

Noi gương Chúa và được tác động bởi Lòng Thương Xót của Đức Chúa chúng ta đừng để ai sống bơ vơ, bị bỏ rơi và không ai quan tâm. Tâm trạng của người bị bỏ rơi và bơ vơ là trạng thái đau khổ nhất mà con người phải gánh chịu. Muốn chữa lành các vết thương của họ, chúng ta phải đến với họ. Muốn chia sẻ nếp sống của họ chúng ta phải đồng cảm và chia sẻ lối sống của họ. 

Thật vậy, lời khuyên của cha cố trong Dòng vẫn văng vẳng bên tai tôi. Ngài đã nói như sau: “Muốn công việc phục vụ người tất bạt, bơ vơ, nghèo khổ được hữu hiệu, anh em chúng mình, các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế cần phải có con tim rung cảm, con tim bị bốc cháy bằng trái tim nhân hậu và rực cháy lửa yêu mến của Chúa.” Và điều này cần đuợc áp dụng cho anh em mình trước tiên. Đừng bỏ rơi ai và đừng để ai bị bơ vơ!

Còn chúng ta thì sao? Tôi không phải là Chúa. Tôi không thuộc về nhóm 12. Và tôi cũng chẳng phải là Thánh An-Phong. Hẳn nhiên là như thế. Cho dù chúng mình không phải là linh mục hay tu sĩ, nhưng trước hết chúng mình phải là một con người, bình thường, mỏng manh và yếu đuối như bao nhiều người môn đệ khác! 

Đúng vậy, xin bạn đừng lo! Bởi vì Chúa không đòi chúng ta trao ban hơn điều chúng ta có thể nhận lĩnh. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng mọi chương trình mục vụ trước tiên phải được xuất phát từ lòng từ bi và nhân hậu của Đức Giê-su. Đấng luôn thương yêu con người! 

Vì thế, với niềm vinh dự của người môn đệ, nhân danh Chúa Ba Ngôi chúng ta hãy ra đi. Và, trước khi ra đi, chúng ta hãy tập ở với và ở trong Chúa, để đôi mắt của chúng ta nhận ra dấu chân của những con người đang bơ vơ, lạc bước và không ai đoái hoài bằng đôi mắt từ bi, nhân hậu và luôn thương xót của Chúa. Amen!


Tuesday, 26 May 2026

MÌNH VÀ MÁU CHÚA TAN CHẢY TRONG TA.

 Click for audio MÌNH VÀ MÁU CHÚA TAN CHẢY TRONG TA.

Hôm nay cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta hân hoan và vui mừng cử hành Lễ Đức Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể. Đây là một ngày rất đặc biệt vì với việc làm này Đức Giê-su đã kiện toàn Lời Người đã phán trước khi về trời: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28: 20b) Cách thức hiện diện của Người rất thâm sâu, Người nên một với mỗi người, Người làm của ăn nuôi dưỡng chúng ta.

Với lòng khiêm tốn, chúng ta cùng nhau suy gẫm về các bài đọc trong Thánh Lễ và ý nghĩa việc mừng trọng thể Lễ Mình và Máu Thánh Chúa Ki-tô hôm nay.

Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, Mô-sê đã nhắc nhở cho chúng ta nhớ lại vai trò và công trình mà Thiên Chúa đã thực hiện cho dân khi họ lang thang trong hoang địa. Đối diện với các khó khăn mà dân đã trải qua khiến nhiều người chán nản, thất vọng và rên xiết là Thiên Chúa đã bỏ rơi, khiến họ phải chết đói. Thậm chí, có nhiều người lại mong được chết quách bên Ai Cập còn hơn là vất vả theo Chúa, rồi cũng bị mất xác ở nơi hoang vu này. Trong hoàn cảnh đó, Thiên Chúa đã can thiệp và cung cấp của ăn là man-na cho họ. Lần đầu tiên họ nhìn thấy man-na. Họ không biết đó là vật gì. Họ chỉ biết từ trời rơi xuống để nuôi dưỡng cơ thể và làm mới tâm hồn. Thật không may, họ đã nhận món quà theo nghĩa vật lý, đó là thực phẩm làm cho họ khỏi bị chết đói mà hoàn toàn không nắm bắt được ý nghĩa sâu sắc của món quà đó.

Và Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe là một phần trong diễn từ Bánh hằng Sống mà Đức Giê-su đã dùng để giải thích ý nghĩa của Bí Tích Thánh Thể trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an. Đây là một trong các diễn từ quan trọng, có thể thay thế việc thuật lại việc Đức Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể trong truyền thống của Tin Mừng này. Đức Giê-su giải thích cho họ hiểu về ý nghĩa của man-na mới, là chính thân xác và máu huyết của Người. Người là bánh trường sinh, bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Nghe thế, một số người đã không tin, cho nên Chúa Giê-su quả quyết rằng “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” (Gio-an 6: 53-58)

Anh chị em thân mến,

Để nhận ra ý nghĩa sâu xa của Bí Tích, chúng ta cần có đức tin, và đây không phải là điều mà chúng ta đạt được nhờ vào sự khôn ngoan hay năng lực của mình, nhưng từ sự dẫn dắt và lôi kéo của Thiên Chúa, như Lời Người mới phán: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy,…” (Gio-an 6: 44) Như vậy, mọi sự đều phát nguồn từ Thiên Chúa, Đấng hoạt động liên lỷ, lôi kéo và dẫn dắt mọi người đến với Chúa Con để nhờ Người, với Người và trong Người, chúng ta được ban sự sống bằng chính thân xác và máu của Người ngay từ bây giờ và cho đến sau này.

Vì vậy, trong bữa tiệc hôm nay và mỗi khi cử hành Bí tích Thánh Thể, chúng ta nhận được món quà rất đặc biệt: Mình và Máu Chúa Giêsu Kitô. Đây là món quà quý giá từ Thiên Chúa, trong đó Đức Giêsu ban chính mình cho mỗi người chúng ta. Thật vậy, chúng ta nhận ra rằng mỗi khi tham dự Thánh Lễ và nhận được Mình và Máu Chúa Kitô là lúc Người sống trong ta, nuôi dưỡng, nâng đỡ, củng cố, ban cho chúng ta sự bình an và cho chúng ta can đảm để chấp nhận tất cả, đặc biệt là những điều khó khăn mà chúng ta có thể sẽ trải qua trong cuộc sống này.

Hơn nữa, mỗi khi thông hiệp với Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh Thể, chúng ta trải nghiệm một Lễ Vượt Qua. Chúng ta vượt qua sự tham lam, ích kỷ và tội lỗi để đến với sự tốt đẹp, lối sống tử tế, rộng lượng, đầy khoan dung, chan hòa lòng mến và thánh thiện hơn. Trong Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng ta được Người chỉ dẫn cho cách sống. Đây là một bước rất quan trọng trong cuộc sống, trên hành trình đức tin của chúng ta. Cuộc hành trình này đã được bắt đầu từ ngày chúng ta đón nhận phép rửa để trở thành con Chúa, thành viên của gia đình Hội Thánh, và là chi thể trong thân thể của Chúa Kitô.

Do đó, trong Đức Giê-su Kitô, Chúa chúng ta, con người nhận được thịt và máu của Người làm của ăn để bất cứ ai ăn bánh này sẽ sống muôn đời. Với sự hiện diện bền bỉ của Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh Thể, cuộc sống của chúng ta được nối kết, củng cố và duy trì không chỉ với Chúa Kitô mà còn với nhau nữa. Và, tiếp theo sau là lời mời gọi chúng ta hãy chia sẻ đời sống của Chúa Kitô và sống sứ mạng của Người để trở thành của ăn cho nhau.

Trong tinh thần đó, xin mời anh chị em nghe một truyện ngắn.

Có hai người bạn trẻ kia yêu nhau tha thiết. Anh chị đã đính hôn được hơn một năm và trong thời gian chuẩn bị hôn lễ thì chị phát hiện mình mắc phải căn bịnh ung thư. Theo sự chẩn đoán của các bác sĩ chuyên khoa lúc bấy giờ thì chị chỉ còn sống được khoảng một năm nữa mà thôi. Trước tình hình đó, chị đề nghị và khuyên anh nên hủy bỏ hôn lễ. Anh đáp lại rằng: anh đã yêu chị lúc mạnh khỏe thì giờ đây anh cũng sẵn sàng yêu thương chị khi lâm cảnh ốm đau. Và đám cưới của anh chị đã diễn ra như đã được dự trù. Kết quả không chỉ là một năm mà anh chị đã sống bên nhau được mười sáu năm trong cuộc chiến với căn bịnh nan y. Anh chị đã có bốn cháu.

Trong Thánh Lễ cuối đời của chị trong căn phòng tại nhà thương. Tuy thể xác rất hốc hác và gầy còm, nhưng tinh thần của chị thật tỉnh táo. Chị đã cùng gia đình dâng hy lễ cuối cùng, của lễ cuộc đời.

Trong lúc đọc lời truyền phép “…Vì này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con.” Vị Linh Mục, bạn và là người đồng hành với gia đình anh chị đã chia sẻ rằng cuộc sống của chị đã đem lại một ý nghĩa mới về Bí Tích Thánh Thể cho gia đình anh chị và những người thân quen.

Thật vậy, cuộc sống của chị đã được chúc phúc. Chị đã được Chúa thương yêu, dìu dắt và dẫn đưa vào mối tình với chồng và các con của chị. Chính Chúa là tác giả của mối tình đó. Bổn phận của chị là đáp trả tình của Chúa bằng cách hy sinh, bẻ (break) cuộc sống của chị, trao cho chồng và con. Và bằng lời chúc tụng chị đã tán dương Tình Yêu của Chúa trong cuộc sống. Chị càng hy sinh bao nhiêu thì sự cao quí và vẻ đẹp của Thiên Chúa trong cuộc sống của chị càng được bộc lộ bấy nhiêu. Chị có thể làm được các việc đó vì chị sẵn sàng để cho tình Chúa tan chảy trong cuộc sống của chị.

Và chuyện gì phải đến, đã đến. Trước giây phút lâm chung, chị đã phó thác bản thân, gia đình và những người thân quen cho Chúa rồi thanh thản ra đi về ngôi nhà thân yêu mà tại nơi đó chị đã được người Cha thân yêu mở rộng vòng tay hân hoan đón chào.

Phần chúng ta, uớc mong Bí Tích Thánh Thể mà chúng ta cử hành trong các Thánh Lễ sẽ làm cuộc sống mình tan chảy trong tình Chúa và trở thành của ăn hiến tặng nhau. Amen!


THIÊN CHÚA BA NGÔI: SỨC LAN TỎA CỦA TÌNH YÊU.

Click for audio THIÊN CHÚA BA NGÔI: SỨC LAN TỎA CỦA TÌNH YÊU.

Anh chị em thân mến,

Trong các mầu nhiệm của đạo Công Giáo thì mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm cao trọng nhất. Và một khi nói đến mầu nhiệm thì chúng ta phải nhớ rằng cho dù chúng ta có thông minh và khôn ngoan đến đâu chăng nữa thì cũng không thể lĩnh hội và hiểu thấu một cách trọn vẹn về ý nghĩa của các mầu nhiệm.

Chấp nhận trong niềm tin, cầu nguyện với tâm hồn khiêm tốn, phó thác với lòng cậy trông và nhất là sống yêu thương là các yếu tố giúp chúng ta có thể cảm nhận được phần nào về những bí nhiệm mà Thiên Chúa tỏ bầy.

Khi chiêm niệm và suy tư về Thiên Chúa, Thánh Gio-an tông đồ, người môn đệ mà Chúa yêu mến, đã xác tín và san sẻ cho chúng ta biết bản tính của Thiên Chúa, đó chính là Tình Yêu. Tình Yêu là bản chất của Thiên Chúa. Ngài sẽ không còn là Thiên Chúa nếu Ngài không Yêu.

Và một khi đã nói đến Yêu thì chúng ta phải kể đến đối tượng của yêu thương. Tình Yêu mà Thiên Chúa trao ban là quà tặng cho thế gian, như Lời mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin Mừng hôm nay, “quả vậy, Thiên Chúa ban Con của Người cho thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.” (Gio-an 3: 17)

Hơn thế nữa, dựa vào truyền thống của Thánh Kinh, chúng ta nhận ra rằng Thiên Chúa không là một hữu thể đơn độc. Nếu như Thiên Chúa đơn độc một mình thì Người sẽ tự yêu mình. Nhưng Người là ba: Chúa Cha, Chúa Con và Thần Khí. Tuy ba ngôi vị, nhưng lại liên kết với nhau nên một trong tình yêu. Cả ba ngôi vị, hoàn toàn yêu thương nhau, hiến tặng sự sống cho nhau, hoàn toàn tương quan, hiệp nhất với nhau. Cha hoàn toàn là của Con, Con hoàn toàn là của Cha và mối tương quan tình yêu và sự sống này giữa Cha và Con là Thần Khí của Thiên Chúa. Tình yêu mà Người ban tặng cho thế gian nói chung và cho mỗi người chúng ta được xuất phát và luân chuyển từ Thiên Chúa. Sức luân chuyển này làm cho Tình Yêu của Thiên Chúa càng phong phú và đầy tràn hơn.

Trong niềm tin đó, chúng ta tin rằng mỗi người chúng ta có một vị trí thật quan trọng trong trái tim nhân hậu của Thiên Chúa. Và chính vì được ở trong trái tim của Thiên Chúa cho nên chúng ta mới thấu hiểu và lãnh hội Tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa mà chúng ta mừng kính và suy tôn hôm nay.

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi còn là mầu nhiệm của sự hiệp nhất.

Khi nói đến điều này, tôi xin đưa ra một hình ảnh gợi ý cho anh chị em là những người đang sống trong bậc gia đình nhớ rằng anh chị em thật có phúc vì trong cuộc sống gia đình, anh chị em có thể nếm hưởng phần nào mầu nhiệm Tình yêu của Thiên Chúa Ba ngôi.

Khi yêu nhau anh chị mong muốn cho gia đình được hiệp nhất. Ước vọng hiệp nhất và nên một của anh chị sẽ được thực hiện nơi người con mà Thiên Chúa ban cho anh chị. Cháu là của chàng và cũng là của nàng. Cháu không chỉ của chúng ta, mà là chúng ta. Đó chính là tình yêu chung mà anh chị có thể thấy được. Tình yêu giữa hai người đã triển nở thành tình yêu chung trong một ngôi vị thứ ba: Tình yêu của họ được trao ban cho nhau và cho những người con.

Hình ảnh gia đình ấy có thể giúp chúng ta tiếp cận phần nào với mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi - gọi là phần nào - bởi vì mọi hình ảnh đều bất toàn và không thể diễn đạt trọn vẹn về sự vô biên của Thiên Chúa. Chúng ta xác tín rằng Thiên Chúa là tình yêu. Yêu thương là bản tính chung của Ba Ngôi, và yêu thương cũng là nền tảng của gia đình.

Vì vậy, cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa Ba ngôi là sức đẩy cho chúng ta yêu thương nhau.

Thưa anh chị em,

Quả thật, đón nhận sự tác động của Ba Ngôi Thiên Chúa trong cuộc sống thì quan trọng hơn là sự hiểu biết về mầu nhiệm đó. Bởi vì, con đường của Ba Ngôi là con đường đích thực của hiệp nhất. Trong Thiên Chúa Ba Ngôi, mỗi (ngôi vị, cá thể, người) đồng nhất với người kia, trao thân cho nhau và duy trì sự tồn tại của nhau.

Vì vậy, với Chúa Ba Ngôi, chúng ta sẽ làm các việc sau:

• Chúng ta hãy đồng cảm với nhau, nhận ra con người chung, cố gắng tạo thành một mẫu số chung mà chúng ta có với người khác, sẵn sàng chia sẻ đau khổ với nhau, thông cảm, hiểu hoàn cảnh và các nỗi khó khăn của nhau.

• Chúng ta hãy trao thân cho nhau trong công việc phục vụ, sẵn sàng san sẻ và vác những gánh nặng của nhau.

• Chúng ta hãy nhìn nhận sự hiện diện của tha nhân, cùng nhau duy trì sự hiện diện đó trong các tổ chức hay cơ cấu của xã hội; để cùng nhau xây dựng một môi trường trong đó quyền lợi và nhân vị của con người được đảm bảo và nhu cầu của con người được đáp ứng một cách công bằng.

• Chúng ta hãy tha thứ cho các sai lầm của nhau và cùng nhau bước đi trên con đường xây dựng hòa bình.

• Chúng ta hãy chia cho người khác những hồng ân mà chúng ta đã lĩnh nhận từ trong kho lẫm thật phong phú mà Thiên Chúa Ba Ngôi trao ban.

• Chúng ta hãy tôn trọng lối sống của nhau, nhận ra rằng mỗi cuộc sống của con người là một hành động phát sinh từ tình yêu, từ trong trái tim sáng tạo của Thiên Chúa Ba Ngôi.

• Và những điều tương tự giống như thế…

Tóm lại, trong Thiên Chúa, tinh yêu của chúng ta sẽ được khởi động lại bằng cách mở ra, thông ban và chia sẻ cho nhau. Thái độ mở ra, thông ban, chia sẻ nầy đòi hỏi chúng ta phải ra khỏi bản thân, buông bỏ ý riêng và đi đến với người khác. Có nghĩa là chúng ta phải từ bỏ tính ích kỷ, biết lắng nghe và quan tâm đến ích lợi và hạnh phúc của người khác.

Thật vậy, niềm tin và tình yêu của chúng ta vào Thiên Chúa Ba Ngôi thúc bách chúng ta đi tới, phá đổ mọi bức tường ngăn cách sự hiệp nhất để tình yêu hiện diện và lan toả khắp nơi.

Sau cùng, Mầu nhiệm mà chúng ta cử hành hôm nay mời gọi chúng ta sống; sống điều mà Thiên Chúa Ba ngôi đã sống là trao ban Tình Yêu cho nhau và cho nhân loại. Chúng ta cũng cầu xin Chúa ban cho chúng ta biết chia sẻ tình yêu cho nhau và cho tha nhân. Amen.


Saturday, 23 May 2026

THẦN KHÍ THIÊN CHÚA: SỨC MẠNH YÊU THƯƠNG

Click for audio: THẦN KHÍ THIÊN CHÚA: SỨC MẠNH YÊU THƯƠNG

Xin bắt đầu bằng một câu chuyện. Truyện kể như sau

Có hai mẹ con gốc người dân tộc Đu-Ma-Gat bên Phi luật Tân sống trong cảnh nghèo đói và thiếu thốn mọi sự. Đã xẩy ra là con của chị mắc phải một cơn bịnh hiểm nghèo, cần một khoản tiền để chữa trị. Hoàn cảnh của họ, tiền ăn còn chưa đủ lấy đâu tiền viện phí và thuốc men. Cuối cùng, chị cũng đành bó tay nhìn người con ra đi!

Sau tang lễ của cháu, và trong một lần dọn dẹp nhà cửa, chị bỗng nhiên nhìn thấy một gói giấy nằm trong góc tủ, sát bên bức tường bám đầy bụi bặm. Lôi gói giấy đó ra, chị lần mò mở từng lớp rồi từng lớp, cuối cùng chị khám phá ra một xấp tiền. Theo sự suy đoán của chị thì đó là số tiền dành dụm của ông bố chồng. Ông đã nhét vào nơi đó, rồi với cơn bịnh đãng trí nên không còn nhớ đến nó nữa.

Phần kết luận của câu chuyện nói trên dành cho anh chi em!

Câu chuyện nói trên khiến tôi nhớ đến vai trò của Thánh Linh trong cuộc sống mình. Người vẫn có đó, thế mà nhiều lúc tôi cứ nghĩ Người đi vắng. Như người phụ nữ trong câu chuyện, chúng ta có thể sở hữu một năng lực phi thường, có thể giúp mình biến đổi từ trạng thái chết sang sống, thế mà nhiều lần chúng ta đã không nhận ra sự hiện diện của Chúa Thánh Thần.

Thánh Thần không chỉ là quà tặng cao quí nhất mà Thiên Chúa ban cho chúng ta một lần mà thôi. Ngay từ thủa sơ khai, trong trình thuật tạo dựng, tác giả sách Sáng thế đã mô tả sự hiện diện của thần khí Thiên Chúa bay lượn là đà trên mặt nước; rồi đến khi tạo dựng con người như hình ảnh của Thiên Chúa; tác giả một lần nữa, bằng một thể văn rất ấn tượng, ẩn chứa một ý nghĩa thật sâu sắc khi mô tả việc Thiên Chúa thổi sinh khí vào pho tượng mà ban cho con người sự sống. Chính Thần Khí của Thiên Chúa là nguồn sự sống của nhân loại.

Thánh Thần hoạt động liên lỉ trong dòng lịch sử của dân Do Thái nói riêng và toàn thể nhân loại nói chung. Ngài hiện diện với mọi dân tộc. Ngài xuất hiện tựa làn gió, thổi sức mạnh và hơi ấm đến mọi người, mọi nơi và mọi chốn. Không một cá nhân hay tổ chức nào có thể cầm giữ và điều khiển được Ngài.

Rồi đến lượt các Tông đồ, Chúa Thánh Thần hoạt động nơi các ngài. Trước đó các ngài đã từng theo Chúa, đã từng nghe bao lời dạy dỗ của Chúa, đã từng chứng kiến bao điều cả thể của Chúa. Rồi chỉ vì sợ hãi nên sau lần hiện ra, với lời chúc bình an và qua việc Chúa thổi hơi trên các ông; thế mà các ông vẫn trốn chui trốn nhủi trong nhà. Thậm chí đến ngày Người gọi các ông đến chứng kiến cảnh tương Người đi về cùng Cha, thế mà các ông vẫn còn cho rằng đó là lúc Người khôi phục vuơng quyền Israel. Rồi thế nào mà các ông lại không đuợc chia sẻ ít chức quyền. Óc não chính trị. Tìm kiếm chức quyền là những vật cản khiến các ông không nhận ra chân tướng và sứ vụ của Đức Giê-su.

Thế rồi Chúa Thánh Thần ngự đến và các ông được biến đổi hoàn toàn: nhiệt thành và can đảm rao giảng Tin Mừng. Phêrô đã từng run sợ chối Chúa trước mặt những người đầy tớ, thế mà sau biến cố Thánh Thần ngự xuống, ông đã đứng trước một đám đông rao giảng hùng hồn về sự chết và sống lại của Đức Giê-su, khiến cho mấy ngàn người bị đánh đông và trở lại với niềm tin Phục Sinh.

Như Phêrô, chúng ta đuợc mời gọi đóng góp công sức của mình. Nhưng chính Chúa Thánh Thần mới là nguồn động lực họat động nơi kẻ nói và người nghe; để ai nói sẽ nói Lời Chúa và kẻ nghe cũng sẽ đón nhận bằng một con tim bằng thịt mà tin và trở lại với sự thật là Tình Yêu của Chúa đã thể hiện qua sự chết và Phục sinh của Đức Giê-su.

Cụ thể, trong bài đọc một mà chúng ta vừa nghe hôm nay. Sau khi Chúa Thánh Thần ngự xuống, các Tông Đồ nói đuợc các thứ tiếng mà những người nghe đến từ các nơi đều hiểu các ngài muốn nói gì. Chúng ta có thể giải thích rất đơn giản là các ngài được ơn nói ngoại ngữ.

Thật ra, dân chúng tập hợp tại Giê-ru-sa-lem vẫn còn giữ nguyên nền tảng cá biệt của dân tộc họ và ngôn ngữ riêng của họ. Nhưng quyền năng của Chúa Thánh Thần đã hoạt động để các ngài có thể diễn đạt sứ điệp yêu thương của Thiên Chúa cho mọi người.

Như vậy, tuy họ vẫn còn sự khác biệt về văn hoá, ngôn ngữ, chủng tộc hay mầu da; nhưng bằng Tình yêu con người có thể đón nhận và hiểu sứ điệp của Thiên Chúa muốn nói gì qua lời rao giảng của các Tông Đồ. Trong Tình yêu, dù vẫn còn khác nhau, nhưng trong sự khác nhau đó, con người vẫn đồng cảm, thông hiệp và yêu thương nhau hơn. Chỉ có ngôn ngữ của yêu thương mới giúp con người nối kết được với nhau. Tình Yêu là hoa quả mà Chúa Thánh Thần tác động và ban cho con người. Nói khác đi, Chúa Thánh Thần là nguồn suối, hoa quả của yêu thương mà Chúa Cha và Chúa Con trao ban cho những kẻ thuộc về Người.

Sự thán phục của dân chúng từ khắp phương thiên hạ kéo về Giê-ru-sa-lem dành cho các Tông Đồ không phải vì các ngài thông thái hay tài giỏi, can đảm hay mạnh dạn; nhưng vì các ngài đã để cho Thánh Thần ngự xuống trên môi miệng mà ca tụng và loan báo những kỳ công của Thiên Chúa. Như vậy, quả là rõ ràng cho chúng ta nhận thấy rằng Chúa Thánh Thần đã dùng các ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau để truyền đạt sứ điệp của Chúa cho con người. Khác xa với quan niệm cho rằng chỉ có dân tộc này, ngôn ngữ kia, văn hoá nọ mới mang tính ưu vượt và duy nhất để truyền đạt tư tưởng và sứ điệp của Chúa.

Chúa Thánh Thần hoạt động trong mọi dân tộc, như dân thành Ê-phê-sô khi xưa. Họ chưa từng nghe biết về Chúa Thánh Thần, nhưng họ đã tin. Đức Tin này không phải là khám phá của họ, nhưng đó chính là hoa quả của Thần Khí! Ai trong chúng ta dám khẳng định rằng Thánh Thần chưa hoạt động nơi họ. Nếu đã không dám khẳng định thì tin là giải pháp thuận lợi nhất.

Chúa Thánh Thần đã đuợc diễn tả qua các biểu tượng như gió, cuồng phong và lửa. Và như anh chị em đã từng có kinh nghiệm: gió muổn thổi đâu thì thổi, nào ai biết được gió từ đâu đến và sẽ đi về đâu; cuồng phong mà đến thì ai cản được!

Vì thế, trong khi mừng Lễ Chúa Thánh Thần ngự xuống hôm nay, xin mời anh chị em cùng tiếp tục:

• Hãy nói lời yêu thương. Vì một khi chúng ta nói với nhau bằng tiếng nói của yêu thương thì chúng ta sẽ chạm đến những cảm xúc chân thật của con tim; từ đó mọi gắn bó và các dây liên kết của chúng ta sẽ bền chặt hơn bởi Thánh Linh.

• Hãy tạo mọi cơ hội để tiếng nói của mình xứng đáng truyền đạt sứ điệp yêu thương của Thiên Chúa.

• Và, đừng dập tắt hay từ khước nhận ra sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, Đấng đang hiện diện và hoạt động nơi con người tại các nền tôn giáo khác, nơi các dân tộc khác, thậm chí ngay cả trong các tổ chức mà nhiều người lầm tưởng là họ đang chống lại Giáo Hội. Có thể, ở một bình diện nào đó, họ không đồng ý với lối hành xử thiếu tính con người, không có dân chủ trong một hình thức cơ chế nào đó của Giáo Hội. Nhưng qua nỗ lực, sự thành tâm và thiện chí xây dựng; chúng ta tin rằng Chúa Thánh Thần vẫn hiện diện trong các nỗ lực mà họ đang làm để giúp chúng ta hành xử và xây dựng một thân thể nhiệm mầu của Đức Kitô theo đúng ý Chúa hơn.

Sau cùng, xin Chúa Thánh Thần giúp chúng con nhận ra các hoạt động của Người trong cuộc sống của chúng con, và soi sáng để chúng con còn nhận ra sự hiện diện và tác động của Thánh Linh nơi người khác; hầu chúng con đủ can đảm quên đi các sự khác biệt, cùng nắm tay, trọn tâm trọn ý, ra đi làm chứng cho Tin Mừng như các Tông đồ khi xưa. Amen!


Về Trời Và Tiếp Tục Hiện Diện

Click for audio: Về Trời Và Tiếp Tục Hiện Diện

Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta long trọng mừng Lễ Chúa Giê-su lên trời. Bài đọc một và trình thuật Tin Mừng trong phần Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay tuy có một chút khác biệt, nhưng nội dung chính yếu là nói về việc Đức Giê-su được cất nhắc lên trời trước mắt các môn đệ. Như vậy câu hỏi đầu tiên chúng ta cần san sẻ cho nhau là trời ở đâu?

Vào thời Đức Giê-su, và hầu hết những người dân thường ít hiểu biết như chúng ta vẫn còn cho rằng trời ở trên cao, đất là nơi chúng ta đang sống và được bao quanh bởi biển cả và đại dương, và dưới hay trong lòng quả đất này là hỏa ngục.

Trời là nơi Chúa ngự. Ngự trị không nhắm đến nơi chốn cho bằng mô tả sự hiện diện của Chúa. Sự hiện diện này sẽ không còn tuỳ thuộc vào một khoảng không gian nào đó hay một mốc thời gian nào của lịch sử; nhưng là một sự hiện diện không bị giới hạn bởi không gian và không lệ thuộc vào thời gian. Thiên Chúa hiện diện từ trước và cho đến muôn đời, vô thủy vô chung. Như vậy ở đâu có Chúa là ở đó có trời. Và như lời Chúa đã phán thì ở đâu có hai hay ba người họp lại vì danh Chúa thì Chúa hiện diện giữa họ. Ý nghĩa của câu này có thể giải thích là ở đâu có sự hiệp nhất, thông cảm, yêu thương thì có Chúa ở đó; nói khác đi tại nơi đâu mà con người cùng chia sẻ một đức tin, cùng san sẻ và trao ban một lòng mến thì tại nơi đó có sự hiện diện của Chúa. Như vậy, trời hay thiên đàng không ám chỉ đến địa danh hay nơi chốn nào đó cho bằng một cách mà con người dùng để diễn tả khi nói đến nơi ngự trị của Chúa. Nói khác đi, khi mô tả việc Chúa lên trời có nghĩa là chúng ta nói đến việc Chúa Giê-su ngự trị bên hữu Thiên Chúa.

Trên thực tế, làm sao chúng ta có thể giải thích về ý niệm về một vị Thiên Chúa vừa hiện diện lại vừa vắng mặt trong cuộc sống của chúng ta nói riêng và trong các sinh hoạt của thế giới này nói chung. Rất nhiều người trong chúng ta vẫn còn sống với quan niệm về một vị Thiên Chúa ở trên trời, xa vắng với các sinh hoạt của con người. Với cái nhìn như thế, mỗi khi chúng ta gặp khó khăn là lúc chúng ta chạy đến cầu xin với Ngài đến can thiệp và giải quyết thay cho chúng ta.

Có phải cho đến hôm nay Chúa mới đuợc đưa lên trời hay không? Thật ra, Đức Giê-su đã về nhà Cha, tiếp nhận vinh quang như đã có từ Thiên Chúa ngay khi Người trút hơi thở và trao ban Thần Khí cho chúng ta là những người đứng dưới chân Thập Giá. Việc Chúa Giê-su được cất nhắc về trời hôm nay không phải là việc ra đi để rồi không hiện diện nữa; nhưng đây chính là một sự hiện diện mới mà chúng ta và các môn đệ cần cảm nhận bằng con mắt đức tin và thể hiện bằng việc làm để minh chứng điều mà chúng ta và các môn đệ đã tin.

Vì thế, không có chuyện vắng mặt. Đức Giêsu, Đấng đã chịu thương tích và bị giết vào dịp lễ Vượt Qua, vẫn hiện diện và không hề bỏ rơi các môn đệ; Người đã sống lại và tiếp tục sống cho họ và với họ như những gì mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc một hôm nay, đó là “sau cuộc thương khó, Người đã tỏ cho các ông thấy Người vẫn sống, với nhiều bằng chứng Người đã hiện ra với các ông trong khoảng bốn mươi ngày và đàm đạo về Nước Thiên Chúa.”

Cách thức hiện diện tuy khác, nhưng Người không hề bỏ rơi họ. Trong khi thi hành sứ vụ, Người đã không thể ở với mọi người tại mọi nơi khác nhau. Nay qua sự chết trong vâng phục mà Người đã được tôn vinh và hiện diện ở mọi nơi, mọi chốn và ở với mọi người trong mọi cảnh huống của đời họ.

Chúng ta mừng sự thay đổi, hân hoan đón nhận cách thức hiện diện mới của Chúa. Tuy, chúng ta không còn đuợc tiếp cận với con người bằng xương bằng thịt của Chúa nữa. Nhưng với Thân Thể Mầu nhiệm của Đức Ki-tô là Giáo Hội, chúng ta đuợc liên kết với Người như Lời Người đã phán với chúng ta trong bài Tin mừng: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28: 20b)

Mặc dầu các dấu chỉ biểu lộ uy quyền của Thiên Chúa có thể thay đổi so với các việc làm của các tín hữu thuộc các công đoàn sơ khai; nhưng nguồn gốc và sức mạnh vẫn xuất phát từ Chúa. Người vẫn hoạt động thông qua những kẻ đi theo Người. Người về trời ngự bên hữu Thiên Chúa không phải để đuợc tôn vinh mà thôi, nhưng còn tiếp tục làm việc nơi các môn đệ qua quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa, đó chính là sức mạnh của Thánh Linh như Chúa đã hứa “các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong tất cả xứ Giu-đê-a và Sa-ma-ri-a, và cho đến tận cùng trái đất”. Với sức mạnh của Chúa Thánh Linh, các Tông Đồ và nhóm môn đệ mọi thời đã hoàn tất sứ mạng của họ.

Còn chúng ta hôm nay thì sao?

Thực hiện lịnh truyền của Chúa trước khi Người về trời, đó là: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ.” Có nghĩa là:

Sống trong một thế giới đầy tranh chấp và bạo lực, chúng ta đuợc mời gọi trở nên sứ giả của hoà bình.

Sống trong một tập thể mà người ta tìm cách loại bỏ nhau vì ghen ghét, đố kỵ và thù hằn thì chúng ta lại đuợc mời gọi sống yêu thương, tương tác và liên đới với nhau.

Đối diện với một cộng đoàn chỉ biết tham lam và tranh dành địa vị thì chúng ta lại được mời gọi sống bác ái và khiêm nhường trong việc phục vụ.

Tất cả đều là dấu chỉ nói lên lời mời gọi của Chúa Giê-su Phục Sinh, Đấng đã về trời để tiếp tục hiện diện và hoạt động trong cộng đoàn của các kẻ tin.

Vì thế, câu hỏi mà chúng ta phải đối diện hôm nay là sống thế nào trong vai trò chứng nhân về sự hiện diện của Chúa? Đó cũng là thử thách mà Tin mừng đề ra cho các tín hữu tại Ga-li-lê-a khi xưa và cho chúng ta hôm nay “Hỡi những người Ga-li-lê-a, sao còn đứng đó nhìn trời.” Có nghĩa là tại sao chúng ta vẫn còn ngồi đó mà tiếc nuối quá khứ! Sao cứ khư khư ôm lấy vinh quang mà không dám trở về với cuộc sống hiện tại để chu toàn phận sự đã được trao phó?

Khi thi hành nhiệm vụ mà Chúa trao phó hôm nay, chúng ta ý thức rằng mình không tự làm; nhưng sứ mạng được trao ban từ Chúa; Người là vị cứu tinh nhân hậu, đang hiện diện và đồng hành với chúng ta.

Chúng ta nương tựa vào Chúa.

Chúng ta gắn bó và nối kết mật thiết với Người.

Chúng ta không ngồi đó chờ Người làm thay các việc mà chúng ta cần làm.

Chúng ta sẽ không yêu cầu Chúa đến để thay đổi những gì đang xảy ra trong cuộc sống của chúng ta.

Thay vào đó, trong niềm tin, chúng ta biết chắc Người đang đồng hành, soi sáng và mở mắt để chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa trong các sự kiện đang xảy ra. Thiên Chúa đã không rời bỏ chúng ta nhưng hiện diện trong những gì đang diễn ra trong cuộc sống của chúng ta ngay bây giờ và mãi mãi.

Như vậy, Chúa đã đi đâu là việc của Chúa! Việc của chúng ta phải làm là thực hiện lịnh truyền mà Chúa phán trước khi Người được cất nhắc về trời, đó là: “anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất”, và nhờ việc làm của anh em mà mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Người. Amen!


Wednesday, 22 April 2026

SỰ SỐNG CỦA CHIÊN LÀ LẼ SỐNG CỦA TA

Click for audio SỰ SỐNG CỦA CHIÊN LÀ LẼ SỐNG CỦA TA

Anh chị em thân mến,

Bài Tin Mừng chúng ta suy niệm hôm nay là phần đầu của diễn từ ‘Chúa Chiên Lành’ trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an. Trong phần này, Đức Giê-su đã công bố Người là cửa ràn chiên và con chiên nào ở trong ràn chiên của Người thì có sự sống, và cuộc sống của chúng thật phong phú và dồi dào.

Theo Đức Giê-su, cuộc sống phong phú của các con chiên không lệ thuộc vào số lượng, sự giầu có, thành công hay được người khác công nhận và tán thưởng; nhưng cuộc sống phong phú mà chúng ta nói ở đây là một cuộc sống có chất lượng như Đức Giê-su đã sống. Điều mà Đức Giê-su đã sống và muốn dậy chúng ta sống, đó là sống quan tâm, sống yêu thương những người thuộc về ràn chiên của Người. Họ là những con chiên mà Chúa Cha đã ban cho Người.

Thưa anh chị em,

Như vậy, hình ảnh của người mục tử mà Đức Giê-su gọi thủa xưa có thể coi như là những nhà lãnh đạo – leader hôm nay. Trách nhiệm của người lãnh đạo không lệ thuộc vào con số những người thuộc về họ. Đời sống của những người thuộc về họ mới là mối quan tâm hàng đầu của người lãnh đạo.

Một người lãnh đạo giỏi là người biết học từ những người được gửi đến cho họ phục vụ. Một nhà lãnh đạo giỏi hãy nhớ rằng lãnh đạo không phải là thực thi quyền lực mà là trao quyền và thúc đẩy những người thuộc về họ cùng nhau thi hành bổn phận đã được trao ban.

Sự thèm khát quyền lực, tài sản và uy tín là kẻ thù của người mục tử. Thế gian tìm những điều này. Những người làm chính trị hay kinh doanh thì lấy lợi nhuận làm tiêu chuẩn, là thước đo của thành công. Cho nên họ phải cẩn thận bằng không họ sẽ bị sa vào vòng xoáy của những thử thách khiến họ biến thành các mục tử xấu, chỉ biết lợi dụng đàn chiên để làm thỏa mãn cho cái tham vọng của mình. Mục tử theo tinh thần của Đức Giê-su thì không được phép hành động như thế.

Nhưng trong thực tế, chúng ta cũng nên can đảm nhìn nhận rằng có một số người, tuy rằng rất nhỏ, không sống theo mẫu mực của Chúa đề nghị trong bài Tin mừng hôm nay. Sau đây là vài nhận xét:

Có những người sống trong bậc cha mẹ không phải là người chăn chiên tốt vì họ chỉ tìm kiếm vinh quang cho bản thân qua con cái. Họ sử dụng quyền lực để ngăn cấm hay tỏ cho con cái biết mình có uy quyền hầu che dấu cái tôi được chứa đựng trong sự yếu đuối của chính họ. Họ thống trị hơn là tạo điều kiện thuận lợi cho con cái phát triển hầu có thể đối thoại và tìm ra phương thức tốt nhất trong việc giáo dục mà mục tiêu là sự lớn khôn của con cái họ. Họ sợ con cái của họ sẽ hư hỏng hay là vấp phải những sai lầm mà chính họ đã trải nghiệm, rồi chính vì nỗi lo sợ đó họ dùng quyền để dọa nạt, ngăn cấm thay cho đối thoại, thông cảm và yêu thương. Cuối cùng là sự xa cách có thể dẫn đến đổ vỡ trong gia đình, giữa hai thế hệ.

Các giáo sĩ và tu sĩ cũng có thể thất bại trong vai trò lãnh đạo nếu họ không hành xử như hình ảnh của Chúa Chiên Lành. Đôi khi họ có thể còn tệ hơn cả những "chính trị gia" mà chúng ta lên án. Các mục tử trong đạo Chúa đôi khi đã sai lầm khi che đậy tham vọng, ước mong thành công của mình bằng cụm từ “nhu cầu mục vụ” hay “chúng tôi vẫn là con người” hay “đó cũng chỉ là lỗi nhỏ, mới phạm lần đầu,” hay một lời biện minh, nói dối khiêm tốn để che đậy cái tôi. Thậm chí, các nhà lãnh đạo có thể kêu gọi những người cộng tác thảo luận về một dự án đã được quyết định bởi họ vì tôi có quyền. Như vậy, họ đã lợi dụng uy quyền một cách đáng xấu hổ khi bắt mọi người phải chấp thuận quyết định của họ vì họ có quyền!

Thưa anh chị em,

Sau cùng, chúng ta nên nhớ rằng, các nhà lãnh đạo trong dân về đời cũng như đạo đều được gọi là mục tử. Mục tử tốt lo cho đoàn chiên. Mục tử xấu lợi dụng chức vụ để thu lợi cho mình thì có ai nghe theo bao giờ! Nếu có người hùa theo thì cũng vì lợi nhuận, đến khi tan đàn thì lại cấu xé nhau.

Chỉ có mình Chúa Giê-su phục sinh mới là vị mục tử nhân hậu. Tất cả chúng ta là cộng sự của Người. Muốn hoàn tất sứ mạng được trao phó, trong vị trí riêng của từng người, chúng ta được mời gọi kết hợp với Chúa là đấng chủ chăn duy nhất, là mục tử nhân hậu. Còn chúng ta tuy được ban tặng cho danh hiệu đó; nhưng chúng ta vẫn còn và luôn luôn là những con chiên trong ràn chiên của Chúa.

Hẳn anh chị em còn nhớ khi trao quyền cho Thánh Phê-rô, Chúa Phục Sinh đã ba lần hỏi Phê-rô có yêu mến Người không. Và cũng ba lần Người nói hãy chăn dắt các chiên của Thầy. Chiên thuộc về Chúa còn Phê-rô chỉ là người cộng tác. Ý thức và biết rõ nhiệm vụ cũng như vị trí của mình, nên Thánh Phê-rô đã chia sẻ như sau:

“Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tuỵ. Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên.” (1Pet 5:2-4)

Tóm lại, chỉ mình Đức Giê-su là Đấng chăn chiên tốt lành, nhân ái và thiện hảo. Cả thế giới và mọi người sống trong đó là ràn chiên thuộc về tay Người. Người đã chết để bảo vệ và trao ban cho ràn chiên sự sống, một cuộc sống phong phú và dồi dào; và không ai có thể lấy mất được.

Còn chúng ta, mỗi người đều là những người chăn dắt ràn chiên, nhỏ hay lớn, trong gia đình, ngoài xã hội, hay trong bất kỳ một cơ cấu hay tổ chức nào mà Thiên Chúa trao phó. Nói cách khác, khi chúng ta được mời gọi chăm sóc, hướng dẫn, nuôi sống và bảo vệ cuộc sống của người khác là lúc chúng ta thực hiện nhiệm vụ mục tử. Các công việc đó không chỉ là hành động mà còn được phát xuất từ mối quan hệ yêu thương và quan tâm của chúng ta dành cho nhau. Thật cao cả nhưng đầy khó khăn!

Thưa anh chị em,

Chúng ta không thể nào chu toàn trọn nhiệm vụ cao cả của mình, nếu không sống theo gương mẫu của Người Chăn Chiên duy nhất là Đức Ki-tô, Đấng đã chấp nhận mọi đau khổ, sẵn sàng hy sinh thân mình để mở cánh cửa và ban cho các con chiên trong ràn được một cuộc sống phong phú và tràn đầy. Còn chúng ta, ngày hôm nay, trong nhiệm vụ đã được trao phó, cũng phải sống sao cho vơi đi những đau khổ mà thế gian đang phải gánh chịu để làm cho cuộc sống của người khác được thăng hoa hơn.

Cầu chúc anh chị em chu toàn ơn gọi đã được kêu mời, tiếp tục ra đi và làm như Chúa Chiên Lành đã làm. Amen!


Friday, 10 April 2026

CHÚA PHỤC SINH VÀ CÁC NỖI ĐAU.

 Click for audio CHÚA PHỤC SINH VÀ CÁC NỖI ĐAU.

Anh chị em thân mến,

Không ai hiểu trò bằng thầy, Đức Giê-su thấu hiểu lòng trí hoang mang và các nỗi sợ hãi của các môn đệ sau khi Người bị giết chết. Vì thế, trong hai lần hiện ra hôm nay việc đầu tiên Người làm là trao ban cho họ sự bình an.

Sau đó Chúa cho họ thấy tay và cạnh sườn của Người. Đây là một điều thật đặc biệt, Chúa muốn cho các ông nhận ra rằng thân xác của Chúa Phục Sinh và con người đã trải qua khổ nạn, chết trên Thập Giá là một người. Khi thấy những chứng tích đó, các môn đệ đã vui mừng và tin rằng Người đang ở trước mặt họ là Đức Giê-su, vị Thầy đáng kính của họ. Sau đó, Chúa Giêsu một lần nữa lại ban bình an và Thánh Thần cho các ông để các ông ra đi hoàn thành sứ mạng mà chính Người vừa hoàn tất.

Trong lần hiện ra lần thứ nhất này không có mặt Tô-ma. Các môn đệ khác đã kể lại cho ông biết về việc các ông đã được thấy Chúa. Nhưng Tô-ma đã không tin vào lời loan báo của các bạn mình.

Thật ra, các bạn của ông cũng chẳng làm chứng được gì. Cho dù Thần khí đã đuợc trao ban, nhưng các bạn của Tô-ma vẫn chưa ra khỏi vùng an toàn, vẫn dựa vào các cánh cửa đã đuợc đóng kín để bảo vệ, chưa sẵn sàng để cho Thần khí thúc đẩy ra đi chu toàn sứ vụ nhân chứng. Trái lại, các ông vịn cớ là không biết đi đâu! Lời loan báo của họ không đi đôi với việc làm như thế thì làm sao các môn đệ có thể truyền lửa cho bạn mình là Tô-ma được.

Còn Tô-ma, ông muốn niềm tin của ông phải dựa trên kinh nghiệm của cá nhân. Ông muốn chạm vào thân thể của Chúa, nên đáp rằng: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.”

Thưa anh chị em,

Tám ngày sau, Chúa lại hiện ra với các ông, lần này có mặt Tô-ma. Trước tiên, Người cũng ban bình an cho các môn đệ rồi quay sang Tô-ma và nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Tô-ma đã đáp trả bằng một niềm xác tín thật cao độ rằng Người là CHÚA và là THIÊN CHÚA của ông.

Sau đó qua Tô-ma, Chúa đã thể hiện tình thương của Người dành cho chúng ta bằng cách trao ban cho chúng ta thêm mối phúc nữa là “Phúc thay những người không thấy mà tin.”

 Trước khi xem xét cách biểu lộ niềm tin của Tô-ma, chúng ta cũng nên nhìn nhận rằng ông không phải là trung tâm của bài Tin Mừng.

Trình thuật mô tả việc Chúa hiện ra thì Chúa phải là trọng tâm. Khi nhìn như thế, chúng ta mới khám phá ra lòng đại lượng phát sinh từ tình yêu của Chúa. Chúng ta vẫn thường đuợc dậy bảo niềm tin vào Chúa phải là một niềm tin vô điều kiện, phó thác hoàn toàn theo Chúa. Nhưng hôm nay, Chúa hành xử với Tô-ma quả thật khác hẳn với lối suy nghĩ cầu toàn của chúng ta. Chúa chấp nhận điều kiện mà Tô-ma đưa ra. Cho dù đã đuợc tôn vinh, nhưng Chúa vẫn không che dấu các thương tích. Đó chính là chứng tích của Tình yêu thì làm sao phải che dấu! Các vết thương đó cần đuợc bộc lộ hơn là che dấu.

 Tô-ma cũng có nỗi đau của riêng mình. Ông cũng là nguời đang mang thương tích. Chúa Giê-su, Thầy đáng kính của ông đã chết. Sự chết của Chúa để lại trong ông một tâm trạng buồn rầu và mất mát. Biết trông cậy và nương tựa vào ai nữa đây! Ông đi trốn, cần có một không gian và nơi ẩn nấp để đối diện với niềm đau này. Vì thế ông đã hụt mất một cơ hội khi Chúa hiện ra lần trước.

Các bạn của ông cũng thế, họ cũng có niềm đau rồi sinh ra chán nản và thất vọng. Nhưng họ đã chọn cách đối diện với bi kịch mà họ đang đón nhận bằng cách liên đới, chia sẻ, an ủi và hỗ trợ nhau.

Nói chung là chỉ có ai đã kinh qua đau khổ mới thông cảm cho những người đồng cảnh ngộ. Chúa đã bị thương tích và Người cũng nhìn thấy các nỗi đau khổ mà Tô-ma đang đối diện; vì thế Người cũng muốn cho ông biết là Người rất thông cảm với yêu cầu của ông. Qua sự tiếp xúc, thầy trò gặp và nhận ra nhau. Chúa chữa lành thuơng tích cho Tô-ma. Còn ông nhận ra thầy mình là Chúa và là Thiên Chúa của ông. Ông đầu phục hoàn toàn trước quyền năng của thầy mình, Đấng mới bị giết và treo trên Thánh Giá mấy ngày qua.

Còn chúng ta thì sao?

Anh chị em thân mến,

Phần chúng ta hãy nhớ rằng: Chúa sống lại không xoá đi dấu vết của thập giá. Vết thương vẫn là vết thương. Thập giá vẫn còn đó nhưng nay mang một giá trị mới. Thập giá, án phạt dành cho tội nhân nay đã biến thành Thánh Giá, nguồn ơn cứu độ cho các kẻ tin. Đó không còn là án phạt mà là hồng ân.

Vì thế, cho dù hiện nay thế giới của chúng ta vẫn chứa đầy những vết thương, cụ thể là các vết thương gây ra bởi chiến tranh bên Ukraine, tại các miền đất ở Trung Đông và nhiều tai ương khác, đã giết đi bao nhiêu sinh mạng, khiến cho thân nhân của họ bị tan nát cõi lòng; chưa kể đến niềm đau thương còn kéo dài trên cuộc sống của những người thất nghiệp, các trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, v.v… Con người chìm đắm trong đau khổ và không biết nương tựa vào đâu cả!

Trước hiện tình của thế giới đầy thương tích như thế, làm sao người tín hữu có thể nhắm mắt, làm ngơ trước những vết thương của tha nhân rồi tuyên xưng, “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Cho dù, họ có nói trăm lần, vạn lần thì lời tuyên xưng đó cũng chỉ là tuyên xưng bằng môi miệng. Chúng ta cần chạm vào những vết thương của nhau, và đó là việc làm cần thiết mà Tô-ma đã xin và được ban cho để thể hiện cho một đức tin theo tinh thần của bài Tin Mừng hôm nay.

Như vậy, khi đối diện với các thương tích, đau khổ đang hoành hành khiến chúng ta tuy còn hoang mang và lo sợ; nhưng niềm lo sợ đó không làm cho chúng ta quên đi ân huệ bình an mà Chúa dành cho những ai tin cậy ở nơi Người. Hơn bao giờ hết, chúng ta cần hãnh diện về niềm tín thác: đó là tuy sống giữa tâm bão của hoang mang và lo sợ, nhưng không ai trong chúng ta được phép đánh mất niềm hy vọng vì ‘bình an của Chúa ‘ vẫn đang ở cùng chúng ta.

Ngay trong lúc này, chúng ta hãy ra đi mà an ủi và tạo cho nhau niềm hy vọng vào Chúa Phục Sinh, Đấng vẫn đồng hành và ban cho muôn dân muôn nước ơn bình an để đón nhận và vượt qua các nỗi thống khổ vẫn đang đè nặng và đe dọa cuộc sống của chúng ta.

Sau cùng, Đức Giê-su với các dấu đinh và các vết thương còn trên thân xác đã chết thật. Nay Người đã sống lại thật rồi anh chị em ơi! Và bình an của Chúa Phục Sinh ở cùng chúng ta luôn mãi. Alleluia, Alleluia!


Thursday, 2 April 2026

TÂM TÌNH PHỤC SINH

 Click for audio TÂM TÌNH PHỤC SINH

Anh chị em thân mến,

Các tín hữu thuộc Giáo Hội Công Giáo Đông Phuơng có một thói quen rất ý nghĩa như sau: Sau khi tham dự Thánh lễ Mừng Chúa Phục Sinh; họ trao cho nhau món quà đã được làm phép, thuờng là quả trứng. Sau đó họ chúc mừng nhau bằng cách đập vỡ trái trứng, biểu tượng của sự sống, rồi cùng cất tiếng ngợi khen “Alleluia - Alleluia, Chúa Kitô đã sống lại thật”.

Có lẽ, ngày nay, thói quen tặng trứng Phục sinh đuợc phát xuất từ truyền thống này.

Nói chung, ai trong chúng ta cũng mong niềm vui và hanh phúc mà Đức Kitô đã đem đến trong ngày Người Phục sinh hiện diện trong cuộc sống của chúng mình.

Nhưng thực tế có được như vậy không? Sau đây là một kinh nghiệm:

Có ông chồng kia. Sau khi tham dự Lễ vọng phục sinh, hân hoan chạy đến để chia sẻ niềm vui với bà, “em ơi, Chúa sống lại thật rồi! Hãy vui lên!” Người phụ nữ Việt Nam e dè, kín đáo, tế nhị cho nên thường mau mắn nhận hơn là cho đi. Không thấy vợ trả lời. Ông đến tủ lạnh cầm chai bia rồi tự mình mừng lễ; sau đó bèn phán ‘Bà ơi! có gì dọn ra cho tôi mừng lễ. Sao mà bếp núc nhà mình hôm nay lạnh và nguội thế này?’ Bà nhà mình đang bận rộn trong phòng, chưa kịp mừng lễ chồng mình đã nghe thấy lịnh truyền, bèn tiu nghỉu rồi nghĩ thầm ‘lại cái cảnh chồng chúa vợ tôi’, và không muốn buớc ra nữa. Bác trai của chúng mình lại đuợc phép phát lịnh tiếp; và như anh chị em tuởng tuợng thì biết rằng cuờng độ của những lịnh truyền sau không còn ngọt ngào nữa. Thế là niềm vui Phục sinh cho dù phát sinh bằng cảm xúc cũng biến mất.

Niềm vui của ngày lễ là những cảm nghiệm sống của mỗi người. Không ai có thể trao ban và áp đặt trên người khác điều họ không có hay là chưa có.

Làm sao tôi có thể nói với vợ chồng anh bạn hãy vui lên vì Chúa đã sống lại thật trong khi họ đang phải đối diện về sự ra đi quá đột ngột của người con duy nhất mới chết vì tai nạn giao thông, cảnh vợ mất chồng hay con cái mất cha mẹ! Cuộc sống hiện tại của họ là những ngày buồn thảm của đồi Can-vê!

Với họ, niềm vui Phục Sinh dường như quá xa vời. Họ có thể tự hỏi: Chúa sống lại thật rồi, nhưng người con trai duy nhất của chúng tôi hay người tôi yêu dấu thì vẫn không trở về… vậy niềm vui đó ở đâu?

Tin Mừng Phục Sinh không bắt đầu bằng niềm vui, mà bắt đầu bằng nước mắt. Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, Maria Mađalêna ra mộ Chúa. Bà đi trong tâm trạng đau buồn. Bà ra thăm mộ vì nhớ thương, vì trái tim tan vỡ. Bà muốn diễn tả tâm tình nhớ thương bằng việc mang theo dầu thơm để ướp xác Chúa. Và khi thấy mộ trống, bà càng hoang mang hơn. Bà nghĩ người ta đã lấy xác Chúa. Bà đứng đó nhìn vào trong mộ, ngây người ra và khóc.

Chính trong lúc bà khóc, Chúa Giêsu Phục Sinh đã đến. Nhưng bà không nhận ra Người. Chúa đứng đó, rất gần, nhưng bà tưởng là người làm vườn, cho đến khi Chúa lên tiếng gọi “Maria!”, bà mới bừng tỉnh, quay lại và thưa: “Lạy Thầy!”

Anh chị em thân mến,

Câu chuyện đó rất gần với cuộc sống của chúng ta hôm nay. Có những lúc chúng ta đau khổ, mất mát, và giống như Maria. Cho dù Chúa đang ở rất gần, nhưng chúng ta chỉ dán mắt nhìn vào nỗi tang thương của chính mình cho nên vẫn không nhận ra Người.

Đặc biệt với một người vợ vừa mất chồng, con cái mất cha mẹ. Nỗi đau mà họ đang gánh chịu quá tang thương như màn đêm ập xuống khiến họ không nhìn thấy gì nữa. Không ai có thể phủ nhận hay xóa đi nỗi đau thương ấy. Và chúng ta cũng không bao giờ khuyên họ đừng khóc nữa, hãy vui lên vì Chúa đã sống lại. Chính Chúa Giêsu cũng đã khóc trước cái chết của Ladarô. Người không vô cảm trước nỗi đau của con người. Người sống lại khi mang đầy thương tích để an ủi và ban bình an cho họ.

Tuy nhiên, khi suy nghĩ đến hòan cảnh của họ, tôi chợt nhớ lại và nhận ra rằng nếu không tiến vào sự chết thì làm thế nào biết sống lại là gì! Nếu không cảm nhận đuợc niềm vui của Chúa Phục sinh thì những lời chúc cho nhau mãi mãi chỉ là lời cầu chúc suông; chưa dám nói đến hai chữ ‘sáo ngữ’.

Thật ra, Phục Sinh không có nghĩa là quyền năng sống lại của Chúa phục sinh sẽ đem người đã mất quay trở lại cuộc sống như trước. Nhưng Phục Sinh có nghĩa là sự chết không phải là tiếng nói cuối cùng.

Những người đã ra đi không biến mất trong hư vô. Tình yêu giữa họ và chúng ta sẽ không bị xóa bỏ. Trong Chúa Kitô, tình yêu đó được gìn giữ, được thanh luyện, và một ngày kia sẽ được gặp lại trong vinh quang. Đó là niềm hy vọng của chúng ta. Nhưng niềm hy vọng này không đến ngay lập tức. Nó lớn lên từ từ và cần được vun trồng theo thời gian trong sự tín trung vào sự quan phòng và yêu thương của Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến,

Trong những lần đi thăm viếng và ruớc Mình Thánh Chúa cho các người già cả, đau ốm trong các viện duỡng lão. Tôi nhận ra một điểm là dù tình trạng sức khỏe của họ như thế nào: bị lãng trí; bị tê liệt hay mất khả năng giao tiếp vì hậu quả của các cơn stroke… Nhưng khi chúng tôi tôn vinh Mình Thánh Chúa để mời họ đón nhận thì hầu hết mắt của họ sáng ngời niềm tin. Điều này giúp cho chúng tôi biết rằng Thân Thể Chúa Phục Sinh chính là nguồn hy vọng của họ.

Rồi có những cụ, truớc đây rất sợ chết, nay hòan tòan đổi khác. Họ huớng về tương lai – tuơng lai gì trong hòan cảnh sống của họ; phải chăng chỉ là một nấm mồ - bằng niềm hy vọng. Họ hết sợ rồi, sẵn sàng và hân hoan ra đi. Phục sinh là ở đó.

Cụ thể, tôi biết hai cụ kia sống và quen nhau trong viện duỡng lão. Thấy sự liên kết và gắn bó của họ, chúng tôi mới tự hỏi nhau rằng, không biết cuộc sống còn lại của họ sẽ ra sao sau khi 1 trong 2 người bị cất đi. Không ngờ, đó cũng là điều trăn trở của họ truớc đây… Nhưng mới gần đây, họ đã thay đổi và xác tín rằng ai đi truớc cũng không sao, vì họ biết rằng người đi truớc sẽ chờ người đến sau. Họ sẽ gặp lại nhau. Niềm tin vào sự sống lại giúp họ đạt đuợc niềm xác tín như thế.

Bản thân tôi, mỗi khi cử hành hay tham dự các nghi thức phụng vụ trong Tuần Thánh và Phục sinh, tôi tự hỏi mình rằng các biến cố đó đã ảnh huởng, tác động và làm cho cuộc sống tôi thay đổi ra sao?

Tạ ơn Chúa, vì tôi vẫn chưa có những thay đổi nào đáng kể; vẫn còn bị bám víu bởi các đam mê; vẫn còn cảm thấy thích thú khi đuợc trao quyền (chẳng biết để phục vụ hay chỉ huy – miễn có quyền là thích rồi); vẫn bực tức khi ý định của mình không đuợc đón nhận; vẫn còn muốn làm tôi sự tội và còn bao nhiêu lầm lỗi phát sinh từ sự mỏng dòn của thân phận làm người; vẫn còn đủ mọi thứ tham! Tuy nhiên, tôi không mất hy vọng và vẫn hiên ngang tiến về phía truớc với niềm cậy trông vững vàng là cho dù cuộc sống của tôi sẽ tiếp tục như thế hay tệ hơn thế nữa thì Chúa vẫn thương yêu tôi.

Sau cùng, tôi xác tín rằng Chúa đã đến để chúng ta có sự sống và được sống dồi dào. Người đã thắp lên trong cõi lòng chúng ta niềm vui mừng và hy vọng, bởi vì thập giá của Người là nguồn ơn cứu độ và cách sống của Người là con đường dẫn tới phục sinh.

Hãy hân hoan bước theo Người và hãy vui mừng được thuộc về Người. Chính trong tâm tình đó mà tôi xin cầu chúc cho anh chị em, mỗi người, mỗi gia đình và mỗi cộng đoàn một lễ phục sinh đầy vui mừng và hy vọng.

Sống lại là đổi mới, là vui tuơi, là hy vọng… Vì vậy, chúng mình hãy vui lên! Vì Chúa đã sống lại trong bản thân và lối sống của mình rồi - Alleluia, Alleluia


Sunday, 29 March 2026

VINH QUANG CỦA THÁNH GIÁ LÀ NIỀM VUI PHỤC SINH

Click for audio VINH QUANG CỦA THÁNH GIÁ LÀ NIỀM VUI PHỤC SINH

Anh chị em thân mến,

Cùng với toàn thể Hội Thánh, chúng ta khai mạc Tuần Thánh bằng việc đón tiếp Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem. Với những nhành lá vạn tuế kèm theo những lời tán tụng, chúng ta đón tiếp Chúa như một quân vương. Nhưng vài ngày sau, trên con đường khổ nạn chỉ còn lại có mình Người. Mẹ của Người và các người thân tín chỉ dám đi xa xa để trông chừng. Chúa Giêsu hoàn toàn cô đơn. Không còn những lời tung hô; thay vào đó là những lời lên án. Cũng chẳng còn những nhành lá biểu lộ sự vui mừng, mà là cây thập giá. Gia tài mà Chúa để lại cho chúng ta là thế: một cái chết cô đơn, tủi nhục như một phạm nhân trên thập giá.

Thưa anh chị em,

Vào thời Đức Giê-su, chết trên thập giá là một án tử hình dành cho các tội nhân. Và án này được chính quyền Roma đặt ra để áp dụng cho người Do thái. Hàng năm có rất nhiều người bị treo trên thập giá. Nhưng tại sao chỉ có mình việc Chúa bi treo và chết trên thập giá lai được lưu truyền cho đến ngày nay. Sự chết của Đức Giêsu đã có ảnh hưởng gì trên cuộc sống của anh em tín hữu tiên khởi, đến nỗi qua bao thế hệ, hàng hàng lớp lớp vẫn vui vẻ dấn thân vì lợi ích của người khác cho dù phải hy sinh chính bản thân mình.

Chúng ta cần tìm ra những giá trị đích thực của con đường Thánh Giá mà Chúa đã đi qua. Điều đó có ảnh hưởng gì trên cuộc sống của chúng ta.

Sau nhiều lần chuyện vãn với anh chị em về những khó khăn trong đời sống gia đình. Tôi thường được nghe anh chị em phàn nàn là chúng con đang vác thánh giá bùn. Thánh giá bằng bùn thì dễ trươn chượt nên rất khó vác. Phàn nàn là bản tính của con người. Nhưng một điều đáng mừng là anh chị em chưa quăng cây thánh giá bùn đó. Dù người nào muốn quăng hay có ý định quăng đi, thì tôi xin có một lời khuyên là nên suy nghĩ lại. Bởi vì, quăng cây này anh chị lại tìm được cây khác giống như hệt cây đã quăng đi. Hãy học noi gương Chúa.

Người cũng than van, lo sợ… Và chắc một điều là Thập Giá mà Người đã vác khi xưa, không chỉ nặng về phần thể lý mà thôi. Đau khổ về phần xác không sánh gì với nỗi thống khổ của sự cô đơn, bị bỏ rơi trơ trọi một mình. Nhưng cuối cùng là một sự đón nhận trong yêu thương khi nhận biết đó là ý muốn của Cha Người, Đấng mà Người hết lòng tùng phục trong yêu thương.

Thập giá là đích điểm của mọi đau khổ mà Chúa đã chịu, nhưng bề sâu của Thập giá là một sự hòa hợp nên một trong Tình Yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Nơi đó sự chết và tội lỗi bị phá hủy để nhường lại sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa. Thập giá còn biểu lộ sự bất lực của con người và biểu dương sức mạnh vô song của Thiên Chúa. Nhìn vào thánh giá ta thấy bình minh của ngày Phục sinh đã hiện tỏ.

Thưa anh chị em,

Đã hơn 2000 năm qua đi, tất cả những gì xảy ra thời Đức Giêsu vẫn còn tiếp diễn. Mỗi người chúng ta cũng được Đức Giêsu mời theo Người: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”. Vác thập giá hôm nay chính là đón nhận những thử thách như bệnh tật, thất bại, bị bỏ rơi, những lời sỉ nhục đầy bất công... Đó là những thập giá do Chúa gửi đến để thanh luyện lòng tin của chúng ta được kiên vững mà trung tín với ơn gọi đi theo con đường của Chúa. Con đường tuy hẹp nhưng lại thênh thang vì có nhiều bạn hữu cùng đi. Con đường tuy khiêm tốn nhưng biểu lộ sức mạnh và lòng quyết tâm phục vụ tha nhân.

Con đường Thập Giá mời gọi chúng ta đi vào cái chết – cái chết cho chính mình, cái chết cho tính kiêu ngạo, chết cho cái tôi đáng ghét của mình. Khi nói đến con đường Thập giá mà đích điểm là sự chết, tôi nghĩ đến đời sống cộng đoàn. Và cụ thể là cuộc sống gia đình. Sau đây là vài nét suy tư về mối liên hệ giữa hôn nhân và Thánh giá.

Hôn nhân là trường học mà những ai đã bước vào thì không mong có ngày ra trường. Cha mẹ con cái chuyên cần học tập luôn mãi, học cách lắng nghe nhau, học cách phục vụ, học tôn trọng và đặt nhu cầu của người khác lên trên nhu cầu của bản thân.

Điều gì sẽ xảy ra nếu trong hôn nhân, chúng ta luôn tôn trọng và đặt nhu cầu của người phối ngẫu trên nhu cầu của cá nhân mình. Hẳn nhiên là một nếp sống an bình và vui tươi sẽ bao trùm những ai đã chọn lối sống như thế. Trên thực tế, chúng ta đã áp dụng lối sống thua cuộc trong việc giáo dục con cái thì tại sao chúng ta lại không làm được với người bạn đường của mình. Phải chăng là cái tôi đã quyến rũ và làm chủ khiến chúng ta mất phương hướng!

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta dành thời gian còn lại của cuộc sống để tôn trọng và đặt nhu cầu của người phối ngẫu lên trên nhu cầu của mình?

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta ngừng tính toán mà chỉ biết cho đi bằng những lời nói và cử chỉ yêu thương và tha thứ cho những lỗi lầm của nhau!

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta chết đi cho những nhu cầu của chính mình và yêu thương người khác tha thiết hơn.

Điều gì sẽ xảy ra nếu trong Tuần Thánh này, chúng ta cùng vác Thánh Giá bùn bằng cách buông bỏ lối sống cũ mà chúng ta đã sống trong hôn nhân của mình?

Đây không phải là điều vợ làm cho chồng hay chồng làm cho vợ. Đây là cách Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta sống trong hôn nhân. Nếu chúng ta làm đi làm lại điều này, với sự kiên nhẫn và dũng cảm cần thiết, chúng ta thấy sự khác biệt sẽ xẩy ra trong cuộc sống chung.

Vì thế, trong tuần này chúng ta cùng với toàn thể giáo hội suy niệm về mầu nhiệm Thập giá không phải để thất vọng vì gánh nặng của tội lỗi, mà trái lại để cảm nếm được hồng ân bao la của Chúa, để cho tâm hồn vui tươi và bình an hơn. Suy gẫm về hành trình thương khó và thập giá để cảm nếm được ơn tha thứ của Người. Như thế, chúng ta cũng được mời gọi để cảm thông, để tha thứ hơn đối với người anh em của chúng ta. Càng nhận ra được tình yêu tha thứ của Chúa, chúng ta càng được mời gọi để tha thứ nhiều hơn. Càng tha thứ nhiều hơn, chúng ta càng dễ cảm nếm được ơn tha thứ của Chúa hơn.

Và sau cùng, qua hành trình Thập giá, chúng ta sẽ cảm nghiệm được sức mạnh của Chúa Giêsu Phục Sinh, Đấng đang hiện diện để yêu thương và mời gọi chúng ta ra đi để trao ban tình yêu đó cho tha nhân. Ước gì Thập giá của năm nay không còn là những gánh nặng của cuộc đời nhưng chúng ta vui và tiến bước vì biết rằng chúng ta thật diễm phúc được Chúa mời gọi để chia sẻ hồng ân cao quí này. Amen!


Wednesday, 18 March 2026

SỐNG HAY CHẾT ĐỀU THUỘC VỀ CHÚA.

Click for audio SỐNG HAY CHẾT ĐỀU THUỘC VỀ CHÚA.

Hầu hết các Kitô hữu, thậm chí nhiều người ngoài Kitô giáo, đều biết câu chuyện Đức Giê-su hồi sinh La-da-rô như được kể trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an. Bài Tin Mừng này thường được công bố vào các dịp lễ cầu hồn và an táng, cho nên khá quen thuộc với mỗi người chúng ta.

Câu chuyện được bắt đầu bởi việc em trai của Mar-tha và Ma-ri-a là La-da-rô bị đau. Thái độ của Đức Giê-su khi được báo tin làm chúng ta ngạc nhiên. Căn cứ vào tình bạn và lòng thương mến mà Đức Giê-su dành cho gia đình của ba chị em này, cứ như lẽ thường mà nói thì khi vừa nhận được tin, Người sẽ lập tức lên đường để thăm họ ngay. Nhưng xem ra Người không chỉ dửng dung mà còn thản nhiên phán rằng căn bịnh của La-da-rô sẽ không làm ông chết, nhưng là dịp mà vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện và Con Thiên Chúa được tôn vinh. Căn cứ vào trình thuật của Tin Mừng thì Đức Giêsu đã ở thêm tại nơi đó vài ngày nữa rồi mới đi Bê-ta-ni-a. Vì thế, khi đến nơi thì La-da-rô đã chết.

Trong tình huống đó, Đức Giê-su đã phải đối mặt với kiểu vừa hờn dỗi vừa tin tưởng của hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a. Chúng con đã báo cho Thầy biết về tình trạng sức khỏe của người bạn của Thầy và cũng là chú em của chúng con là La-da-rô thế mà giờ này Thầy mới đến; giả như Thầy đến ngay thì em con đã không chết. Tuy nhiên, chúng con biết Thiên Chúa có bao giờ từ chối lời cầu xin của Thầy bao giờ. Vừa hờn dỗi vì quá đau khổ về sự mất mát người em thân yêu, mặt khác các cô lại tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa hoạt động nơi Đức Giê-su. Nói chung thì phản ứng của hai cô cũng là bản tính của chúng ta. Con người thời nào cũng thế!

Sau đó Đức Giê-su được hai cô đưa đến ngôi mộ, có đám đông đi theo Người. Đến chỗ chôn cất La-da-rô, Chúa xúc động và đã khóc. Sau đó, Đức Giê-su yêu cầu họ đem phiến đá chắn cửa mộ đi và sau khi hòn đá được lăn đi, Đức Giê-su lên tiếng gọi ‘La-da-rô, ra đây!’ Lập tức, La-da-rô trỗi dậy, bước ra khỏi mộ. Trong khi đi ra, tay và chân còn bị trói bằng dải vải và mặt còn phủ khăn. Và Đức Giêsu ra lịnh cởi trói cho anh ta để anh ta được tự do đi lại. Câu chuyện chỉ có thế!

Mặc dầu câu chuyện được kết thúc bởi việc Đức Giê-su ra lịnh cởi trói cho La-da-rô và để anh ta đi. Nhưng chúng ta biết rõ rằng sau này La-da-rô rồi cũng chết.

Thưa anh chị em,

Trong mấy tuần vừa qua, chúng ta đã được nghe tường thuật về các cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người phụ nữ xứ Sa-ma-ri-a, qua câu chuyện đó, Đức Giêsu đã mạc khải cho chúng ta biết Người là nước truờng sinh, ai đến với Người sẽ không khát nữa. Bởi vì, khi gặp gỡ Đức Giê-su mọi nỗi khát vọng của con người đều được Đức Giê-su lấp đầy và họ sẽ không còn khao khát thêm điều gì nữa. Sau đó, trong cuộc gặp gỡ với người mù từ thủa mới sinh, Đức Giê-su làm cho ông ta nhìn thấy. Việc làm này khẳng định điều Người đã phán ‘Ta là ánh sáng thế gian.’ Ánh sáng chiếu soi và dẫn con người đến sự sống.

Các cuộc gặp gỡ này nhắc nhở cho chúng ta nhớ lại các kinh nghiệm thực tế trong cuộc đời mình và Chúa. Đến và gặp gỡ Chúa là những trải nghiệm trong cuộc sống của những kẻ tin. Đó là những kinh nghiệm thực tế, không dựa vào sách vở hay kiến thức. Nhưng là cuộc gặp gỡ bằng xuơng bằng thịt giữa những người khao khát và yêu mến lấp đầy sự thiếu thốn của nhau.

Hôm nay qua dấu lạ làm cho La-da-rô hồi sinh, Đức Giê-su muốn nhắn gửi chúng ta một sứ điệp là chúng ta không cần chờ đến ngày sống lại mới nhận ra vinh quang của Thiên Chúa, mà ngay lúc này, trong giây phút này, Chúa đã là sự sống và sự sống lại của chúng ta.

Tất cả chúng ta đều biết rằng sự chết là kẻ thù cuối cùng mà chúng ta cần chiến đấu và triệt hạ. Và chỉ có Chúa, Đấng chiến thắng và đè bẹp sự chết mới giúp chúng ta đạt được điều đó. Vì thế, trọng tâm của bài Tin Mừng hôm nay là điều mà Chúa nói với Martha “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không?”

Tôi tin! Nhưng trong cuộc sống, tôi phải thể hiện niềm tin đó như thế nào.

Khi dấn thân vào cuộc sống theo chân Đức Giê-su là lúc chúng ta được mời gọi đi con đường hẹp, con đường chết đi cho ‘cái tôi’, chết đi cho ý riêng, chết đi cho tính ích kỷ, rồi ra đi để quan tâm và lo lắng cho người khác. Nói chung, chúng ta được gọi ra từ ngôi mộ để bước ra cuộc sống tự do của những người làm con Thiên Chúa.

Vấn đề chính yếu, đối với chúng ta là những người theo chân Chúa, trước hết không phải là việc chúng ta sẽ ra khỏi mồ một ngày kia, mà ngay từ bây giờ, chúng ta đuợc mời gọi đi từ sự chết sang sự sống bằng một đức tin gắn bó vào bản thân Đức Giêsu.

Tin vào sự sống lại không chỉ là việc nhìn nhận những gì sẽ xẩy đến cho cá nhân mình sau khi chết. Nhưng đó là điều cần được thể hiện ngay trong cuộc sống này. Niềm tin vào sự sống lại đòi buộc chúng ta phải chọn lựa một cách sống phù hợp với niềm tin đó ngay trong lúc này. Không cần phải chờ đến sau khi chết. Có nghĩa là, tôi phải tìm chỗ tựa bảo đảm đưa tôi đến cuộc sống vĩnh cửu.

Hôm nay điểm tựa ấy được giới thiệu, đó chính là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Nhờ tin vào Người, tôi nhận thấy cái chết không còn là một sức mạnh làm tôi phải thất vọng nữa. Tuy đó là định mệnh bi đát mà con người phải gánh chịu. Nhưng chết lúc đó chỉ có tính cách tạm thời và đó là cửa ngõ đưa tôi vào cuộc sống vĩnh cửu.

Trên thực tế, chúng ta vẫn nhìn thấy và nhận ra bao dấu chỉ cho thấy sự chết đang tìm cách lan tràn, nhưng sự sống vẫn mạnh mẽ vươn lên. Dựa vào mình, sống theo tính ích kỷ và kiêu ngạo, con người sẽ rơi vào thất vọng khi đối diện với những giới hạn của thân phận thọ tạo. Đức Giêsu mời gọi chúng ta vượt qua những giới hạn này. Nhờ sức mạnh của Thánh Linh, chúng ta can đảm buớc ra khỏi ngôi mộ đã chôn mình, cởi bỏ những thứ ràng buộc đã trói buộc mình, trỗi dậy, bước ra và đi lo cho người khác.

Chúng ta còn biết rằng lối sống quảng đại và lo cho nhau là chứng từ thuộc về Chúa, chứ không thuộc về ai khác. Mà đã thuộc về Chúa thì làm gì còn chết; dù sống hay chết chúng ta đều thuộc về Chúa. Thuộc về Chúa là lối sống hy sinh, cho đi trong yêu thuơng. Đó là con đường dẫn chúng ta đến sự sống muôn đời.

Uớc mong mỗi người chúng ta biết sống theo lối sống thuộc về Chúa, nhất là trong Tuần Thánh này, chúng ta sẵn sàng chết đi cho ý riêng, chết đi cho tội lỗi để cùng bước đi với Chúa trong hành trình khổ nạn mà hoàn tất ý định yêu thương của Chúa Cha để ban ơn cứu độ cho chúng ta. Amen!