Wednesday, 22 April 2026

SỰ SỐNG CỦA CHIÊN LÀ LẼ SỐNG CỦA TA

Click for audio SỰ SỐNG CỦA CHIÊN LÀ LẼ SỐNG CỦA TA

Anh chị em thân mến,

Bài Tin Mừng chúng ta suy niệm hôm nay là phần đầu của diễn từ ‘Chúa Chiên Lành’ trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an. Trong phần này, Đức Giê-su đã công bố Người là cửa ràn chiên và con chiên nào ở trong ràn chiên của Người thì có sự sống, và cuộc sống của chúng thật phong phú và dồi dào.

Theo Đức Giê-su, cuộc sống phong phú của các con chiên không lệ thuộc vào số lượng, sự giầu có, thành công hay được người khác công nhận và tán thưởng; nhưng cuộc sống phong phú mà chúng ta nói ở đây là một cuộc sống có chất lượng như Đức Giê-su đã sống. Điều mà Đức Giê-su đã sống và muốn dậy chúng ta sống, đó là sống quan tâm, sống yêu thương những người thuộc về ràn chiên của Người. Họ là những con chiên mà Chúa Cha đã ban cho Người.

Thưa anh chị em,

Như vậy, hình ảnh của người mục tử mà Đức Giê-su gọi thủa xưa có thể coi như là những nhà lãnh đạo – leader hôm nay. Trách nhiệm của người lãnh đạo không lệ thuộc vào con số những người thuộc về họ. Đời sống của những người thuộc về họ mới là mối quan tâm hàng đầu của người lãnh đạo.

Một người lãnh đạo giỏi là người biết học từ những người được gửi đến cho họ phục vụ. Một nhà lãnh đạo giỏi hãy nhớ rằng lãnh đạo không phải là thực thi quyền lực mà là trao quyền và thúc đẩy những người thuộc về họ cùng nhau thi hành bổn phận đã được trao ban.

Sự thèm khát quyền lực, tài sản và uy tín là kẻ thù của người mục tử. Thế gian tìm những điều này. Những người làm chính trị hay kinh doanh thì lấy lợi nhuận làm tiêu chuẩn, là thước đo của thành công. Cho nên họ phải cẩn thận bằng không họ sẽ bị sa vào vòng xoáy của những thử thách khiến họ biến thành các mục tử xấu, chỉ biết lợi dụng đàn chiên để làm thỏa mãn cho cái tham vọng của mình. Mục tử theo tinh thần của Đức Giê-su thì không được phép hành động như thế.

Nhưng trong thực tế, chúng ta cũng nên can đảm nhìn nhận rằng có một số người, tuy rằng rất nhỏ, không sống theo mẫu mực của Chúa đề nghị trong bài Tin mừng hôm nay. Sau đây là vài nhận xét:

Có những người sống trong bậc cha mẹ không phải là người chăn chiên tốt vì họ chỉ tìm kiếm vinh quang cho bản thân qua con cái. Họ sử dụng quyền lực để ngăn cấm hay tỏ cho con cái biết mình có uy quyền hầu che dấu cái tôi được chứa đựng trong sự yếu đuối của chính họ. Họ thống trị hơn là tạo điều kiện thuận lợi cho con cái phát triển hầu có thể đối thoại và tìm ra phương thức tốt nhất trong việc giáo dục mà mục tiêu là sự lớn khôn của con cái họ. Họ sợ con cái của họ sẽ hư hỏng hay là vấp phải những sai lầm mà chính họ đã trải nghiệm, rồi chính vì nỗi lo sợ đó họ dùng quyền để dọa nạt, ngăn cấm thay cho đối thoại, thông cảm và yêu thương. Cuối cùng là sự xa cách có thể dẫn đến đổ vỡ trong gia đình, giữa hai thế hệ.

Các giáo sĩ và tu sĩ cũng có thể thất bại trong vai trò lãnh đạo nếu họ không hành xử như hình ảnh của Chúa Chiên Lành. Đôi khi họ có thể còn tệ hơn cả những "chính trị gia" mà chúng ta lên án. Các mục tử trong đạo Chúa đôi khi đã sai lầm khi che đậy tham vọng, ước mong thành công của mình bằng cụm từ “nhu cầu mục vụ” hay “chúng tôi vẫn là con người” hay “đó cũng chỉ là lỗi nhỏ, mới phạm lần đầu,” hay một lời biện minh, nói dối khiêm tốn để che đậy cái tôi. Thậm chí, các nhà lãnh đạo có thể kêu gọi những người cộng tác thảo luận về một dự án đã được quyết định bởi họ vì tôi có quyền. Như vậy, họ đã lợi dụng uy quyền một cách đáng xấu hổ khi bắt mọi người phải chấp thuận quyết định của họ vì họ có quyền!

Thưa anh chị em,

Sau cùng, chúng ta nên nhớ rằng, các nhà lãnh đạo trong dân về đời cũng như đạo đều được gọi là mục tử. Mục tử tốt lo cho đoàn chiên. Mục tử xấu lợi dụng chức vụ để thu lợi cho mình thì có ai nghe theo bao giờ! Nếu có người hùa theo thì cũng vì lợi nhuận, đến khi tan đàn thì lại cấu xé nhau.

Chỉ có mình Chúa Giê-su phục sinh mới là vị mục tử nhân hậu. Tất cả chúng ta là cộng sự của Người. Muốn hoàn tất sứ mạng được trao phó, trong vị trí riêng của từng người, chúng ta được mời gọi kết hợp với Chúa là đấng chủ chăn duy nhất, là mục tử nhân hậu. Còn chúng ta tuy được ban tặng cho danh hiệu đó; nhưng chúng ta vẫn còn và luôn luôn là những con chiên trong ràn chiên của Chúa.

Hẳn anh chị em còn nhớ khi trao quyền cho Thánh Phê-rô, Chúa Phục Sinh đã ba lần hỏi Phê-rô có yêu mến Người không. Và cũng ba lần Người nói hãy chăn dắt các chiên của Thầy. Chiên thuộc về Chúa còn Phê-rô chỉ là người cộng tác. Ý thức và biết rõ nhiệm vụ cũng như vị trí của mình, nên Thánh Phê-rô đã chia sẻ như sau:

“Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tuỵ. Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên.” (1Pet 5:2-4)

Tóm lại, chỉ mình Đức Giê-su là Đấng chăn chiên tốt lành, nhân ái và thiện hảo. Cả thế giới và mọi người sống trong đó là ràn chiên thuộc về tay Người. Người đã chết để bảo vệ và trao ban cho ràn chiên sự sống, một cuộc sống phong phú và dồi dào; và không ai có thể lấy mất được.

Còn chúng ta, mỗi người đều là những người chăn dắt ràn chiên, nhỏ hay lớn, trong gia đình, ngoài xã hội, hay trong bất kỳ một cơ cấu hay tổ chức nào mà Thiên Chúa trao phó. Nói cách khác, khi chúng ta được mời gọi chăm sóc, hướng dẫn, nuôi sống và bảo vệ cuộc sống của người khác là lúc chúng ta thực hiện nhiệm vụ mục tử. Các công việc đó không chỉ là hành động mà còn được phát xuất từ mối quan hệ yêu thương và quan tâm của chúng ta dành cho nhau. Thật cao cả nhưng đầy khó khăn!

Thưa anh chị em,

Chúng ta không thể nào chu toàn trọn nhiệm vụ cao cả của mình, nếu không sống theo gương mẫu của Người Chăn Chiên duy nhất là Đức Ki-tô, Đấng đã chấp nhận mọi đau khổ, sẵn sàng hy sinh thân mình để mở cánh cửa và ban cho các con chiên trong ràn được một cuộc sống phong phú và tràn đầy. Còn chúng ta, ngày hôm nay, trong nhiệm vụ đã được trao phó, cũng phải sống sao cho vơi đi những đau khổ mà thế gian đang phải gánh chịu để làm cho cuộc sống của người khác được thăng hoa hơn.

Cầu chúc anh chị em chu toàn ơn gọi đã được kêu mời, tiếp tục ra đi và làm như Chúa Chiên Lành đã làm. Amen!


Friday, 10 April 2026

CHÚA PHỤC SINH VÀ CÁC NỖI ĐAU.

 Click for audio CHÚA PHỤC SINH VÀ CÁC NỖI ĐAU.

Anh chị em thân mến,

Không ai hiểu trò bằng thầy, Đức Giê-su thấu hiểu lòng trí hoang mang và các nỗi sợ hãi của các môn đệ sau khi Người bị giết chết. Vì thế, trong hai lần hiện ra hôm nay việc đầu tiên Người làm là trao ban cho họ sự bình an.

Sau đó Chúa cho họ thấy tay và cạnh sườn của Người. Đây là một điều thật đặc biệt, Chúa muốn cho các ông nhận ra rằng thân xác của Chúa Phục Sinh và con người đã trải qua khổ nạn, chết trên Thập Giá là một người. Khi thấy những chứng tích đó, các môn đệ đã vui mừng và tin rằng Người đang ở trước mặt họ là Đức Giê-su, vị Thầy đáng kính của họ. Sau đó, Chúa Giêsu một lần nữa lại ban bình an và Thánh Thần cho các ông để các ông ra đi hoàn thành sứ mạng mà chính Người vừa hoàn tất.

Trong lần hiện ra lần thứ nhất này không có mặt Tô-ma. Các môn đệ khác đã kể lại cho ông biết về việc các ông đã được thấy Chúa. Nhưng Tô-ma đã không tin vào lời loan báo của các bạn mình.

Thật ra, các bạn của ông cũng chẳng làm chứng được gì. Cho dù Thần khí đã đuợc trao ban, nhưng các bạn của Tô-ma vẫn chưa ra khỏi vùng an toàn, vẫn dựa vào các cánh cửa đã đuợc đóng kín để bảo vệ, chưa sẵn sàng để cho Thần khí thúc đẩy ra đi chu toàn sứ vụ nhân chứng. Trái lại, các ông vịn cớ là không biết đi đâu! Lời loan báo của họ không đi đôi với việc làm như thế thì làm sao các môn đệ có thể truyền lửa cho bạn mình là Tô-ma được.

Còn Tô-ma, ông muốn niềm tin của ông phải dựa trên kinh nghiệm của cá nhân. Ông muốn chạm vào thân thể của Chúa, nên đáp rằng: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.”

Thưa anh chị em,

Tám ngày sau, Chúa lại hiện ra với các ông, lần này có mặt Tô-ma. Trước tiên, Người cũng ban bình an cho các môn đệ rồi quay sang Tô-ma và nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Tô-ma đã đáp trả bằng một niềm xác tín thật cao độ rằng Người là CHÚA và là THIÊN CHÚA của ông.

Sau đó qua Tô-ma, Chúa đã thể hiện tình thương của Người dành cho chúng ta bằng cách trao ban cho chúng ta thêm mối phúc nữa là “Phúc thay những người không thấy mà tin.”

 Trước khi xem xét cách biểu lộ niềm tin của Tô-ma, chúng ta cũng nên nhìn nhận rằng ông không phải là trung tâm của bài Tin Mừng.

Trình thuật mô tả việc Chúa hiện ra thì Chúa phải là trọng tâm. Khi nhìn như thế, chúng ta mới khám phá ra lòng đại lượng phát sinh từ tình yêu của Chúa. Chúng ta vẫn thường đuợc dậy bảo niềm tin vào Chúa phải là một niềm tin vô điều kiện, phó thác hoàn toàn theo Chúa. Nhưng hôm nay, Chúa hành xử với Tô-ma quả thật khác hẳn với lối suy nghĩ cầu toàn của chúng ta. Chúa chấp nhận điều kiện mà Tô-ma đưa ra. Cho dù đã đuợc tôn vinh, nhưng Chúa vẫn không che dấu các thương tích. Đó chính là chứng tích của Tình yêu thì làm sao phải che dấu! Các vết thương đó cần đuợc bộc lộ hơn là che dấu.

 Tô-ma cũng có nỗi đau của riêng mình. Ông cũng là nguời đang mang thương tích. Chúa Giê-su, Thầy đáng kính của ông đã chết. Sự chết của Chúa để lại trong ông một tâm trạng buồn rầu và mất mát. Biết trông cậy và nương tựa vào ai nữa đây! Ông đi trốn, cần có một không gian và nơi ẩn nấp để đối diện với niềm đau này. Vì thế ông đã hụt mất một cơ hội khi Chúa hiện ra lần trước.

Các bạn của ông cũng thế, họ cũng có niềm đau rồi sinh ra chán nản và thất vọng. Nhưng họ đã chọn cách đối diện với bi kịch mà họ đang đón nhận bằng cách liên đới, chia sẻ, an ủi và hỗ trợ nhau.

Nói chung là chỉ có ai đã kinh qua đau khổ mới thông cảm cho những người đồng cảnh ngộ. Chúa đã bị thương tích và Người cũng nhìn thấy các nỗi đau khổ mà Tô-ma đang đối diện; vì thế Người cũng muốn cho ông biết là Người rất thông cảm với yêu cầu của ông. Qua sự tiếp xúc, thầy trò gặp và nhận ra nhau. Chúa chữa lành thuơng tích cho Tô-ma. Còn ông nhận ra thầy mình là Chúa và là Thiên Chúa của ông. Ông đầu phục hoàn toàn trước quyền năng của thầy mình, Đấng mới bị giết và treo trên Thánh Giá mấy ngày qua.

Còn chúng ta thì sao?

Anh chị em thân mến,

Phần chúng ta hãy nhớ rằng: Chúa sống lại không xoá đi dấu vết của thập giá. Vết thương vẫn là vết thương. Thập giá vẫn còn đó nhưng nay mang một giá trị mới. Thập giá, án phạt dành cho tội nhân nay đã biến thành Thánh Giá, nguồn ơn cứu độ cho các kẻ tin. Đó không còn là án phạt mà là hồng ân.

Vì thế, cho dù hiện nay thế giới của chúng ta vẫn chứa đầy những vết thương, cụ thể là các vết thương gây ra bởi chiến tranh bên Ukraine, tại các miền đất ở Trung Đông và nhiều tai ương khác, đã giết đi bao nhiêu sinh mạng, khiến cho thân nhân của họ bị tan nát cõi lòng; chưa kể đến niềm đau thương còn kéo dài trên cuộc sống của những người thất nghiệp, các trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, v.v… Con người chìm đắm trong đau khổ và không biết nương tựa vào đâu cả!

Trước hiện tình của thế giới đầy thương tích như thế, làm sao người tín hữu có thể nhắm mắt, làm ngơ trước những vết thương của tha nhân rồi tuyên xưng, “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Cho dù, họ có nói trăm lần, vạn lần thì lời tuyên xưng đó cũng chỉ là tuyên xưng bằng môi miệng. Chúng ta cần chạm vào những vết thương của nhau, và đó là việc làm cần thiết mà Tô-ma đã xin và được ban cho để thể hiện cho một đức tin theo tinh thần của bài Tin Mừng hôm nay.

Như vậy, khi đối diện với các thương tích, đau khổ đang hoành hành khiến chúng ta tuy còn hoang mang và lo sợ; nhưng niềm lo sợ đó không làm cho chúng ta quên đi ân huệ bình an mà Chúa dành cho những ai tin cậy ở nơi Người. Hơn bao giờ hết, chúng ta cần hãnh diện về niềm tín thác: đó là tuy sống giữa tâm bão của hoang mang và lo sợ, nhưng không ai trong chúng ta được phép đánh mất niềm hy vọng vì ‘bình an của Chúa ‘ vẫn đang ở cùng chúng ta.

Ngay trong lúc này, chúng ta hãy ra đi mà an ủi và tạo cho nhau niềm hy vọng vào Chúa Phục Sinh, Đấng vẫn đồng hành và ban cho muôn dân muôn nước ơn bình an để đón nhận và vượt qua các nỗi thống khổ vẫn đang đè nặng và đe dọa cuộc sống của chúng ta.

Sau cùng, Đức Giê-su với các dấu đinh và các vết thương còn trên thân xác đã chết thật. Nay Người đã sống lại thật rồi anh chị em ơi! Và bình an của Chúa Phục Sinh ở cùng chúng ta luôn mãi. Alleluia, Alleluia!


Thursday, 2 April 2026

TÂM TÌNH PHỤC SINH

 Click for audio TÂM TÌNH PHỤC SINH

Anh chị em thân mến,

Các tín hữu thuộc Giáo Hội Công Giáo Đông Phuơng có một thói quen rất ý nghĩa như sau: Sau khi tham dự Thánh lễ Mừng Chúa Phục Sinh; họ trao cho nhau món quà đã được làm phép, thuờng là quả trứng. Sau đó họ chúc mừng nhau bằng cách đập vỡ trái trứng, biểu tượng của sự sống, rồi cùng cất tiếng ngợi khen “Alleluia - Alleluia, Chúa Kitô đã sống lại thật”.

Có lẽ, ngày nay, thói quen tặng trứng Phục sinh đuợc phát xuất từ truyền thống này.

Nói chung, ai trong chúng ta cũng mong niềm vui và hanh phúc mà Đức Kitô đã đem đến trong ngày Người Phục sinh hiện diện trong cuộc sống của chúng mình.

Nhưng thực tế có được như vậy không? Sau đây là một kinh nghiệm:

Có ông chồng kia. Sau khi tham dự Lễ vọng phục sinh, hân hoan chạy đến để chia sẻ niềm vui với bà, “em ơi, Chúa sống lại thật rồi! Hãy vui lên!” Người phụ nữ Việt Nam e dè, kín đáo, tế nhị cho nên thường mau mắn nhận hơn là cho đi. Không thấy vợ trả lời. Ông đến tủ lạnh cầm chai bia rồi tự mình mừng lễ; sau đó bèn phán ‘Bà ơi! có gì dọn ra cho tôi mừng lễ. Sao mà bếp núc nhà mình hôm nay lạnh và nguội thế này?’ Bà nhà mình đang bận rộn trong phòng, chưa kịp mừng lễ chồng mình đã nghe thấy lịnh truyền, bèn tiu nghỉu rồi nghĩ thầm ‘lại cái cảnh chồng chúa vợ tôi’, và không muốn buớc ra nữa. Bác trai của chúng mình lại đuợc phép phát lịnh tiếp; và như anh chị em tuởng tuợng thì biết rằng cuờng độ của những lịnh truyền sau không còn ngọt ngào nữa. Thế là niềm vui Phục sinh cho dù phát sinh bằng cảm xúc cũng biến mất.

Niềm vui của ngày lễ là những cảm nghiệm sống của mỗi người. Không ai có thể trao ban và áp đặt trên người khác điều họ không có hay là chưa có.

Làm sao tôi có thể nói với vợ chồng anh bạn hãy vui lên vì Chúa đã sống lại thật trong khi họ đang phải đối diện về sự ra đi quá đột ngột của người con duy nhất mới chết vì tai nạn giao thông, cảnh vợ mất chồng hay con cái mất cha mẹ! Cuộc sống hiện tại của họ là những ngày buồn thảm của đồi Can-vê!

Với họ, niềm vui Phục Sinh dường như quá xa vời. Họ có thể tự hỏi: Chúa sống lại thật rồi, nhưng người con trai duy nhất của chúng tôi hay người tôi yêu dấu thì vẫn không trở về… vậy niềm vui đó ở đâu?

Tin Mừng Phục Sinh không bắt đầu bằng niềm vui, mà bắt đầu bằng nước mắt. Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, Maria Mađalêna ra mộ Chúa. Bà đi trong tâm trạng đau buồn. Bà ra thăm mộ vì nhớ thương, vì trái tim tan vỡ. Bà muốn diễn tả tâm tình nhớ thương bằng việc mang theo dầu thơm để ướp xác Chúa. Và khi thấy mộ trống, bà càng hoang mang hơn. Bà nghĩ người ta đã lấy xác Chúa. Bà đứng đó nhìn vào trong mộ, ngây người ra và khóc.

Chính trong lúc bà khóc, Chúa Giêsu Phục Sinh đã đến. Nhưng bà không nhận ra Người. Chúa đứng đó, rất gần, nhưng bà tưởng là người làm vườn, cho đến khi Chúa lên tiếng gọi “Maria!”, bà mới bừng tỉnh, quay lại và thưa: “Lạy Thầy!”

Anh chị em thân mến,

Câu chuyện đó rất gần với cuộc sống của chúng ta hôm nay. Có những lúc chúng ta đau khổ, mất mát, và giống như Maria. Cho dù Chúa đang ở rất gần, nhưng chúng ta chỉ dán mắt nhìn vào nỗi tang thương của chính mình cho nên vẫn không nhận ra Người.

Đặc biệt với một người vợ vừa mất chồng, con cái mất cha mẹ. Nỗi đau mà họ đang gánh chịu quá tang thương như màn đêm ập xuống khiến họ không nhìn thấy gì nữa. Không ai có thể phủ nhận hay xóa đi nỗi đau thương ấy. Và chúng ta cũng không bao giờ khuyên họ đừng khóc nữa, hãy vui lên vì Chúa đã sống lại. Chính Chúa Giêsu cũng đã khóc trước cái chết của Ladarô. Người không vô cảm trước nỗi đau của con người. Người sống lại khi mang đầy thương tích để an ủi và ban bình an cho họ.

Tuy nhiên, khi suy nghĩ đến hòan cảnh của họ, tôi chợt nhớ lại và nhận ra rằng nếu không tiến vào sự chết thì làm thế nào biết sống lại là gì! Nếu không cảm nhận đuợc niềm vui của Chúa Phục sinh thì những lời chúc cho nhau mãi mãi chỉ là lời cầu chúc suông; chưa dám nói đến hai chữ ‘sáo ngữ’.

Thật ra, Phục Sinh không có nghĩa là quyền năng sống lại của Chúa phục sinh sẽ đem người đã mất quay trở lại cuộc sống như trước. Nhưng Phục Sinh có nghĩa là sự chết không phải là tiếng nói cuối cùng.

Những người đã ra đi không biến mất trong hư vô. Tình yêu giữa họ và chúng ta sẽ không bị xóa bỏ. Trong Chúa Kitô, tình yêu đó được gìn giữ, được thanh luyện, và một ngày kia sẽ được gặp lại trong vinh quang. Đó là niềm hy vọng của chúng ta. Nhưng niềm hy vọng này không đến ngay lập tức. Nó lớn lên từ từ và cần được vun trồng theo thời gian trong sự tín trung vào sự quan phòng và yêu thương của Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến,

Trong những lần đi thăm viếng và ruớc Mình Thánh Chúa cho các người già cả, đau ốm trong các viện duỡng lão. Tôi nhận ra một điểm là dù tình trạng sức khỏe của họ như thế nào: bị lãng trí; bị tê liệt hay mất khả năng giao tiếp vì hậu quả của các cơn stroke… Nhưng khi chúng tôi tôn vinh Mình Thánh Chúa để mời họ đón nhận thì hầu hết mắt của họ sáng ngời niềm tin. Điều này giúp cho chúng tôi biết rằng Thân Thể Chúa Phục Sinh chính là nguồn hy vọng của họ.

Rồi có những cụ, truớc đây rất sợ chết, nay hòan tòan đổi khác. Họ huớng về tương lai – tuơng lai gì trong hòan cảnh sống của họ; phải chăng chỉ là một nấm mồ - bằng niềm hy vọng. Họ hết sợ rồi, sẵn sàng và hân hoan ra đi. Phục sinh là ở đó.

Cụ thể, tôi biết hai cụ kia sống và quen nhau trong viện duỡng lão. Thấy sự liên kết và gắn bó của họ, chúng tôi mới tự hỏi nhau rằng, không biết cuộc sống còn lại của họ sẽ ra sao sau khi 1 trong 2 người bị cất đi. Không ngờ, đó cũng là điều trăn trở của họ truớc đây… Nhưng mới gần đây, họ đã thay đổi và xác tín rằng ai đi truớc cũng không sao, vì họ biết rằng người đi truớc sẽ chờ người đến sau. Họ sẽ gặp lại nhau. Niềm tin vào sự sống lại giúp họ đạt đuợc niềm xác tín như thế.

Bản thân tôi, mỗi khi cử hành hay tham dự các nghi thức phụng vụ trong Tuần Thánh và Phục sinh, tôi tự hỏi mình rằng các biến cố đó đã ảnh huởng, tác động và làm cho cuộc sống tôi thay đổi ra sao?

Tạ ơn Chúa, vì tôi vẫn chưa có những thay đổi nào đáng kể; vẫn còn bị bám víu bởi các đam mê; vẫn còn cảm thấy thích thú khi đuợc trao quyền (chẳng biết để phục vụ hay chỉ huy – miễn có quyền là thích rồi); vẫn bực tức khi ý định của mình không đuợc đón nhận; vẫn còn muốn làm tôi sự tội và còn bao nhiêu lầm lỗi phát sinh từ sự mỏng dòn của thân phận làm người; vẫn còn đủ mọi thứ tham! Tuy nhiên, tôi không mất hy vọng và vẫn hiên ngang tiến về phía truớc với niềm cậy trông vững vàng là cho dù cuộc sống của tôi sẽ tiếp tục như thế hay tệ hơn thế nữa thì Chúa vẫn thương yêu tôi.

Sau cùng, tôi xác tín rằng Chúa đã đến để chúng ta có sự sống và được sống dồi dào. Người đã thắp lên trong cõi lòng chúng ta niềm vui mừng và hy vọng, bởi vì thập giá của Người là nguồn ơn cứu độ và cách sống của Người là con đường dẫn tới phục sinh.

Hãy hân hoan bước theo Người và hãy vui mừng được thuộc về Người. Chính trong tâm tình đó mà tôi xin cầu chúc cho anh chị em, mỗi người, mỗi gia đình và mỗi cộng đoàn một lễ phục sinh đầy vui mừng và hy vọng.

Sống lại là đổi mới, là vui tuơi, là hy vọng… Vì vậy, chúng mình hãy vui lên! Vì Chúa đã sống lại trong bản thân và lối sống của mình rồi - Alleluia, Alleluia


Sunday, 29 March 2026

VINH QUANG CỦA THÁNH GIÁ LÀ NIỀM VUI PHỤC SINH

Click for audio VINH QUANG CỦA THÁNH GIÁ LÀ NIỀM VUI PHỤC SINH

Anh chị em thân mến,

Cùng với toàn thể Hội Thánh, chúng ta khai mạc Tuần Thánh bằng việc đón tiếp Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem. Với những nhành lá vạn tuế kèm theo những lời tán tụng, chúng ta đón tiếp Chúa như một quân vương. Nhưng vài ngày sau, trên con đường khổ nạn chỉ còn lại có mình Người. Mẹ của Người và các người thân tín chỉ dám đi xa xa để trông chừng. Chúa Giêsu hoàn toàn cô đơn. Không còn những lời tung hô; thay vào đó là những lời lên án. Cũng chẳng còn những nhành lá biểu lộ sự vui mừng, mà là cây thập giá. Gia tài mà Chúa để lại cho chúng ta là thế: một cái chết cô đơn, tủi nhục như một phạm nhân trên thập giá.

Thưa anh chị em,

Vào thời Đức Giê-su, chết trên thập giá là một án tử hình dành cho các tội nhân. Và án này được chính quyền Roma đặt ra để áp dụng cho người Do thái. Hàng năm có rất nhiều người bị treo trên thập giá. Nhưng tại sao chỉ có mình việc Chúa bi treo và chết trên thập giá lai được lưu truyền cho đến ngày nay. Sự chết của Đức Giêsu đã có ảnh hưởng gì trên cuộc sống của anh em tín hữu tiên khởi, đến nỗi qua bao thế hệ, hàng hàng lớp lớp vẫn vui vẻ dấn thân vì lợi ích của người khác cho dù phải hy sinh chính bản thân mình.

Chúng ta cần tìm ra những giá trị đích thực của con đường Thánh Giá mà Chúa đã đi qua. Điều đó có ảnh hưởng gì trên cuộc sống của chúng ta.

Sau nhiều lần chuyện vãn với anh chị em về những khó khăn trong đời sống gia đình. Tôi thường được nghe anh chị em phàn nàn là chúng con đang vác thánh giá bùn. Thánh giá bằng bùn thì dễ trươn chượt nên rất khó vác. Phàn nàn là bản tính của con người. Nhưng một điều đáng mừng là anh chị em chưa quăng cây thánh giá bùn đó. Dù người nào muốn quăng hay có ý định quăng đi, thì tôi xin có một lời khuyên là nên suy nghĩ lại. Bởi vì, quăng cây này anh chị lại tìm được cây khác giống như hệt cây đã quăng đi. Hãy học noi gương Chúa.

Người cũng than van, lo sợ… Và chắc một điều là Thập Giá mà Người đã vác khi xưa, không chỉ nặng về phần thể lý mà thôi. Đau khổ về phần xác không sánh gì với nỗi thống khổ của sự cô đơn, bị bỏ rơi trơ trọi một mình. Nhưng cuối cùng là một sự đón nhận trong yêu thương khi nhận biết đó là ý muốn của Cha Người, Đấng mà Người hết lòng tùng phục trong yêu thương.

Thập giá là đích điểm của mọi đau khổ mà Chúa đã chịu, nhưng bề sâu của Thập giá là một sự hòa hợp nên một trong Tình Yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Nơi đó sự chết và tội lỗi bị phá hủy để nhường lại sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa. Thập giá còn biểu lộ sự bất lực của con người và biểu dương sức mạnh vô song của Thiên Chúa. Nhìn vào thánh giá ta thấy bình minh của ngày Phục sinh đã hiện tỏ.

Thưa anh chị em,

Đã hơn 2000 năm qua đi, tất cả những gì xảy ra thời Đức Giêsu vẫn còn tiếp diễn. Mỗi người chúng ta cũng được Đức Giêsu mời theo Người: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”. Vác thập giá hôm nay chính là đón nhận những thử thách như bệnh tật, thất bại, bị bỏ rơi, những lời sỉ nhục đầy bất công... Đó là những thập giá do Chúa gửi đến để thanh luyện lòng tin của chúng ta được kiên vững mà trung tín với ơn gọi đi theo con đường của Chúa. Con đường tuy hẹp nhưng lại thênh thang vì có nhiều bạn hữu cùng đi. Con đường tuy khiêm tốn nhưng biểu lộ sức mạnh và lòng quyết tâm phục vụ tha nhân.

Con đường Thập Giá mời gọi chúng ta đi vào cái chết – cái chết cho chính mình, cái chết cho tính kiêu ngạo, chết cho cái tôi đáng ghét của mình. Khi nói đến con đường Thập giá mà đích điểm là sự chết, tôi nghĩ đến đời sống cộng đoàn. Và cụ thể là cuộc sống gia đình. Sau đây là vài nét suy tư về mối liên hệ giữa hôn nhân và Thánh giá.

Hôn nhân là trường học mà những ai đã bước vào thì không mong có ngày ra trường. Cha mẹ con cái chuyên cần học tập luôn mãi, học cách lắng nghe nhau, học cách phục vụ, học tôn trọng và đặt nhu cầu của người khác lên trên nhu cầu của bản thân.

Điều gì sẽ xảy ra nếu trong hôn nhân, chúng ta luôn tôn trọng và đặt nhu cầu của người phối ngẫu trên nhu cầu của cá nhân mình. Hẳn nhiên là một nếp sống an bình và vui tươi sẽ bao trùm những ai đã chọn lối sống như thế. Trên thực tế, chúng ta đã áp dụng lối sống thua cuộc trong việc giáo dục con cái thì tại sao chúng ta lại không làm được với người bạn đường của mình. Phải chăng là cái tôi đã quyến rũ và làm chủ khiến chúng ta mất phương hướng!

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta dành thời gian còn lại của cuộc sống để tôn trọng và đặt nhu cầu của người phối ngẫu lên trên nhu cầu của mình?

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta ngừng tính toán mà chỉ biết cho đi bằng những lời nói và cử chỉ yêu thương và tha thứ cho những lỗi lầm của nhau!

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta chết đi cho những nhu cầu của chính mình và yêu thương người khác tha thiết hơn.

Điều gì sẽ xảy ra nếu trong Tuần Thánh này, chúng ta cùng vác Thánh Giá bùn bằng cách buông bỏ lối sống cũ mà chúng ta đã sống trong hôn nhân của mình?

Đây không phải là điều vợ làm cho chồng hay chồng làm cho vợ. Đây là cách Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta sống trong hôn nhân. Nếu chúng ta làm đi làm lại điều này, với sự kiên nhẫn và dũng cảm cần thiết, chúng ta thấy sự khác biệt sẽ xẩy ra trong cuộc sống chung.

Vì thế, trong tuần này chúng ta cùng với toàn thể giáo hội suy niệm về mầu nhiệm Thập giá không phải để thất vọng vì gánh nặng của tội lỗi, mà trái lại để cảm nếm được hồng ân bao la của Chúa, để cho tâm hồn vui tươi và bình an hơn. Suy gẫm về hành trình thương khó và thập giá để cảm nếm được ơn tha thứ của Người. Như thế, chúng ta cũng được mời gọi để cảm thông, để tha thứ hơn đối với người anh em của chúng ta. Càng nhận ra được tình yêu tha thứ của Chúa, chúng ta càng được mời gọi để tha thứ nhiều hơn. Càng tha thứ nhiều hơn, chúng ta càng dễ cảm nếm được ơn tha thứ của Chúa hơn.

Và sau cùng, qua hành trình Thập giá, chúng ta sẽ cảm nghiệm được sức mạnh của Chúa Giêsu Phục Sinh, Đấng đang hiện diện để yêu thương và mời gọi chúng ta ra đi để trao ban tình yêu đó cho tha nhân. Ước gì Thập giá của năm nay không còn là những gánh nặng của cuộc đời nhưng chúng ta vui và tiến bước vì biết rằng chúng ta thật diễm phúc được Chúa mời gọi để chia sẻ hồng ân cao quí này. Amen!


Wednesday, 18 March 2026

SỐNG HAY CHẾT ĐỀU THUỘC VỀ CHÚA.

Click for audio SỐNG HAY CHẾT ĐỀU THUỘC VỀ CHÚA.

Hầu hết các Kitô hữu, thậm chí nhiều người ngoài Kitô giáo, đều biết câu chuyện Đức Giê-su hồi sinh La-da-rô như được kể trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an. Bài Tin Mừng này thường được công bố vào các dịp lễ cầu hồn và an táng, cho nên khá quen thuộc với mỗi người chúng ta.

Câu chuyện được bắt đầu bởi việc em trai của Mar-tha và Ma-ri-a là La-da-rô bị đau. Thái độ của Đức Giê-su khi được báo tin làm chúng ta ngạc nhiên. Căn cứ vào tình bạn và lòng thương mến mà Đức Giê-su dành cho gia đình của ba chị em này, cứ như lẽ thường mà nói thì khi vừa nhận được tin, Người sẽ lập tức lên đường để thăm họ ngay. Nhưng xem ra Người không chỉ dửng dung mà còn thản nhiên phán rằng căn bịnh của La-da-rô sẽ không làm ông chết, nhưng là dịp mà vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện và Con Thiên Chúa được tôn vinh. Căn cứ vào trình thuật của Tin Mừng thì Đức Giêsu đã ở thêm tại nơi đó vài ngày nữa rồi mới đi Bê-ta-ni-a. Vì thế, khi đến nơi thì La-da-rô đã chết.

Trong tình huống đó, Đức Giê-su đã phải đối mặt với kiểu vừa hờn dỗi vừa tin tưởng của hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a. Chúng con đã báo cho Thầy biết về tình trạng sức khỏe của người bạn của Thầy và cũng là chú em của chúng con là La-da-rô thế mà giờ này Thầy mới đến; giả như Thầy đến ngay thì em con đã không chết. Tuy nhiên, chúng con biết Thiên Chúa có bao giờ từ chối lời cầu xin của Thầy bao giờ. Vừa hờn dỗi vì quá đau khổ về sự mất mát người em thân yêu, mặt khác các cô lại tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa hoạt động nơi Đức Giê-su. Nói chung thì phản ứng của hai cô cũng là bản tính của chúng ta. Con người thời nào cũng thế!

Sau đó Đức Giê-su được hai cô đưa đến ngôi mộ, có đám đông đi theo Người. Đến chỗ chôn cất La-da-rô, Chúa xúc động và đã khóc. Sau đó, Đức Giê-su yêu cầu họ đem phiến đá chắn cửa mộ đi và sau khi hòn đá được lăn đi, Đức Giê-su lên tiếng gọi ‘La-da-rô, ra đây!’ Lập tức, La-da-rô trỗi dậy, bước ra khỏi mộ. Trong khi đi ra, tay và chân còn bị trói bằng dải vải và mặt còn phủ khăn. Và Đức Giêsu ra lịnh cởi trói cho anh ta để anh ta được tự do đi lại. Câu chuyện chỉ có thế!

Mặc dầu câu chuyện được kết thúc bởi việc Đức Giê-su ra lịnh cởi trói cho La-da-rô và để anh ta đi. Nhưng chúng ta biết rõ rằng sau này La-da-rô rồi cũng chết.

Thưa anh chị em,

Trong mấy tuần vừa qua, chúng ta đã được nghe tường thuật về các cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người phụ nữ xứ Sa-ma-ri-a, qua câu chuyện đó, Đức Giêsu đã mạc khải cho chúng ta biết Người là nước truờng sinh, ai đến với Người sẽ không khát nữa. Bởi vì, khi gặp gỡ Đức Giê-su mọi nỗi khát vọng của con người đều được Đức Giê-su lấp đầy và họ sẽ không còn khao khát thêm điều gì nữa. Sau đó, trong cuộc gặp gỡ với người mù từ thủa mới sinh, Đức Giê-su làm cho ông ta nhìn thấy. Việc làm này khẳng định điều Người đã phán ‘Ta là ánh sáng thế gian.’ Ánh sáng chiếu soi và dẫn con người đến sự sống.

Các cuộc gặp gỡ này nhắc nhở cho chúng ta nhớ lại các kinh nghiệm thực tế trong cuộc đời mình và Chúa. Đến và gặp gỡ Chúa là những trải nghiệm trong cuộc sống của những kẻ tin. Đó là những kinh nghiệm thực tế, không dựa vào sách vở hay kiến thức. Nhưng là cuộc gặp gỡ bằng xuơng bằng thịt giữa những người khao khát và yêu mến lấp đầy sự thiếu thốn của nhau.

Hôm nay qua dấu lạ làm cho La-da-rô hồi sinh, Đức Giê-su muốn nhắn gửi chúng ta một sứ điệp là chúng ta không cần chờ đến ngày sống lại mới nhận ra vinh quang của Thiên Chúa, mà ngay lúc này, trong giây phút này, Chúa đã là sự sống và sự sống lại của chúng ta.

Tất cả chúng ta đều biết rằng sự chết là kẻ thù cuối cùng mà chúng ta cần chiến đấu và triệt hạ. Và chỉ có Chúa, Đấng chiến thắng và đè bẹp sự chết mới giúp chúng ta đạt được điều đó. Vì thế, trọng tâm của bài Tin Mừng hôm nay là điều mà Chúa nói với Martha “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không?”

Tôi tin! Nhưng trong cuộc sống, tôi phải thể hiện niềm tin đó như thế nào.

Khi dấn thân vào cuộc sống theo chân Đức Giê-su là lúc chúng ta được mời gọi đi con đường hẹp, con đường chết đi cho ‘cái tôi’, chết đi cho ý riêng, chết đi cho tính ích kỷ, rồi ra đi để quan tâm và lo lắng cho người khác. Nói chung, chúng ta được gọi ra từ ngôi mộ để bước ra cuộc sống tự do của những người làm con Thiên Chúa.

Vấn đề chính yếu, đối với chúng ta là những người theo chân Chúa, trước hết không phải là việc chúng ta sẽ ra khỏi mồ một ngày kia, mà ngay từ bây giờ, chúng ta đuợc mời gọi đi từ sự chết sang sự sống bằng một đức tin gắn bó vào bản thân Đức Giêsu.

Tin vào sự sống lại không chỉ là việc nhìn nhận những gì sẽ xẩy đến cho cá nhân mình sau khi chết. Nhưng đó là điều cần được thể hiện ngay trong cuộc sống này. Niềm tin vào sự sống lại đòi buộc chúng ta phải chọn lựa một cách sống phù hợp với niềm tin đó ngay trong lúc này. Không cần phải chờ đến sau khi chết. Có nghĩa là, tôi phải tìm chỗ tựa bảo đảm đưa tôi đến cuộc sống vĩnh cửu.

Hôm nay điểm tựa ấy được giới thiệu, đó chính là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Nhờ tin vào Người, tôi nhận thấy cái chết không còn là một sức mạnh làm tôi phải thất vọng nữa. Tuy đó là định mệnh bi đát mà con người phải gánh chịu. Nhưng chết lúc đó chỉ có tính cách tạm thời và đó là cửa ngõ đưa tôi vào cuộc sống vĩnh cửu.

Trên thực tế, chúng ta vẫn nhìn thấy và nhận ra bao dấu chỉ cho thấy sự chết đang tìm cách lan tràn, nhưng sự sống vẫn mạnh mẽ vươn lên. Dựa vào mình, sống theo tính ích kỷ và kiêu ngạo, con người sẽ rơi vào thất vọng khi đối diện với những giới hạn của thân phận thọ tạo. Đức Giêsu mời gọi chúng ta vượt qua những giới hạn này. Nhờ sức mạnh của Thánh Linh, chúng ta can đảm buớc ra khỏi ngôi mộ đã chôn mình, cởi bỏ những thứ ràng buộc đã trói buộc mình, trỗi dậy, bước ra và đi lo cho người khác.

Chúng ta còn biết rằng lối sống quảng đại và lo cho nhau là chứng từ thuộc về Chúa, chứ không thuộc về ai khác. Mà đã thuộc về Chúa thì làm gì còn chết; dù sống hay chết chúng ta đều thuộc về Chúa. Thuộc về Chúa là lối sống hy sinh, cho đi trong yêu thuơng. Đó là con đường dẫn chúng ta đến sự sống muôn đời.

Uớc mong mỗi người chúng ta biết sống theo lối sống thuộc về Chúa, nhất là trong Tuần Thánh này, chúng ta sẵn sàng chết đi cho ý riêng, chết đi cho tội lỗi để cùng bước đi với Chúa trong hành trình khổ nạn mà hoàn tất ý định yêu thương của Chúa Cha để ban ơn cứu độ cho chúng ta. Amen!


Wednesday, 11 March 2026

AI SÁNG, AI MÙ!

Click for audio AI SÁNG, AI MÙ!

Trong bài Tin Mừng tuần trước, Thánh Gio-an đã thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người phụ nữ xứ Sa-ma-ri-a tại bờ giếng Gia-cóp. Bà đã được biến đổi và tin rằng chỉ có Chúa mới lấp đầy nỗi khát vọng của con người mà thôi. Hôm nay, sau khi tham dự các nghi lễ tại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, trên đường đi ra, Đức Giê-su và các môn đệ nhìn thấy người mù từ lúc mới sinh.

Trước ngày hôm nay, người mù ngồi đó mà như không có. Anh không nhìn thấy ai và người ta cũng không nhìn thấy anh như một tạo vật của Thiên Chúa. Người ta coi sự mù lòa của anh là hậu quả của tội lỗi.

Hôm nay, với Đức Giê-su, người mù đã trở thành tạo vật mới. Sự hiện diện của anh là một bằng chứng sống động để tôn vinh Thiên Chúa. Tuy nhiên, những người hàng xóm, những viên chức lãnh đạo và thậm chí cả cha mẹ anh vẫn không nhìn ra công trình của Thiên Chúa đã làm anh thay đổi!

Như vậy giữa anh và họ, ai bị mù?

Trước hết chúng ta hãy xem thái độ của các môn đệ. Họ nhìn anh và thấy một câu hỏi thần học: thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này vừa sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta? Tầm nhìn của họ đã bị bóp méo bởi họ tin rằng đau khổ, bịnh tật và sự chết là hậu quả của tội lỗi. Còn đối với Đức Giê-su, Người biết phải làm gì. Người đến để đem ánh sáng cho trần gian và ánh sáng đó hôm nay được thể hiện qua một việc làm rất cụ thể là làm cho người mù từ thủa mới sinh được nhìn thấy. Qua dấu lạ này Đức Giê-su đã bộc lộ vinh quang của Thiên Chúa nơi Người.

Sau khi làm cho người mù được sáng mắt, Đức Giê-su biến mất, nhường lại vị trí cho người vừa được sáng mắt có cơ hội làm chứng và tuyên xưng niềm tin của ông. Ông đã trở nên tạo vật mới. Từ trước đến giờ ông chưa nhìn thấy điều gì; đây là lần đầu tiên ông nhìn thấy ánh sáng. Ánh sáng thể lý mà ông vừa được sáng tạo là bước đầu dẫn ông nhận ra nguồn sáng thiêng liêng mà ông nhận được từ Đức Giê-su, Đấng đã lấy bùn làm thuốc dẫn sai anh đi và anh đã đi, đã rửa và đã nhìn thấy.

Trong khi đó, với những người láng giềng thì anh vẫn bị xem như là người bị mù. Quả thật đây là hai hình ảnh trái ngược nhau: người vừa được sáng mắt đã nhìn thấy, còn những người láng giềng không nhìn thấy diễn tiến của sự việc, nên họ không nhận ra việc anh được sáng mắt. Họ tưởng là mắt của họ sáng, nhưng thực ra họ không nhìn ra sự thay đổi mà Đức Giê-su đã làm cho người mù, cho nên họ vẫn mù tối trong lối suy nghĩ và trong cái nhìn bị đóng khung của họ.

Sau đó, anh bị dẫn đến trình diện những người lãnh đạo tôn giáo, thuộc phái Pha-ri-sêu. Hai lần họ thẩm vấn anh. Hai lần anh đã làm chứng và tôn vinh Thiên Chúa. Anh đã dõng dạc trả lời cho họ biết rằng “Đức Giê-su là một ngôn sứ.” Một bước tiến trên hành trình đức tin của anh được tỏ hiện khi tuyên xưng Đức Giê-su là ngôn sứ. Trong khi đó, mắt của những người thuộc phái Pha-ri-sêu vẫn bị đóng kín bởi lối suy nghĩ dựa vào truyền thống của họ. Họ mù quáng vì đã chọn không nhìn vào các dấu chỉ mà Đức Giê-su đã thực hiện. Họ đã chọn quyền lực, qui tắc, truyền thống, tập tục và giai cấp để đối chọi với sự thật mà Đức Giê-su đem đến; cho nên họ không nhận ra Người là Đấng Cha sai đến, là Ánh Sáng cho trần gian.

Ngay cả cha mẹ anh cũng không muốn xác nhận những gì đã xẩy đến cho anh. Họ không muốn dính vào sự thay đổi mà con của họ vừa mới trải qua. Họ xác nhận về cuộc sống quá khứ của anh. Con của họ bị mù từ thủa mới sinh, và đó không phải là lỗi của họ. Còn những gì vừa xẩy ra cho anh thì họ chối là không biết gì cả. Họ không dám làm chứng cho sự thật vì sợ bị trục xuất khỏi hội đường.

Nói chung, tất cả mọi người, từ cha mẹ anh đến những người hàng xóm và những người lãnh đạo tôn giáo thời đó, đã nhìn nhưng không ai thấy anh. Bởi vì, nếu họ thấy anh thì họ sẽ phải đối diện với sự mù quáng của họ. Sự khác biệt giữa anh và họ là anh biết anh bị mù, còn họ tưởng mình sáng mắt nên họ phải trả lời cho đôi mắt không nhìn thấy của họ, như Đức Giê-su đã phán dậy: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘Chúng tôi thấy,’ nên tội các ông vẫn còn.

Sau khi người mù vừa được sáng mắt bị trục xuất thì Đức Giê-su, người đã bị trục xuất trước, đến gặp anh. Trong cuộc gặp gỡ này Đức Giê-su bộc lộ căn tính của Người, lập tức vừa nghe đến đó anh vội vàng quỳ xuống và tôn vinh Người. Anh đã thấy và anh đã tin Đức Giê-su, Người vừa ban ánh sáng cho anh, là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa và để nhờ tin mà anh và chúng ta có sự sống nhờ Danh Người. Anh đã đi đến đích điểm của lòng tin, trong khi đó những người tự nhận mình là sáng mắt lại cứ sống trong u tối vì tự trói mình trong ‘sự khôn ngoan’ của một hệ thống tôn giáo đóng kín của họ!

Thưa anh chị em,

Nhờ tin vào Danh của Đức Giê-su mà chúng ta có sự sống, chúng ta được chiếu sáng. Nhưng trên thực tế, chúng ta vẫn còn đi trong bóng đêm, vẫn còn sống trong mù lòa. Mù không phải vì không nhìn thấy gì. Mù cũng không phải về bóng tối đang bao phủ quanh chúng ta. Thật ra chúng ta mù vì định kiến, vì bóng tối trong ta che lấp mọi sự. Nó bao gồm cách chúng ta nhìn người khác và những gì chúng ta nhìn thấy chung quanh mình.

Sau đây là một sự việc mà chúng ta gặp và vấp phải hàng ngày. Truyện kể như sau.

Số là, trong một xóm giáo kia có một gia đình trẻ mới dọn đến. Họ được bà chủ nhà và những người hàng xóm làm quen và tìm cách giúp đỡ.

Vào một ngày nọ, bà chủ nhà nhìn ra cửa sổ nhà của bà và nhận xét: “Ôi trời ơi, nhìn kìa, sao cô gái trẻ mới đến thuê căn flat của nhà mình lại phơi những bộ quần áo bẩn lên dàn phơi như thế.”

Ngày hôm sau, bà lại tiếp tục than phiền: “Ôi trời ơi, nhìn quần áo của mấy đứa trẻ con của họ, sao mà bẩn thế…” Rồi bà nghĩ rằng người phụ nữ trẻ kia chắc không biết giặt quần áo, hoặc có lẽ gia đình cô ấy chưa sắm được một chiếc máy giặt tốt.

Chuyện này cứ tiếp diễn hết lần này đến lần khác, và người chồng của bà nghe bà phàn nàn mà ông vẫn không nói gì cả.

Rồi vào một buổi sáng sớm kia, bà gọi chồng ra nhìn qua cửa sổ và nói: “Anh ơi, hãy nhìn, nhìn cho rõ! Sao hôm nay, quần áo của cô ấy và các con lại sạch và mới quá. Chắc là có ai đó đã dạy cô ấy cách giặt, hoặc có lẽ cô ấy mới mua một chiếc máy giặt hiện đại.”

Lúc đó, người chồng mỉm cười và chỉ nhẹ nhàng trả lời: “Thật ra sáng nay anh đã dậy sớm hơn và lau sạch cửa sổ của nhà mình.”

Từ câu chuyện này, chúng ta có thể thấy rằng trong cuộc sống đã nhiều lần cách chúng ta nhìn người khác bị che mờ bởi thành kiến, sự ghét bỏ, cơn giận dữ, hay lòng kiêu ngạo… Vì thế chúng ta hãy tự hỏi: nếu những điều đó cản trở chúng ta, thì điều gì sẽ dẫn người khác đến với Đức Kitô?

Từ kinh nghiệm chung của chúng ta, khi nhìn lại cuộc đời mình, chúng ta nhận ra rằng những người giúp chúng ta trưởng thành chính là những người nâng đỡ và cảm thông với chúng ta, chứ không phải những người phán xét và kết án chúng ta đâu!

Chính vì thế cho nên chúng ta hãy nhìn Thiên Chúa, con người, sự vật hay hoàn cảnh như đã được xẩy ra như ý muốn của Người khi tạo dựng chúng ta và vũ trụ này. Tất cả mọi sự Thiên Chúa dựng nên đều tốt đẹp!

Và nếu chúng ta muốn thấy Chúa, nhìn ra cuộc sống mình và những người khác như họ thực sự hiện diện thì mắt chúng ta phải được Đức Ki-tô mở ra trước. Chúng ta phải thay đổi, không chỉ nhìn bằng đôi mắt, mà bắt đầu tập nhìn bằng trái tim nhân hậu mà Thiên Chúa đặt để trong mình.

Muốn được như thế, chúng ta cần khám phá Đức Giê-su là ai trong cuộc sống của mình trước? Chúng ta có nhận ra tình yêu thương của Đức Giê-su trong tôi không? Bởi vì nếu chúng ta không cảm nhận tình yêu của Người trong cuộc sống mình thì cách cư xử của chúng ta giống như những người láng giềng, như những người lãnh đạo, thậm chí giống như cha mẹ của người mù mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin Mừng hôm nay. Họ không nhìn nhận các diễn tiến xẩy ra trong cuộc sống của anh.

Tất cả chúng ta đều bị mù trong cuộc sống. Và trong hoàn cảnh bị mù lòa mà cứ tưởng mình sáng mắt, nên chúng ta dần dần đánh mất tình yêu, tiêu hủy dần dần các mối quan hệ khi chúng ta sống trong sự cạnh tranh, luôn ước ao chiếm vị trí đầu trong mọi công tác để tìm sự tán dương và khen thưởng nơi người khác. Chúng ta bị sức ép của danh vọng, uy quyền và tiếng khen chi phối. Chúng ta lầm tưởng rằng những gì chúng ta có được là do cố gắng và năng lực của bản thân mà quên đi bao đóng góp, hy sinh của nhiều người đã gầy dựng và hình thành trong cuộc sống mình.

Sau cùng, chúng ta hãy xin Chúa mở mắt để nhận ra sự hiện diện của Đức Giê-su trong cuộc sống mình và có cái nhìn như cái nhìn của Chúa trong cách cư xử với nhau. Amen!


CUỘC GẶP GỠ ÂN TÌNH

 Click for audio CUỘC GẶP GỠ ÂN TÌNH

Bài Tin Mừng Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Chay năm nay thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người phụ nữ xứ Samaria tại bờ giếng Gia-cóp. Người phụ nữ đi lấy nước vào giữa trưa, giờ nắng gắt nhất. Không ai đi lấy nước vào lúc giữa trưa trong một ngày nóng bức cả, trừ phi người đó không dám gặp ai hết. Chi tiết này giúp chúng ta đoán ra rằng có lẽ chị muốn tránh ánh mắt của người đời vì trong lòng của chị đang có những vết thương và mặc cảm.

Nhưng điều quan trọng là chính lúc ấy, Chúa Giêsu đang chờ chị!

Dựa vào tình tiết của câu chuyện, chúng ta biết chị đã từng sống chung với năm người đàn ông khác nhau và không có người đàn ông nào là chồng của chị cả. Đó là sự thật chị cần phải đối diện chứ không nên tránh né. Xét cho cùng, không lẽ một người phụ nữ, do hoàn cảnh, đã phải chung sống với năm ông khác nhau mà không một ông nào là chồng của chị, cuối cùng lại bị kết án là do tội của chị gây ra hay sao?

Người ta dùng luật để lên án, buộc tội rồi xa lánh chị. Chị bị coi thường và sống rất cô độc. Chị cố gắng giành lấy tình yêu để lắp đầy nỗi trống vắng và tâm hồn cô đơn của chị. Rồi cũng chính chị lại bóp nghẹt và giết chết tình yêu bằng lối sống ‘mò mẫm, vụng về trong yêu thương’ của chị.

Sau cùng, giống như tất cả chúng ta, trong nỗi đau khổ tột cùng của cuộc sống, chị chán nản và lâm vào tình trạng ‘trầm cảm’, không còn nhận ra giá trị con người trong cuộc sống của chị nữa. Cho đến hôm nay, lần đầu tiên trong đời, chị gặp một người đàn ông tên là Giê-su, một con người chỉ biết yêu và cho đi.

Còn về phần Đức Giê-su, Người muốn dùng cuộc gặp gỡ này để mở cho chị một con đường mới, con đường của sự thật, con đường dẫn chị đến việc nhận ra Chúa là Đấng Cứu Độ. Đàng sau quá khứ của chị, Đức Giê-su đã nhìn thấy hình ảnh xinh đẹp của một con người. Người mong muốn hình ảnh đó được tái tạo và không cần chị đền đáp hay trả ơn. Người trao ban cho chị món quà tặng nhưng không.

Đức Giêsu bắt đầu cuộc đối thoại bằng cách ngỏ lời xin nước để uống cho đỡ khát. Một lời xin rất thực tế và phù hợp với hoàn cảnh của Đức Giê-su. Đức Giê-su chuyển vai rất khéo, thay vì ban ơn thì Người lại xin chị. Bằng cách này Đức Giê-su tự đặt bản thân của Người vào một mối quan hệ với người phụ nữ đó. Điều này giúp chị nhận ra rằng sự hiện diện của chị trên cõi đời này thật có giá trị. Đây là lần đầu tiên chị có cảm giác rằng mình thật đáng quí. Có người cần đến chị.

Đức Giê-su đang ở trước mặt chị. Người không ở xa. Người đang hiện diện và mời chị bước vào mối tương quan do Người thiết lập. Người biết rõ và chấp nhận quá khứ của chị. Không cần phải lo lắng hay tìm cách để bào chữa nữa. Người thương yêu chị và chính tình yêu này là cánh cửa mở cho chị một cuộc sống mới. Chúa không lên án. Mời chị nhìn nhận sự thật, tạo cho chị thêm can đảm để đối diện với nỗi khao khát chân thật, xuất phát từ cõi lòng của chị. Chỉ có như thế, Chúa mới có dịp để lấp đầy.

Anh chị em thân mến,

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người đàn bà xứ Sa-ma-ri-a được công bố trong Mùa Chay nhắc cho chúng ta nhớ rằng Đức Giê-su mong muốn gặp chúng ta. Hy vọng chúng ta mở cửa lòng để đón nhận lời mời của Chúa hôm nay.

Thật vậy, Mùa Chay là cơ hội đặc biệt mà Thiên Chúa dùng để thu hút chúng ta trở về với nguồn suối tình yêu của Người. Chúng ta không ngồi đó, dán mắt nhìn vào cuộc sống của quá khứ, ân hận, than trách rồi để cho mặc cảm tội lỗi đè nén khiến chúng ta không vươn ra khỏi chính mình. Trái lại, khi để cho cuộc sống của mình vào trong quĩ đạo tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta thấy rõ hơn tình Chúa thương yêu ta đến dường nào. Người yêu thương chúng ta khi chúng ta còn là tội nhân.

Chúa đang nói với mỗi người rằng: hãy nhìn Thầy! Đừng tập trung và dán mắt nhìn vào cảm giác tội lỗi rồi làm cho chúng ta sợ hãi! Hãy nhảy vào vòng tay yêu thương của Người để cảm nhận tình yêu thương chan chứa của Người dành cho ta! Thiên Chúa chờ đợi và mời chúng ta đi vào mối quan hệ gắn kết và yêu thương của Người. Chúng ta đuợc dựng nên cho Chúa và chỉ có Chúa mới thỏa lấp đuợc nỗi khát khao trong cuộc sống của chúng ta mà thôi!

Thiên Chúa chọn ta trước khi ta đáp trả lời mời gọi của Người. Đức Giê-su chủ động trong việc thiết lập quan hệ với chúng ta. Quá khứ tội lỗi, cuộc sống lộn xộn của chúng ta không làm cho Người thay đổi ý định. Trái lại, cuộc sống của chúng ta càng lộn xộn, chúng ta càng cần tình yêu của Người và Người càng muốn yêu chúng ta hơn.

Đức Giê-su khao khát được ở bên chúng ta, để chúng ta nói chuyện và chia sẻ cuộc sống của mình với Người. Đó là những gì mà người đàn bà xứ Sa-ma-ri-a đã trải qua và ngày hôm Đức Giê-su cũng muốn cho chúng ta bước vào hành trình tìm kiếm để gặp gỡ và cảm nhận tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Chúa đang đợi ta bên các giếng nuớc của cuộc đời. Và cũng tại các nơi đó, còn bao nhiêu người đang khát khao chờ đợi uống nước hằng sống mà Thiên Chúa muốn chúng ta san sẻ cho họ.

Như người đàn bà xứ Sa-ma-ri-a, chúng ta cũng đuợc mời gọi đi gặp Chúa, để từ nay sẽ không còn vất vả băn khoăn tìm nước và của ăn hay hư nát, vì Chúa chính là suối nguồn ân huệ nhưng không của Thiên Chúa, là cùng đích mà cuộc đời chúng ta nhắm đến. Và một khi đã được no thỏa ân tình vô biên của Chúa, chúng ta sẽ mau mắn để ‘vò nước lại’ rồi ra đi trong niềm hân hoan mà chia sẻ ân tình của Chúa cho người khác. Amen!


Friday, 27 February 2026

VINH QUANG CHÚA ĐỠ NÂNG TÔI!

 Click for audio VINH QUANG CHÚA ĐỠ NÂNG TÔI!

Thưa anh chị em,

Vào Chúa Nhật thứ hai Mùa Chay, chúng ta cùng với Đức Giê-su lên một ngọn núi. Lần này, Người không lên núi một mình mà dẫn theo ba môn đệ thân tín trong đó có Phê-rô là người lãnh đạo và vừa mới tuyên xưng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa. Đến khi Đức Giê-su tỏ cho các ông biết con đường phải đi để chu toàn bổn phận làm Con Thiên Chúa của Người thì Phê-rô, với bản tính cương trực đã thẳng thắn can ngăn Người. Còn các ông khác đều kinh hoàng khi nghe Đức Giê-su cảnh báo họ rằng con đường theo Người là con đường Thập Giá. Các ông tưởng rằng Thầy lên Giê-ru-sa-lem để khôi phục vương quyền và xua đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi để dành lại độc lập và sức mạnh uy hùng của dân Thiên Chúa. Ai ngờ, Người lại loan báo về những ngày khổ nạn sắp bắt đầu tại Thánh đô Giê-ru-sa-lem!

Như vậy, biến cố hiển dung của Đức Giê-su không chỉ nâng đỡ và hỗ trợ cho các môn đệ đủ can đảm để đối diện với các thử thách và đau khổ trong khi thi hành sứ vụ; nó còn chất chứa một lời mời gọi dành cho tất cả những ai tin vào Chúa là hãy sẵn sàng tham dự vào những gì mà Đức Giê-su đã thực hiện trong cuộc sống. Chúng ta không được phép ngồi đó mà thụ hưởng, cho dù đó là những giây phút tuyệt diệu nói lên mối dây thân tình giữa ta và Chúa. Nhưng chúng ta phải ra đi, phải xuống núi mà san sẻ kinh nghiệm gặp gỡ Chúa cho mọi người.

Thật vậy, kinh nghiệm hiển dung hôm nay cho các môn đệ và chúng ta sức mạnh để xuống núi và tiếp tục thi hành bổn phận tuy cao quí nhưng thật gian nan. Đó là việc làm của Đức Tin. Đức tin không ngừng thách thức, lôi kéo và mời gọi chúng ta đi về phía trước. Muốn đi về phía trước chúng ta cần định hướng. Vì thế, chúng ta không thể quên giây phút hiện tại và biết mình đang ở đâu.

Hẳn anh chị em vẫn còn nhớ điều mà Chúa Kitô mời gọi chúng ta là hãy vác thập giá của mình và đi theo Người khi Đức Giê-su cũng đang đi đến thập giá của chính Người. Chúng ta còn được mời gọi yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ chúng ta. Chúng ta được lệnh phải hoạt động cho công lý và mưu cầu an bình. Chúng ta buộc phải nuôi ăn những kẻ đói khát và chăm lo cho những ai đang bị tổn thương.

Các điều nói trên, không có điều gì là điều dễ dàng đối với người tín hữu. Con đường của chúng ta đi là con đường hẹp dẫn đến đau khổ và sự chết. Làm thế nào chúng ta có thể làm được các điều đó nếu không có sự phù hộ của Thiên Chúa. Và sự trợ giúp của Thiên Chúa phải được chúng ta cảm nghiệm bằng chính kinh nghiệm gặp gỡ Người trong cuộc sống. Nhưng trên thực tế, những kinh nghiệm gặp gỡ đó lại rất hiếm xẩy ra và nếu có xẩy ra thì cũng rất ngắn ngủi. Vì thế, chúng ta nên trân trọng chúng. Chúng ta nên cố gắng ôn đi ôn lại càng nhiều càng tốt. Chúng ta không nên ốn ào, phô trương thanh thế; trái lại cần bầu khí linh thánh để lắng nghe tiếng nói của Chúa. Những khoảnh khắc đó rất cần thiết để cho chúng ta có thêm sức mạnh cho cuộc hành trình.

Sau này, biến cố hiển dung của Đức Giê-su còn đóng một vai trò thật quan trọng trong hành trình đức tin và đời sống của các tín hữu thuộc các cộng đoàn tiên khởi và chúng ta ngày hôm nay. Quả thật, chúng ta không nên quên thực trạng đời sống của các tín hữu thời sơ khai. Họ đã để lại cho chúng ta một mẫu gương gắn bó với Đức Giê-su và với nhau. Cho dù họ bị chối từ, bị coi thường, bị theo dõi, bị săn lùng và thậm chí bị giết chết; nhưng vẫn quyết tâm và thành tín trao đổi cho nhau những câu chuyện của Đức Giê-su. Trong số những san sẻ đó có chuyện tích hiển dung hôm nay.

Khi nói về biến cố này, họ đã cảm nghiệm có một sự thay đổi nơi con nguời của họ. Ánh vinh quang cuả Thiên Chúa đã chiếu toả để cho hình ảnh của Thiên Chúa nơi các tín hữu được rõ ràng hơn. Một con người có Chúa là như thế, dung mạo của họ sẽ toát lên một sức mạnh mà chỉ có nhưng ai ở trong Chúa mới có được. Sự hiện diện của Thiên Chúa là thế!

Sau đây là một vài kinh nghiệm, có thể gọi đó là ‘kinh nghiệm hiển dung,’ kinh nghiệm mà người bạn tôi đã chia sẻ. Anh là một tín hữu nhiệt thành và ngoan đạo. Trong suốt 30 năm qua, anh đã tham gia các đoàn thể và phong trào trong Giáo xứ như: Hội Đạo Binh Đức Mẹ, phong trào Cursillo, Thánh Linh, Thăng Tiến Hôn Nhân và Hội Đồng Giáo Xứ.

Với lòng nhiệt thành và hy sinh, anh đã được đề cử vào các chức vụ như hội trưởng hội Legio của Giáo xứ, thư ký cấp Giáo Phận; ủy viên các phong trào và sau cùng là thành viên của Ban Chấp Hành của Giáo xứ. Mọi công tác anh đều chu toàn. Anh là người thành công và được nhiều người kính trọng trong Giáo xứ. Thế mà, tự trong thâm tâm, anh vẫn khắc khoải và cảm thấy như vẫn còn thiếu vắng một điều gì cho cuộc sống.

Anh đã ví hành trình tìm Chúa của anh giống như của Gia-kêu. Anh tưởng rằng việc tham gia các đoàn thể, từ hội này đến phong trào khác là con đường gặp Chúa của anh. Giống như Gia-kêu, anh nghĩ rằng các vị trí mà anh đạt được là những điểm thuận lợi cho anh nhìn thấy Chúa! Nhưng anh đã lầm!

Gia-kêu đã nhìn thấy Chúa khi ở trên cây, nhưng Gia-kêu chỉ gặp Chúa khi ông ta xuống đất. Và trường hợp của anh bạn tôi cũng thế, anh không nhận ra sự hiện diện của Chúa trong các chức vụ anh đã đạt được. Thế mà, khi trở về cuộc sống bình thường của người tín hũu, không còn bị vướng bận bởi các công tác, không còn bị trói buộc bởi các nhiệm vụ và cũng không còn bị áp lực phải làm gương sáng cho ai nữa. Anh tham gia nhóm gia đình cầu nguyện, khoảng chừng năm đến bẩy gia đình. Hàng tuần họ họp và cầu nguyện chung với nhau. Họ dùng các lời Thánh Vịnh, lập đi lập lại các điệp ca để cho tâm hồn thư thái và chìm đắm trong bầu khí thật linh thánh đó. Và anh đã gặp Chúa.

Cuộc gặp gỡ Chúa của anh và những người bạn trong nhóm cầu nguyện đã thay đổi cuộc đời anh một cách sâu sắc. Nhờ sự gặp gỡ này, anh đã khám ra con đường dẫn anh đi vào mối tương quan mới với Thiên Chúa và những người khác. Anh tôn trọng, hiểu và yêu họ nhiều hơn. Chúa đã tỏ mình cho anh, Chúa đã hiển dung với anh.

Lại có một bà mẹ kia vô cùng hạnh phúc và mãn nguyện khi nhìn cảnh chồng con vui vẻ, đầm ấm bên bàn cơm mà bà đã dành cả ngày để chuẩn bị. Lúc đó những mệt nhọc của mẹ hầu như tan biến, còn lại trong phần sâu thẳm của tâm hồn bà là niềm vui, một niềm vui không sao diễn tả được. Rõ ràng đó là một việc làm bình thường như mọi ngày của cuộc sống, thế mà trong giây phút đó bà mới nhận ra sự diệu kỳ và phi thường của nó. Một kinh nghiệm ‘hiển dung’ đã được tỏ bầy qua công việc rất bình thường của các người mẹ.

Anh chị em thân mến,

Suy niệm về biến cố hiển dung giúp cho chúng ta nhận ra một điều là chúng ta hạnh phúc với những gì đang xẩy ra nhưng vẫn mong chờ việc sắp xẩy đến. Hiển dung là như thế. Giây phút chiêm ngưỡng dung nhan vinh hiển mà Đức Giê-su ban cho tuy ngắn ngủi nhưng lại tác động và đòi buộc chúng ta phải thay đổi. Là người tín hữu, chúng ta liên tục được mời gọi bước vào những cuộc phiêu lưu mới mà chưa thấy kết quả. Chúng ta được mời gọi trở thành các môn đệ chân chính và hoàn hảo hơn. Chúng ta được mời gọi cho đi nhiều hơn, yêu thương quảng đại hơn. Chúng ta luôn được thúc đẩy trở thành môn đệ mà Chúa yêu thương. Tuy nhiên, với bản tính tự nhiên, chúng ta chỉ muốn giữ lấy những gì thật quen thuộc, không dám hay không muốn thay đổi. Nhưng, cuộc sống của người tín hữu không được phép dừng lại như thế, chúng ta được mời gọi tham dự vào khoảnh khắc biến hình đổi dạng để thay đổi mà trở nên tinh tuyền và thánh thiện hơn.

Vì vậy, hãy ôn đi và ôn lại những kinh nghiệm đã nhìn thấy Chúa hiển dung, Đấng đã tỏ mình cho ta được chiêm ngưỡng dung nhan vinh hiển của Người. Giữ lấy kinh nghiệm gắn bó và kết hiệp với Chúa mà mình đã trải qua. Tuy nhiên, chúng ta lại được mời gọi sẵn sàng quay đầu xuống núi và tiếp tục chu toàn bổn phận của người con mà Thiên Chúa ưu ái, bởi vì đó là điều mà Chúa kêu gọi chúng ta làm. Amen!


Sunday, 22 February 2026

TRONG CHÚA TA VƯỢT QUA!

 Click for audio TRONG CHÚA TA VƯỢT QUA!

“Quyến rũ, cám dỗ, sa ngã, bất trung rồi bội phản” là các chọn lựa hay thái độ sống của con người trong mọi thời đại, từ A-dong, E-và cho đến chúng ta ngày nay. Nhìn nhận một sự thật như thế sẽ giúp chúng ta dễ dàng đón nhận các thử thách trong cuộc sống và cùng với Đức Ki-tô chúng ta chiến đấu và chiến thắng các cạm bẫy của “tên cám dỗ” bầy ra. Đó là nội dung của các bài đọc được trích dẫn vào Chúa Nhật thứ Nhất Mùa Chay năm nay.

Trong bài đọc một trích trong sách Sáng Thế Ký, tác giả đã thuật lại sự kiện sa ngã của A-dong và E-và. Sau khi bất tuân, A-dong và E-và đã không chết. Họ nhận ra sự thật đã xẩy ra đúng theo lời dụ dỗ của con rắn là họ trở nên khôn ngoan, biết rõ trắng đen, biết mình trần truồng và trơ trụi.

Thấy được thân phận nghèo khó tột cùng, đến nỗi không có mảnh vải để che thân mà quay trở về với Thiên Chúa là một việc lẽ ra ông bà nguyên tổ phải làm. Trái lại, ông bà đã không làm như thế! A-dong và E-và muốn có sự khôn ngoan để tự mình sắp xếp cuộc đời mình, không cần Chúa nữa. Họ đã sai lại càng sai thêm khi trốn chạy và đã lầm khi không dám đối diện với Thiên Chúa.

Việc bất tuân và sa ngã của A-dong và E-và là các thử thách mà ông bà nguyên tổ và con người ở mọi thời đại đang phải chống trả.

Vì thế, Thánh Phao-lô trong bài đọc thứ hai, đã chia sẻ suy tư của ngài về sứ vụ của Đức Giê-su như một “A-dong mới,” một A-dong chiến thắng và vượt qua mọi cạm bẫy để làm gương cho chúng ta; đó là những gì chúng ta sẽ thấy trong bài Tin Mừng.

Thánh Mát-Thêu thuật lại các cơn cám dỗ mà Đức Giê-su phải trải qua trong hoang địa. Tuy Đức Giê-su đã vượt qua và chiến thắng các thử thách để bước vào giai đoạn công khai rao giảng và loan truyền sứ vụ của Người; nhưng không phải vì thế mà các cám dỗ đó biến mất; tất cả vẫn hiện diện và chờ cơ hội để tiếp tục cám dỗ Người trong suốt sứ vụ. Cuối cùng và cũng là đích điểm của mọi cám dỗ mà Đức Giê-su phải đối diện và vượt qua, đó chính là Satan, quyền lực chống đối Thiên Chúa.

Thoáng nhìn thì chúng ta có thể cho rằng các thử thách mà Đức Giê-su phải đương đầu đều qui về căn tính của Đức Chúa, về mối quan hệ giữa Người với Thiên Chúa. Tên cám dỗ đã thử thách Chúa bằng lối đặt câu hỏi có tính khiêu khích: “Nếu ông là Con Thiên Chúa.” Có nghĩa là nếu ông đã biết mình là Con Thiên Chúa thì hãy làm theo lời tôi, tên cám dỗ, làm phép lạ biến đá thành của ăn mà nuôi thân xác, nhất là trong lúc đang đói, thì chúng tôi tin. Nghe lời của tên cám dỗ hay nghe lời thiên Chúa là thử thách mà Đức Giê-su đang phải đói diện

Thật vậy, Đức Giê-su biết rõ chân tướng làm Con Thiên Chúa của mình; đó là điều mà Chúa Cha đã công bố trong ngày Đức Giê-su đón nhận phép rửa bên bờ song Gióc-đan. Khi vừa ở dưới nước bước lên thì tiếng Chúa Cha đã phán “Này là Con yêu dấu của Ta.” Thế mà, hôm nay ‘tên cám dỗ’ lại muốn gieo vào trong lòng Chúa tính nghi ngờ và lối nói khích bác: Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy chứng minh bằng cách làm theo đề nghị của chúng đưa ra.

A-dong và E-và sa vào cạm bẫy làm theo ý của ‘tên cám dỗ’. Còn Đức Giê-su đã không làm như thế. Người đi tìm ý của Cha Người để tỏ bầy cho nhân loại biết về mối quan hệ Cha Con của Thiên Chúa và Người. Đức Giê-su là người con yêu dấu và chỉ thực hiện ý muốn của Cha, không tìm và làm theo ý riêng; vì thế Người đã quay lưng lại với lời cám dỗ. Và bằng các cách thức khác nhau, Đức Giê-su đã bộc lộ niềm tin tưởng tuyệt đối của Người vào Thiên Chúa, Cha Người.

Là Con Thiên Chúa, Đức Giê-su chấp nhận tất cả mọi sự từ Thiên Chúa, Cha của Người và chỉ từ Cha mà thôi. Cuộc sống của Người bao gồm cả sứ vụ mà Người thi hành. Tất cả đều xuất phát từ Cha, nên Người phải lệ thuộc vào Ngài; không tự động biến đá thành bánh theo ý mình. Vẫn biết bánh là của ăn thì cần thiết cho việc nuôi dưỡng cơ thể; nhưng sự sống của con người hoàn toàn không chỉ lệ thuộc vào của ăn mà thôi. Nói như thế, có nghĩa là cho dù phải đói khát, Người vẫn tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ lo cho Người, Cha Người sẽ cung cấp lương thực nuôi dưỡng Người. Phần Người hãy lo tìm kiếm và thực hiện ý Cha trước.

Anh chị em đừng quên rằng Đức Giê-su đã thể hiện quyền năng của Thiên Chúa trong phép lạ bánh hóa nhiều để nuôi dưỡng cho những kẻ đi theo Người. Đó là việc làm bộc lộ lòng yêu thương và sự quan tâm của Chúa dành cho những ai thuộc về Người. Đức Giê-su không tự động làm phép lạ theo lời khích bác của kẻ khác để bộc lộ “cái tôi –ta đây” cho người khác khen tặng.

Hôm nay, khi suy niệm về các cuộc cám dỗ mà Đức Giê-su đã trải qua, chúng ta nên can đảm nhìn nhận rằng Đức Chúa còn bị thử thách phương chi là chúng ta. Thử thách là điều không thể thiếu vắng trong đời sống của các kẻ tin nói riêng và đời sống cộng thể nói chung. Và, bằng vào sức mình, không một ai trong chúng ta có thể tránh thoát được các cạm bẫy của ma quỷ hay các quyền lực của sự dữ ẩn núp duới các chiêu bài khác nhau để lôi kéo chúng ta đi ngược lại Ý Chúa. Cạm bẫy đó xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ theo hoàn cảnh của cuộc sống.

Có một điều mà chúng ta nên nhìn nhận rằng không ai là người hoàn hảo. Chúng ta có thể giỏi mặt này nhưng lại yếu kém mặt khác. Phàm ai đã có sở trường thì sẽ có sở đoản. Những điều này giúp chúng ta nhận ra sự hèn yếu của thân phận làm người mà cần sự trợ giúp. Sau đây là một kinh nghiệm.

Vào các năm gần đây, nhờ sống chung với các cha giáo, nay đã về hưu, tôi mới khám phá ra điều này. Khi còn trẻ các ngài là những con người khôn ngoan, nhiều vị đã nắm giữ các nhiệm vụ thật quan trọng trong việc hướng dẫn và lãnh đạo người khác, bao nhiêu phương án đã được đưa ra và thi hành bởi sự lãnh đạo khôn ngoan và tài ba của các ngài; thế mà những việc cơ bản để chăm sóc bản thân như cột dây giầy hay luộc quả trứng thì các ngài lại mù tịt.

Không ai là người hoàn hảo. Có một khoảng trống trong cuộc sống mà chúng ta phải nỗ lực để lấp đầy. A-dong và E-và đã lầm tưởng họ có thể lấp đầy khoảng trống, lỗ hổng trong cuộc sống bằng trái cây ở giữa vườn. Vậy mà sau khi ăn thì cuộc sống của họ lại càng trống rỗng hơn; điều mà họ nhìn ra cũng chỉ là nỗi cơ đơn, tránh né nhau và tránh né Thiên Chúa.

Điều này vẫn còn hiện diện trong cuộc sống của chúng ta. Đã nhiều người lầm tưởng và tìm cách lấp đầy khoảng trống bằng nỗ lực đánh bóng chân tướng của mình bằng các phương tiện như ráng tậu cho được một chiếc xe mới, một ngôi nhà đẹp khang trang xứng hợp với vị trí ông kia bà nọ của họ. Nhưng sau những lầm than, hy sinh và vất vả để có được những điều này, sự trống vắng và nỗi cô đơn vẫn còn. Không ai có thể lấp đầy nỗi cô đơn và khoảng vắng đó trong cuộc đời mình ngoại trừ Chúa, như tâm tình mà Thánh Au-gút-ti-nô đã chia sẻ: “Tâm hồn chúng con luôn khăc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.”

Để cho mình đủ sức đối diện với muôn ngàn thử thách trong cuộc sống, chúng ta nên nhận ra sự giới hạn của chính bản thân. Nhận ra không phải để cầu xin Chúa cất đi các giới hạn; cho bằng nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong các ước muốn và nhu cầu của chính mình; giúp cho chúng ta can đảm đối diện với các thử thách trong niềm xác tín vào sức mạnh cần thiết của ơn Chúa như lời Thánh Phao-lô đã cảm nhận khi xưa “Ơn Ta thì đủ cho con.”

Với ơn Chúa, chúng ta sẽ vượt qua các thử thách như Chúa đã trải qua hôm nay. Trong tâm tình đó, xin mời anh chị em hiên ngang bước vào Mùa Chay để đối diện và vượt qua các thử thách luôn luôn đi liền với cuộc sống của chúng ta. Amen!


Thursday, 12 February 2026

TẤM LÒNG CHỈ ĐẠO VIỆC LÀM

Click for audio TẤM LÒNG CHỈ ĐẠO VIỆC LÀM

Đức Giê-su đã mở đầu bài giảng trên núi bằng việc công bố các mối phúc dành cho các môn đệ. Họ được chúc phúc không phải vì sẽ được sống sung túc và đầy thuận lợi hơn những người khác, m được tham dự vào sứ mạng cao cả là muối cho đời và làm ánh sáng cho nhân loại. Và, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su tiếp tục đưa ra các việc làm cụ thể mà người môn đệ, công dân của Nước Trời cần thi hành.

Trước hết, chúng ta phải nhìn nhận rằng Đức Giê-su tuyên bố các lịnh truyền như một người có uy quyền, Người phán: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết”. Khi công bố như thế, Người muốn đưa con người trở về ý định ban đầu của Thiên Chúa là thiết lập và xây dựng các mối dây tương quan giữa người và người theo đúng tinh thần của Chúa hơn. Người không đến để bãi bỏ lề luật và sự hướng dẫn của các ngôn sứ; nhưng Người hoàn thành và kiện toàn nó.

Điều mà Đức Giê-su quan tâm ở đây không phải là sống rập khuôn theo các tập tục hay các khoản luật đã bị áp dụng cứng ngắc, đôi khi mất đi mối tương quan giữa người với người. Đức Giêsu quan tâm đến sự thay đổi trái tim, thay đổi lối sống để cho cuộc sống của mình luôn xoay quanh Thiên Chúa. Lối sống này đem lại cho con người sự công chính không dựa trên lề luật, nhưng được xuất phát từ mối quan hệ giữa Thiên Chúa và ta. Từ đó, Đức Giê-su yêu cầu sự công chính của các môn đệ phải vượt trên sự công chính của những người thuộc nhóm Biệt Phái và các ông kinh sư thì mới vào được Nước Trời.

Một cách cụ thể, Đức Giê-su yêu cầu các môn đệ của Người phải kiện toàn các điều như: đừng giận ghét, chớ ngoại tình, đừng ly dị và đừng thề thốt.

Đừng giận ghét: Trong cuộc sống, chúng ta không được phép giết người, mà ngay cả việc giận dữ, nóng giận cũng không được chấp nhận. Điều này làm tôi nhớ lại kinh nghiệm mà tôi đã ghi nhận được trong khi làm việc tại các trại giam tại tiểu bang Victoria. Thoạt tiên, tôi vô cùng ấn tượng trước vẻ lịch sự, hòa nhã, khiêm tốn của một số tù nhân đã phạm tội giết người. Tôi không hiểu tại sao họ có thể giết người được. Sau này, qua nhiều lần tiếp xúc, tôi mới nhận ra được một điều là hình như họ không kiểm soát và kềm chế được cơn nóng giận. Và tất cả các việc làm xẩy ra trong lúc tức giận đều đem lại những kết quả không lường trước được. Cha ông chúng ta đã có câu nói “giận hóa mất khôn!”

Để giúp chúng ta đối phó và diệt trừ tận căn mối nguy hiểm này, Đức Giê-su thúc dục chúng ta cần phải có biện pháp dứt khoát để đối phó với việc giận dữ. Bởi vì nó sẽ trở lại và gây nhiều hậu quả tai hại hơn. Người còn mời gọi chúng ta không chỉ đối diện với việc chúng ta giận ai mà là ai giận chúng ta thì chúng ta cũng cần đi bước trước đến để làm hòa với họ rồi sau đó tiếp tục tế lễ.

Thật ra, chúng ta không thể giải thích và áp dụng điều Đức Giê-su nói ở đây theo nghĩa đen. Ai có thể để lễ vật tại đền thờ rồi đi mấy ngày đường trở về làm hòa với anh em, rồi trở lại để dâng của lễ. Bởi vì, đến khi trở lại thì của lễ có còn nguyên vẹn hay là đã bị hư thối mất rồi!

Như vậy, hòa giải với Thiên Chúa và tha nhân là một việc làm rất quan trọng trong việc tế lễ. Tính cộng đoàn, tình anh em cùng một Cha trên trời được thể hiện bằng đời sống. Và đó chính là lối sống của những ai đã được đổi mới và chỉ có ai được Chúa chúc phúc mới có thể làm được yêu cầu này. Yêu thương nhau là giới lịnh căn bản của người môn đệ, công dân của Nước Trời.

Chớ ngoại tình: Tương tự như vậy, khi nói đến ngoại tình, chúng ta phải đối phó với bất cứ điều gì khơi dậy lòng ham muốn, hành vi chiếm đoạt để thỏa mãn nhu cầu cá nhân hơn là việc tôn trọng và yêu thương mà chúng ta dành cho nhau. Xã hội hôm nay cho chúng ta đầy đủ dữ kiện, với những mẩu chuyện đang hiện ra nhan nhản trong các trang mạng làm chúng ta lo sợ; lại chưa kể đến sự tiến bộ vượt bực, ngoài tầm kiểm soát do các máy ‘điện thoại thông minh-smartphones’ đem đến. Người ta dùng nó để ‘chài mồi-grooming’. Hầu như nếu thiếu cảnh giác thì chúng ta sẽ dễ dàng đi lạc lối.

Giống như cách giải quyết mỗi khi lên cơn giận dữ, ở đây Đức Giê-su truyền chúng ta cần đối diện với hiểm nguy này và có thái độ dứt khoát. Anh chị em hãy nhớ lại kiểu trình bầy của tác giả sách Sáng Thế khi trình bầy tiến trình dụ dỗ, sự tác động và ảnh hưởng trên E-và: Trước tiên nhìn thì khoái, sau đó thèm thuồng và nghĩ đến nó cảm thấy tưng tưng, bèn hái xuống và rủ chồng cùng ăn.

Trình tự đó cũng được ám chỉ ở đây, nhìn người nữ với tâm hồn trong sạch và tôn trọng thì không sao, nhưng nhìn với vẻ thèm thuồng, chảy rãi ra là dấu hiệu không tốt cần phải đối phó và được điều trị đúng cách. Bởi vì từ cái nhìn như thế dẫn đến hành động chẳng xa bao nhiêu. Vì thế, Đức Giê-su yêu cầu khi Người dùng ngôn ngữ móc nó ra, chặt nó xuống hay cắt nó đi. Tất cả kiểu dùng chỉ nói đến yêu cầu dứt khoát mà Đức Giê-su muốn người môn đệ phải thi hành.

Tuy nhiên chúng ta cũng không nên phân tích quá tỉ mỉ để tìm ra điều gì được phép làm, điều nào không được phép hay cái gì nặng cái gì nhẹ. Cuối cùng chúng ta sẽ trở thành những con người sống vị luật, làm theo luật. Vấn đề quan trọng mà Đức Giê-su muốn cho các môn đệ của Người phải có, đó là sự thay đổi của con tim, hướng về Chúa để thanh luyện lối suy nghĩ, sửa lại cách nhìn, điều chỉnh ý hướng và ước muốn sao cho mọi sự được trong sạch như Lời chúc phúc của Đức Giê-su: “Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch.”

Đừng ly dị và đừng thề thốt: Về vấn đề ly dị, Đức Giê-su không truyền dậy một ngoại lệ. Một cuộc hôn nhân bất hợp pháp, dù chiếu theo luật, vẫn không được coi là cuộc hôn nhân thì đâu cần nói đến việc ly dị. Khi nhắc lại khoản luật này, Đức Giê-su không nói về tính hợp pháp của hôn nhân cho bằng đưa con người đi về ý định ban đầu của Thiên Chúa, nơi đó nói đến việc kết hợp, cam kết và gắn bó trọn đời bên nhau trong cuộc sống vợ chồng. Chung thủy vừa là mục tiêu, vừa là nền tảng của hôn nhân. Vì thế, chúng ta hãy nối điều dậy bảo đừng ly dị này với việc đừng thề thốt sẽ tìm ra ý muốn của Đức Giê-su, Người muốn các môn đệ, nam và nữ, đàn ông cũng như đàn bà, phải sống chính trực, trung thành với lời thề hứa. Họ không cần thề hứa rằng đang nói sự thật vì cuộc sống của họ là bằng chứng của sự thật mà họ không cần phải hứa nữa. Họ nên tôn trọng và cam kết sống chung thủy với người phối ngẫu một cách bình đẳng. Họ không được phép coi người bạn đường là sở hữu, rồi muốn bỏ hay giữ tùy theo ý muốn của họ. Tất cả đều là con cái của Cha trên trời, là môn đệ của Đức Ki-tô và là công dân của Nước Thiên Chúa.

Tóm lại, trong các phân đoạn của bài giảng trên núi hôm nay, Đức Giê-su truyền ban các giáo huấn, tuy mới mẻ, nhưng không có ý chống lại các tập tục đã được gầy dựng bởi truyền thống tiền nhân và các lời dậy bảo của các ngôn sứ. Người cũng không đến để phá hủy hệ thống luật lệ; trái lại kiện toàn và đưa chúng trở về với ý nghĩa nguyên thủy; có nghĩa là đem các khoản luật trở về với ý định ban đầu của Thiên Chúa. Tất cả các lề luật và việc thi hành phải được xuất phát từ trong tâm hồn của người môn đệ. Cõi lòng là nơi quyết định cho các hành vi tôn giáo và con người được mời gọi cố gắng hoàn thiện theo mẫu mực của Đấng mà chúng ta yêu mến.

Trong tình yêu thì không còn khoản luật nào trở thành gánh nặng nữa. Và dựa trên kinh nghiệm và cách thế chúng ta đối xử với nhau thì có ai lại đi so bì và tính toán thua thiệt với người mình yêu bao giờ. Đó cũng là điều cần được áp dụng trong cuộc sống của các kẻ tin. Ước mong mối dây liên kết giữa ta với người được mãi bền chặt và thăng hoa trong mối tương giao với Thiên Chúa, Cha chúng ta, Đấng hoàn thiện và muốn cho mọi người được trọn lành như Người. Amen!


Wednesday, 4 February 2026

MUỐI VÀ ÁNH SÁNG ĐỂ LÀM GÌ?

 Click for audio MUỐI VÀ ÁNH SÁNG ĐỂ LÀM GÌ?

Trong các câu cuối của phần loan báo tám mối phúc thật, Đức Giê-su đặc biệt nhấn mạnh đến hoàn cảnh của các tín hữu thời tiên khởi. Họ đã bị cấm cách, bắt bớ, sỉ nhục và vu khống. Kết quả là một số tín hữu đã tháo lui và trốn chạy. Còn những ai trung thành thì nhận được lời chúc phúc của Đức Giê-su. Và việc bị bách hại, bị sỉ vả vì Danh Chúa vẫn là phần phúc dành cho những ai trung thành trong các thời đại sau này nữa.

Thật vậy, nhìn lại lịch sử của Hội Thánh, chúng ta nhận ra một điều là Hội Thánh được phát triển và sinh nhiều hoa lợi trong các hoàn cảnh bị cấm cách và bị bắt bớ. Và những ai bền chí và trung kiên nên nhớ rằng họ đang làm chứng trong sứ mạng là muối cho đời và ánh sáng cho người khác.

Muối và ánh sáng là hai hình ảnh mà Đức Giê-su dùng để nói lên ước vọng của Người dành cho các môn đệ. Muối và ánh sáng không tự nó tồn tại. Cả hai vật dụng này được tạo thành và được dùng theo ý muốn của người đã tạo ra chúng.

Có lẽ ngày nay chúng ta coi thường muối và ánh sáng. Tuy nhiên, những ai sống trước khi ông Ê-đi-son phát minh ra ánh sáng của dòng điện thì họ mới biết ánh sáng quí trọng dường bao.

Trong trình thuật tạo dựng, việc đầu tiên của Thiên Chúa làm là tạo ra ánh sáng. Ánh sáng thật quan trọng đối với Người. Đức Giê-su đã nhiều lần tỏ bầy rằng chính Người là ánh sáng. Và trong bài Tin Mừng hôm nay Đức Giê-su truyền ban nhiệm vụ và vinh dự cao cả đó cho các môn đệ khi phán dậy rằng: “Chính anh (chị) em là ánh sáng cho trần gian.”

Đây là một lịnh truyền thật trọng đại, chúng ta chỉ có thể thực hiện được bổn phận này khi tiếp nhận nguồn ánh sáng từ Đấng đã tạo ra ánh sáng. Tự bản thân chúng ta không tạo ra ánh sáng. Ánh sáng phát sinh từ Chúa và được chiếu giải qua việc làm của chúng ta để ca ngợi và tôn vinh Thiên Chúa, Đấng ngự trên trời.

Chúa nói rất rõ rằng ánh sáng của chúng ta phải được chiếu giải. Người nhấn mạnh đến lịnh truyền bằng động từ ‘PHẢI’, chứ không phải là việc làm theo cảm hứng, thích thì làm còn không thích thì thôi. Nhiệm vụ này được trao ban cho những kẻ mới đón nhận các mối phúc làm gia nghiệp thì PHẢI có bổn phận san sẻ vinh dự cao quí này cho nhân loại.

Đức Giê-su tiếp tục lịnh truyền bằng cách dùng hình ảnh rất quen thuộc mà dân chúng thường áp dụng trong cuộc sống ngày thường. Thời của Đức Giê-su làm gì có điện. Thay vào đó, họ đốt đèn để phát ra ánh sáng. Dựa trên kinh nghiệm của cuộc sống, Đức Giê-su khẳng định không ai đốt đèn cho có ánh sáng, rồi sau đó để đèn (dầu) dưới cái thùng rồi úp lại, như thế ánh sáng của đèn làm sao chiếu tỏa cho mọi nơi trong nhà, chưa kể đèn có thể bị tắt vì thiếu không khí!

Qua việc xử dụng hình ảnh với lời khuyến cáo như thế, Đức Giê-su muốn nhắc nhở rằng ánh sáng đã được đốt lên, trao ban và hiện diện trong cuộc sống của người môn đệ. Nhưng chính cách sống của chúng ta làm cho phạm vi mà ánh sáng có thể chiếu tỏa bị thu gọn lại, như việc để đèn dưới đáy thùng vậy.

Còn về muối thì sao?

Muối được đánh giá cao trong thế giới ngày xưa. Tôi được nghe kể lại, đã có thời người ta coi muối như hàng hiếm, hàng quốc cấm. Vì thế, có nhiều người đi bán muối, ai lọt thì giầu còn ai bị bắt thì bị xử tử; từ đó mới có cụm từ ‘đi bán muối’ để ám chỉ những người quá cố.

Muối được sử dụng như một loại gia vị, chất bảo quản, chất khử trùng và được xem như là một thành phần của lễ vật trong các nghi thức tiến dâng; ngoài ra muối còn được dùng như là một đơn vị trao đổi.

Những người sống cùng thời với Đức Giê-su đã coi muối là vật quí hiếm và rất thông dụng trong cuộc sống. Họ còn dùng muối để hòa trộn với phân bón làm cho thủa đất tốt hơn, sinh nhiều hoa lợi hơn. Cho đến nay, muối được dùng để ướp làm cho thực phẩm khỏi bị ôi, giữ cho thức ăn tươi lâu hơn. Muối còn được dùng làm giảm cơn đau răng, đau cổ họng, v.v…

Tuy nhiên, vị mặn nằm ngay trong muối. Muối không có độ nhạt. Đã ngậm muối thì chúng ta sẽ cảm thấy vị mặn trong miệng. Tôi chưa bao giờ nghe ai nói đến vị nhạt của muối bao giờ. Nhưng nếu chúng ta dùng quá liều lượng sẽ ảnh hưởng đến thực phẩm và sức khỏe. Ngày nay, bác sĩ thường khuyên những bịnh nhân bị bịnh cao huyết áp hãy ăn nhạt hơn, vì độ mặn có thể làm tăng huyết áp.

Khi dùng hình ảnh muối để ám chỉ đến thân phận của người môn đệ, Đức Giê-su nhắc chúng ta nhớ bổn phận của mình là thêm mùi vị cho đời thêm mặn nồng hơn. Nói khác đi, chúng ta là những dụng cụ, các chất xúc tác mà Thiên Chúa dùng để làm cho hương vị của đời sống nhân loại thêm mặn mà và nồng ấm hơn.

Một cách cụ thể, chúng ta được mời gọi đem niềm vui và sự an hòa đến cho những ai đang sống trong sầu khổ, đem bình an đến cho những người có cuộc sống đang bị xáo trộn, đem lại ý nghĩa tích cực cho những ai đang chán nản và bi quan. Nói tóm lại, sự hiện diện của chúng ta sẽ mang lại điều tốt nhất cho xã hội mà chúng ta đang sống trong mọi tình huống.

Để kết thúc phần suy niệm của bài Tin Mừng nói về muối và ánh sáng mà người môn đệ của Đức Ki-tô cần đem đến cho thế giới hôm nay, chúng ta cùng nghe một trong muôn ngàn truyện tích về đời sống gương sáng của Mẹ Thánh Tê-rê-sa thành Calcutta và các nữ tu của mẹ đang miệt mài đem đến cho thế giới buồn tẻ ngày nay những mặn nồng của tình người môn đệ.

Truyện kể như sau:

Vào một ngày kia, có một người đàn ông trung niên đến thăm nhà của Mẹ Thánh Tê-rê-sa dựng nên cho những người nghèo và những người sắp chết ở Calcutta. Ông ta vào nhà và chứng kiến cảnh các nữ tu đang chăm sóc cho một số người sắp chết, mà các sơ mang về từ các vỉa hè và lề đường.

Trong số đó, có một người đàn ông được khiêng về từ máng xối, thân mình của ông ta đầy lở loét. Các nữ tu phục vụ bịnh nhân mà không hề để ý đến sự hiện diện của người khách lạ đang chăm chú theo dõi các việc làm của họ. Còn người khách lạ lại chăm chú nhìn cử chỉ và việc làm của các sơ đang phục vụ trong căn nhà đó.

Đặc biệt, ông quan sát và thấy sự dịu dàng của một nữ tu còn rất trẻ, nhưng lại vô cùng ân cần và thuần thục trong việc săn sóc. Ông nhìn ra nụ cười của sơ khi rửa và băng bó các vết thương hôi thối trên thân xác của người đàn ông đang hấp hối đó. Ông đã không bỏ qua một chi tiết và đọc ra bài học, đó là mọi việc sơ làm đều phát xuất từ con tim của một con người chỉ biết quan tâm và sống cho người khác.

Sau khi chứng kiến các việc làm của các sơ, ông quay sang Mẹ Thánh Tê-re-sa và thưa rằng: Thưa Mẹ, khi đến thăm Mẹ, tôi hoàn tòan không tin vào Thiên Chúa, trái tim của con chứa đầy thù hận. Nhưng bây giờ tôi đã thấy và tôi đã tin. Ông đã thấy tình yêu của Thiên Chúa được chiếu sáng qua các cử chỉ vô cùng trìu mến và mặn nồng mà các nữ tư của Me Thánh đã làm. Thưa Mẹ, giờ này con tin!

Giống như vậy, chúng ta hãy để cho ánh sáng của Chúa chiếu tỏa trong các việc làm của chúng ta, để mỗi người, mỗi việc làm của chúng ta trở thành muối và là chất xúc tác làm cho đời thêm vị nồng thắm của tình Chúa hơn. Amen!


Thursday, 29 January 2026

PHÚC CHO AI NGHÈO KHỔ MÀ BIẾT DỰA VÀO CHÚA

 Click for audio PHÚC CHO AI NGHÈO KHỔ MÀ BIẾT DỰA VÀO CHÚA

Các mối phúc thật trong bài Tin Mừng hôm nay được ban ra trong bối cảnh và lối sống của các cộng đoàn sơ khai, đặc biệt cộng đoàn do Thánh Mát-thêu coi sóc, và dĩ nhiên vẫn còn thích hợp cho hoàn cảnh sống của chúng ta nữa.

Như anh chị em đã biết, vào các thế kỷ đầu tiên, đời sống và sinh hoạt tôn giáo của các tín hữu trong giai đoạn này gặp rất nhiều khó khăn. Họ bị khước từ, bắt bớ, giam cầm và rất nhiều người trong nhóm họ đã trải qua một cuộc sống rất cơ cực, nghèo đói, bị ngược đãi thậm chí còn bị giết chết. Trong bối cảnh đó, những phúc lành của Chúa nâng đỡ đời sống họ. Cho dù những gì họ đang phải đối diện là những điều khó chấp nhận, nhưng lại đem đến cho họ hạnh phúc đích thật và lâu bền.

Hoàn cảnh sống của chúng ta tuy đã khá hơn xưa, cuộc sống không còn bị chèn ép hay bị giết vì danh Đức Ki-tô một cách công khai nữa; nhưng con người ngày nay lại đi tìm và xây dựng hạnh phúc cho cuộc sống của mình khác xa với những yêu sách của Tin Mừng. Và cũng chính vì lối tìm hạnh phúc của chúng ta khác với hạnh phúc Nước Trời nên chúng ta khó chấp nhận giáo huấn và những lời chúc phúc của Đức Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay và mỗi khi nghe liền cảm thấy bị chói tai.

Anh chị em thân mến,

Thật ra ai cũng biết rằng nghèo và khổ, đói và khát thường đi đôi với nhau. Sống trong cảnh nghèo, chúng ta mới thấy được các nỗi khó khăn. Và thật tâm mà nói thì không ai trong chúng ta cứ muốn sống mãi trong hoàn cảnh cơ cực như thế. Họ cần vươn lên, cố gắng vượt qua mọi gian nan để tìm cơ hội phát triển và khẳng định chính bản thân. Nhưng làm thế nào để vươn lên là cách ứng xử và lựa chọn của từng người.

Có người chọn các phương tiện bất chính, trái với lương tâm, thiếu đạo đức, thiếu công bằng … nói chung là họ sẵn sàng làm mọi sự để thoát khỏi cảnh nghèo. Và khi thoát khỏi cảnh cơ cực về mặt vật chất họ lại rơi vào một vũng lầy của tham lam, tư lợi và cuộc sống cũng chẳng được hạnh phúc. Đó không phải là cách lựa chọn đúng đắn.

Trái lại, nếu chúng ta biết chấp nhận cảnh nghèo, sống ngay thẳng và lương thiện rồi tìm cách vươn lên bằng các cố gắng của bản thân để bước đi từ những bước nhỏ nhất thì cho dù chúng ta không thành công, vẫn có thể thành nhân và được mọi người quí mến.

Hạnh phúc là ở đó, không tùy thuộc vào cảnh sống nhưng bằng chính thái độ trong các hoàn cảnh của cuộc sống khiến cho các phúc lành của Thiên Chúa được biểu lộ trong cách sống của mình.

Nói như thế, chúng ta không coi thường người nghèo và ca tụng những người có của; bởi vì giàu có cũng không là điều tất nhiên đem lại hạnh phúc cho con người. Tiền của có thể mua cho họ đủ thứ, nhưng họ khó mua được hạnh phúc đích thật. Dựa vào một số thống kê mà chúng ta biết được con số những người giàu đi tìm cái chết để giải thoát những nỗi cô đơn, trạng thái trầm cảm đông hơn bọn dân nghèo mà biết chấp nhận. Đối với ai giầu có thì hạnh phúc đích thật vẫn còn nằm ngoài tầm tay và sự kiểm soát của họ.

Vấn đề hạnh phúc chủ yếu ở tâm hồn; hạnh phúc không hoàn toàn lệ thuộc vào vật chất hay của cải mà người đó làm ra. Như vậy, mối phúc thật thứ nhất có thể nói là mối phúc căn bản, bao gồm các mối phúc thật khác là “Phúc cho ai có tâm hồn hay tinh thần nghèo khó”.

Nhìn lại lịch sử cứu độ, chúng ta nhận thấy ‘người nghèo’ được Thiên Chúa quan tâm nhiều hơn. Vì trong cảnh nghèo, con người có thể dễ làm bạn với Thiên Chúa hơn. Theo truyền thống của Thánh Kinh thì những “người nghèo của Thiên Chúa” không phải là người có đời sống vật chất khó khăn túng quẫn, mà là kẻ trước hết hoàn toàn tin tưởng phó thác cậy trông nơi Chúa, lấy Chúa làm gia nghiệp, và luôn luôn sống trong tình liên đới với anh em đồng loại.

Hơn thế nữa, căn cứ vào những lời giảng dậy của Đức Giêsu, chúng ta nhận ra rằng hoàn cảnh của “người nghèo của Thiên Chúa” là một cơ hội giúp họ nhận ra họ mới thật là người có phúc, là người may mắn, vì chính Thiên Chúa sẽ là hạnh phúc của họ.

Nói chung, các mối phúc thật xét về mặt nội dung thì cũng chỉ là mối phúc thật duy nhất: “Phúc cho những người sống tinh thần nghèo khó”. Và, chỉ có những người nào sống nghèo mới cảm nhận được sự cần thiết phải nương tựa vào Chúa như thế nào.

Thưa anh chị em,

Vì chúng ta, Đức Giê-su đã trở thành người nghèo nhất. Trong cảnh nghèo tột cùng đó, Người đã để cho quyền năng, sức mạnh và sự giầu có của Thiên Chúa được tỏ hiện. Như vậy, sau cùng các mối phúc thật hôm nay đều quy về một mối: Phúc cho ai có lối sống như Đức Giêsu.

Thật ra, phúc lành của Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người, không phân biệt và cũng không loại trừ một ai. Tuy nhiên, với những ai đang sống cảnh nghèo đói và bị ngược đãi thì họ dễ dàng nhận ra lời chúc phúc của Thiên Chúa dành cho mình hơn. Nhờ nhận ra niềm hạnh phúc đó họ mới cảm nhận được sự an ủi để buớc đi tiếp.

Nói như thế thì một khi chúng ta sống theo tinh thần và những lời hứa của các mối phúc thật trong bài Tin Mừng hôm nay là lúc chúng ta nhìn thế giới bằng chính cái nhìn của Thiên Chúa. Thật vậy, các mối phúc thật đi ngược lại tinh thần và lối sống của thế gian. Các mối phúc thật thách đố chúng ta không nhìn mọi sự theo cách suy nghĩ thông thường của con người, nhưng theo một cái nhìn mới trong đức tin, nhìn như Thiên Chúa nhìn thế giới.

Vì thế, hôm nay khi suy niệm ý nghĩa của các mối phúc thật đối với đời sống mình thì chúng ta cũng được khích lệ và tin rằng, dù đang sống giữa bao khó khăn hằng ngày, chúng ta vẫn sống trong niềm vui và niềm hy vọng. Đồng thời, các mối phúc thật cũng thách đố chúng ta: tuy đang sống trong thế gian này, nhưng chúng ta không thuộc về thế gian này. Chúng ta sống với ánh mắt hướng về thế giới mai sau, nơi chỉ một mình Thiên Chúa là nguồn mạch và cùng đích của niềm vui, lời ca tụng và bình an của chúng ta. Và khi để Thiên Chúa thực sự là Thiên Chúa của chúng ta, thì ngay tại đây và lúc này, chúng ta đã có thể đạt được hạnh phúc.

Trong tinh thần đó, chúng ta có thể tuyên xưng hay nói với nhau rằng: những điều chúc phúc của Đức Giê-su trong các mối phúc thật mà tai chúng ta vừa nghe đã được ứng nghiệm một cách thật hữu hiệu trong cuộc sống nghèo nhưng luôn lệ thuộc vào Thiên Chúa là nguồn và cùng đích hạnh phúc của chúng ta. Amen!