Sunday, 29 March 2026

VINH QUANG CỦA THÁNH GIÁ LÀ NIỀM VUI PHỤC SINH

Click for audio VINH QUANG CỦA THÁNH GIÁ LÀ NIỀM VUI PHỤC SINH

Anh chị em thân mến,

Cùng với toàn thể Hội Thánh, chúng ta khai mạc Tuần Thánh bằng việc đón tiếp Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem. Với những nhành lá vạn tuế kèm theo những lời tán tụng, chúng ta đón tiếp Chúa như một quân vương. Nhưng vài ngày sau, trên con đường khổ nạn chỉ còn lại có mình Người. Mẹ của Người và các người thân tín chỉ dám đi xa xa để trông chừng. Chúa Giêsu hoàn toàn cô đơn. Không còn những lời tung hô; thay vào đó là những lời lên án. Cũng chẳng còn những nhành lá biểu lộ sự vui mừng, mà là cây thập giá. Gia tài mà Chúa để lại cho chúng ta là thế: một cái chết cô đơn, tủi nhục như một phạm nhân trên thập giá.

Thưa anh chị em,

Vào thời Đức Giê-su, chết trên thập giá là một án tử hình dành cho các tội nhân. Và án này được chính quyền Roma đặt ra để áp dụng cho người Do thái. Hàng năm có rất nhiều người bị treo trên thập giá. Nhưng tại sao chỉ có mình việc Chúa bi treo và chết trên thập giá lai được lưu truyền cho đến ngày nay. Sự chết của Đức Giêsu đã có ảnh hưởng gì trên cuộc sống của anh em tín hữu tiên khởi, đến nỗi qua bao thế hệ, hàng hàng lớp lớp vẫn vui vẻ dấn thân vì lợi ích của người khác cho dù phải hy sinh chính bản thân mình.

Chúng ta cần tìm ra những giá trị đích thực của con đường Thánh Giá mà Chúa đã đi qua. Điều đó có ảnh hưởng gì trên cuộc sống của chúng ta.

Sau nhiều lần chuyện vãn với anh chị em về những khó khăn trong đời sống gia đình. Tôi thường được nghe anh chị em phàn nàn là chúng con đang vác thánh giá bùn. Thánh giá bằng bùn thì dễ trươn chượt nên rất khó vác. Phàn nàn là bản tính của con người. Nhưng một điều đáng mừng là anh chị em chưa quăng cây thánh giá bùn đó. Dù người nào muốn quăng hay có ý định quăng đi, thì tôi xin có một lời khuyên là nên suy nghĩ lại. Bởi vì, quăng cây này anh chị lại tìm được cây khác giống như hệt cây đã quăng đi. Hãy học noi gương Chúa.

Người cũng than van, lo sợ… Và chắc một điều là Thập Giá mà Người đã vác khi xưa, không chỉ nặng về phần thể lý mà thôi. Đau khổ về phần xác không sánh gì với nỗi thống khổ của sự cô đơn, bị bỏ rơi trơ trọi một mình. Nhưng cuối cùng là một sự đón nhận trong yêu thương khi nhận biết đó là ý muốn của Cha Người, Đấng mà Người hết lòng tùng phục trong yêu thương.

Thập giá là đích điểm của mọi đau khổ mà Chúa đã chịu, nhưng bề sâu của Thập giá là một sự hòa hợp nên một trong Tình Yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Nơi đó sự chết và tội lỗi bị phá hủy để nhường lại sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa. Thập giá còn biểu lộ sự bất lực của con người và biểu dương sức mạnh vô song của Thiên Chúa. Nhìn vào thánh giá ta thấy bình minh của ngày Phục sinh đã hiện tỏ.

Thưa anh chị em,

Đã hơn 2000 năm qua đi, tất cả những gì xảy ra thời Đức Giêsu vẫn còn tiếp diễn. Mỗi người chúng ta cũng được Đức Giêsu mời theo Người: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”. Vác thập giá hôm nay chính là đón nhận những thử thách như bệnh tật, thất bại, bị bỏ rơi, những lời sỉ nhục đầy bất công... Đó là những thập giá do Chúa gửi đến để thanh luyện lòng tin của chúng ta được kiên vững mà trung tín với ơn gọi đi theo con đường của Chúa. Con đường tuy hẹp nhưng lại thênh thang vì có nhiều bạn hữu cùng đi. Con đường tuy khiêm tốn nhưng biểu lộ sức mạnh và lòng quyết tâm phục vụ tha nhân.

Con đường Thập Giá mời gọi chúng ta đi vào cái chết – cái chết cho chính mình, cái chết cho tính kiêu ngạo, chết cho cái tôi đáng ghét của mình. Khi nói đến con đường Thập giá mà đích điểm là sự chết, tôi nghĩ đến đời sống cộng đoàn. Và cụ thể là cuộc sống gia đình. Sau đây là vài nét suy tư về mối liên hệ giữa hôn nhân và Thánh giá.

Hôn nhân là trường học mà những ai đã bước vào thì không mong có ngày ra trường. Cha mẹ con cái chuyên cần học tập luôn mãi, học cách lắng nghe nhau, học cách phục vụ, học tôn trọng và đặt nhu cầu của người khác lên trên nhu cầu của bản thân.

Điều gì sẽ xảy ra nếu trong hôn nhân, chúng ta luôn tôn trọng và đặt nhu cầu của người phối ngẫu trên nhu cầu của cá nhân mình. Hẳn nhiên là một nếp sống an bình và vui tươi sẽ bao trùm những ai đã chọn lối sống như thế. Trên thực tế, chúng ta đã áp dụng lối sống thua cuộc trong việc giáo dục con cái thì tại sao chúng ta lại không làm được với người bạn đường của mình. Phải chăng là cái tôi đã quyến rũ và làm chủ khiến chúng ta mất phương hướng!

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta dành thời gian còn lại của cuộc sống để tôn trọng và đặt nhu cầu của người phối ngẫu lên trên nhu cầu của mình?

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta ngừng tính toán mà chỉ biết cho đi bằng những lời nói và cử chỉ yêu thương và tha thứ cho những lỗi lầm của nhau!

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta chết đi cho những nhu cầu của chính mình và yêu thương người khác tha thiết hơn.

Điều gì sẽ xảy ra nếu trong Tuần Thánh này, chúng ta cùng vác Thánh Giá bùn bằng cách buông bỏ lối sống cũ mà chúng ta đã sống trong hôn nhân của mình?

Đây không phải là điều vợ làm cho chồng hay chồng làm cho vợ. Đây là cách Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta sống trong hôn nhân. Nếu chúng ta làm đi làm lại điều này, với sự kiên nhẫn và dũng cảm cần thiết, chúng ta thấy sự khác biệt sẽ xẩy ra trong cuộc sống chung.

Vì thế, trong tuần này chúng ta cùng với toàn thể giáo hội suy niệm về mầu nhiệm Thập giá không phải để thất vọng vì gánh nặng của tội lỗi, mà trái lại để cảm nếm được hồng ân bao la của Chúa, để cho tâm hồn vui tươi và bình an hơn. Suy gẫm về hành trình thương khó và thập giá để cảm nếm được ơn tha thứ của Người. Như thế, chúng ta cũng được mời gọi để cảm thông, để tha thứ hơn đối với người anh em của chúng ta. Càng nhận ra được tình yêu tha thứ của Chúa, chúng ta càng được mời gọi để tha thứ nhiều hơn. Càng tha thứ nhiều hơn, chúng ta càng dễ cảm nếm được ơn tha thứ của Chúa hơn.

Và sau cùng, qua hành trình Thập giá, chúng ta sẽ cảm nghiệm được sức mạnh của Chúa Giêsu Phục Sinh, Đấng đang hiện diện để yêu thương và mời gọi chúng ta ra đi để trao ban tình yêu đó cho tha nhân. Ước gì Thập giá của năm nay không còn là những gánh nặng của cuộc đời nhưng chúng ta vui và tiến bước vì biết rằng chúng ta thật diễm phúc được Chúa mời gọi để chia sẻ hồng ân cao quí này. Amen!


Wednesday, 18 March 2026

SỐNG HAY CHẾT ĐỀU THUỘC VỀ CHÚA.

Click for audio SỐNG HAY CHẾT ĐỀU THUỘC VỀ CHÚA.

Hầu hết các Kitô hữu, thậm chí nhiều người ngoài Kitô giáo, đều biết câu chuyện Đức Giê-su hồi sinh La-da-rô như được kể trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an. Bài Tin Mừng này thường được công bố vào các dịp lễ cầu hồn và an táng, cho nên khá quen thuộc với mỗi người chúng ta.

Câu chuyện được bắt đầu bởi việc em trai của Mar-tha và Ma-ri-a là La-da-rô bị đau. Thái độ của Đức Giê-su khi được báo tin làm chúng ta ngạc nhiên. Căn cứ vào tình bạn và lòng thương mến mà Đức Giê-su dành cho gia đình của ba chị em này, cứ như lẽ thường mà nói thì khi vừa nhận được tin, Người sẽ lập tức lên đường để thăm họ ngay. Nhưng xem ra Người không chỉ dửng dung mà còn thản nhiên phán rằng căn bịnh của La-da-rô sẽ không làm ông chết, nhưng là dịp mà vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện và Con Thiên Chúa được tôn vinh. Căn cứ vào trình thuật của Tin Mừng thì Đức Giêsu đã ở thêm tại nơi đó vài ngày nữa rồi mới đi Bê-ta-ni-a. Vì thế, khi đến nơi thì La-da-rô đã chết.

Trong tình huống đó, Đức Giê-su đã phải đối mặt với kiểu vừa hờn dỗi vừa tin tưởng của hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a. Chúng con đã báo cho Thầy biết về tình trạng sức khỏe của người bạn của Thầy và cũng là chú em của chúng con là La-da-rô thế mà giờ này Thầy mới đến; giả như Thầy đến ngay thì em con đã không chết. Tuy nhiên, chúng con biết Thiên Chúa có bao giờ từ chối lời cầu xin của Thầy bao giờ. Vừa hờn dỗi vì quá đau khổ về sự mất mát người em thân yêu, mặt khác các cô lại tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa hoạt động nơi Đức Giê-su. Nói chung thì phản ứng của hai cô cũng là bản tính của chúng ta. Con người thời nào cũng thế!

Sau đó Đức Giê-su được hai cô đưa đến ngôi mộ, có đám đông đi theo Người. Đến chỗ chôn cất La-da-rô, Chúa xúc động và đã khóc. Sau đó, Đức Giê-su yêu cầu họ đem phiến đá chắn cửa mộ đi và sau khi hòn đá được lăn đi, Đức Giê-su lên tiếng gọi ‘La-da-rô, ra đây!’ Lập tức, La-da-rô trỗi dậy, bước ra khỏi mộ. Trong khi đi ra, tay và chân còn bị trói bằng dải vải và mặt còn phủ khăn. Và Đức Giêsu ra lịnh cởi trói cho anh ta để anh ta được tự do đi lại. Câu chuyện chỉ có thế!

Mặc dầu câu chuyện được kết thúc bởi việc Đức Giê-su ra lịnh cởi trói cho La-da-rô và để anh ta đi. Nhưng chúng ta biết rõ rằng sau này La-da-rô rồi cũng chết.

Thưa anh chị em,

Trong mấy tuần vừa qua, chúng ta đã được nghe tường thuật về các cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người phụ nữ xứ Sa-ma-ri-a, qua câu chuyện đó, Đức Giêsu đã mạc khải cho chúng ta biết Người là nước truờng sinh, ai đến với Người sẽ không khát nữa. Bởi vì, khi gặp gỡ Đức Giê-su mọi nỗi khát vọng của con người đều được Đức Giê-su lấp đầy và họ sẽ không còn khao khát thêm điều gì nữa. Sau đó, trong cuộc gặp gỡ với người mù từ thủa mới sinh, Đức Giê-su làm cho ông ta nhìn thấy. Việc làm này khẳng định điều Người đã phán ‘Ta là ánh sáng thế gian.’ Ánh sáng chiếu soi và dẫn con người đến sự sống.

Các cuộc gặp gỡ này nhắc nhở cho chúng ta nhớ lại các kinh nghiệm thực tế trong cuộc đời mình và Chúa. Đến và gặp gỡ Chúa là những trải nghiệm trong cuộc sống của những kẻ tin. Đó là những kinh nghiệm thực tế, không dựa vào sách vở hay kiến thức. Nhưng là cuộc gặp gỡ bằng xuơng bằng thịt giữa những người khao khát và yêu mến lấp đầy sự thiếu thốn của nhau.

Hôm nay qua dấu lạ làm cho La-da-rô hồi sinh, Đức Giê-su muốn nhắn gửi chúng ta một sứ điệp là chúng ta không cần chờ đến ngày sống lại mới nhận ra vinh quang của Thiên Chúa, mà ngay lúc này, trong giây phút này, Chúa đã là sự sống và sự sống lại của chúng ta.

Tất cả chúng ta đều biết rằng sự chết là kẻ thù cuối cùng mà chúng ta cần chiến đấu và triệt hạ. Và chỉ có Chúa, Đấng chiến thắng và đè bẹp sự chết mới giúp chúng ta đạt được điều đó. Vì thế, trọng tâm của bài Tin Mừng hôm nay là điều mà Chúa nói với Martha “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không?”

Tôi tin! Nhưng trong cuộc sống, tôi phải thể hiện niềm tin đó như thế nào.

Khi dấn thân vào cuộc sống theo chân Đức Giê-su là lúc chúng ta được mời gọi đi con đường hẹp, con đường chết đi cho ‘cái tôi’, chết đi cho ý riêng, chết đi cho tính ích kỷ, rồi ra đi để quan tâm và lo lắng cho người khác. Nói chung, chúng ta được gọi ra từ ngôi mộ để bước ra cuộc sống tự do của những người làm con Thiên Chúa.

Vấn đề chính yếu, đối với chúng ta là những người theo chân Chúa, trước hết không phải là việc chúng ta sẽ ra khỏi mồ một ngày kia, mà ngay từ bây giờ, chúng ta đuợc mời gọi đi từ sự chết sang sự sống bằng một đức tin gắn bó vào bản thân Đức Giêsu.

Tin vào sự sống lại không chỉ là việc nhìn nhận những gì sẽ xẩy đến cho cá nhân mình sau khi chết. Nhưng đó là điều cần được thể hiện ngay trong cuộc sống này. Niềm tin vào sự sống lại đòi buộc chúng ta phải chọn lựa một cách sống phù hợp với niềm tin đó ngay trong lúc này. Không cần phải chờ đến sau khi chết. Có nghĩa là, tôi phải tìm chỗ tựa bảo đảm đưa tôi đến cuộc sống vĩnh cửu.

Hôm nay điểm tựa ấy được giới thiệu, đó chính là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Nhờ tin vào Người, tôi nhận thấy cái chết không còn là một sức mạnh làm tôi phải thất vọng nữa. Tuy đó là định mệnh bi đát mà con người phải gánh chịu. Nhưng chết lúc đó chỉ có tính cách tạm thời và đó là cửa ngõ đưa tôi vào cuộc sống vĩnh cửu.

Trên thực tế, chúng ta vẫn nhìn thấy và nhận ra bao dấu chỉ cho thấy sự chết đang tìm cách lan tràn, nhưng sự sống vẫn mạnh mẽ vươn lên. Dựa vào mình, sống theo tính ích kỷ và kiêu ngạo, con người sẽ rơi vào thất vọng khi đối diện với những giới hạn của thân phận thọ tạo. Đức Giêsu mời gọi chúng ta vượt qua những giới hạn này. Nhờ sức mạnh của Thánh Linh, chúng ta can đảm buớc ra khỏi ngôi mộ đã chôn mình, cởi bỏ những thứ ràng buộc đã trói buộc mình, trỗi dậy, bước ra và đi lo cho người khác.

Chúng ta còn biết rằng lối sống quảng đại và lo cho nhau là chứng từ thuộc về Chúa, chứ không thuộc về ai khác. Mà đã thuộc về Chúa thì làm gì còn chết; dù sống hay chết chúng ta đều thuộc về Chúa. Thuộc về Chúa là lối sống hy sinh, cho đi trong yêu thuơng. Đó là con đường dẫn chúng ta đến sự sống muôn đời.

Uớc mong mỗi người chúng ta biết sống theo lối sống thuộc về Chúa, nhất là trong Tuần Thánh này, chúng ta sẵn sàng chết đi cho ý riêng, chết đi cho tội lỗi để cùng bước đi với Chúa trong hành trình khổ nạn mà hoàn tất ý định yêu thương của Chúa Cha để ban ơn cứu độ cho chúng ta. Amen!


Wednesday, 11 March 2026

AI SÁNG, AI MÙ!

Click for audio AI SÁNG, AI MÙ!

Trong bài Tin Mừng tuần trước, Thánh Gio-an đã thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người phụ nữ xứ Sa-ma-ri-a tại bờ giếng Gia-cóp. Bà đã được biến đổi và tin rằng chỉ có Chúa mới lấp đầy nỗi khát vọng của con người mà thôi. Hôm nay, sau khi tham dự các nghi lễ tại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, trên đường đi ra, Đức Giê-su và các môn đệ nhìn thấy người mù từ lúc mới sinh.

Trước ngày hôm nay, người mù ngồi đó mà như không có. Anh không nhìn thấy ai và người ta cũng không nhìn thấy anh như một tạo vật của Thiên Chúa. Người ta coi sự mù lòa của anh là hậu quả của tội lỗi.

Hôm nay, với Đức Giê-su, người mù đã trở thành tạo vật mới. Sự hiện diện của anh là một bằng chứng sống động để tôn vinh Thiên Chúa. Tuy nhiên, những người hàng xóm, những viên chức lãnh đạo và thậm chí cả cha mẹ anh vẫn không nhìn ra công trình của Thiên Chúa đã làm anh thay đổi!

Như vậy giữa anh và họ, ai bị mù?

Trước hết chúng ta hãy xem thái độ của các môn đệ. Họ nhìn anh và thấy một câu hỏi thần học: thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này vừa sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta? Tầm nhìn của họ đã bị bóp méo bởi họ tin rằng đau khổ, bịnh tật và sự chết là hậu quả của tội lỗi. Còn đối với Đức Giê-su, Người biết phải làm gì. Người đến để đem ánh sáng cho trần gian và ánh sáng đó hôm nay được thể hiện qua một việc làm rất cụ thể là làm cho người mù từ thủa mới sinh được nhìn thấy. Qua dấu lạ này Đức Giê-su đã bộc lộ vinh quang của Thiên Chúa nơi Người.

Sau khi làm cho người mù được sáng mắt, Đức Giê-su biến mất, nhường lại vị trí cho người vừa được sáng mắt có cơ hội làm chứng và tuyên xưng niềm tin của ông. Ông đã trở nên tạo vật mới. Từ trước đến giờ ông chưa nhìn thấy điều gì; đây là lần đầu tiên ông nhìn thấy ánh sáng. Ánh sáng thể lý mà ông vừa được sáng tạo là bước đầu dẫn ông nhận ra nguồn sáng thiêng liêng mà ông nhận được từ Đức Giê-su, Đấng đã lấy bùn làm thuốc dẫn sai anh đi và anh đã đi, đã rửa và đã nhìn thấy.

Trong khi đó, với những người láng giềng thì anh vẫn bị xem như là người bị mù. Quả thật đây là hai hình ảnh trái ngược nhau: người vừa được sáng mắt đã nhìn thấy, còn những người láng giềng không nhìn thấy diễn tiến của sự việc, nên họ không nhận ra việc anh được sáng mắt. Họ tưởng là mắt của họ sáng, nhưng thực ra họ không nhìn ra sự thay đổi mà Đức Giê-su đã làm cho người mù, cho nên họ vẫn mù tối trong lối suy nghĩ và trong cái nhìn bị đóng khung của họ.

Sau đó, anh bị dẫn đến trình diện những người lãnh đạo tôn giáo, thuộc phái Pha-ri-sêu. Hai lần họ thẩm vấn anh. Hai lần anh đã làm chứng và tôn vinh Thiên Chúa. Anh đã dõng dạc trả lời cho họ biết rằng “Đức Giê-su là một ngôn sứ.” Một bước tiến trên hành trình đức tin của anh được tỏ hiện khi tuyên xưng Đức Giê-su là ngôn sứ. Trong khi đó, mắt của những người thuộc phái Pha-ri-sêu vẫn bị đóng kín bởi lối suy nghĩ dựa vào truyền thống của họ. Họ mù quáng vì đã chọn không nhìn vào các dấu chỉ mà Đức Giê-su đã thực hiện. Họ đã chọn quyền lực, qui tắc, truyền thống, tập tục và giai cấp để đối chọi với sự thật mà Đức Giê-su đem đến; cho nên họ không nhận ra Người là Đấng Cha sai đến, là Ánh Sáng cho trần gian.

Ngay cả cha mẹ anh cũng không muốn xác nhận những gì đã xẩy đến cho anh. Họ không muốn dính vào sự thay đổi mà con của họ vừa mới trải qua. Họ xác nhận về cuộc sống quá khứ của anh. Con của họ bị mù từ thủa mới sinh, và đó không phải là lỗi của họ. Còn những gì vừa xẩy ra cho anh thì họ chối là không biết gì cả. Họ không dám làm chứng cho sự thật vì sợ bị trục xuất khỏi hội đường.

Nói chung, tất cả mọi người, từ cha mẹ anh đến những người hàng xóm và những người lãnh đạo tôn giáo thời đó, đã nhìn nhưng không ai thấy anh. Bởi vì, nếu họ thấy anh thì họ sẽ phải đối diện với sự mù quáng của họ. Sự khác biệt giữa anh và họ là anh biết anh bị mù, còn họ tưởng mình sáng mắt nên họ phải trả lời cho đôi mắt không nhìn thấy của họ, như Đức Giê-su đã phán dậy: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘Chúng tôi thấy,’ nên tội các ông vẫn còn.

Sau khi người mù vừa được sáng mắt bị trục xuất thì Đức Giê-su, người đã bị trục xuất trước, đến gặp anh. Trong cuộc gặp gỡ này Đức Giê-su bộc lộ căn tính của Người, lập tức vừa nghe đến đó anh vội vàng quỳ xuống và tôn vinh Người. Anh đã thấy và anh đã tin Đức Giê-su, Người vừa ban ánh sáng cho anh, là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa và để nhờ tin mà anh và chúng ta có sự sống nhờ Danh Người. Anh đã đi đến đích điểm của lòng tin, trong khi đó những người tự nhận mình là sáng mắt lại cứ sống trong u tối vì tự trói mình trong ‘sự khôn ngoan’ của một hệ thống tôn giáo đóng kín của họ!

Thưa anh chị em,

Nhờ tin vào Danh của Đức Giê-su mà chúng ta có sự sống, chúng ta được chiếu sáng. Nhưng trên thực tế, chúng ta vẫn còn đi trong bóng đêm, vẫn còn sống trong mù lòa. Mù không phải vì không nhìn thấy gì. Mù cũng không phải về bóng tối đang bao phủ quanh chúng ta. Thật ra chúng ta mù vì định kiến, vì bóng tối trong ta che lấp mọi sự. Nó bao gồm cách chúng ta nhìn người khác và những gì chúng ta nhìn thấy chung quanh mình.

Sau đây là một sự việc mà chúng ta gặp và vấp phải hàng ngày. Truyện kể như sau.

Số là, trong một xóm giáo kia có một gia đình trẻ mới dọn đến. Họ được bà chủ nhà và những người hàng xóm làm quen và tìm cách giúp đỡ.

Vào một ngày nọ, bà chủ nhà nhìn ra cửa sổ nhà của bà và nhận xét: “Ôi trời ơi, nhìn kìa, sao cô gái trẻ mới đến thuê căn flat của nhà mình lại phơi những bộ quần áo bẩn lên dàn phơi như thế.”

Ngày hôm sau, bà lại tiếp tục than phiền: “Ôi trời ơi, nhìn quần áo của mấy đứa trẻ con của họ, sao mà bẩn thế…” Rồi bà nghĩ rằng người phụ nữ trẻ kia chắc không biết giặt quần áo, hoặc có lẽ gia đình cô ấy chưa sắm được một chiếc máy giặt tốt.

Chuyện này cứ tiếp diễn hết lần này đến lần khác, và người chồng của bà nghe bà phàn nàn mà ông vẫn không nói gì cả.

Rồi vào một buổi sáng sớm kia, bà gọi chồng ra nhìn qua cửa sổ và nói: “Anh ơi, hãy nhìn, nhìn cho rõ! Sao hôm nay, quần áo của cô ấy và các con lại sạch và mới quá. Chắc là có ai đó đã dạy cô ấy cách giặt, hoặc có lẽ cô ấy mới mua một chiếc máy giặt hiện đại.”

Lúc đó, người chồng mỉm cười và chỉ nhẹ nhàng trả lời: “Thật ra sáng nay anh đã dậy sớm hơn và lau sạch cửa sổ của nhà mình.”

Từ câu chuyện này, chúng ta có thể thấy rằng trong cuộc sống đã nhiều lần cách chúng ta nhìn người khác bị che mờ bởi thành kiến, sự ghét bỏ, cơn giận dữ, hay lòng kiêu ngạo… Vì thế chúng ta hãy tự hỏi: nếu những điều đó cản trở chúng ta, thì điều gì sẽ dẫn người khác đến với Đức Kitô?

Từ kinh nghiệm chung của chúng ta, khi nhìn lại cuộc đời mình, chúng ta nhận ra rằng những người giúp chúng ta trưởng thành chính là những người nâng đỡ và cảm thông với chúng ta, chứ không phải những người phán xét và kết án chúng ta đâu!

Chính vì thế cho nên chúng ta hãy nhìn Thiên Chúa, con người, sự vật hay hoàn cảnh như đã được xẩy ra như ý muốn của Người khi tạo dựng chúng ta và vũ trụ này. Tất cả mọi sự Thiên Chúa dựng nên đều tốt đẹp!

Và nếu chúng ta muốn thấy Chúa, nhìn ra cuộc sống mình và những người khác như họ thực sự hiện diện thì mắt chúng ta phải được Đức Ki-tô mở ra trước. Chúng ta phải thay đổi, không chỉ nhìn bằng đôi mắt, mà bắt đầu tập nhìn bằng trái tim nhân hậu mà Thiên Chúa đặt để trong mình.

Muốn được như thế, chúng ta cần khám phá Đức Giê-su là ai trong cuộc sống của mình trước? Chúng ta có nhận ra tình yêu thương của Đức Giê-su trong tôi không? Bởi vì nếu chúng ta không cảm nhận tình yêu của Người trong cuộc sống mình thì cách cư xử của chúng ta giống như những người láng giềng, như những người lãnh đạo, thậm chí giống như cha mẹ của người mù mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin Mừng hôm nay. Họ không nhìn nhận các diễn tiến xẩy ra trong cuộc sống của anh.

Tất cả chúng ta đều bị mù trong cuộc sống. Và trong hoàn cảnh bị mù lòa mà cứ tưởng mình sáng mắt, nên chúng ta dần dần đánh mất tình yêu, tiêu hủy dần dần các mối quan hệ khi chúng ta sống trong sự cạnh tranh, luôn ước ao chiếm vị trí đầu trong mọi công tác để tìm sự tán dương và khen thưởng nơi người khác. Chúng ta bị sức ép của danh vọng, uy quyền và tiếng khen chi phối. Chúng ta lầm tưởng rằng những gì chúng ta có được là do cố gắng và năng lực của bản thân mà quên đi bao đóng góp, hy sinh của nhiều người đã gầy dựng và hình thành trong cuộc sống mình.

Sau cùng, chúng ta hãy xin Chúa mở mắt để nhận ra sự hiện diện của Đức Giê-su trong cuộc sống mình và có cái nhìn như cái nhìn của Chúa trong cách cư xử với nhau. Amen!


CUỘC GẶP GỠ ÂN TÌNH

 Click for audio CUỘC GẶP GỠ ÂN TÌNH

Bài Tin Mừng Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Chay năm nay thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người phụ nữ xứ Samaria tại bờ giếng Gia-cóp. Người phụ nữ đi lấy nước vào giữa trưa, giờ nắng gắt nhất. Không ai đi lấy nước vào lúc giữa trưa trong một ngày nóng bức cả, trừ phi người đó không dám gặp ai hết. Chi tiết này giúp chúng ta đoán ra rằng có lẽ chị muốn tránh ánh mắt của người đời vì trong lòng của chị đang có những vết thương và mặc cảm.

Nhưng điều quan trọng là chính lúc ấy, Chúa Giêsu đang chờ chị!

Dựa vào tình tiết của câu chuyện, chúng ta biết chị đã từng sống chung với năm người đàn ông khác nhau và không có người đàn ông nào là chồng của chị cả. Đó là sự thật chị cần phải đối diện chứ không nên tránh né. Xét cho cùng, không lẽ một người phụ nữ, do hoàn cảnh, đã phải chung sống với năm ông khác nhau mà không một ông nào là chồng của chị, cuối cùng lại bị kết án là do tội của chị gây ra hay sao?

Người ta dùng luật để lên án, buộc tội rồi xa lánh chị. Chị bị coi thường và sống rất cô độc. Chị cố gắng giành lấy tình yêu để lắp đầy nỗi trống vắng và tâm hồn cô đơn của chị. Rồi cũng chính chị lại bóp nghẹt và giết chết tình yêu bằng lối sống ‘mò mẫm, vụng về trong yêu thương’ của chị.

Sau cùng, giống như tất cả chúng ta, trong nỗi đau khổ tột cùng của cuộc sống, chị chán nản và lâm vào tình trạng ‘trầm cảm’, không còn nhận ra giá trị con người trong cuộc sống của chị nữa. Cho đến hôm nay, lần đầu tiên trong đời, chị gặp một người đàn ông tên là Giê-su, một con người chỉ biết yêu và cho đi.

Còn về phần Đức Giê-su, Người muốn dùng cuộc gặp gỡ này để mở cho chị một con đường mới, con đường của sự thật, con đường dẫn chị đến việc nhận ra Chúa là Đấng Cứu Độ. Đàng sau quá khứ của chị, Đức Giê-su đã nhìn thấy hình ảnh xinh đẹp của một con người. Người mong muốn hình ảnh đó được tái tạo và không cần chị đền đáp hay trả ơn. Người trao ban cho chị món quà tặng nhưng không.

Đức Giêsu bắt đầu cuộc đối thoại bằng cách ngỏ lời xin nước để uống cho đỡ khát. Một lời xin rất thực tế và phù hợp với hoàn cảnh của Đức Giê-su. Đức Giê-su chuyển vai rất khéo, thay vì ban ơn thì Người lại xin chị. Bằng cách này Đức Giê-su tự đặt bản thân của Người vào một mối quan hệ với người phụ nữ đó. Điều này giúp chị nhận ra rằng sự hiện diện của chị trên cõi đời này thật có giá trị. Đây là lần đầu tiên chị có cảm giác rằng mình thật đáng quí. Có người cần đến chị.

Đức Giê-su đang ở trước mặt chị. Người không ở xa. Người đang hiện diện và mời chị bước vào mối tương quan do Người thiết lập. Người biết rõ và chấp nhận quá khứ của chị. Không cần phải lo lắng hay tìm cách để bào chữa nữa. Người thương yêu chị và chính tình yêu này là cánh cửa mở cho chị một cuộc sống mới. Chúa không lên án. Mời chị nhìn nhận sự thật, tạo cho chị thêm can đảm để đối diện với nỗi khao khát chân thật, xuất phát từ cõi lòng của chị. Chỉ có như thế, Chúa mới có dịp để lấp đầy.

Anh chị em thân mến,

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người đàn bà xứ Sa-ma-ri-a được công bố trong Mùa Chay nhắc cho chúng ta nhớ rằng Đức Giê-su mong muốn gặp chúng ta. Hy vọng chúng ta mở cửa lòng để đón nhận lời mời của Chúa hôm nay.

Thật vậy, Mùa Chay là cơ hội đặc biệt mà Thiên Chúa dùng để thu hút chúng ta trở về với nguồn suối tình yêu của Người. Chúng ta không ngồi đó, dán mắt nhìn vào cuộc sống của quá khứ, ân hận, than trách rồi để cho mặc cảm tội lỗi đè nén khiến chúng ta không vươn ra khỏi chính mình. Trái lại, khi để cho cuộc sống của mình vào trong quĩ đạo tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta thấy rõ hơn tình Chúa thương yêu ta đến dường nào. Người yêu thương chúng ta khi chúng ta còn là tội nhân.

Chúa đang nói với mỗi người rằng: hãy nhìn Thầy! Đừng tập trung và dán mắt nhìn vào cảm giác tội lỗi rồi làm cho chúng ta sợ hãi! Hãy nhảy vào vòng tay yêu thương của Người để cảm nhận tình yêu thương chan chứa của Người dành cho ta! Thiên Chúa chờ đợi và mời chúng ta đi vào mối quan hệ gắn kết và yêu thương của Người. Chúng ta đuợc dựng nên cho Chúa và chỉ có Chúa mới thỏa lấp đuợc nỗi khát khao trong cuộc sống của chúng ta mà thôi!

Thiên Chúa chọn ta trước khi ta đáp trả lời mời gọi của Người. Đức Giê-su chủ động trong việc thiết lập quan hệ với chúng ta. Quá khứ tội lỗi, cuộc sống lộn xộn của chúng ta không làm cho Người thay đổi ý định. Trái lại, cuộc sống của chúng ta càng lộn xộn, chúng ta càng cần tình yêu của Người và Người càng muốn yêu chúng ta hơn.

Đức Giê-su khao khát được ở bên chúng ta, để chúng ta nói chuyện và chia sẻ cuộc sống của mình với Người. Đó là những gì mà người đàn bà xứ Sa-ma-ri-a đã trải qua và ngày hôm Đức Giê-su cũng muốn cho chúng ta bước vào hành trình tìm kiếm để gặp gỡ và cảm nhận tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Chúa đang đợi ta bên các giếng nuớc của cuộc đời. Và cũng tại các nơi đó, còn bao nhiêu người đang khát khao chờ đợi uống nước hằng sống mà Thiên Chúa muốn chúng ta san sẻ cho họ.

Như người đàn bà xứ Sa-ma-ri-a, chúng ta cũng đuợc mời gọi đi gặp Chúa, để từ nay sẽ không còn vất vả băn khoăn tìm nước và của ăn hay hư nát, vì Chúa chính là suối nguồn ân huệ nhưng không của Thiên Chúa, là cùng đích mà cuộc đời chúng ta nhắm đến. Và một khi đã được no thỏa ân tình vô biên của Chúa, chúng ta sẽ mau mắn để ‘vò nước lại’ rồi ra đi trong niềm hân hoan mà chia sẻ ân tình của Chúa cho người khác. Amen!