Monday, 17 August 2026

CÒN BẠN, BẠN NÓI ĐỨC GIÊ-SU LÀ AI?

 CÒN BẠN, BẠN NÓI ĐỨC GIÊ-SU LÀ AI?

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã hỏi các môn đệ hai lần. Lần thứ nhất Đức Giê-su hỏi các ông đã nghe người ta nói Con Người là ai? Sau đó, Đức Giê-su hỏi các môn đệ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”

Các môn đệ thưa với Đức Giê-su rằng: Người thì bảo Thầy là Gio-an Tẩy Giả, kẻ khác lại nói Người là ông Ê-li-a hay Giê-rê-mi-a hay một vị ngôn sứ nào đó. Ngày hôm nay, người ta có thể trả lời nhiều cách: Đức Giê-su là Chúa, là Con Thiên Chúa, là Thầy, là Đường, là sự sống. Những câu trả lời ấy đều đúng. Nhưng Đức Giê-su không chỉ muốn chúng ta lặp lại một công thức đức tin, không muốn nghe chúng ta thuyết trình hay bảo vệ một tiểu luận thần học về câu hỏi Đức Giê-su là ai? Người muốn chúng ta trả lời bằng chính đời sống phụng vụ cũng như đời thường của mình.

Vì thế, câu hỏi quan trọng không phải chỉ là: “Tôi biết gì về Đức Giê-su?” nhưng là: “Tôi sống thế nào để người khác nhận ra Đức Giê-su sống trong tôi?”

Câu trả lời ấy được thể hiện trong những hoàn cảnh rất cụ thể của đời sống: Khi đứng trước bất công, nghèo đói, bệnh tật, chiến tranh, mất mát hoặc cô đơn, chúng ta tuyên xưng Đức Giê-su không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng sự cảm thông, tha thứ, phục vụ và yêu thương. Nếu ta nói Chúa là tình yêu mà lại khép lòng trước nỗi đau của người khác, lời tuyên xưng ấy vẫn còn thiếu sức sống.

Kính thưa anh chị em,

Biết Đức Giê-su không chỉ là biết về Người, nhưng là bước vào tương quan thân tình với Người. Càng gắn bó với Chúa, chúng ta càng hiểu mình hơn; và càng hiểu mình, chúng ta càng nhận ra mình cần đến Chúa.

Vì thế, câu trả lời thật sự không nằm trên môi miệng, nhưng hiện ra trong cách ta sống: yêu thương, phục vụ, nâng đỡ và trung tín mỗi ngày.

Để minh họa cho suy niệm nói trên, chúng ta cùng theo dõi câu chuyện sau.

Trong một lớp giáo lý, dựa vào bài Tin Mừng hôm nay, ma-sơ mới hỏi các em: Còn các con nói Đức Giêsu là ai? Cả lớp nhao nhao, có cháu nói Nguời là Thiên Chúa, cháu khác lại nói là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa… v.v. Gom chung lại thì các cháu nói đúng như văn bản mà chúng ta tuyên xưng với nhau trong các Thánh Lễ Chúa Nhật.

Trong lúc đó, Ma-sơ để ý thấy một bé trai ngồi ở góc lớp, im lặng, mắt nhìn ra cửa sổ, đăm đăm như có chuyện gì khó giải quyết. Sơ đến gần, chăm chú nhìn cháu rồi một lần nữa nhắc lại câu hỏi. Cháu thẫn thờ trả lời: Thưa sơ, con không biết! Con chỉ biết là hiện nay em con đang bị ốm, trong nhà không có tiền để mua thuốc. Ba con là lính xa nhà, hiện đang đóng quân ở một vùng rất xa. Mẹ thì chạy ngược chạy xuôi ngòai chợ… Nếu Đức Giêsu là Chúa thì sao Người không săn sóc cho em con.

Ma-sơ và cả lớp ngạc nhiên truớc câu trả lời của bạn mình. Chẳng ai biết làm gì! Sau cùng, bà sơ nhà ta lấy ra một túi nhỏ, tự mình bỏ vào đó vài đồng cắc và chuyền túi đó cho cả lớp… rồi trao cho em để mua thuốc cho em mình.

Qua việc làm như thế, chúng ta phần nào trả lời được câu hỏi: Đức Giê-su là ai? Câu trả lời không chỉ nằm trong lý trí hay trong những công thức thuộc lòng, nhưng được viết bằng chính cuộc sống. Chẳng hạn, khi ta bớt một ly cà phê để giúp người nghèo, kiên nhẫn lắng nghe một người đang buồn, tha thứ cho người làm mình bị tổn thương, nói một lời bênh vực người bị áp bức và coi thường, hay âm thầm cầu nguyện cho người đang đau khổ. Trong các hoàn cảnh đó chúng ta đang tuyên xưng một cách thật sống động rằng Đức Giê-su đang sống trong ta. 

Nhưng trên thực tế, nhiều khi chúng ta lại chưa sống được như thế. Đã nhiều lần chúng ta khám phá ra sự khác biệt giữa Đức Giê-su mà chúng ta tôn thờ trong các nghi thức phụng vụ với Đức Giê-su trong cuộc sống thường nhật. Đức Giê-su không thay đổi; sự thay đổi nằm nơi chúng ta, vì chưa có sự hiệp nhất giữa điều chúng ta tuyên xưng và cách chúng ta sống. 

Khi viết ra những điều này, tôi hoàn toàn tôn trọng sự chọn lựa câu trả lời và lối sống của anh chị em. Riêng bản thân, tôi phải nhìn nhận rằng thật không dễ để sống trọn điều chúng ta tuyên xưng: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.”

Kính thưa anh chị em,

Phê-rô khi xưa cũng thế. Với bản tính bộc trực, ông đã tuyên xưng “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Nhưng lúc bấy giờ, Phêrô vẫn chưa hiểu hết về Thầy mình. Tuy nhiên, để có thể tuyên xưng như thế, Phê-rô cũng đã nhận được hồng ân như Chúa nói: “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc…” 

Quả thật, ngay lúc này, Phê-rô cũng không biết rõ căn tính và sứ mạng của Thầy mình phải chu toàn. Bởi vì, ngay sau đó, khi Đức Giêsu nói cho các ông biết con đuờng mà Con Thiên Chúa phải đi thì Phêrô lại ngăn cản Người. Lòng của Phêrô thật tốt, ông lo lắng và không muốn Thầy bị đau khổ. Nhưng ông đâu biết rằng ý tưởng và suy nghĩ của ông hòan tòan sai với ý định của Thiên Chúa. Rồi trên đường Thuơng Khó, Phêrô đã chối Thầy đến ba lần… Tuy nhiên, Phêrô cũng là người đã bộc lộ tình yêu và lòng mến dành cho Thầy… 

Nói chung, Phêrô là một con người bộc trực, thẳng thắn, có sao nói vậy, không che đậy, không tính tóan hơn thiệt như các bạn của ông , đã có lần tìm cách trèo lên chỗ cao hơn… Ông tự nhận mình là người tội lỗi… Chính vì thế mà Chúa lại tín nhiệm ông hơn. Những giới hạn của Phêrô chính là điều khiến ông trở nên gần gũi hơn với Đức Giêsu. Chính vì nhận ra mình còn khiếm khuyết và tội lỗi, nên Phê-rô đã nhận ra một điều là muốn đứng vững và hoàn tất nhiệm vụ thì ông phải lệ thuộc và gắn bó vào Thầy mình, Chúa Giêsu Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.

Phê-rô không tự mình là đá tảng. Chính Chúa làm ông trở thành đá tảng; và Người sẽ xây cất công trình như Lời Người phán “anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.” 

Tóm lại, Kê-pha, tảng đá ấy sẽ trở nên vô hiệu nếu không lệ thuộc và gắn bó mật thiết với Chúa.

Vì thế, việc chọn Phê-rô làm đá tảng là việc của Chúa. Còn ông, ông biết rõ nhiệm vụ của mình, và nhiệm vụ đó chỉ có sức mạnh khi ông biết lệ thuộc vào Chúa. Còn chúng ta, chúng ta cũng được mời gọi để biết Đức Giê-su là ai. Chính Người là viên đá góc tường để chúng ta dựa vào. 

Từ viên đá góc ấy, Người mời gọi chúng ta trở thành chỗ dựa cho nhau: cho con cái, cho cha mẹ già yếu, cho người thân đang gặp khủng hoảng, cho người bạn đang mất phương hướng, cho người nghèo đang cần một bàn tay nâng đỡ, và cho bất cứ ai đang tìm một chút hy vọng giữa cuộc đời. Một lời thăm hỏi, một bữa cơm chia sẻ, một lần tha thứ, một sự hiện diện âm thầm bên người đau khổ — tất cả đều có thể trở thành cách chúng ta tuyên xưng niềm tin. 

Do đó, như Phê-rô, chúng ta cũng nên nhớ rằng tảng đá không do mình đặt, nhưng người đặt là Chúa. Việc gắn bó và lệ thuộc vào Chúa là điều quan trọng hàng đầu. Có như thế, chúng ta mới có thể trở thành chỗ dựa vững chắc cho người khác; bằng không, chính chúng ta cũng dễ sụp đổ. Xin Chúa ban cho chúng ta ơn biết trả lời câu hỏi “Còn bạn, bạn nói Đức Giê-su là ai?” không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng chính đời sống yêu thương, phục vụ và trung tín mỗi ngày. Amen!


Monday, 10 August 2026

CUỘC GẶP GỠ TUYỆT VỜI!

 CUỘC GẶP GỠ TUYỆT VỜI!

Cuộc gặp gỡ của Đức Giê-su và người phụ nữ xứ Ca-na-an trong bài Tin Mừng Chúa nhật 20 Mùa thường niên năm A thật tuyệt diệu. Bà tha thiết nài xin Chúa chữa cho cô con gái duy nhất của bà khỏi bị quỷ ám. Cuối câu chuyện Chúa đã chữa cho cô được khỏi bịnh. Nhưng giữa lời cầu xin của bà và việc chữa lành của Đức Giê-su là những lời đối thoại thật khó nghe từ Chúa. Tuy nhiên, cả hai nhân vật trong trình thuật đến với nhau bằng lòng chân thành và cả hai đều ‘khát khao’ tìm cách lấp đầy uớc muốn của nhau cho nên Đức Giê-su và người phụ nữ ngoại giáo đã gặp nhau. 

Sau đây chúng ta cùng nhau tìm hiểu ước mong, lòng can đảm pha chút lỳ lợm của người phụ nữ và tính phổ quát của ơn cứu độ mà Đức Giê-su muốn tỏ bầy.

Người phụ nữ Ca-na-an đã làm một hành động mà ít ai dám làm. Vì là dân ngọai và được coi như kẻ thù của dân Ít-ra-en cho nên việc bà công khai đến gặp Đức Giêsu có thể gây ra nhiều điều dị nghị. Hơn thế nữa, việc bà dám nói chuyện với một nam nhân giữa chốn đông người cũng không phải là hành vi hay cử chỉ của một phụ nữ đoan chính thời đó. Bà sẵn sàng đón nhận những lời chỉ trích và khinh khi từ kẻ khác, thậm chị các lời phê bình này có thể xuất phát từ môi miệng của những người trong nhóm của bà. Bà không còn thời gian để nghĩ đến những điều mà chúng ta vừa nói ở trên. Ngay lúc gặp Đức Giê-su, bà chỉ nghĩ được một điều duy nhất là tìm đến người sẽ chữa cho con bà khỏi bịnh. Chỉ có Tình yêu mới là động lực thúc đẩy bà vuợt qua mọi trở ngại. 

Hòan cảnh của bà thật nghèo nàn. Bà cần giúp đỡ. Điều bà cầu xin nói lên tâm tư của một người mẹ, sẵn sàng làm tất cả mọi sự cho con mình. Cô con gái đó là nguồn vui, lẽ sống và là mọi sự của bà. Thế mà giờ đây, cô bị bịnh nan y, như bị quỉ ám. Bà cần làm tất cả cho con bà. Tình yêu, lòng thuơng xót của bà dành cho cô ta thúc đẩy bà vuợt qua mọi ranh giới. 

Người mẹ ấy sẵn sàng vượt qua mọi ranh giới: ranh giới dân tộc, tôn giáo, tập tục, và cả những lời dị nghị của người đời. Bà không đến để tranh luận, cũng không đến để đòi quyền lợi. Bà đến chỉ để xin Chúa thương: “Lạy Ngài là Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!”

Điều đáng quý là bà biết rõ thân phận của mình. Bà biết mình không thuộc dân Ít-ra-en, không có những đặc ân như dân Chúa chọn. Nhưng bà vẫn tin. Bà tin rằng lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn mọi hàng rào do con người dựng lên. Khi nghe Chúa nói: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”, bà không bỏ cuộc, không giận dữ, không tự ái. Bà khiêm tốn đáp lại: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.” Câu trả lời ấy cho thấy một đức tin thật mạnh mẽ: chỉ cần một mảnh vụn ân sủng của Chúa thôi cũng đủ cứu con bà.

Còn Đức Giêsu thì sao? 

Thoạt nghe, chúng ta thấy Người im lặng, rồi lại nói những lời xem ra cứng cỏi. Người nói rằng mình được sai đến trước hết cho nhà Ít-ra-en. Điều đó đúng với sứ mạng lịch sử của Người. Nhưng Chúa không dừng lại ở đó. Qua cuộc gặp gỡ này, Chúa dẫn các môn đệ và cả chúng ta đi xa hơn: từ một cái nhìn chật hẹp sang một cái nhìn phổ quát và rộng lớn hơn về lòng thương xót, về ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Thật ra, chính nhờ sự kiên trì của người phụ nữ đã dậy chúng ta nhiều điều. Bà không nản lòng. Bà không để cho sự thử thách của Chúa tắt niềm hy vọng nơi bà. Bà chỉ biết tin vào lòng thương xót của Chúa, Đấng chiếm hết tâm hồn và trí khôn của bà. Và khi thấy đức tin của bà, Đức Giê-su đã khen: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật!” Rồi Người chữa lành cho con gái bà. Như thế, Chúa cho thấy: ân sủng và uy quyền của Thiên Chúa là lời đáp trả cho những ai tin vào Chúa. Ai tin sẽ được cứu rỗi, 

Ở đây, chúng ta thấy rõ khuôn mặt thật của Đấng Cứu Thế. Đức Giê-su không chỉ đến cho người Do Thái, nhưng đến cho mọi người. Ơn cứu độ không bị đóng khung trong một dân tộc, một nhóm người, hay một truyền thống nào. Tình thương của Thiên Chúa bao la hơn lòng người tưởng nghĩ. Người đến để đem niềm vui, sự chữa lành và ơn cứu độ cho muôn dân.

Quả thật cũng không sai khi chúng ta cho rằng nhờ vào sự kiên trì pha chút bướng bỉnh người phụ nữ Ca-na-an này mà Đức Giêsu đã có cơ hội bộc lộ chân tuớng đích thật của Đấng Thiên Sai; Đấng đuợc sai đến không chỉ dành cho người Do Thái mà thôi. Người đến để đem nguồn vui và ơn cứu độ cho muôn dân.

Sau cùng, trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, còn một nhóm người nữa. Họ là các môn đệ tượng trưng cho mỗi người chúng ta. Chỉ vì quyền lợi riêng, chỉ muốn được bình an, cho dù là giả tạo, nên đã xin Chúa bảo bà ấy đi để khỏi bị quấy rầy. Chúng ta đã gặp lời yêu cầu này trong trong phép lạ bánh hóa nhiều, khi các môn đệ không nhìn thấu nhu cầu của dân chúng mà chỉ biết đến quyền lợi của phe nhóm mình, muốn giữ lấy Đức Giê-su cho các mục tiêu mà họ đang đeo đuổi.  

Thưa anh chị em,

Khi nghe câu chuyện này, chúng ta dễ nhận ra thân phận mình trong thân phận của người phụ nữ Ca-na-an. Cũng như bà, chúng ta chạy đến với Chúa để xin ơn, cho dù là ơn cứu độ. Nhưng, chúng ta đã kiên tâm như bà hôm nay chưa? Và thay vì xin cho nhu cầu của riêng mình; chúng ta có quảng đại trong lời cầu, xin cho những người đuợc Chúa gửi đến trong vòng tay yêu thuơng của chúng ta hay chưa? Không ai có thể trả lời các câu hỏi nêu trên thay cho chúng ta!

Muốn đạt đuợc nguyện uớc này, chúng ta cần có một trái tim quảng đại và nhậy cảm trước các nhu cầu thể chất và tinh thần của tha nhân mà chúng ta thuờng gặp. Họ không chỉ là những người đồng đạo, cùng chia sẻ một tín ngưỡng, cùng chung một quan điểm với chúng ta. 

Thật ra, còn có nhiều người mà chúng ta liệt họ vào ‘phe khác’; nhưng họ lại có lối sống và niềm tin mãnh liệt hơn chúng ta. Họ xứng đáng đón nhận phần ăn từ trên bàn của chủ, như chúng ta. Nhưng, đã nhiều lần, chỉ vì óc bè phái, tinh thần thủ cựu, khư khư ôm giữ truyền thống và tục lệ mà chúng ta đã ngăn cản họ đồng bàn và cùng chia sẻ hồng ân với mình.

Chúng ta còn tự nhốt mình vào pháo đài của giai cấp rồi tự cao tự đại, kiêu căng cho rằng chỉ có mình mới là kẻ xứng đáng rồi khinh chê người khác. Thật ra, không ai trong chúng ta lại không có một chút ‘huyết thống dân ngọai’ trong mình, thế mà giờ đây lại ra vẻ ta đây, giở giọng đạo đức giả. Quả thật, đúng như Lời Chúa đã phán: dân này chỉ tôn kính Chúa bằng môi bằng miệng, còn lòng thì lại xa Chúa.

Hãy nhớ rằng: tình yêu dành cho cô con gái, sự bình thản nhưng cương quyết pha một chút bướng bỉnh của người phụ nữ Ca-na-an hôm nay đã khiến Chúa động lòng thương và từ chỗ động lòng thương Người đã nhận ra tính phổ quát của ơn cứu độ của Thiên Chúa. Người không chỉ được sai đến cho dân Do Thái mà còn cho lũ chó con nữa bởi vì tất cả đều là con của Thiên Chúa. 

Nơi Người ơn cứu độ chứa chan. Chúa không loại trừ ai và cũng không muốn một ai trong chúng ta bị hư đi. Vì thế, những ‘lũ chó con’ mà chúng ta gặp trong cuộc sống không là những trở ngại, mà còn là cơ hội để chúng ta nhận ra sự phong phú của Thiên Chúa, Đấng không chỉ họat động nơi các kẻ tin mà còn âm thầm hoạt động nơi ‘lũ chó con’ để tất cả muôn dân đều đuợc cứu độ. Amen!


Friday, 7 August 2026

ĐỪNG SỢ, HÃY TIN VÀO THẦY

 Click for audio: ĐỪNG SỢ, HÃY TIN VÀO THẦY

Trước khi suy gẫm biến cố Đức Giê-su đi trên mặt biển trong bài Tin Mừng hôm nay, tôi xin được trở lại với một ký ức không bao giờ phai: chuyến vượt biển năm 1982. Ai đã từng vượt biên bằng thuyền đều hiểu thế nào là sợ hãi. Có người bị lừa, có người vào tù, có người bỏ mạng giữa sóng gió; có người bị hải tặc cướp bóc và bắt cóc để rồi không bao giờ trở về. Riêng với tôi, hành trình ra đi tìm sự sống giữa lằn ranh cái chết ấy vẫn là một biến cố kinh hoàng, nhưng cũng là nơi tôi cảm nhận rất sâu xa về việc quan phòng của Thiên Chúa.

Hôm ấy, chiếc thuyền nhỏ chở khoảng hơn tám mươi người chúng tôi bị kẹt trong phần cuối của một cơn bão. Biển như một con thú dữ đang gầm thét. Sóng dựng lên, gió quật xuống, con thuyền bị đánh và chao đảo từng hồi. Trong khoảnh khắc ấy, mọi tính toán của con người trở nên vô nghĩa; chúng tôi chỉ còn biết bám vào nhau và bám vào sự quan phòng của Thiên Chúa.

Trên thuyền, chúng tôi là những người hoàn toàn xa lạ với nhau. Có những người theo đạo Công giáo, một số là người Phật giáo, Cao Đài hay là tín đồ của các tôn giáo khác. Thậm chí còn có cả những người không quen hay chưa biết cầu nguyện làm sao. Nhưng khi cái chết đến gần, mọi ranh giới dường như tan biến. Chỗ này có tiếng lần hạt Mân Côi, chỗ kia vang lên câu niệm Phật. Không ai còn hỏi người bên cạnh thuộc tôn giáo nào; tất cả cùng hướng lòng lên Thượng Đế, Đấng Tối Cao, xin được cứu khỏi cơn nguy biến.

Thời gian từ từ trôi, chậm đến nghẹt thở. Sóng vẫn gầm, gió vẫn rít, con thuyền vẫn bị tung lên rồi ném xuống. Lúc đầu ai cũng cầu nguyện lớn tiếng, nhưng rồi mệt mỏi vì say sóng khiến cho lời cầu nguyện nhỏ dần và cuối cùng mọi tiếng nói rơi vào khoảng không để nhường chổ cho sự gầm thét của biến cả hăm he nuốt chửng còn tầu mong manh dễ vỡ.

Rồi điều kỳ diệu đã xảy ra. Cơn bão yếu dần. Chiếc thuyền tiếp tục lênh đênh suốt nhiều ngày, cho đến khi chúng tôi được nhân viên trên một dàn khoan dầu hướng dẫn đến đảo Ku-ku, một hòn đảo quen thuộc với nhiều thuyền nhân tại Indonesia. Khi đặt chân lên bờ, tôi hiểu rằng mình không chỉ thoát chết mà đã được cứu sống như một hồng ân.

Cho đến hôm nay, mỗi khi đứng trước biển, nhất là vào buổi tối, cảm giác sợ hãi năm xưa vẫn trở về. Nhưng cùng với nỗi sợ ấy là một xác tín sâu xa: trong những giờ phút con người bất lực nhất, Thiên Chúa vẫn có thể mở ra một lối đi. Chính kinh nghiệm ấy giúp tôi hiểu hơn lời Chúa nói với các môn đệ hôm nay rằng: “Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ!”

Thưa anh chị em, 

Đối với người Do Thái thời Chúa Giê-su, biển cả và bão tố thường tượng trưng cho hỗn loạn và quyền lực của sự dữ. Con người nhỏ bé trước biển cả cũng giống như con người yếu đuối trước những thử thách vượt quá sức mình.

Vì thế, khi Tin Mừng kể việc Đức Giê-su đi trên mặt biển và làm cho sóng gió yên lặng, tác giả không chỉ muốn nói đến một phép lạ. Điều quan trọng hơn là mặc khải quyền năng của Chúa: Người có quyền trên biển cả, trên bão tố, trên mọi thế lực làm con người khiếp sợ. Nơi nào Chúa hiện diện, nơi ấy hỗn loạn được biến đổi thành bình an.

Phê-rô cũng đã bước đi trên mặt biển khi mắt ông hướng nhìn về Chúa. Nhưng khi ông nhìn vào sóng gió, nỗi sợ hãi lập tức chiếm lấy lòng ông, và ông bắt đầu chìm. Điều ấy rất giống chúng ta. Khi còn tin và bám vào Chúa, ta có thể vượt qua điều tưởng như không thể. Nhưng khi chỉ nhìn vào khó khăn, bệnh tật, thất bại, mất mát hay tương lai mịt mù, ta dễ bị nỗi sợ kéo xuống.

Sợ hãi là một phần rất thật của đời người. Ta sợ nghèo, sợ bệnh, sợ cô đơn, sợ mất người thân, sợ bị hiểu lầm, sợ tương lai không như mong muốn. Có khi ta còn sợ mà không biết rõ mình sợ điều gì. Nỗi sợ làm tâm hồn chao đảo như con thuyền giữa đêm tối.

Nhưng Tin Mừng hôm nay nhắc chúng ta rằng Chúa không đứng xa để nhìn ta vật lộn. Người đến giữa đêm tối, đi trên chính mặt biển đang làm ta sợ hãi, và nói: “Thầy đây, đừng sợ!” Lời ấy không xóa hết sóng gió ngay lập tức, nhưng đặt vào lòng ta một điểm tựa: Chúa đang ở đây.

Thưa anh chị em, 

Vì thế, vấn đề không chỉ là chúng ta phải làm gì trước khó khăn, nhưng là chúng ta có dám mời Chúa bước vào con thuyền đời mình hay không. Khi Đức Giê-su lên thuyền, sóng gió ngừng lại. Khi Người được đón nhận, bình an trở về. Khi Người cầm tay lái, con thuyền đời ta không còn bị phó mặc cho bão tố.

Đó cũng là niềm tin mà Tin Mừng Mát-thêu muốn khơi dậy nơi cộng đoàn tín hữu: Đức Giê-su là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Người đã đến trong lịch sử nhân loại, đã sống giữa con người, và trước khi về cùng Chúa Cha, Người phán: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Như vậy, dù đời ta có những đêm tối, những cơn bão, những lúc tưởng như chìm xuống, ta vẫn không đơn độc.

Khi nhìn lại và được gợi hứng từ chuyến vượt biển năm xưa, tôi thấy mình đã từng ở trong hoàn cảnh của Phê-rô: chung quanh chỉ là sóng gió, trước mắt chỉ là nguy hiểm, trong lòng chỉ còn sợ hãi. Nhưng cũng chính trong giây phút ấy, tôi học được rằng đức tin không phải là không biết sợ. Người có đức tin tuy vẫn biết sợ, nhưng không rời mắt khỏi Chúa, tay vẫn bám vào Chúa. Giống như Phê-rô, người tín hữu tín thác và kêu lên rằng “Lạy Thầy, xin cứu con!” và tin rằng bàn tay Chúa bao bọc và đưa ra đúng lúc.

Tôi cũng nhớ đến những chứng từ âm thầm của lòng tin trên chuyến đi ấy. Có người mẹ ôm chặt đứa con mới vài tháng tuổi trong vòng tay, vừa run vì lạnh vừa thì thầm đọc kinh. Có người đã lặng lẽ nhường phần nước ít ỏi của mình cho người yếu hơn. Có người tuy không cùng niềm tin Công giáo, nhưng vẫn chắp tay cầu xin Trời Phật che chở cho cả con thuyền. Trong cơn nguy biến, lòng tin không còn là những lời tuyên bố hùng hồn trong một buổi diễn thuyết tôn giáo. Nhưng lúc nguy cấp như thế thì lòng tin đơn giản được diễn tả qua cái nhìn từ tâm và lo lắng cho nhau, nó có thể là cử chỉ của những đôi tay đan vào nhau để bộc lộ tình liên đới và che đi nỗi sợ hãi hay là những lời kinh nghẹn ngào giữa tiếng sóng đang gầm thét bên tai.

Chính những chứng từ nhỏ bé ấy dạy tôi biết cảm tạ. Cảm tạ Chúa vì Người đã gìn giữ chúng tôi qua đêm tối. Cảm tạ vì giữa sợ hãi vẫn có người biết cầu nguyện, giữa thiếu thốn vẫn có người biết chia sẻ, giữa cái chết vẫn có một niềm hy vọng không tắt. Và cảm tạ vì sau bao năm tháng, ký ức đau thương ấy không chỉ để tôi nhớ lại nỗi sợ, nhưng để nhận ra tình thương của Chúa vẫn sống và đồng hành với tôi.

Thưa anh chị em, 

Cuộc đời của chúng ta, mỗi người đều có những cơn bão riêng. Có khi bão đến từ bên ngoài, có khi bão nổi lên trong chính tâm hồn. Nhưng lời Chúa hôm nay vẫn vang lên cho từng người chúng ta: “Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ!” Xin cho chúng ta biết tin tưởng, biết mời Chúa lên thuyền đời mình, và trao tay lái cho Người. Có Chúa ở cùng, con thuyền đời ta sẽ không chìm, nhưng sẽ được dẫn đến bến bờ bình an. Amen.



Monday, 3 August 2026

HÃY CHO NHAU ĂN!

 HÃY CHO NHAU ĂN!
Sau khi khi nghe tin Gio-an Tẩy giả chết, Đức Giê-su rất buồn phiền vì sự mất mát này. Người đã mất đi một người anh họ, một người bạn, người chiến hữu đã dùng cả cuộc đời để làm chứng cho sự thật, nhất là việc Gio-an đã chấp nhận lui về phía sau để giới thiệu Đức Giê-su, Đấng Cứu Thế cho người khác. 
Ngoài ra, cái chết của Gio-an có thể coi như một lời nhắc nhở cho Đức Giê-su nhớ lại sứ mạng và kết cục của một ngôn sứ là như thế: sống thì bị ngược đãi, bị bỏ tù và cuối cùng là cái chết. Do đó, việc đi vào nơi vắng vẻ của Đức Giê-su nhắm đến cũng là thời gian thinh lặng để suy nghĩ và cầu nguyện về sứ mạng mà Người đang thực hiện. 
Nghe được tin như thế, đám đông dân chúng từ khắp nơi kéo về để đi theo Người. Khi thuyền sang đến bờ bên kia thì Đức Giê-su bước ra khỏi thuyền, lập tức nhìn thấy nỗi vất vả của đoàn lũ dân chúng thì Chúa chạnh lòng thương, con tim của Người như bị ai đâm thấu vậy. Chúa trước tiên chữa lành một số bịnh nhân trong nhóm họ, và sau đó là cho họ ăn. Qua việc chữa lành Người trao cho họ niềm hy vọng vào Chúa. Với việc nuôi ăn, Người bảo đảm họ sẽ không bị chết đói. 
Đối với các môn đệ, qua phép lạ “Bánh hóa nhiều” hôm nay, Đức Giê-su muốn truyền cho các môn đệ bài học quan tâm đến nhu cầu của tha nhân. Lòng thương xót không chỉ diễn tả bằng lời nói mà thôi, nhưng còn phải thể hiện bằng hành động. Để diễn tả cho ý tưởng này, xin kể cho anh chị em một mẩu truyện ngắn, có lẽ các nhân vật và chi tiết trong câu chuyện không có thật; nhưng tình tiết và bài học mà truyện kể đem lại thì rất thật. 
Truyện kể như sau:
Tại một làng nọ, có một người làm chủ một trang trại với đầy ngô khoai. Mỗi buổi sáng, sau khi thức dậy ông và gia đình đều dâng lời cầu nguyện cho những kẻ đói ăn có đủ lương thực dùng hằng ngày. Nhưng mỗi khi có ai đến xin ăn thì ông đều từ chối và không muốn cho đi những gì ông đã dự phòng trong kho lẫm nhà mình.
Vào một ngày kia, sau khi nghe cha mình cầu nguyện cho người nghèo và người túng thiếu, cậu con út của ông mới thưa với ông rằng: “Thưa Ba, con ước gì có được số lượng dự trữ ngô và khoai của Ba.” Người cha mới hỏi lại cậu muốn có ngô và khoai để làm gì? Cậu đáp lại “con muốn có ngô và khoai để đáp trả lời cầu nguyện của Ba.”
Ông Bố thương xót người nghèo khổ và túng thiếu bằng lời cầu nguyện. Nhưng cậu út của ông lại muốn nhắc nhở ông rằng lời cầu nguyện của bố cậu cho những kẻ đói ăn chưa đủ. Bố của cậu cần diễn tả lòng thương xót của ông bằng việc làm nữa. Đó là việc mà Đức Giê-su muốn dậy các môn đệ qua việc làm cho Bánh hóa nhiều hôm nay!  
Thưa anh chị em,
Tuy nhiên, làm thế nào để có đủ lương thực nuôi ăn một số đông như thế khi trời đã chập choạng tối và nơi họ đang tụ họp lại hoang vắng và cách xa thị trấn hay làng mạc; vì thế việc tìm kiếm lương thực quả thật khó khăn cho các môn đệ. Lý do của các Tông Đồ đưa ra quả thật rất đáng thuyết phục. Nhưng khi nại vào các lý do như thế, các Tông đồ cho chúng ta biết rằng các ông tuy là những người bạn hữu thân thiết với Đức Giê-su, nhưng các ông vẫn chưa học được bài học quên mình và quan tâm đến người khác. 
Các lý do của các môn đệ đã không làm thay đổi ý định của Đức Giê-su. Người biết sẽ phải làm gì. Người truyền lệnh cho các môn đệ “hãy cho họ ăn.” Khi nghe Chúa phán như thế, các môn đệ không thể nghĩ ra làm thế nào mà họ có thể nuôi ăn một đám đông như thế. Tất cả những gì họ có chỉ là năm chiệc bánh và hai con cá, với ngần ấy lương thực thì làm sao đủ cho năm ngàn người ăn. Nhưng, các môn đệ còn bỏ sót một yếu tố thật quan trọng, đó là sự hiện diện của Đức Giê-su, Đấng có thể làm mọi sự, đang hiện diện giữa họ.
Sau đó, Đức Giê-su cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá. Thực phẩm chỉ vọn vẹn có bấy nhiêu thì ai ăn ai nhịn đây. Nhưng đó lại là tất cả những gì các môn đệ có. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông. Kết quả là ai ai cũng hài lòng vì được ăn no. Có lẽ Người hài lòng nhất là chính Đức Giê-su. Giống như dân Is-ra-el khi xưa, trong hoang địa đã được Thiên Chúa nuôi ăn bằng manna và nước uống thế nào thì hôm nay qua việc phân phát bánh, Đức Giê-su cũng nuôi những ai đã bỏ hết mọi sự, vất vả theo chân Người được ăn no nê.
Thưa anh chị em,
Các cử chỉ như đón nhận, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao ban hôm nay chỉ được ghi lại một lần khác; đó là trong bữa tiệc ly Người đã san sẻ bánh và rượu cho các môn đệ. Bánh và rượu đây là dấu chỉ tượng trưng cho Thịt và Máu của Người như Đức Giê-su đã phán: “Ta là bánh trường sinh và ai đến với Người sẽ không đói bao giờ.
Bánh, của ăn và thực phẩm là những thực vật nhằm nuôi dưỡng và làm cho con người được lớn lên. Con người cần đến nó để duy trì sức khỏe và sự sống. Nhưng ý nghĩa của bữa ăn không nhằm đến việc ăn cho đầy bụng. Đói quá thì cũng chết mà ăn no quá thì bội thực và cũng chết. Việc của chúng ta là biết ăn. Bữa ăn là cơ hội để xây dựng tình nghĩa, thể hiện tình yêu, cùng san sẻ và chia vui những thành công trong đời và qua bữa ăn con người còn đến gần và thông cảm nhau hơn; từ đó cộng đoàn được gầy dựng một cách thật tự nhiên. Đây là một biểu tượng vô cùng phong phú qua mọi thời đại, đến nỗi Đức Giê-su cũng không bỏ quên nó. Người đã dùng nó như một phương tiện để nói lên lòng quan tâm và lo lắng của Người dành cho chúng ta. 
Trình thuật ‘Bánh hóa Nhiều’ hôm nay là thế. Biến cố này nói lên tình yêu của Người dành cho những ai đã theo Người. Sự kiện này còn nhắc nhở chúng ta nhớ rằng những gì chúng ta có được để duy trì cuộc sống thể lý của chúng ta đều được ban tặng từ Chúa; và sau cùng Người còn là bánh trường sinh nuôi dưỡng toàn bộ con người chúng ta.
Giống như thức ăn có thể dẫn chúng ta đến gần nhau và nhiều việc được bắt đầu và tiến đến thành tựu qua bữa ăn thế nào thì của ăn mà Chúa ban phát cũng làm cho chúng ta trở nên thành viên của một cộng đoàn thuộc về Người, nhất là giúp chúng ta nhận thức rằng qua đó chúng ta nên những người bạn thân tình với Chúa và với nhau. 
Tuy nhiên, họ và chúng ta vẫn còn gặp trở ngại; như hai môn đệ trên đường Em-mau, chúng ta có thể biết kế hoạch của Chúa, chứng kiến việc Chúa chết, nghe các bạn nói rằng Người đã sống lại và hiện ra với họ… Nói chung là giống như họ, chúng ta biết rất nhiều, biết rất rõ những kế hoạch và gần như là biết mọi sự; nhưng lại quên sự hiện diện của Đấng trở thành của ăn cho chúng ta; cho nên chúng ta e ngại vì thấy mình đứng trước những nhu cầu quá lớn lao của con người. Nhìn chung quanh vẫn thấy bao người đói khổ. Hàng giây, hàng phút vẫn còn bao nhiều sinh mạng nhất là các trẻ em bị chết đói trên thế giới này. Thế mà, trong tay chúng ta chỉ vỏn vẹn vài tấm bánh nhỏ, chúng ta lúng túng và thấy mình bất lực. 
Nếu chúng ta dám trao cho Chúa Giêsu tất cả những gì chúng ta có; trao cho Người những cố gắng thật khiêm tốn của chúng ta thì việc làm cho ‘Bánh Hóa Nhiều’ vẫn có thể xảy ra hôm nay. Chúng ta vẫn có thể làm hài lòng người khác bằng lòng quảng đại và sẵn sàng cho đi tất cả những gì chúng ta có; thế là quá đủ cho chúng ta rồi. Thế mà chúng ta lại không dám, cứ khư khư giữ làm của riêng cuối cùng mọi người, cả chúng ta nữa, đều bị đói khát. 
Như vậy, hãy nhớ rằng chúng ta còn nhiệm vụ phải chu toàn. Nhiệm vụ đó là được gửi đi, gặp gỡ những người mà chúng ta chưa biết. Đến với nhau bằng tấm lòng rộng mở và cùng nhau chia sẻ một nhịp đập, cùng tiến về một mục tiêu. Mục tiêu đó được phát sinh từ những lần chúng ta cùng nhau tham dự tiệc bẻ bánh và trao ban của ăn cho nhau thì trong chúng ta không còn ai bị thiếu thốn và đói khát nữa. Ai ai cũng hài lòng, người hài lòng nhất có lẽ là Chúa và như thế là đủ cho chúng ta rồi. Amen!