Thursday, 24 October 2019

HÃY TẠ ƠN CHÚA VÌ CON LÀ KẺ CÓ TỘI.


Noi gương bà góa trong bài Tin Mừng tuần trước, chúng ta hãy cầu nguyện liên tục, không được ngừng. Tuần này, bài Tin Mừng mô tả việc hai người Pha-ri-sêu và thu thuế lên đền thờ cầu nguyện. Qua đó, Đức Giê-su không chỉ dậy bảo chúng ta có tinh thần khiêm tốn khi cầu nguyện, mà còn mời gọi chúng ta hãy xem xét lại thái độ và lối sống của mình trước mặt Chúa nữa.

Người Pha-ri-sêu được mô tả thật sống động. Ông đứng thẳng người bộc lộ dáng vẻ tự tin, thì thầm với Thiên Chúa. Chúng ta phải thú nhận rằng những việc ông làm, nào là không trộm cắp, không có hành vi bất chính, không ngoại tình, còn tuân thủ việc đóng thuế thập phân cho đền thờ nữa là những việc tốt và rất đáng khích lệ và ông ta đã hành động theo đúng luật Chúa. Ông ta làm được nhiều việc hơn chúng ta. Thật cảm phục cho các tín hữu dám công khai nói như người Pha-ri-sêu hôm nay.

Ông đã tạ ơn Chúa; nhưng cách ông tạ ơn dường như để khoe khoang chứ không để tỏ bầy cử chỉ tôn thờ Thiên Chúa của ông. Sau đó, đã sai ông lại tiếp tục sai khi vịn vào thành tích rồi hợm mình để chê bai người khác. Ông làm như đã trở thành con người hoàn hảo bởi các việc ông làm.

Chúng ta tưởng rằng chỉ mấy ông Pha-ri-sêu thời Đức Giê-su mới hành xử như thế. Thật ra trong mọi thời đại và dù bất kỳ sống trong môi trường nào thì lối sống như ộng Pha-ri-sêu vẫn còn hiện diện và được khuyến khích trong các cơ cấu, ngay cả các tổ chức công giáo. Họ là những người tự cho mình là đạo đức, dựa vào công nghiệp và những đóng góp rồi coi kẻ khác không ra gì.

Thật ra, ai trong chúng ta cũng đều biết rằng chúng ta có làm được các việc như thế cũng là hống ân của Chúa ban cho. Tất cả đều là hồng ân, là quà tặng của Chúa trao ban để chúng ta chia sẻ cho người khác. Đó là bổn phận, nếu không hành động thì chúng ta là người có lỗi, lấy gì mà vinh vang.

Nếu ai trong chúng ta có muốn so sánh thì hãy lấy tiêu chuẩn của Tin Mừng ra mà so sánh. Tất cả chúng ta, dù là ai hay dù đang nắm giữ tác vụ nào của Hội Thánh, tất cả đều là tội nhân, là những con người khuyết hẳn vinh quang và sự Thánh Thiện của Chúa nơi mình.

Vì thế, hãy học vẻ đẹp của người thu thuế. Ông biết các công việc của ông, như cộng tác với chính quyền, thu thuế và làm giàu trên xương máu của nhân dân khiến cho ông tuy giầu có nhưng lại bị dân chúng ghét bỏ. Ông nhận ra một sự thật là cho dù liêm khiết và thành thật đến đâu thì ông cũng là người có tội với dân tộc và với dân chúng. Chính vì thế, ông chẳng có gì để hãnh diện hay trình bầy thành tích trước mặt Chúa. Ông đứng tự đàng xa, không dám ngước mắt nhìn ai, nhìn vào cõi lòng, hẳn nhiên khi nhìn vào cõi lòng ông thấy sự uy nghiêm và thánh thiện của Chúa, nên ông đấm ngực mà thân thưa cùng Chúa rằng: “Lậy Thiên Chúa, xin thương xót, con là kẻ tội lỗi.”

Giống như anh con thứ trong dụ ngôn Tình Phụ Tử, người cha đã không cho phép anh kể hết các tội của mình, không cho phép anh đánh mất mối tương quan khi anh dự định nói rằng mình không xứng đáng là con của ông. Ông đã cắt đứt việc anh con thứ kể lể về tội của anh thế nào thì ở đây cũng thế. Chúng ta không thấy người thu thuế liệt kê các tội của anh. Với thái độ nhìn rõ sự thật và vị trí trong thân phận của một kẻ có tội, anh đã được Thiên Chúa thương và làm cho anh trở nên công chính. Nói khác đi, anh ra về và được khỏi tội.

Thưa anh chị em,

Nơi câu đầu của dụ ngôn, Thánh Lu-ca đã nói mục đich của dụ ngôn này là bài học mà Đức Giê-su muốn trao ban cho một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê kẻ khác. Chúng ta có nằm trong đối tượng mà Đức Giê-su dậy bảo hôm nay hay không?

Tôi thấy cách hành xử của hai người: Pha-ri-sêu và thu thuế, đều được tôi lập lại trong cuộc sống hằng ngày. Sống trong một môi trường coi trọng thành tích, chúng ta nói cho nhau nghe các thành tựu, liệt kê một mớ bảng tạ ơn hay trọng thưởng. Chúng ta muốn nói cho người khác biết là chúng ta đang làm rất tốt; rồi từ đó chúng ta cũng nghĩ rằng Chúa đang mong đợi các điều tương tự từ nơi chúng ta, Chúa sẽ có ấn tượng tốt qua các thành công của chúng ta. Bị ảnh hưởng bới các yếu tố đó nên ông Pha-ri-sêu của mọi thời đại đã làm giống như người Pha-ri-sêu trong bài Tin Mừng. Cho dù ông mở đầu bằng lời tạ ơn, nhưng tâm tình tạ ơn của ông đâu chẳng thấy mà chỉ thấy ông khoe thành tích, kể lể công nghiệp hàm ý rằng những gì mà ông đang thụ hưởng là một sự đáp trả mà Chúa phải ban qua các việc ông đã làm. Ông không còn nhận ra những gì mà ông có được là hồng ân từ Chúa thì làm sao ông có thể tạ ơn được. 

 Chúng ta không cần tạo một ấn tượng tốt nơi Thiên Chúa. Chúa biết rõ chúng ta là ai, và Người còn biết tận tường chúng ta muốn gì. Vì thế, việc nhận ra vị trí và thân phận của chính mình là điều tiên quyết mà chúng ta cần có khi đến với Ngài. Thiên Chúa làm gì còn chỗ đứng nơi những kẻ chỉ biết đến mình. Sự thật giúp chúng ta nhận ra rằng mình là người có tội và chính vì thế chúng ta cần Chúa.

Muốn được như thế, chúng ta cùng nghĩ rằng:

·        Bản thân và tất cả những gì chúng ta có được đều thuộc về Thiên Chúa. Đừng nghĩ rằng mình xứng đáng và chiếm hữu nó; trái lại hãy xử dụng mà chia sẻ cho nhau. Như vậy, những gì mà chúng ta có thể làm được cũng là hồng ân của Chúa; chúng ta đâu còn có gì để báo cáo thành tích mà vinh vang.

·        Tất cả mọi người, dù già hay trẻ, cao hay thấp, sang hay hèn, cao trọng hay thứ dân, đều được mời gọi để trở nên công chính và thánh thiện. Mức độ thánh thiện không tùy thuộc vào công trạng của con người nhưng tùy thuộc vào mối tương quan giữa Chúa và ta. Khởi điểm của việc thiết lập mối tương quan đó là nhận ra sự thật thân phận tội lỗi của mình mà bám víu vào lòng Thương xót của Thiên Chúa. Không vịn vào công trạng mà là một tâm tình phó thác trọn vẹn vào Đấng luôn yêu thương mình.

·        Sau cùng, giống như người thu thuế, chúng ta hãy can đảm chấp nhận thân phận tội lỗi của mình, đến với Chúa để xin được tha thứ và tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương và muốn cho mọi người được cứu thoát. Đó chính là khởi điểm của cuộc sống mới.  Cuộc sống không bị mặc cảm tội lỗi dầy vò; nhưng qua đó mà chúng ta nhận ra Tình Yêu của Chúa cao cả dường bao. Vì Ngài là tình yêu, và Tình yêu chính là bản chất và sức sống của Thiên Chúa. Amen!







Wednesday, 16 October 2019

GƯƠNG SÁNG CỦA BÀ GÓA


Dụ ngôn trong phần phụng vụ Lời Chúa của Chúa nhật tuần này và tuần sau liên kết với nhau trong một chủ đề, đó là cầu nguyện. Cầu nguyện là đề tài quan trọng trong Tin Mừng theo Thánh Luca. Thánh sử đã cố gắng đặt tất cả các biến cố quan trọng xẩy ra trong sứ vụ của Đức Giê-su trong bối cảnh của việc cầu nguyện.

Nhìn vào cách thức và lời giảng dậy về cầu nguyện của Đức Giê-su, chúng ta nhận ra rằng cầu nguyện là hành động được bộc lộ của lòng tin, đó không chỉ là việc phát sinh từ lòng đạo đức hay cơ hội để chúng ta trình bầy các nhu cầu của con người lên Chúa. Thật vậy, lòng tin của chúng ta cần được biểu lộ bằng việc làm và các việc làm đó phải được phát sinh từ mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Và mối quan hệ này phải có tính bền vững như điều Đức Giê-su nói với các môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay. Nếu những ai theo Chúa mà không ngày đêm kêu cứu Chúa, thì thực tế họ không có lòng tin nơi Người. Nói khác đi, cầu nguyện là hành động quan trọng mà các kẻ tin phải thường xuyên thực hiện.

Vì thế, trong câu mở đầu của bài Tin Mừng chúng ta đã nhận ra bài học và ý muốn của Đức Giê-su. Người dậy chúng ta phải siêng năng cầu nguyện. Cầu nguyện với lòng tha thiết và liên tục, không được nản chí. Sau đó, Người đã minh họa lời giảng dậy bằng dụ ngôn ông quan tòa bất lương gặp bà góa quấy rầy.

Trước tiên là việc xuất hiện của ông quan tòa. Các chi tiết mô tả về tính nết của ông quan tòa như: bất lương, không sợ trời, chẳng nể đất và cũng chẳng sợ ai được nhấn mạnh nhằm chuẩn bị cho chúng ta nhìn thấy trước khó khăn mà bà góa sẽ phải đối diện. Một ông quan tòa với cá tính như thế thì còn quan tâm và để ý đến lời van xin của ai nữa. Số phận của bà góa thật không may khi việc kiện tụng của bà lại được ông quan tòa ‘không có lòng thương xót’ định đoạt. Việc trình bầy ông quan tòa như thế chuẩn bị cho chúng ta nhìn ra số phận hẩm hiu của bà góa.

Sau đó, một bà góa như tất cả mọi bà góa trong xã hội Do Thái được trình làng. Hoàn cảnh của các bà góa thời Đức Giê-su không được bảo vệ và không có nhiều quyền lợi như các bà góa trong xã hội hiện đại. Họ là những người cô thân cô thế, bị thiệt thòi mọi sự, không ai binh vực. Nhưng lòng kiên tâm của bà được đề cao. Đó là điểm chính yếu của dụ ngôn. Bà cứ kiên trì kêu cầu mãi. Hết ngày này đến hôm khác, bà cứ chờ chực ở cửa quan để đòi công đạo, đòi được minh xét vì bà nghĩ rằng phần lỗi về đối phương, họ đã làm hại đến bà.  

Cuối cùng, vị quan tòa vô tâm và chẳng hề biết sợ ai của chúng ta cũng phải đứng ra xét xử binh vực quyền lợi cho bà. Thật lý thú khi chúng ta nghe được lối suy nghỉ của ông khi xét xử, ông ta chẳng vì công lý hay bị lương tâm thúc đẩy mà binh vực cho quyền lợi của bà mà chỉ vì sợ bị bà quấy rầy khiến cho ông bị nhức đầu long óc mà xử cho xong. Từ trong lối suy nghĩ của ông, chúng ta thấy ông quan tòa trước sau vẫn là ông quan tòa, không có một chút thay đổi. Ông ta vẫn vì tính ích kỷ và vì quyền lợi của bản thân mà xử quách cho xong để khỏi bị bà góa vô danh tiểu tốt làm cho ông bị nhức đầu nhức óc nữa.

Sau khi kể xong câu chuyện, Đức Giê-su mới kết luận: “Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao?” Như vậy, câu đầu tiên và câu cuối cùng của bài Tin Mừng cho chúng ta thấy ý tưởng chính là cần phải cầu nguyện luôn, đừng nản chí.

Vẫn biết là như thế; nhưng sự hiểu biết của chúng ta về cầu nguyện có đem lại lợi ích gì hay không? Có nhiều người nói rất hay mà không thực tâm cầu nguyện thì cho dù bài nói có sâu sắc đến đâu cũng không có sức mạnh để truyền lửa cho người nghe. Các Tông Đồ, sau khi chứng kiến giây phút cầu nguyện giữa Đức Giê-su và Cha Ngài nên họ đã xin Người dậy cho họ phương thức để cầu nguyện; và Đức Giê-su bèn chia sẻ ngay những tâm tình mà Người vừa tâm sự với Cha của Người cho các Tông đồ; từ đó chúng ta có  Kinh Lậy Cha.

Cầu nguyện là việc phải thực hành, không chỉ một lần mà làm liên tục. Trong niềm tin và phó thác chúng ta dâng lên Chúa tất cả, không phải cứ mỗi lần chạy đến với và bên Chúa lại là xin ơn.

Ý tưởng nêu trên được minh họa qua truyện kể sau.

Có một gia đình kia không giống như các gia đình khác. Ông chồng của căn nhà này là người cầm lõi, tay hòm chìa khóa thay vì nằm trong tay bà vợ như mọi gia đình khác thì lại nằm trong tay ông. Được một điều là ông rất đại lượng, không chi ly và ít khi chất vấn vợ con về việc này. Thế mà, đã có một lần ông cảm thấy nhức đầu long óc khi những người con của ông, hết cô này đến chú kia, lần lượt đến xin ông điều này, đứa khác lại xin ông cho tiền mua điều nọ. Đứa nào cũng cần. Cái gì các cháu đưa ra cũng đều đúng… Thế mới làm ông khổ. Từ trong nỗi khổ đó ông mới nghiệm ra một điều là con cái của ông dù lớn về phần xác, nhưng chưa một cháu nào trưởng thành và biết suy tính cho cuộc sống của chúng cả. Lúc nào hết xin lại đến cầu, cứ như vậy thì làm thế nào!

Từ hoàn cảnh thực tế mà nhiều gia đình vướng phải anh chị em thử hình dung ra cảnh Chúa phải nghe chúng ta, bao nhiêu tỷ người, lải nhải. Hơn nữa nhiều lúc chúng ta xin điều mà chúng ta không biết mình xin gì nữa.

            Vẫn biết khi đau thì xin khỏi bịnh… Nhưng, tại sao không xin phó thác và can đảm để đối diện với căn bịnh. Đó là chưa kể đến việc nếu bịnh nào Chúa cũng chữa khỏi thì cần gì mấy ông bác sĩ và cũng chẳng cần ngân sách để xây thêm nhà thương và các viện nghiên cứu nữa.

            Rồi trong cảnh nghèo, túng thiếu thì xin no đủ… Nhưng, tại sao không xin chấp nhận và cầu nguyện cho mấy ông nhà giầu biết noi gương Chúa mà sống đại lượng.

Làm thế nào để lời cầu xin của chúng ta được Chúa ban trong khi chúng ta lại sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến nhu cầu, dù thiết yếu, nhưng vẫn là xin cho mình.

Nói chung, dù xin ơn là điều chính đáng và cần thiết. Nhưng chúng ta dễ rơi vào vị trí của những người chỉ biết ỷ lại, chờ đợi sự bố thì của kẻ khác; chưa kể đến các ơn mà chúng ta xin dường như chỉ vì nhu cầu của bản thân…. Tại sao không xin ý Chúa….

Chúa dậy chúng ta phải lo và quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Lo bằng tâm (có nghĩa là cầu nguyện), quan tâm bằng hành động (viêc làm).
Để kết thúc, xin anh chị em cùng nghe phần chia sẻ của cố Đức Hồng Y Sin, Tổng giám mục Ma-ni-la, Phi Luật Tân. Ngài có thói quen kết thúc các bài giảng bằng việc trích dẫn một vài ý trong bài thơ của một tác giả vô danh như sau:

·        Tôi đã xin Chúa cất đi tính kiêu căng và Chúa trả lời: “Không”. Ngài nói rằng không phải Ngài sẽ cất đi tính xấu đó, mà chính tôi mới là người cố gắng chiến đấu để vượt thắng nó.
·        Tôi đã xin Chúa ban cho tôi lòng kiên nhẫn và Chúa đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng kiên nhẫn là hoa trái của thử thách. Ngài không ban cho tôi trái ấy mà để tôi tự tìm lấy.

·        Tôi đã xin Chúa ban cho tôi được hạnh phúc và Chúa đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng Ngài ban ân phúc cho tôi, còn hạnh phúc hay không là tùy vào cách thức tôi đón nhận và hành động.

·        Tôi đã xin Chúa gia tăng tinh thần cho tôi và Chúa đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng tôi phải học để trưởng thành và lớn lên, nhưng Ngài sẽ mài dũa và cắt tỉa để tôi sinh thêm nhiều hoa trái.

·        Tôi đã xin Chúa đừng để tôi đau khổ và Ngài đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng đau khổ là một phần của đời sống và giúp tôi đến gần Ngài.

·        Tôi đã hỏi: “Liệu Ngài có yêu tôi không” và Ngài đã trả lời: “Có”. Ngài nói rằng Tình Yêu là bản chất và lẽ sống của Ngài. Chính Đức Giê-su, người Con mà Ngài yêu nhất đã chết để bộc lộ Tình Yêu đó cho tôi.

·        Sau cùng, tôi đã xin Chúa giúp tôi yêu mến tha nhân như Ngài yêu thương tôi và Chúa nói: “Cuối cùng con đã xin đúng điều Chúa mong đợi”.

Hy vọng, tâm sự nguyện xin nói trên cũng là tâm tư của chúng ta.

Nguyện xin Chúa ban thêm lòng tin để chúng ta luôn kiên tâm cầu nguyện để đến khi Người đến vẫn còn thấy lòng tin trên trái đất này. Amen.



Thursday, 10 October 2019

SỐNG LÀ ĐỘI ƠN và ĐỘI ƠN ĐỂ SỐNG TỐT



Bắt đầu bằng một truyện kể. Số là sau biến cố xẩy ra tại Việt Nam vào tháng 4 năm 1975, người dân miền Nam Việt Nam sống trong hoang mang và lo sợ. Tất cả đều mới. Người lãnh đạo, kẻ thừa hành và dân chúng đã mò mẫm tìm hướng đi. Nhân lực, tài lực và hầu như tất cả mọi nguồn để xây dựng đất nước đã đổ vào chiến tranh hết. Nay, trước tình hình thực tế, các nguồn viện trợ bị cắt giảm. Chính sách và đường lối điều hành thử đi nghiệm lại sao cho phù hợp với tình hình thực tế khiến mọi người đã nghèo, lại nghèo hơn, nhà nhà đều đói. Trong giai đoạn khó khăn, những ai gặp khó khăn về tinh thần cũng như vật chất thường hay chạy đến các cơ sở bác ái, tiêu biểu là chùa chiền và nhà thờ, để cầu may. Chúng ta nói cầu may là bởi vì các vị trụ trì tại các nơi đó cũng chưa chắc có đủ phần ăn hơn dân thường.

Vào một buổi chiều, trước cửa phòng khách của một tu viện xuất hiện một cô gái trẻ. Chị đến xin gặp linh mục quản xứ. Sau hồi chuông báo, vị linh mục đó bước ra cửa nhà khách, rảo mắt nhìn chung quanh để tìm xem ai là người muốn gặp ngài. Trước mặt ngài là một cô gái. Sau những lời chào hỏi, chị ta kể lại các việc cha đã giúp chị vào mấy năm trước mà cha không còn nhớ. Nói xong chị gửi lại số tiền mà cha đã cho chị mượn. Với lòng biết ơn, chị nói: “Cảm ơn cha đã tin con. Chính nhờ vào niềm tin của cha đã khởi động niềm tin trong con. Và giờ đây, với lòng biết ơn con xin hoàn trả lại số tiền mà cha đã cho con mượn năm nào. Thật là quí hóa, bởi vì nếu không có sự giúp đỡ của cha, đời con rồi không biết sẽ trôi dạt đến bến bờ nào đây?”

Câu chuyện nói trên có thể minh họa cho nội dung của bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe. Trình thuật Tin mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giê-su chữa lành cho mười người bị bịnh phong cùi, thế mà chỉ có một người bộc lộ lòng biết ơn qua việc trở lại và tôn vinh Thiên Chúa, mà ông ta lại là người ngoại bang.

Theo các tài liệu về y học cho biết, bịnh phong cùi ảnh hưởng đến dây thần kinh của tay chân, màng mũi và đường hô hấp. Bịnh còn ảnh hưởng làm cho da bị loét, hệ thần kinh bị tổn thương và các cơ bắp bị suy nhược. Với sự tiến bộ của nền y học hiện nay, dù phong cùi vẫn còn là loại bịnh truyền nhiễm; nhưng nếu ai được chẩn đoán mắc bịnh này trong giai đoạn đầu thì vẫn có thể được chữa khỏi.

Những người sống cùng thời với Đức Giê-su chưa hẳn đã khám phá ra bịnh phong cùi. Nhưng lại có một loại bịnh về da, có sức hủy diệt và lan lây giống như người bị phong cùi ngày nay. Luật lệ ngăn cắt họ cho nên những ai mắc bịnh này phải sống riêng một mình, không được phép tiếp xúc với ai. Bất cứ ai chạm đến họ, theo luật Mai-sen, đều bị coi là ô uế. Vì thế, để tránh bị lây nhiễm, ai mắc bịnh này đi đến đâu cũng phải hô to ‘ô uế, ô uế’ để những người khác biết mà tránh né.

Cho dù tôi chưa hề có cơ hội tiếp cận hay trò chuyện với người bị bịnh phong cùi. Nhưng nhắm mắt lại chúng ta cũng có thể nhận ra được nỗi đau khổ về tinh thần cũng như thể xác của người bị bịnh đó như thế nào? Họ không còn được đối xử như một con người, bị ngược đãi và coi như thành phần cùi hủi của xã hội nói gì đến yêu thương. Ai trong chúng ta khi gặp họ mà lại không né tránh, sợ bị lây! Trong hoàn cảnh đó, họ không còn gì để mất; thế mà họ không nổi loạn đã là may mắn cho chúng ta lắm rồi!

Ngoài việc bị ngược đãi như nói ở trên, theo lề thói của cộng đoàn Do Thái, họ còn bị coi là những người bị Chúa phạt, họ không được phép lên Đền thờ Giê-ru-sa-lem, và nếu có được tham dự lễ nghi phụng vụ, họ phải ở trong một căn phòng đặc biệt dành riêng cho họ. Họ bị đối xử như người ngoại bang.

Bài Tin Mừng kể lại cuộc gặp gỡ của mười người phong cùi với Đức Giê-su.  Trên đường đi Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su băng qua biên giới giữa Sa-ma-ri và Ga-li-lê,  Người tiến vào một ngôi làng thì mười người phong cùi đã ở đó. Họ đã nghe danh tiếng của Người. Hẳn nhiên, có vài người Do Thái trong nhóm nên họ không dám bước qua ranh giới của lề luật mà chỉ đứng ở đàng xa mà kêu gào xin Đức Giê-su thương tình cứu giúp.

Đức Giêsu không chữa trị cho họ ngay lập tức mà bảo họ đi và trình diện với các tư tế. Theo luật dậy thì chỉ có các tư tế mới đủ thẩm quyền xác nhận ai sạch ai dơ trước khi người bị phong cùi được phép trở lại tham dự sinh hoạt với cộng đoàn như mọi người.

Mười người phong cùi vâng lời Đức Giê-su đi trình diện các tư tế và đang trên đường đi thì họ thấy có những sự kiện khác lạ đang xẩy ra trong cơ thể của họ. Tất cả đều thấy sự tăng trưởng xảy ra: những ngón tay của họ mở rộng thành bàn tay bình thường. Các vết mụn trên mặt họ liền lại… Khi các điều này xảy ra, cả mười người đã biết là họ được chữa lành; thế mà chỉ có một người trong nhóm họ quay ngược lại với Đức Giêsu, để cảm ơn Người; còn chín người kia, hẳn nhiên, vẫn đang trên đường đến gặp các tư tế theo lịnh truyền của Đức Chúa.

Điều làm cho Đức Giê-su và mọi người ngạc nhiên là người quay trở lại gặp để nói lời cảm ơn với Đức Giê-su là người Sa-ma-ri-a. Ông bị người Do Thái xem như kẻ thù, giống ngoại bang, thế mà lại trở thành kiểu mẫu của lòng biết ơn và đức tin.

Có một chi tiết mà chúng ta nên ghi nhận ở đây, đó là trong cơn hoạn nạn thì mười người phong cùi có nhau. Họ không bị gốc gác dân tộc, tôn giáo và niềm tin chia cách. Họ có chung một căn bịnh nên gắn bó để bảo vệ và nâng đỡ nhau. Bản sắc chung của những người bị khinh chê, ruồng bỏ đã đẩy họ trở thành những người thân của nhau. Thế mà, sau khi được chữa khỏi, được tự do, họ lập tức bị ngăn cách. Nhưng, chỉ còn một người xứ Sa-ma-ri-a, vẫn còn bị coi là giống ngoại bang, đã trở lại và tiền về phía Đức Giê-su.

Đứng trước phản ứng của chín người kia, những ai khó tính sẽ cảm thấy bị tổn thương và đau lòng vì sự vô ơn của họ. Thật ra, họ đâu có làm điều gì sai, họ vẫn vâng lời Chúa, đang trên đường đến gặp các vị tư tế để xin giấy xác nhận trở về với các sinh hoạt thường nhật như mọi người. Tuy nhiên, vì bám vào lề luật như một bảo đảm cho cuộc sống nên họ đã mất đi cơ hội đón nhận sự thay đổi, điều mới mẻ mà Đức Giê-su vừa thực hiện. Tuy họ không sai nhưng cơ hội để được đổi mới đã vuột khỏi tầm tay của họ. Thật đáng tiếc!

Chúng ta thì sao? Vẫn sống và chu toàn mọi khoản luật như là nguồn sức mạnh cứu thoát chúng ta hay sẵn sàng nhận biết ơn Chúa với lòng cảm tạ mà  tôn vinh và thờ lậy Ngài. Không ai trả lời vấn nạn này thay cho chúng ta.

Đối với Thiên Chúa, điều làm cho con người có giá trị là thái độ và cách ứng xử của chúng ta trước lượng ân sủng vô biên của Thiên Chúa đổ trên chúng ta. Chúng ta đã làm gì với các hồng ân cao cả như thế. Thánh Gioan cho biết: “Tự nguồn sung mãn của Chúa, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.” Ngài ban cho mỗi người những ơn họ cần, tùy thuộc vào khả năng đón nhận của từng người, nhưng cùng mục đích là để họ sống tốt đẹp và thánh thiện hơn.

Trong cuộc sống, đã có bao nhiêu dấu chỉ nói lên sự can thiệp và thông ơn của Thiên Chúa. Nếu không có ơn Chúa thì làm sao vợ chồng có thể yêu thương, kính trọng và luôn làm gương sáng cho con cái được? Nếu Chúa không hoạt động thì làm sao ông cha này bà phước kia hay thầy dòng nọ có thể quên ‘cái tôi’ của bản thân mà hết lòng phục vụ dân Chúa? Kể sao cho hết những ơn lành Chúa ban cho như ơn khôn ngoan, sự hiểu biết, cơ hội phục vụ, sức khỏe tráng kiện, đầu óc minh mẫn, con tim trong sáng, đồng cảm để tha thứ cho nhau, và ngay cả các đau khổ cũng là cơ hội để giúp mình nhận ra sự bất toàn và mỏng dòn của thân phận con người mà nương tựa vào Chúa hơn…, tất cả đều là ơn của Chúa. Điều quan trọng là mắt chúng ta có mở rộng đủ để nhận ra ơn Chúa hay là lại nghĩ rằng đó là những gì mình xứng đáng được, và nếu như thế thì hình như chúng ta đã coi Chúa như là người đầy tớ thay vì Đấng ban ơn rồi!

Đứng trước những ơn lành Chúa ban, chúng ta hay dùng các từ như tạ ơn, cảm ơn, ghi ơn, nhớ ơn, biết ơn…, để diễn tả thái độ của chúng ta, nhưng có lẽ một từ mộc mạc và đầy ý nghĩa nhất mà lâu nay chúng ta quên không dùng đó là ĐỘI ƠN: Ơn Chúa nhiều quá, nặng quá, đến độ ta không cầm, không thể mang, không cách nào khoác vào được, mà phải đội trên đầu, diễn tả sự kính trọng đối với Chúa, với ơn Chúa. Đội trên đầu thì phải sấp mình, quì gối xuống mà tôn vinh Đấng ban ơn. Đó chính là mẫu mực và cách hành xử của người Sa-ma-ri-a làm hôm nay. Và Lời của Đức Giê-su phán xưa kia, là những gì mà Chúa muốn nói cho chúng ta hôm nay: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của con đã cứu chữa con.”

Xin cho chúng con có lòng tin bằng việc làm như người ngoại bang trong bài Tin Mừng để thờ lậy và tôn vinh Chúa. Amen!


Friday, 4 October 2019

SỨC MẠNH CỦA LÒNG TIN



Với bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Lu-ca đã đưa chúng ta trở lại cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem của Đức Giê-su. Người biết ngày hoàn tất sứ vụ đang đến gần, nên từ giờ phút này trở đi, Người dành nhiều thời gian để hướng dẫn các môn đệ.

Đức Giê-su nhìn nhận rằng việc gặp khó khăn, có thể bị vấp ngã hay vi phạm các lỗi lầm là một phần trong sứ vụ của người môn đệ. Nhưng các môn đệ không nên làm cho các thành viên khác bị vấp ngã bởi lối sống của mình. Đức Giê-su đã lên án những ai làm cớ vấp phạm cho kẻ bé mọn, Người nói rằng chẳng thà người đó bị đá cột và xô xuống biển thì hơn. Lời Đức Giê-su vừa phán có vẻ khá gay gắt, nhưng dường như Người không có ý khuyến khích chúng ta có những hành vi bạo động đối với những ai làm gương xấu cho kẻ khác. Thật ra, Đức Giê-su muốn nhắc nhở chúng ta nên nhớ đến bổn phận của mình. Đó là: hãy cẩn thận trong lời nói và hành động. Đừng làm cho người khác bị lầm đường lạc lối, bị vấp ngã hay lòng tin bị lung lay.

Nhìn vào tình hình thực tế và quan sát các hiện tượng đã và đang xẩy ra trong các cộng đoàn; chúng ta không thể nào chối bỏ mức độ ảnh hưởng mà các vụ bê bối của một số vị trong hàng ngũ lãnh đạo đã gây ra. Gần đây chúng ta được nghe nhiều về các biến cố xẩy ra trong Giáo hội từ Mỹ sang đến Úc. Những sự kiện này được gọi là ‘xâm phạm hay lạm dụng tình dục’. Cụm từ tuy ngắn gọn, nhưng ảnh hưởng và sự thiệt hại của nó rất lớn. Nó ám chỉ đến hành vi phản bội về mặt tinh thần, tâm lý và sinh lý của một người có chức quyền đối với người kém thế hơn; đặc biệt là đối với trẻ em. Nó để lại trong tâm hồn và đời sống của các nạn nhân những vết thương và sự thù ghét Giáo hội. Đôi khi, họ còn mang mặc cảm bị khước từ. Họ cắn răng chịu đựng trong tủi nhục. Có một số người lại lâm vào trạng thái ‘trầm cảm’ và nghĩ là mình không còn xứng đáng thuộc về cộng đồng mà họ mong muốn là một thành viên. Quả thực, nếu Lời Chúa phán hôm nay được hiểu theo mặt chữ và áp dụng thì những người làm gương xấu đó, chẳng thà bị đá cột rồi ném xuống biển cho xong.

Tuy nhiên, Đức Giê-su không dừng lại ở lời cảnh báo nghiêm khắc đó. Người tiếp tục khuyên các môn đệ phải giúp đỡ nhau nhận ra lỗi lầm mà ăn năn rồi quên đi các lỗi phạm của nhau không chỉ bẩy lần mà là bẩy mươi lần bẩy. Con số bẩy mươi lần bẩy không ám chỉ đến số lượng mà chúng ta phải tha cho nhau, nhưng còn nói đến chất lượng của sự tha thứ nữa. Có nghĩa là tha liên tục, tha không giới hạn và quan trọng hơn cả là chúng ta tha cho nhau vì chúng ta yêu nhau. Mọi hình thức đổ vỡ chỉ xẩy ra ở nơi không có sự tha thứ.

Làm thế nào có thể đạt được các yêu cầu này. Hãy nhìn vào môi trường chung quanh, chỗ nào cũng hỗ trợ cho nền văn hóa đề cao chủ nghĩa cá nhân, lấy ‘cái tôi’ làm trung tâm. Suy nghĩ và cách sống này thấm nhuần và ảnh hưởng trong đời sống của các tín hữu. Phải chăng chúng ta cũng giống như một nắm cát rời rạc được bốc và đặt để bên nhau vào các sinh hoạt xẩy ra trong nhà thờ vào các dịp cuối tuần, rồi sau đó ra về và không còn có quan hệ hay tương tác nào với nhau. Ai sống mặc ai!

Không phải thế, chúng ta được mời gọi và sống bên nhau như một gia đình. Chúng ta là phần tử của một thân thể, nối kết và được nuôi dưỡng bởi một giòng máu của Đức Ki-tô. Chúng ta được mời gọi sống và chia sẻ cho nhau, chăm sóc lẫn nhau và xây dựng nhau trong gia đình đức tin.

Đó là tâm trạng và cảm nhận của các môn đệ khi họ nghe Chúa ban các chỉ dẫn về việc làm gương sáng và tha thứ cho nhau. Đây quả thật là một yêu cầu vô cùng trọng đại và vượt quá sức của họ. Tự mình họ rất khó thực hiện. Vì thế, các tông đồ, thay mặt cho các môn đệ, xin Chúa:

“HÃY THÊM LÒNG TIN CHO CHÚNG CON.”

Các môn đệ đang cầu xin Chúa Giêsu thêm lòng tin cho họ, nghĩa là làm cho họ trở thành những môn đệ trung thành. Họ biết rằng nếu họ tuân theo mệnh lệnh của Người để tha thứ như Chúa thì họ cần sự giúp đỡ. Hành vi tha thứ này không tự nhiên đến với bất cứ ai, phải được phát sinh từ Chúa. Họ thấy mình trong một tình huống khó xử. Chúa Giê-su ra lệnh cho họ làm một việc mà họ chỉ có thể hoàn thành với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Vì thế, họ đã xin thêm lòng tin.

Đó cũng là lời van xin của chúng ta. Đã có nhiều lúc chúng ta đối diện với các khó khăn, những trở ngại vượt quá sức mình. Tôi muốn thay đổi nhưng dường như cảm thấy bất lực trong việc sửa chữa vì vậy tôi, không chỉ một lần mà rất nhiều lần, đã cầu xin: Chúa ơi, con cần Ngài, xin hãy thêm sức mạnh và lòng tin cho chúng con.

Ngay lúc đó, Lời Chúa phán hôm nay vọng trong tai tôi: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em.” Lòng tin ở đây là sự phó thác và vâng lời mệnh lệnh mà Chúa muốn. Nó ẩn chứa tấm lòng cậy trông và tín thác vào Chúa là mình sẽ thực hiện các việc làm gương sáng, mình sẽ quan tâm và chấp nhận kể cả lỗi lầm của kẻ khác và sẵn sàng tha thứ cho họ nữa. Lòng tin như thế bao hàm việc làm, không chỉ để lòng tin của mình trưởng thành hơn, mà còn trở thành gương sáng cho người khác nữa.

Thưa anh chị em,

Tự căn bản lòng tin không xuất phát tự mình, nhưng được ban tặng từ Chúa cho nên lòng tin phải được bám rễ vào Đức Giê-su và Hội Thánh Người. Lòng tin cần được chứng minh bằng việc làm. Cho dù, khoa học ngày hôm nay có thể làm cho rễ của cây dâu bật lên và đem đến một nơi khác để trồng, nhưng đó không phải là điều làm chúng ta quan tâm. Điều quan trọng mà chúng ta cần thực hiện dưới sức mạnh của lòng tin vào Chúa, chúng ta sẽ quan tâm, yêu thương, chăm sóc và giúp đức tin của chúng ta trưởng thành và lớn mạnh để có thể làm được những điều vĩ đại hơn.

Như vậy, lòng tin mà chúng ta xin hôm nay cũng không phải là quà tặng được trao ban trong một lúc mà thôi. Sự trưởng thành và lớn mạnh của lòng tin thì giống như việc lớn lên của hạt giống. Nó phát triển theo các diễn biến xẩy ra trong các năm tháng của đời người, qua việc sinh lợi bằng các việc làm. Chúng ta cần được lớn lên mỗi ngày. Nhưng giữa những thực tế của cuộc đời, biết bao bóng tối có thể bủa vây chúng ta. Chính vì thế chúng ta luôn phải cầu xin Chúa ban thêm lòng tin cho chúng ta. Xin Ngài ban thêm đức tin để chúng ta biết đón nhận Ngài trong mọi người anh em, nhất là nơi những người thấp hèn, những người bất hạnh, và ngay cả nơi những người thù ghét chúng ta.

Chúng ta tin vào tình yêu Chúa Kitô, tin vào bản thân Ngài. Đức tin của chúng ta cần phải trổ sinh hoa trái bằng việc làm để mọi người có thể hiểu được thế nào là tình yêu mà chúng ta tin, thế nào là ơn tha thứ mà chúng ta đã lĩnh nhận và trao ban cho nhau, và trên hết mọi sự là người ta có thể nhận ra khuôn mặt của Đấng Cứu Thế mà chúng ta đang tôn thờ.

Không ai nhìn thấy lòng tin, phải chăng vì nó nhỏ như hạt cải, nhưng nó có thể chuyển núi dời non. Lòng tin có thể làm bật gốc rễ của: “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy.” (Ga-lát 5:20-21) và thay vào đó là những việc làm vĩ đại, như thánh Phao-lô đã viết trong thư gửi cho tín hữu ở Ga-lát, đó chính là: “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ.” (Ga-lát 5: 23)

Đó là việc làm của lòng tin. Chúng ta tin rằng chỉ có trong Thần Khí và sức mạnh của Chúa chúng ta mới thực hiện được các điều mà Thánh Phao-lô khuyên dậy nói trên. Chúng ta không hãnh diện hay đi tìm lời khen thưởng cho các công việc của mình, bởi vì không phải tự sức riêng mà mình đạt được. Tất cả đều là hồng ân của Chúa. Thiên Chúa không mắc nợ ai điều gì, trừ phi lòng thương mến, vì đó là căn tính của Ngài. Giống như Ngài, chúng ta cố gắng yêu và tha thứ cho nhau trong Chúa, chứ không phải yêu để trả nợ, cho dù đó là món nợ ân tình.


sau khi thi hành xong bổn phận của người môn đệ, chúng ta có thể hãnh diện mà tuyên xưng rằng: những gì chúng con đã làm đều là những điều Chúa muốn, vì ngoài Chúa ra chúng con thật vô dụng. Anh chị em có tin vào điều đó không? Câu trả lời của chúng ta, dĩ nhiên là có rồi. Và giờ đây, xin anh chị em cùng tuyên xưng lòng tin và cầu xin sức mạnh và ơn trợ giúp của Chúa sẽ giúp chúng ta sống điều mà chúng ta tuyên xưng với nhau trong Kinh Tin Kính. Amen!