Thursday, 25 September 2025

BỔN PHẬN VỚI NGƯỜI NGHÈO

 

Dụ ngôn của Chúa Nhật hôm nay nói về lối sống nhung lụa của ông phú hộ và cảnh nghèo hèn đói khát của La-da-rô. Nó là tiếng chuông báo động, nhắc nhở, cảnh tỉnh lối sống vô tâm và vô cảm của chúng ta. Dụ ngôn còn là lời mời gọi chúng ta thay đổi lối sống sao cho có trách nhiệm hơn trong một xã hội mà người nghèo chiếm đa số.

Trong dụ ngôn, Đức Giê-su giới thiệu hai nhân vật: Người giàu không có tên, còn ông nghèo hèn kia, tên là La-da-rô. Một nghịch lý, vì theo thói đời, những người giầu có quyền quí mới được khắc tên trên bia đá, bảng vàng để mọi người ghi nhớ; còn có ai dư giờ, rỗi hơi mà ghi tên những người nghèo. Chỉ mình Chúa quan tâm, thương yêu và hay bênh vực họ.

 Trình thuật mô tả hai cảnh đời trái ngược nhau. Chúa không hề nói đến cách làm giàu của ông phú hộ; và cũng không hề ca tụng cảnh nghèo của La-da-rô. Không có chỗ nào nói La-da-rô là một con người nhân đức, anh chỉ được giới thiệu là một người nghèo. Cũng vậy, không có chỗ nào nói ông nhà giầu là kẻ ác ôn, đã vơ vét của cải một cách mờ ám, đã chiếm đoạt, đã bóc lột một cách bất chính, đã lợi dụng hay ngược đãi La-da-rô. Chúa cũng không bảo La-da-rô là người đức hạnh và ông nhà giầu là người xấu xa. Chỉ đơn giản, ông nhà giầu là người giầu, La-da-rô là người nghèo.

Ông nhà giầu đã nhìn thấy La-da-rô nghèo đói khốn cùng, đang nằm ở ngoài cổng mà ông không hề động tâm. Giữa họ có một khoảng cách. Khoảng cách không phát sinh từ hoàn cảnh; cho bằng lối sống và cách chọn lựa của ông nhà giầu. Ông ta là người vô cảm, không hề biết quan tâm. Ông dửng dưng và khép kín cõi lòng!

Như vậy, qua dụ ngôn, Chúa muốn gửi cho chúng ta một sứ điệp là: Nếu chúng ta không quan tâm, không giúp đỡ, không thuơng yêu người nghèo hèn thì chúng ta không còn là bạn của Đức Giê-su nữa.

Vẫn biết sứ điệp thật rõ ràng. Nhưng áp dụng không dễ dàng.

Khi còn làm việc tại trung tâm Hoan Thiện, một cơ sở công giáo của người Việt tại Keysborough và các vùng phụ cận thuộc về phía nam của thành phố Melbourne. Tôi thuờng gặp những hoàn cảnh thật khó xử. Có những người đến xin được giúp đỡ. Dân Việt mình thì xin chứng giấy tờ, bảo đảm đức hạnh. Còn những nguời khác, người thì xin tiền, kẻ khác đổ xăng hay trả tiền thiếu hụt thuê nhà, v.v.

Lòng thì muốn giúp, thế nhưng đầu óc, kinh nghiệm và những lời khuyên của các vị lão luyện trong việc mục vụ làm tôi chần chừ. Cuối cùng, tôi cũng tìm cách thoái thác và gửi họ đến các văn phòng xã hội lo cho người nghèo, như văn phòng của hội bác ái St. Vincent de Paul. Tuy giải quyết xong vấn nạn. Nhưng lòng tôi cảm thấy không thoải mái khi tiễn chân họ ra khỏi trung tâm. Cách hành xử như thế, tuy là có chút khôn khéo, nhưng chưa hẳn là khôn ngoan.

Thưa anh chị em,

Như đã trình bầy ở trên: trọng tâm và sứ điệp của dụ ngôn là việc chia sẻ mối dây yêu thuơng và lòng quan tâm của chúng ta dành cho người nghèo. Nhưng điều này không chỉ bị hạn hẹp trong việc chia sẻ tiền bạc, cơm bánh mà thôi.

Còn hơn thế nữa.

Tác giả của dụ ngôn truớc tiên nhắm đến những người biệt phái. Chúng ta đừng quên cộng đòan mà Thánh Lu-ca thành lập là một cộng đòan dân ngọai gốc Hy lạp. Tuy nhiên, cũng có một số gốc biệt phái. Họ chủ truơng rằng sự giầu sang, thịnh vuợng mà họ đang thụ huởng là phần thuởng và dấu chỉ mà Thiên Chúa phải trao ban để tuởng thuởng cho các việc lành phúc đức và lối sống chu tòan lề luật của họ. Còn đám dân ngọai kia biết gì về Chúa. Sự hiểu biết thiển cận của họ về lề luật của Chúa nói lên tình trạng nghèo nàn của họ. Trong con mắt của những người biệt phái thì đám dân nghèo đó thật đáng khinh. Họ giống như La-da-rô, ngồi bên ngoài nhà tại cổng ra vào để chờ chực phần ăn rơi rớt từ trên bàn tiệc của những nguời biệt phái vậy.

Quan niệm của những người biệt phái thật sai lầm. Thiên Chúa của Đức Giê-su không hành động như thế. Tất cả mọi người đều là hình ảnh của Thiên Chúa. Con người thật đáng yêu đáng mến. Không có việc lọai trừ hay phân chia giai cấp dựa trên tiêu chuẩn giầu hay nghèo, sang hay hèn. Tất cả đều bình đẳng trong tương quan với Thiên Chúa.

Thánh Phaolô nói rằng không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giê-su. Vì vậy, chúng ta được mời gọi để nhận ra, để nhìn thấy Chúa Giê-su trong nhau, và cũng nhận ra các giá trị thiêng liêng qua việc chia sẻ vật chất dành cho người khác. Và chỉ trong mối dây tuơng quan mật thiết luôn nghĩ đến nhau, luôn quan tâm cho nhau mới giúp chúng ta lắp đầy hố sâu ngăn cách vì vô tâm, vì ích kỷ để nối kết con người lại gần nhau hơn, và trở thành một gia đình mà chính Chúa là nguời Cha duy nhất.

Đó là mối quan hệ mà Chúa Giê-su mời gọi chúng ta xây dựng.

Vì vậy, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta buớc ra khỏi tình trạng an tòan trong cuộc sống để ra đi bằng việc làm hàn gắn các hố sâu ngăn cách và kết nối con người lại với nhau. Chúng ta không cần chờ đến sau khi chết mới thấy hậu quả của cuộc sống “vô cảm, vô tâm” của ông phú hộ trong dụ ngôn hôm nay. Ngay đời này. Mấy ai sống trong nhung lụa mà thấy hạnh phúc. Họ đang tự chôn mình trong nỗi cô đơn mà chính họ tạo ra.

Như vậy, dụ ngôn không hề có ý mô tả cuộc sống mai sau. Dụ ngôn muốn nói rằng cuộc sống hiện tại của mấy ông nhà giầu cho dù có sướng thật, nhưng chưa hẳn là một cuộc sống có giá trị. Sự hiện diện của người nghèo không phải là một gánh nặng trong cuộc sống của ông; trái lại qua những người nghèo, mấy ông nhà giầu phải nhận ra rằng cuộc sống của họ đang thụ hưởng chỉ đem lại hạnh phúc đích thật nếu họ biết chia sẻ, xây dựng mối dây thân ái, tạo sự hiệp thông bằng việc làm như những lời vàng ngọc mà chúng ta đã nghe trong phần Lời Chúa của tuần trước là hãy dùng tiền của bất chính mà gây nhân nghĩa. Nhân nghĩa là xây dựng đền thờ trong tâm hồn con người… Nhưng hình như, uớc muốn của các người nghèo như La-da-rô trong bài Tin Mừng hôm nay không đuợc đáp ứng; và như vậy số phận của ông nhà giầu coi như đã được quyết định.  

Còn chúng ta thì sao?

Không có ai, kể cả người chết sống lại, có thể buộc chúng ta phải yêu mến. Lời Chúa, lề luật và các ngôn sứ đã được gửi đến. Mặc khải đã có sẵn. Đức Giê-su đã đến. Việc đón nhận để áp dụng vào trong cuộc sống là bổn phận của chúng ta.

Vực sâu lớn nhất của cuộc đời là ích kỷ, là vô cảm, là vô tâm và chỉ biết đến bản thân. Vì thế, chỉ có việc quan tâm, để ý đến nhu cầu của người khác mới tạo nên những nhịp cầu, những lối đi dẫn con người đến sự hiệp thông, đến tình liên đới. Khi biết để ý đến người khác, dù chỉ là một nụ cười, đôi lời tâm sự, vài phút bên nhau hay một bữa cơm, một lời hỏi thăm … tất cả đều là dấu chỉ mà Thiên Chúa gửi đến.

Trong Chúa tất cả đều dễ thương, tất cả đều trở thành cơ hội để hành động. Vì thế, đừng sống vô tâm, đừng đến với nhau như những người vô cảm. Còn rất nhiều La-da-rô trong gia đình và xã hội. Họ đang sống ngay bên cạnh sự nguy nga hoành tráng của các ngôi Thánh Đường, họ đang sống giữa lòng đời và trong lòng Hội Thánh. Họ đang chờ chúng ta băng bó, suởi ấm để cho cuộc đời bớt băng giá hơn.

Ai trong chúng ta cũng nghèo. Nhận ra tình trạng nghèo của bản thân để biết rằng: chỉ có trong Chúa chúng ta mới giàu có, chỉ có trong Chúa chúng ta mới làm được những gì mà Chúa muốn. Amen!

Thursday, 18 September 2025

VINH QUANG CỦA TA LÀ THÁNH GIÁ ĐỨC KI-TÔ

 

Anh chị em thân mến,

Để bắt đầu, xin anh chị em cùng nghe một câu chuyện. Truyện kể rằng: có một vị linh mục kia, đã có một sáng kiến rất ngộ nghĩnh để đánh động giáo dân trong giáo xứ.

Trong một Thánh Lễ Chúa Nhật, dân chúng bỗng nghe một lời rao báo như sau: "Một nhân vật trong giáo xứ vừa qua đời. Tang lễ sẽ được cử hành vào sáng thứ Tư tới". Nghe lời loan báo ấy, cả giáo xứ nhốn nháo lên. Người nào cũng muốn biết con người quan trọng ấy là ai?

Ðúng ngày tang lễ, mọi người trong giáo xứ nườm nượp kéo nhau đến nhà thờ. Từ cung thánh cho đến cuối nhà thờ, không còn một chỗ trống. Người ta đến không phải để cầu nguyện cho người quá cố cho bằng để nhìn mặt lần cuối cùng con người mà ai cũng muốn biết.

Sau thánh lễ, vị linh mục đến mở nắp quan tài để cho mọi người đến chào từ biệt lần cuối cùng người quá cố. Ai ai cũng sắp hàng để nhìn cho kỳ được người chết. Nhưng ai cũng đều ngạc nhiên, bởi vì thay cho thi hài của người chết, mỗi người chỉ nhìn thấy trong quan tài một tấm gương và dĩ nhiên, khi cúi nhìn vào quan tài, mỗi người chỉ nhìn thấy dung nhan của mình mà thôi.

Chờ cho mọi người làm xong nghi thức từ biệt ấy, vị linh mục mới giải thích: "Như anh chị em đã có thể nhận thấy, tôi đã cho đặt vào trong quan tài một tấm kính. Con người mà anh chị em nhìn thấy trong quan tài không ai khác hơn là chính mỗi người trong chúng ta. Vâng, đúng thế, thưa anh chị em, mỗi người chúng ta cần phải mai táng chính mình."

Cũng thế, phụng vụ Hội Thánh tuần này mờI gọi chúng ta suy gẫm và tôn vinh sự chết, đúng hơn là chiêm ngắm Thánh giá nơi treo Đấng cứu độ. Qua Thánh giá và sự chết, Đức Giê-su đã mở cho chúng ta một con đường sống. Qua Thánh Giá và sự chết, Người muốn nêu gương vâng phục để ban ơn cứu độ cho nhân loại.

Thánh Giá là biểu tượng trung tâm của Ki-tô giáo. Mỗi ngày, chúng ta thấy Thánh Giá trong nhà thờ, nhà nguyện và ngay trong gia đình mình. Chúng ta làm dấu Thánh Giá trên thân mình khi cầu nguyện, và mang nơi cổ hay trên người những hình ảnh Thánh Giá như một dấu chỉ nói lên căn tính và đức tin của người tín hữu.

Nhưng ý nghĩa của Thánh Giá không chỉ dừng lại ở đó. Thánh Giá chính là nơi Đức Giê-su đã chịu đau khổ và tự nguyện hiến dâng mạng sống mình. Từ tận trong cõi sâu thẳm của tình yêu, Chúa đã trao chính mình để chúng ta được giao hòa với Thiên Chúa, để chúng ta có thể sống trọn phẩm giá của những người con của Thiên Chúa. Đây chính là Tin vui mà Thánh Giá của Chúa đem lại.

Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể quên rằng Thánh Giá là dấu chỉ của đau khổ, sự chối từ, sỉ nhục và ô nhục mà Đức Ki-tô đã đón nhận.

Thưa anh chị em,

Hẳn anh chị em vẫn nhớ bài học căn bản mà chúng ta đã được dạy bảo trong các lớp giáo lý khai tâm năm nào, con đường nên Thánh là con đường đi qua Thánh Giá và cao điểm của con đường Thánh giá mà Chúa đã đón nhận là sự chết. Đó chính là hy lễ hoàn hảo của Đức Giê-su dâng lên Chúa Cha.

Và chúng ta, là môn đệ của Chúa, cũng được mời gọi bước theo cùng khuôn mẫu ấy. Trong những lúc bị từ chối, trong những nỗi đau, sự sỉ nhục của phận người, chính Đức Giê-su lại đến gần hơn với chúng ta, và tình yêu Thiên Chúa được tuôn đổ trên từng người ngay trong sự yếu đuối của chúng ta.

Đó là lý do tại sao người tín hữu lại yêu mến và suy tôn Thánh Giá của Đức Ki-tô, nơi treo Đấng cứu độ trần gian. Bởi vì Thánh Giá đã nói lên một lần cho tất cả rằng: tội lỗi và sự chết không phải là lời cuối cùng của kiếp người. Tình yêu Thiên Chúa mới là khởi đầu và cùng đích của cuộc đời chúng ta. Và tình yêu ấy đã được tỏ hiện nơi Con Một Thiên Chúa là Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đến không phải để lên án, nhưng để cứu độ, để chữa lành và kéo chúng ta khỏi nọc độc của tội lỗi và ban cho chúng ta sự sống đời đời.

Tất cả những điều ấy, Đức Giê-su đã vui lòng thực hiện một cách tự nguyện. Người đã từ bỏ tất cả, kể cả những đặc quyền Thiên Chúa của mình, trở nên phàm nhân, mang thân phận tôi tớ. Vì sự tự hạ, lòng cảm thương và sự vâng phục Chúa Cha mà Người đã được siêu tôn và ban cho quyền năng cùng vinh dự.

Anh chị em thân mến,

Một trong những tội lớn nhất của thế giới hôm nay chính là chủ nghĩa cá nhân, sự ích kỷ, tôn sùng và cổ vũ cho cái tôi một cách thái quá. Muốn chữa lành, chúng ta phải noi gương Chúa Giê-su: biết từ bỏ chính mình, sống khiêm tốn, yêu thương và trao hiến. Khi chúng ta cho đi chính mình, chúng ta không mất mát điều gì ngoài tính ích kỷ, và chính Thánh Giá sẽ ban cho chúng ta sức mạnh để sống xứng đáng là môn đệ của Chúa.

Hôm nay, cùng với Hội Thánh, chúng ta cất cao lời ca tụng và tôn vinh Thánh Giá Đức Kitô. Chúng ta nâng cao Thánh Giá, không phải như một dấu chỉ của sợ hãi hay thất bại, nhưng là biểu tượng của tình yêu và lòng thương xót vô biên mà Đức Kitô đã dành cho chúng ta.

Xin cho Thánh Giá trở thành nguồn sức mạnh, niềm hy vọng và niềm vui, để chúng ta tiếp tục sống và làm chứng nhân tình yêu của Chúa giữa lòng thế giới hôm nay. Amen!

XỬ DỤNG TIỀN CỦA THẾ NÀO?

 

Tin Mừng Chúa Nhật tuần này mời gọi chúng ta đối diện với một vấn đề rất quen thuộc và vô cùng quan trọng. Chúng ta cần học để xử dụng của cải như thế nào?

Tiền của có đó. Nhưng cách làm ra tiền và cách xử dụng luôn là những vấn đề then chốt trong cuộc sống của tín hữu. Tiền của có thể là đầy tớ, khi khác lại là ông chủ. Nó gần gũi và gắn liền với cuộc sống của chúng ta đến độ đã có nhiều người nói “đồng tiền liền khúc ruột.”  Chúng ta không thể coi thường nó.

Nhìn lại lịch sử và xem lối sống của những người chung quanh, chúng ta khám phá ra một điều thật lạ. Bởi vì có hàng triệu, triệu người đã và đang tin vào tình thương cứu độ của Chúa; rồi lại có hàng hàng lớp lớp những người trẻ có, già có nối đuôi nhau ra đi tham gia vào các công tác thiện nguyện, cứu trợ người nghèo… Thế mà số người chết đói và sống trong cảnh thiếu ăn thiếu mặc vẫn không thuyên giảm! Tài sản mà Thiên Chúa trao ban cho con người thuộc về ai? Chúng ta đã xử dụng nó vào mục tiêu nào? Cho cá nhân hay cho việc chung?

Đối với các tín hữu, chúng ta được dậy là cuộc sống của chúng ta không chỉ lệ thuộc vào tiền của; và tiền bạc cũng không là mục đích tối hậu mà chúng ta nhắm đến. Toàn bộ con người và cuộc sống của chúng ta là để và dành cho việc phục vụ Nước Trời.

Nói thì dễ, làm rất khó. Nhưng đó là bổn phận, không làm thì có lỗi.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Luca tiếp tục thách thức những người tham lam và chỉ biết đến tiền và tiền. Trước tiên chúng ta nghe một dụ ngôn tuy đơn giản, nhưng lại đưa ra nhiều điều hơi khó hiểu. Dụ ngôn nói về tình trạng của một vị quản lý bị tố cáo đã phản bội và không xử lý tốt tài sản của chủ nhân. Ông ta bị chủ cho nghỉ việc. Trước khi bị đuổi việc, ông có thời gian để hoàn bị sổ sách với chủ của mình. Trước quyết định như bị sét đánh, ông quản lý không một chút hoảng hốt, bình tĩnh ngồi lại để suy nghĩ và tính toán cho tương lai mình. Ông nghĩ đến việc thực hiện một vài cuộc giao dịch với các con nợ của chủ ông. Và ông đã thương lượng với họ, hỏi họ nợ bao nhiêu, rồi khuyên họ hãy ghi chính thức số nợ ít hơn. Hẳn nhiên, khi giảm nợ cho họ, ông đã không làm chủ bị thiệt hại mà chỉ xóa phần nợ vốn là tiền hoa hồng của ông. Bằng cách tính toán như thế, ông quản lý đã chuẩn bị cho giai đoạn khó khăn sau khi bị chủ đuổi; ông sẽ có thêm nhiều bạn hữu, họ sẽ nhớ đến ân tình mà cư xử tốt với ông. Còn phía ông chủ, khi phát hiện ra điều này, khen ngợi sự khôn khéo của viên quản lý.

Đức Giê-su kết thúc dụ ngôn bằng lời khẳng định rằng những người tội lỗi của thế hệ này trong cách cư xử với nhau thì khôn khéo hơn con cái của ánh sáng. Sau đó, Người khuyên chúng ta hãy xử dụng tiền của, tự nó đã là vật bất chính, như một cách để tạo lấy bạn bè, phòng lúc bất trắc, khi lâm vào cảnh cùng cực, thì có người sẽ đưa tay ra để đón rước và dẫn chúng ta vào nơi vĩnh cửu. Tiền của, tự nó đã có mãnh lực như một vị thần, nhưng khi chúng ta biết làm chủ thì nó không thể điều khiển tâm trí và lối sống của chúng ta; lúc đó tiền của lại có thể làm nên những điều lợi và tuyệt vời.

Ai trong chúng ta đã không biết rằng của cải đâu mua được hạnh phúc. Tiền của có thể mua được bảo hiểm sức khỏe; nhưng không tạo cho chúng ta nguồn sức mạnh. Chẳng có nguồn của cải nào có thể bảo đảm chúng ta không bị đau ốm hay thoát khỏi bi thương và mất mát. Tiền bạc là một trong các yếu tố quan trọng để giữ cho gia đình được hạnh phúc, nhưng không ai mua được hạnh phúc bằng tiền. Như vậy, sứ điệp mà Chúa muốn nhắn là cách chọn lựa ưu tiên trong cuộc sống: Thiên Chúa và Tiền bạc, ai là chủ?

Hơn thế nữa, chúng ta là những người con của sự sáng, chúng ta được mời gọi sống khôn ngoan và chân thật về cách xử dụng những hồng ân đã được ban tặng hầu mưu cầu ích lợi bền vững và lâu dài sau này. Hãy luôn ghi nhớ rằng chúng ta, tất cả, đều là những đầy tớ vô dụng chỉ biết thực hiện nhưng điều Chủ sai khiến.

Quả thật, câu chuyện trong dụ ngôn tuy có nhiều điểm khó giải thích, nhưng lại nêu lên một vấn đề căn bản trong cuộc sống của người tín hữu là cần phải khôn ngoan khi dùng những ân huệ mà chúng ta đã lĩnh nhận. Làm giầu bằng cách cho đi thì ích lợi hơn là lối sống đầu cơ tích lũy ân sủng cho công nghiệp riêng mình.

Viên quản lý đã bất chính trong việc xử dụng tài sản của ông chủ. Nhưng theo Đức Giê-su thì ông lại khôn khéo khi dùng việc giảm thiểu phân lời để tạo thêm tình bạn. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là phương thức giải quyết khó khăn tạm thời. Người môn đệ của Chúa phải học để biết cách xử dụng tiền của cho mục tiêu dài hạn theo ý của chủ. Đây mới là điều quan trọng mà chúng ta cần đạt được.

Anh chị em tân mến,

Khi tạo dựng, Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta quyền trông coi tài sản của Người. Chúng ta chỉ thi hành bổn phận của người quản lý. Một người quản lý trung tín là người biết coi sóc và lệ thuộc vào ông chủ. Chúng ta không xử dụng tài nguyên, năng lực như của riêng mình, nhưng phải theo ý của chủ. Phải biết tính lời cho chủ. Như thế, không chỉ tiền của mà thôi, nhưng là mọi sự mà chúng ta có được không phải để dành cho riêng mình mà còn thuộc v những người khác nữa. Chúng ta chỉ là những tá điền trong vườn nho của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, ai trong chúng ta cũng nên thừa nhận rằng lòng tham là sức mạnh cám dỗ chúng ta trở thành những kẻ lệ thuộc thay vì làm chủ tiền của. Không ai có thể làm tôi hai chủ được. Chúng ta cần học để biết mà sử dụng các ân huệ của Chúa sao cho được sung túc và sinh nhiều hoa lợi, không cho bản thân, mà là cho Chúa và tha nhân. Nói cách khác, một khi chúng ta dấn thân vì nước Trời thì tiền của, năng lực, con người và toàn bộ cuộc sống của chúng ta cũng chỉ là dụng cụ cho việc phục vụ tha nhân theo tiêu chuẩn của Nước Thiên Chúa mà thôi. Amen

BUÔNG BỎ ĐỂ THEO CHÚA!

 


Khi đọc xong bài Tin Mừng hôm nay, tôi cảm thấy lo sợ, vì những huấn lịnh và các yêu cầu của Chúa quả thật quá khó khăn. Có thật Chúa yêu cầu tôi phải dứt bỏ (hay ghét) thành viên trong gia đình và cả bản thân mình rồi mới theo Chúa hay không? Thế nào, lại chẳng có người khuyên tôi là đừng giải thích và hiểu bản văn theo nghĩa đen. Đức Giê-su không khắt khe và yêu cầu con người thực hiện điều mà mình không bao giờ làm được đâu! Hơn thế nữa, nếu thân bằng quyến thuộc mà mình không thương thì ai tin vào tình thương của mình là chân thật nữa?

Nhìn vào cách cư xử của chúng ta dành cho các đấng các bậc mà chúng ta xếp họ vào lớp người ‘dâng mình cho Chúa’. Sự kính trọng của chúng ta không chỉ dành cho họ mà gia đình họ cũng được thơm lây. Ngay trong cách danh xưng đã thấy khác. Các ngài là cha thì bố mẹ phải là ông bà cố. Vẫn biết rằng sự tôn trọng của giáo dân dành cho những người dâng mình cho Chúa là một việc làm đáng khích lệ. Nhưng việc kính trọng thái quá cũng gây ra phản ứng phụ khiến quí vị thay vì dâng mình cho Chúa, lại bắt giáo dân dâng mình cho họ; rồi từ đó họ cảm thấy mình là ‘ông trời con’ của Ba Ngôi Thiên Chúa mà nhiều người hay gọi các vị đó là ngôi thứ tư Đức Chúa Trời, muốn nói gì hay làm gì cũng được. Thực tế, Ba Ngôi Thiên Chúa ở quá xa, mắt phàm không nhìn thấy, còn ngôi thứ tư lại quá gần khiến bọn dân đen chúng mình còn biết chạy đi đâu!

Như vậy thì ý nghĩa của huấn lịnh mà Đức Giê-su yêu cầu trong bài Tin Mừng hôm nay phải giải thích và áp dụng như thế nào?

Khi Đức Giê-su nói: ai đến với Người mà không ghét (dứt bỏ) cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không đáng làm môn đệ của Người; đây là một kiểu nói so sánh tạo cho người nghe một cú ‘sốc’ và phải chú tâm tìm hiểu.

Có nhiều người giải thích là bất kỳ ai yêu thương cha mẹ, con cái và anh chị em hơn Chúa thì không xứng đáng theo chân Chúa. Chúa không ghen với chúng ta. Chúa buộc con người phải chọn lựa ưu tiên. Chúng ta ý thức rằng trước khi thuộc về nhau, con người phải thuộc về Chúa trước. Vì thế, việc chọn lựa ưu tiên trong cuộc sống để thuộc về Chúa không làm cho chúng ta xa nhau nhưng việc quyết tâm thuộc về Chúa sẽ giúp chúng ta gần với những người thân trong gia đình hơn.

Chúa không dậy các môn đệ của Người sống bất hiếu với cha mẹ hay buông bỏ mọi mối dây tương quan với các thành viên khác trong gia đình. Nhưng Chúa dậy chúng ta phải đặt Chúa ở trung tâm, có nghĩa là chỉ có ai yêu Chúa trên hết mọi sự thì người đó mới có thể yêu gia đình mình một cách vẹn toàn, rồi từ đó tình yêu của họ mới lan tỏa cho tha nhân.

Với ý tưởng như thế, chúng ta mới khám phá ra có mối dây liên hệ giữa việc sắp đặt thứ tự ưu tiên mà các môn đệ cần chọn lựa giữa hành động dứt bỏ họ hàng với từ bỏ mình.

Từ bỏ mình không phải vì mình đã làm sai điều gì; cũng không phải vì ghét bản thân mình nên từ bỏ nó. Nhưng, Đức Giê-su yêu cầu chúng ta từ bỏ mình có nghĩa là từ bỏ cách suy nghĩ cho mình là trung tâm, từ bỏ cái tôi, từ bỏ ý nghĩ hoang tưởng tự nhận mình là người khôn ngoan, nắm giữ mọi câu trả lời.

Việc từ bỏ theo tinh thần của Đức Chúa nhằm giúp chúng ta tập trung vào việc yêu Chúa với cả tấm lòng và yêu tha nhân như Chúa yêu; rồi từ đó chúng ta sẽ có lối suy nghĩ như Chúa vậy. Từ bỏ mình để chấp nhận và sống theo ý Chúa thì dễ cho chúng ta gần và nối kết với những người thân hơn.

Dường như đó là những gì Đức Giê-su muốn khuyên. Từ bỏ không để trở thành một ngôi sao, hay trở thành gương mẫu cho người khác. Từ bỏ để được tự do mà sẵn sàng đón nhận Thập giá của Đức Giê-su. Chúng ta không thể nói yêu Chúa mà không yêu Thập Giá của Chúa.

Vác thập giá là bước kế tiếp mà Chúa yêu cầu, Người phán: “Ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta.”

Dưới thời Chúa Giêsu, thập giá là dấu hiệu của việc bị sỉ nhục, tiến trình đau khổ và sau cùng là cái chết. Thập giá là hình phạt dành cho tội nhân. Vì thế, ai bị kết án vác thập giá thì đồng nghĩa với việc bị tử hình.

Chúa Giêsu dùng hình ảnh ấy để nói: theo Người là chấp nhận từ bỏ chính mình, chấp nhận gian nan, và nhất là chấp nhận bước theo con đường hi sinh. Không có Kitô hữu nào đi theo Chúa mà không có thập giá.

Thập giá mà Chúa Giêsu vác không dẫn Người đến nấm mồ, nhưng mà dẫn đến vinh quang Phục Sinh. Vì thế, khi ta mang lấy thập giá hằng ngày, có nghĩa là khi ta đón nhận những đau đớn vì bịnh tật, bị hiểu lầm, những lo âu trong cuộc sống, những hy sinh âm thầm vì yêu mến là những lúc ta không vác thập giá một mình. Nhưng có Chúa cùng vác, và chính Người sẽ biến các hành động thập giá ấy thành đường dẫn đến sự sống. Vì thế, hành động yêu Chúa của chúng ta thì đồng nghĩa với việc từ bỏ bản thân để vác Thập Giá mà theo Chúa. 

Từ bỏ bản thân! Còn gì khó thực hiện hơn điều này?

Chúng ta sinh ra và lớn lên trong một môi trường cổ võ cho tính ích kỷ, một cách nào đó suy tôn ‘cái tôi’, mong muốn được mọi người để ý và chăm sóc cho các nhu cầu của chúng ta. Tại sao tôi phải từ bỏ mà không phải ai đó? Tại sao lại là tôi?

Đừng càm nhàm và phàn nàn nữa. Bởi vì, chính trong giây phút đó, chúng ta được mời gọi tiến sâu hơn vào trong cõi lòng của Đức Giê-su. Chúng ta được gọi để chết cho các nhu cầu và khát vọng của bản thân để tìm một lối sống đổi mới trong Chúa. Nói cách khác, chúng ta hiện diện trong thế giới này không vì bản thân mình, nhưng vì người khác.

Giả như, có một ngày nào đó, chúng ta nhận ra mình đã đạt được mọi điều như lòng mong ước, nhưng trong tiến trình chúng ta lại đánh mất chính mình! Đến lúc đó mình sẽ như thế nào?

Thưa anh chị em,

Sứ điệp hãy từ bỏ của Đức Giê-su là một nghịch lý. Thay vì từ bỏ điều này, hy sinh điều kia thì chúng ta hãy cho đi nhiều hơn. Hãy quan tâm đến các nhu cầu của người khác nhiều hơn nhu cầu của mình. Đó là sứ điệp của Chúa, sẵn sàng chết cho ý riêng thì chúng ta sẽ tìm được cuộc sống đích thực.

Hơn thế, theo chân Chúa đòi hỏi một hành động dấn thân tích cực, một tính toán cẩn thận để rồi khi bắt đầu thì không được phép tháo lui. Đó chính là điều mà Đức Giê-su đã ám chỉ trong câu chuyện nói về việc cần chuẩn bị khi xây cất và việc tính toán để đạt được chiến thắng trong trận chiến. Những hình ảnh này ám chỉ đến ý nghĩa mà Đức Giê-su muốn các môn đệ phải suy nghĩ chín chắn trước khi có quyết định dấn thân theo Chúa.

Theo Chúa không thể là một quyết định dựa trên cảm tính, để rồi khi thấy khó khăn lại tháo lui. Khi quyết định theo Chúa, người môn đệ phải kiên quyết tiếp tục công trình cho đến hoàn thành. Và sau cùng, Thánh Luca đã tóm lược sứ điệp hôm nay bằng một lời giáo huấn then chốt, đó là phải từ bỏ hết những gì mình có, kể cả mạng sống mình. Nếu không kiên quyết thực hiện điều quan trọng này thì không xứng đáng làm môn đệ của Chúa.

Như vậy, điều Chúa muốn là tấm lòng quả cảm, dứt khoát và liều lĩnh khi theo chân Người. Tuy nhiên, đối diện với thực tế của bản thân, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể giữ được ngọn lửa bùng cháy như thế. Chúng ta vẫn là những kẻ lữ hành, đang đồng hành với Đức Giê-su để tiến về Giê-ru-sa-lem, đỉnh cao của sứ vụ và cũng là vinh quang mà Thiên Chúa sẽ dành cho Người và những ai in cậy nơi Người. Vì vậy, trong Chúa, với Chúa chúng ta cùng tiến bước. Amen!

TỰ HẠ LÀ CON ĐƯỜNG ĐÓN CHÚA

 


Anh chị em thân mến,

Ngày nay việc sắp xếp chỗ ngồi trong các bữa tiệc đã được quí vị chủ tiệc hay quản tiệc lo lắng thật chu đáo, vì thế việc tranh dành chỗ ngồi ít khi xẩy ra. Tuy nhiên, việc dành giật địa vị trong xã hội không thiếu; trái lại càng ngày càng tăng; nhất là tại các nước chậm tiến khi mà uy quyền được củng cố và bảo vệ bởi quyền lực mà quên đi cách thức phục vụ. Hơn thế nữa, thái độ khúm núm và sợ sệt của bàn dân thiên hạ khiến cho những người có quyền lại càng thêm hống hách hơn.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã chứng kiến cảnh người ta chen lấn nhau để tìm chỗ ngồi. Thấy thế, Đức Giê-su đã dùng dụ ngôn để khuyên chúng ta hãy sống khiêm tốn qua Lời Người phán như sau: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”

Vẫn biết rằng ai sống khiêm nhường thì được nhiều người quí mến, và con người thích kết bạn với những ai có lối sống khiêm nhường hơn là kiêu căng. Nhưng trên thực tế thì số người có lối sống khiêm nhường thật ít nếu so với những người kiêu căng. Và sống khiêm tốn là lối sống thật khó khăn; bởi vì cuộc sống của chúng ta chịu ảnh hưởng  bởi một nền văn hóa mà trong đó, người ta cho rằng giá trị con người được đo và đánh giá trên năng lực và khả năng mà người đó có thể kiểm soát được.

Đầu tiên, xin mời anh chị em nhớ lại bài học về nhân đức khiêm nhường mà chúng ta đã học trong các lớp luân lý năm nào. Chúng ta biết rằng khiêm nhường gắn liền với thân phận của con người. Tự nguyên thủy, con người ý thức mình bởi đất mà ra và sau cùng cũng trở về đất bụi. Vì thế, khiêm tốn là chấp nhận một sự thật về thân phận thụ tạo của con người. Chúng ta cho dù phát minh ra nhiều sự, nhưng không bao giờ thay quyền của Đấng sáng tạo được. Sự hiện diện của chúng ta dầu sao cũng chỉ là một món quà của Đấng sáng tạo dành cho vũ trụ này. Những gì chúng ta mang đến, các nỗ lực chúng ta đóng góp sau này cũng chỉ nói lên bổn phận phải chu toàn để hoàn tất nhiệm vụ đã được sai phái. Đã như thế, thì con người dựa vào đâu mà kiêu hãnh.

 Nói một cách khác, khiêm tốn là thái độ sống mà chúng ta cần có để đối diện và chấp nhận các giới hạn của bản thân mà nhận ra sức mạnh, quyền năng và Lòng Thương Xót của Thiên Chúa đang hoạt động trong mình; để rồi trong thân phận yếu đuối của một thụ tạo, chúng ta sẵn sàng đón nhận sự giúp đỡ của nhau mà hoàn thành nhiệm vụ. Như thế, chúng ta có gì để kiêu căng. Tất cả là hồng ân được ban tặng và sự trợ giúp của tha nhân.

Sau cùng, khiêm  nhường là một trong những nhân đức mà người tín hữu cần trau dồi và thực hành trong cuộc sống. Nói như thế, có nghĩa là người tín hữu sẽ không bao giờ là người tín hữu chân chính nếu không sống khiêm nhường.

Trước khi bước sang phần thứ hai của bài Tin Mừng, chúng ta cùng nghe một sự kiện đã xẩy ra tại một xứ đạo thuộc Địa Phận Long Xuyên cách đây khoảng vài chục năm. Sự kiện này xẩy ra vào ngày lễ mở tay của tân linh mục. Trong khi mọi người đang sắp xếp chỗ ngồi cho quan khách đến tham dự thì bỗng nhiên qua loa phóng thanh mọi người nghe giọng cha xứ yêu cầu bà cố Giả ngồi lui vào bên trong để nhường chỗ cho thân mẫu của linh mục bước vào đầu ghế.

Số là hoàn cảnh của tân linh mục cũng thật đáng thương. Ông cố mất sớm. Gia đình chỉ còn lại hai mẹ con. Gia đình túng thiếu. Cậu lại hiếu học và chăm chỉ nên nhiều người thương. Trong xứ đạo, có gia đình bà kia tên là Giả, thuộc hạng giầu có, cuộc sống sung túc đã giúp đỡ ngài trong hành trình tu học. Ai trong xứ cũng đều biết việc này.

Trong ngày trọng đại như thế, cả xứ được hãnh diện chứ không riêng gì gia đình cha. Trong niềm vinh dự đó, mọi người cảm thấy lâng lâng, bà Giả nhà ta cũng có tâm trạng như thế, nên dường như cũng hơi bị bốc quá. Trong khi đó, mẹ của tân linh mục lại quá âm thầm, cứ thu mình vào trong góc nhà thờ, với cỗ tràng hạt trên tay để cầu nguyện cho con đường Thập Giá của con mình.

Gần đền giờ cử hành Thánh Lễ mà cha xứ không thấy bà cố đâu, mới sai các chú giúp lễ đi kiếm và mời bà cố lên. Lúc đó thì bà mẹ nuôi tên Giả mới được cha xứ để ý và thấy bà đang ngồi vào vị trí của bà cố thật nên đã dùng loa mời bà cố Giả về vị trí đã được định sẵn, để nhường chỗ cho bà cố, thân mẫu của tân linh mục, đang khúm núm bước vào chỗ ngồi.

Truyện kể có thật, minh họa và cảnh báo cho những ai thích xum xoe, tự bốc mình lên. Bà cố Giả, người giả, vật giả đang hiện diện chung quanh mình. Đừng có hợm mình kẻo bị lôi xuống!

Anh chị em thân mến,

Trở lại bản văn Tin Mừng. Sau khi Đức Giê-su nói với khách dự tiệc về giá trị của lối sống khiêm nhường. Trong phần tiếp theo, Đức Giê-su nói với người chủ tiệc.  

Trong phân đoạn này, Đức Giê-su đã dậy ông chủ tiệc và cho cả chúng ta một bài học là khi tổ chức tiệc mừng thì hãy nhớ đến những người nghèo khó, tàn tật, què quặt và đui mù mà mời họ cùng dùng bữa. Như thế, chúng ta mới có cơ hội bộc lộ lòng quan tâm, tâm tình chia sẻ và thái độ sống của chúng ta đối với người nghèo nói chung.

Theo thói đời, vào những ngày lễ nghỉ, sau khi tham dự các nghi thức tế tự theo truyền thồng và lề luật dậy bảo, chúng ta thường hay có thói quen tụ họp lại với nhau để mừng lễ. Sau lễ là lạc, lễ lạc là một kiểu nói bình dân mô tả việc mừng lễ qua bàn ăn. Dĩ nhiên, không ai mừng lễ một mình. Chúng ta thường mời thân nhân hay bạn bè đến chia vui.

Dựa vào cách xử thế của đời thường, chúng ta có thói quen mời những người cùng chí hướng, những người bạn có thể cùng nhâm nhi và chia sẻ vui buồn cho nhau. Nói chung, họ là những con người mà chúng ta có thể tương tác được. Không ai thiều khôn ngoan và sáng suốt khi mời những người khách dự tiệc mà chúng ta nghĩ là họ sẽ tạo nên các xung đột và có thể làm cho bầu khí của bữa tiệc mừng trở nên nặng nề, đôi khi trở thành căng thẳng và có thể mất hòa khí nữa. Tinh thần của bữa tiệc tùy thuộc vào thái độ và cách cư xử của người dư tiệc.

Ai trong chúng ta đều muốn có những người bạn tốt. Đức Giê-su không khắt khe đến độ chê trách việc làm của chúng ta như thế là sai. Tuy nhiên, lối sống mà Người muốn các môn đệ của Người và các tín hữu phải có gì khác hơn người thường. Chúng ta là dòng giống được tuyển chọn nên cũng cần chọn lọc cách sống giống như Chúa. Con Chúa mà không giống Chúa thì giống ai!

Người đã đến làm bạn với những người tội lỗi, đồng bàn, cùng ăn cùng uống với họ, cứu giúp những ai đui mù, què quặt, những người không xứng đáng, bị xã hội và cơ cấu đạo đời loại bỏ. Đức Giê-su không hất hủi ai, Người ôm trọn mọi người thành tâm đến với Người. Không ai bị loại bỏ; tất cả đều được đón chào.

Với hiện tình của thế giới hiện nay, những người bị ruồng bỏ có thể là các nạn nhân của các vụ lạm dụng, bạo lực trong gia đình, con người tầm trú, những người bị giai cấp chủ nhân bóc lột, các đứa trẻ không nơi nương tựa, những người thất nghiệp, những người bị các chứng bịnh về thể xác và tinh thần hành hạ… Họ đang chờ bàn tay và lời mời của chúng ta. Lẽ dĩ nhiên, chúng ta cần có sự khôn ngoan trong việc chọn lựa khách mời. Không ai lại đi mời những người có con tim thù hận, sẵn sàng làm ngòi nổ để khủng bố và giết hại người khác, đến tham dự tiệc.

Lời Chúa đòi hỏi nhiều hơn nữa. Dĩ nhiên, chúng ta phải chịu trách nhiệm về lời mời của chúng ta sao cho khách dự tiệc được vui lòng. Nhưng huấn lịnh của Đức Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay cũng không bị bỏ sót và quên lãng. Thân phận của ‘hạng người nghèo mà chúng tôi liệt kê nói trên’ được Thiên Chúa của Đức Giê-su quan tâm đặc biệt. Đức Giê-su dậy bảo rằng lòng từ bi và nhân hậu của Thiên Chúa đổ xuống trên chúng ta là một động lực cấp bách thúc đẩy chúng ta ra đi hoàn tất sứ mạng đã được trao phó hầu đem lại hạnh phúc và một lối sống tốt đẹp hơn cho tha nhân.

Đến đây, như những khách dự tiệc và nhất là trong trách nhiệm của người quản tiệc, chúng ta cần thú nhận với nhau rằng không mấy ai trong chúng ta đã sống được lời khuyên của Đức Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay.

Gương khiêm tốn của Đức Giê-su, đấng đã hạ mình thẩm sâu cho đến độ bằng lòng đón nhận mọi khổ đau, ngay cả sự chết trên Thập Giá. Với việc hạ mình cho đến chết như thế, Đức Giê-su đã bộc lộ lòng vâng phục của Người, để rồi Thiên Chúa Cha đã siêu tôn Người vượt trên mọi danh hiệu. Qủa thật gương tự hạ trong vâng phục của Đức Giê-su luôn là một thách đố muôn đời cho chúng ta. Chúng ta luôn thiếu sót. Chúng ta không bao giờ có thể hoàn thành tốt yêu sách mà Chúa nói trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúng ta cần để cho sứ điệp của Lời Chúa hôm nay chất vấn và đổi mới trong suốt hành trình của cuộc sống.

Chính trong việc tự hạ theo gương Đức Giê-su, chúng ta có thể mở ra để đón tiếp mọi người, không loại trừ một ai; đặc biệt những ai tàn tật, đui mù, khổ đau và nghèo đói sẽ được chúng ta quan tâm hơn; vì theo như Lời Đức Giê-su đã hứa thì họ là những người sau này sẽ đón tiếp chúng ta trong nhà Cha trên trời vậy. Amen!

CỬA CÀNG HẸP CÀNG AN TOÀN

 

Bài Tin Mừng hôm nay tiếp tục nói về cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem của Đức Giê-su. Trên đường đi đã có kẻ hỏi Người rằng “Thưa Thầy, phải chăng chỉ có một số rất ít người được cứu thoát thôi?” Đức Giê-su đã không trả lời trực tiếp là có bao nhiêu người sẽ được cứu độ. Người đã dùng hình ảnh ‘cánh cửa hẹp’ và mời gọi chúng ta chiến đấu để bước qua cửa hẹp mà vào.

Căn cứ vào Lời Người phán, chúng ta thường để ý và suy diễn rồi tìm ra cửa hẹp ở đâu? Làm cách nào để bước vào. Sau đó liệt kê ra một số việc cần làm, những hành động phải hy sinh; các khoản luật cần chu toàn; những điều cần từ bỏ, v.v… Nói chung, làm tất cả để thu gọn vóc dáng sao cho vừa với kích thước của cánh cửa mà bước vào. Nhưng cánh cửa ở đâu?

Ở một nơi khác trong sách Tin Mừng, Đức Giê-su đã phán Người chính là cánh cửa. Con đường và cuộc sống của Người là lối đi hẹp. Con đường hẹp dẫn Đức Giê-su đến cái chết. Thật là ngược đời; nhưng đó lại là ý định của Chúa Cha, Đấng yêu thương nhân loại đến độ không tiếc hy sinh Con của Người để thiết lập vương quốc tình yêu qua sự chết.

Sự khôn ngoan của Thiên Chúa hoàn toàn khác xa với tính toán của con người. Đó là sự khôn ngoan đem đến cho con người sự sống đến từ cái chết. Đức Giêsu nói với chúng ta rằng hạt giống phải chết thì mới sinh nhiều hoa trái. Trong vương quốc của Đức Giê-su thì người nghèo được chúc phúc, những người đau khổ sẽ vui mừng. Thành viên của Nước đó được mời gọi tha cho kẻ thù và làm ơn cho ai oán ghét mình. Tất cả các điều ấy đã được thể hiện trong cuộc đời của Đức Giê-su, một cánh cửa hẹp của Thiên Chúa.

Đây không phải là những điều làm cho con người bị lôi cuốn và hấp dẫn người ta. Đó là nghịch lý, khác hẳn với quan niệm của thế gian; nhưng đối với những kẻ tin, những ai đang theo Chúa thì qua ‘cánh cửa hẹp mở ra một con đường gian khổ’ này lại chứa đựng một niềm hạnh phúc vô biên và đích thực.

Do đó tất cả những ai đã gặp Người, theo chân Người đều cảm nghiệm được điều đó. Bằng chính cuộc sống cũng như các lời giảng dậy, Đức Giêsu đã là Tin Vui cho người nghèo, những kẻ thấp cổ bé miệng, những ai bị bỏ rơi và thân phận không được tôn trọng. Người đã không chỉ giải thoát con người khỏi ách nô lệ của tội lỗi mà thôi, nhưng còn lôi họ ra khỏi sự giam cầm của thứ luật lệ đã giam hãm và làm mất đi phẩm giá của họ. Từ sự giải thoát ấy, họ không bị giam cầm mà sống tự do trong thế giới ân sủng của Chúa. Người chính là cánh cửa hồng ân của Thiên Chúa ban cho nhân loại để những ai bước qua ngưỡng cửa đó sẽ trở thành suối nguồn hồng ân cho tha nhân.

Như vậy, chúng ta không ngạc nhiên khi nhận ra việc Đức Giê-su đã không chỉ cho chúng ta biết về nhưng điều cần thiết phải chu toàn để có thể bước qua ngưỡng cửa mà vào. Thay vì giúp chúng ta có câu trả lời rõ ràng; hôm nay, Đức Giê-su lại dùng hình ảnh của một cánh cửa hẹp để cảnh báo những ai đi theo Người phải nhận ra chính Đức Giê-su là cánh cửa hẹp mà họ không nên bỏ lỡ cơ hội mà bước vào.

Muốn bước qua ngưỡng cửa này, con người phải nỗ lực bằng không một khi cơ hội đã vuột mất, chúng ta có thể là những kẻ mãi mãi ở bên ngoài. Đó là thái độ sống của một số người, sống cùng thời với Đức Giê-su mà lại không nhận ra Người là cánh cửa hồng ân của Thiên Chúa; họ chỉ dựa vào các đặc quyền như là con cháu Abraham, dòng giống được tuyển chọn, dân riêng Thiên Chúa, như là các điều kiện để được cứu thoát. Họ thiếu lòng tin nên không nhận ra cơ hội hay dấu chỉ mà Thiên Chúa gửi đến.

Giống như họ, chúng ta có thể sẽ mặc cả với Đức Giê-su rằng làm sao Người lại không biết chúng tôi. Chúng tôi đã biết Người, đã nói về Người cho người khác nghe; chúng tôi còn rao truyền cho mọi người biết về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa nữa; chúng tôi đã nhận bao nhiêu tình thương; nhất là chắc hẳn Người còn nhớ là đã tha cho chúng tôi không chỉ một lần mà hằng ngàn lần… Kể không hết. Nói chung, chúng tôi là những con người xứng đáng; vậy tại sao để chúng tôi đứng bên ngoài mà gõ cửa mãi thế này? Chưa kể, chính Người đã hứa là ai gõ cửa thì Người sẽ mở cho. Như vậy, căn cứ vào lý lịch công giáo ‘đạo gốc’ của chúng tôi, các việc chúng tôi đã làm, những điều chúng tôi đã nói; xin Người cho biết tại sao lại bị khước từ và chúng tôi còn phải làm thêm điều gì để xứng đáng bước qua ngưỡng cửa mà vào?

Thưa anh chị em,

Con người ngày nay, nếu còn mải mê sống trong một xã hội mà trong đó cách hành xử qui chiếu về mình. Mục tiêu của tôi là giành chiến thắng. Con đường tôi đi phải đưa tôi lên đỉnh cao, tôi phải được về nhất. Và như thế thì ai sẽ vào được cổng! Cho dù cánh cửa có mở rộng, nhưng chúng ta sẽ chết vì chen nhau.

Cánh cửa hẹp đã được dựng nên. Con người cần tự giác và nhắc nhở nhau rằng: cơ hội đã được dọn sẵn, chúng ta đang trên đường, do đó cần nhường bước, quan tâm và giúp nhau đi vào.

Đức Giê-su là cánh cửa hẹp. Người đã đến, hiện diện và hoàn tất sứ mạng một lần cho tất cả. Người không đến cho một cá nhân nào mà cho tất cả mọi người. Do đó, con người cũng đừng có quan niệm chộp bắt Đức Chúa cho mỗi cá nhân và phe nhóm mình.

Và làm thế nào để bước vào cánh cửa đây? Tự cá nhân mình hay cần sự giúp đỡ của nhau. Các điều này tuy cần nhưng không phải là điều quan trọng và then chốt. Nếu chúng ta chỉ nghĩ đến mình và phe nhóm mình thì không ai trong chúng ta có thể bước qua ngưỡng cửa mà vào trong được. Cần khôn ngoan, biết quan tâm và đối xử thật đại lượng với nhau thì tất cả có cơ may vượt qua cánh cửa mà vào.

Còn một yếu tố quan trọng nhất mà chúng ta không thể bỏ qua. Hãy nhớ rằng Thiên Chúa của chúng ta là nguồn hy vọng, chúng ta được sống và tồn tại trong lòng nhân ái của Chúa. Do đó, nếu chúng ta vẫn tiếp tục đào sâu các kinh nghiệm thật cụ thể và sống động về sự thiện hảo, tình yêu thương và lòng quảng đại của Thiên Chúa đang được thể hiện nơi bản thân, trong gia đình và giữa cộng đồng thì cho dù cánh cửa hay con đường có hẹp đến đâu chúng ta sẽ không chơi vơi.

Cùng với Người, chúng ta sống trong tự do chứ không bị ép buộc để đến với nhau, trao cho nhau con tim chân thành, biết quí trọng và yêu mến nhau, tay trong tay cùng dắt dìu nhau bước vào. Cho dù cánh cửa có hẹp đến đâu, nhưng có Chúa ở cùng thì chúng ta an tâm mà vững bước. Có Người ở bên, còn quyền lực nào có thể làm cho chúng ta nao núng và sợ hãi nữa đây!

Đó chính là lối sống của những người đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa mà phần cuối của bài Tin Mừng đã nói đến. Họ đến từ bốn phương thiên hạ. Trong khi đó, những người gần nhất, những người tự nhận mình là ‘đạo gốc’, những người tự xưng mình là con cháu Abraham, con cháu của các Thánh Tử Đạo; nhưng lại thờ ơ trong lối sống quan tâm, thiếu bác ái, không dám cho đi, không nhận ra các dấu chỉ nói lên sự can thiệp của Thiên Chúa mà cộng tác; cho nên đã bị loại để nhường chỗ cho những người sẵn sàng hơn để tham dự tiệc trong Nước Thiên Chúa.

Tất cả đều được mời gọi để hoán cải và việc thay đổi lối sống không thể trì hoãn vô thời hạn. Chúng ta phải để cho sứ điệp Lời Chúa chất vấn tính ích kỷ, cách suy nghĩ nhỏ mọn và hành động thiếu quảng đại của chúng ta đối với nhau. Cửa hẹp vẫn là con đường duy nhất giúp chúng ta bước vào. Cửa hẹp sẽ giúp chúng ta lọc đi những thứ không cần thiết mà bước vào Nước Thiên Chúa.

Vì thế, hãy qua cửa hẹp mà vào. Đừng ngủ yên với lối sống hình thức, nhưng hãy sống đức tin bằng các việc làm cụ thể nói lên sự trung tín và yêu thương của chúng ta với Chúa và với nhau.

Xin Chúa ban ơn giúp mỗi người chúng ta can đảm bước qua cửa hẹp mỗi ngày, để được cùng Người dự tiệc trong Nước Trời. Amen.

 

LỬA THIÊNG ƠI, HÃY BÙNG CHÁY LÊN!

 

Anh chị em thân mến,

Hôm nay, lời tuyên bố của Đức Giê-su trong bài Tin Mừng làm cho chúng ta ‘bị sốc’. Chúng ta giật mình khi nghe Người phán: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết, không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ.” Lời Chúa phán sẽ được giải thích thế nào đây?

Nhìn vào dòng lịch sử của Ki-tô giáo, chúng ta nhận ra một điều là những ai trung thành với ơn gọi ngôn sứ, trung thành với Lời Chúa thường không có kết quả tốt. Số phận của họ rất bi thảm. Những lời họ nói, các việc họ làm thường là nguyên nhân xẩy ra các cuộc xung đột và dẫn họ đến cái chết. Tâm hồn của họ như ngọn lửa thiêu đốt thúc đẩy họ luôn đứng về phía những người bị áp bức, bị đàn áp, bị bóc lột. Họ lên tiếng để binh vực những người cô thân cô thế; đứng về phía các nạn nhân của những vụ đàn áp, bị lạm dụng về tinh thần và thể xác. Họ là điểm tựa, chỗ dựa cho những ai bị tổn thương vì bạo hành. Nói chung, những người nghèo, những con người tất bạt bị xã hội ruồng bỏ lại trở thành những những bạn thiết nghĩa của các ngôn sứ.

Chúng ta không thể quên vai trò của các ngôn sứ trong thời Cựu Ước. Các ngài đã lên tiếng chống lạm dụng và bất công, đứng về phía những ai bị bóc lột, binh vực những con người bị đàn áp. Nói lên tiếng nói của sự thật…  Nói chung, các ngài sống vì người nghèo, cô thân, cô thế …. Lối sống và sứ điệp của các ngài lẽ ra được các nhà lãnh đạo hỗ trợ; trái lại lại nhận được sự chống đối, đôi khi dẫn đến bạo hành và có thể bị thanh trừng; thậm chí họ phải đánh đổi cả mạng sống vì ơn gọi.

Nỗi khó khăn nhất mà các ngôn sứ phải đối diện không xuất phát từ những người có quyền hành trên các ngài, phải chiến đấu với những người thân trong gia đình. Họ được thúc đẩy bởi Thiên Chúa, trong khi đó những người thân lại không  nhận ra được giá trị này, thế là xẩy ra tình trạng đối kháng ngay trong gia đình. Cứ lẽ tự nhiên thì người càng thân, càng gắn bó với mình bao nhiêu thì sức chống đối lại càng mạnh hơn; bởi vì họ lo cho mình!

Trong thời đại của chúng ta, vào những thập niên gần đây, chúng ta nghe đến các tên như Martin Luther King, Nelson Mandala, và Oscar Romero…. Để bảo vệ cho công lý và hòa bình, nhất là binh vực cho quyền làm người, các ngài đã dùng chính cuộc đời và mạng sống để làm chứng. Các ngài là những ngôn sứ của thời đại chúng ta.

Lời chứng của các ngôn sứ thường không được những vị lãnh đạo về mặt đời cũng như mặt đạo chấp nhận. Ơn gọi ngôn sứ thật cô đơn. Cái giá mà các ngôn sứ đạt được không phải là sự ủng hộ của bạn đồng nghiệp hay sự hỗ trợ của những ai có quyền; thậm chí họ có thể là nạn nhân của những con người mà họ lên tiếng để bảo vệ nữa.

Đức Giê-su nói cho những ai đang lắng nghe Người nhận biết rằng đón nhận sứ điệp và dấn bước theo Người không phải là việc dễ dàng. Tin Mừng và con người của Đức Giê-su có thể gây ra những phản ứng trái chiều, hay ít nhất gây ra một vài bất đồng cho người đón nhận. Có người hân hoan đón nhận và đem ra áp dụng, lại có người khác vì quyền lợi mà ra sức chống đối. Mỗi người một cách thức đón nhận; không ai giống ai. Đây là sự phân rẽ vì niềm tin, vì lối sống. Không chỉ xẩy ra hôm nay; nhưng đã xuất hiện qua bao thế hệ. Ngay từ thủa Hội Thánh còn trong buổi sơ khai, lẽ ra cần có sự hiệp nhất để bảo vệ nhau; trái lại các tín hữu thường bị chính quyền và những người thân cận của mình ghét bỏ.

Nhìn lại giòng lịch sử, chúng ta hãy can đảm nhìn nhận có sự phân rẽ trong sự hình thành và phát triển các cộng đoàn Ki-tô giáo. Vấn đề hoàn toàn không xuất phát từ các nguyên do tạo ra sự chia rẽ cho bằng cách chúng ta hành xử như thế nào về sự chia rẽ. Giả như nhóm nào cũng chủ trương mình là đúng, và chỉ có mình mới xứng đáng giữ truyền thống và có quyền giải thích các mầu nhiệm trong đạo thì chúng ta lại xem thường sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa nơi các nhóm hay giáo phái khác. Thiên Chúa hiện diện và hoạt động ở khắp nơi, khắp chốn.

Thưa anh chị em,

Nói chung, sự trung thành với giáo huấn và lối sống của Đức Giê-su có thể là nguyên nhân gây ra các cuộc chia rẽ trong suốt lịch sử, và vẫn còn xẩy ra trong thời đại của chúng ta.

Trên khắp thế giới ngày nay có hàng ngàn người sợ nói ra công lý bởi vì nếu họ làm như vậy họ có thể phải đối mặt với guồng máy của những người có thế lực rồi bị tra tấn cho đến chết. Hiện tượng này đặc biệt xẩy ra tại các nước Á Châu, bên Châu Mỹ La Tinh và các nước mà nền dân chủ bị khống chế bởi một số người có ‘máu mặt’.

Các phản ứng giống như thế cũng xẩy ra trong gia đình. Trong cuộc sống gia đình, người phối ngẫu phải đối diện với một tình trạng căng thẳng; một bên là sự tha thứ, bên kia là con tim tan vỡ vì sự bất trung của người bạn đường khi vợ hay chồng đã có quan hệ bất chính với người khác.

Các bậc làm cha mẹ, như đứng trước ngã ba đường, không biết khi nào cần nghiêm khắc và khi nào dễ dãi với các người con mình. Vẫn biết cuối cùng các bậc phụ huynh cũng nhường bước vì yêu thương các cháu, tuy nhiên sẽ làm cho họ đau thấu tâm can.

Tại nơi làm việc, chúng ta có thể bị đối diện với một bên là tiếng nói của lương tâm, sự thúc đẩy của Tin Mừng hay là chọn thái độ im lặng đồng lõa với tội ác để thăng tiến nghề nghiệp và có thể được thăng chức. Họ phải chọn lựa giữa sự phân tranh đó.

Các sinh hoạt tôn giáo cũng có thể đặt con người vào vị trí phải chọn lựa: đóng góp để xây dựng cơ cấu hay con người. Cách thế nào phục vụ Chúa hữu hiệu hơn?

Trước yêu cầu của Tin Mừng, lối sống của người tín hữu không bao giờ dễ dàng. Chúng ta luôn được đòi hỏi để vươn lên khỏi các thực tại của trần gian này. Trong khi thi hành nhiệm vụ cao quí của ngôn sứ, chúng ta được mời gọi như những ngọn lửa được ném vào trái đất để xua tan bóng tối. Muốn đạt được điều này, chúng ta hãy nhìn thẳng về phía trước, nơi Đức Giê-su đang ngự trị và mong chờ sự thành tựu sẽ xẩy ra nơi những gì mà Người đã khởi sự. Hãy nhớ rằng: cho dù gặp khó khăn, nhưng nỗi khổ đau và đối kháng mà chúng ta lĩnh nhận chưa bằng những gì mà Đức Giê-su đã chịu đựng, hầu qua đó chúng ta sẽ khỏi mỏi mệt và thất vọng.

 Là những người theo Đức Giê-su, chúng ta liên tục phải đối diện với các tình huống đòi buộc chúng ta phải lựa chọn giữa thiện và ác, tốt và xấu. Đối mặt với những tình huống như thế chúng ta cần can đảm và sự khôn ngoan. Và lòng can đảm, sự khôn ngoan và khả năng đối phó với các nghịch lý trong cuộc đời chỉ được tìm thấy trong mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa mà thôi.

Cầu xin Chúa ban cho chúng ta luôn kiên vững trong sứ mạng, đem chân lý và bình an đến cho nhau, để ngọn lửa mà Đức Giê-su đã nhen nhúm nơi bản thân và cuộc sống của chúng ta được cháy bùng lên luôn mãi. Amen!