Wednesday, 23 November 2022

CHÚNG CON SẴN SÀNG RỒI!


Chúng ta đã kết thúc năm phụng vụ 2022 bằng việc cử hành trọng thể Lễ Chúa Giê-su Ki-tô, Vua vũ trụ vào Chúa Nhật tuần qua. Lại một lần nữa, chúng ta hạ quyết tâm đầu phục Đức Giê-su làm vua và làm Chúa chúng ta. Không chỉ có thế, chúng ta còn cố gắng làm mọi cách cho vương quyền của Thiên Chúa mau đến, Nước Chúa được hiển trị để muôn dân muôn nước sẽ quì gối mà tôn vinh Người là Chúa, là Vua.

Thực tế, đó vẫn chỉ là ước mơ. Ngày mà muôn dân qui tụ dưới chân của Vua Tình yêu sẽ đến, nhưng vẫn chưa biết khi nào! Hiện tại chúng ta còn việc phải làm để khi nào Người đến thì chúng ta đã sẵn sàng.

Đó cũng là tinh thần của Mùa Vọng. Chuẩn bị sẵn sàng để kỷ niệm việc Chúa đến lần thứ nhất trong Lễ Giáng Sinh và cũng chuẩn bị để gặp Chúa trong mọi giây phút của cuộc đời mình nữa; để khi Chúa đến lần thứ hai trong quang lâm, chúng ta đã sẵn sàng. Trong tinh thần đó, sứ điệp của Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng này nhắc nhở chúng ta hướng về ‘Ngày của Chúa’ đến lần sau cùng. Đây là vấn đề của đức tin. Chúng ta tin Người sẽ đến, còn đến như thế nào thì không ai biết, chỉ mình Thiên Chúa biết thôi.

Vì vậy, trong bài Tin Mừng hôm nay, với kiểu nói minh họa, Thánh sử Mát-thêu đã thuật lại trận lụt kinh hoàng xẩy ra dưới thời ông No-ê. Nhưng ở đây có một chi tiết quan trọng mà chúng ta cần lưu tâm, đó là không có sự phán xét về mặt đạo đức để coi trận lụt như là án phạt mà Thiên Chúa dành cho những người sống cùng thời với ông No-ê. Điều mà bản văn muốn nhấn mạnh là: Cuộc sống của con người vẫn tự nhiên, họ vẫn ăn, vẫn uống, vẫn làm lụng vất vả, sinh hoạt như mọi ngày, chẳng có chi tiết nào nói đến cuộc sống đồi trụy hay sa đọa cả, chẳng có một dấu hiệu nào báo về ngày cùng tận cả. Trong bối cảnh bình thường như thế, cuộc chung thẩm sẽ bất ngờ xẩy ra.

Những câu nói kế tiếp trong bài Tin Mừng sẽ làm cho ngày chung thẩm xẩy ra một cách bất ngờ hơn. Bất ngờ đến độ hai người đang làm việc ngoài đồng thế mà một sẽ được cất đi, người kia bị bỏ lại. Việc này cũng xẩy ra cho hai người phụ nữ đang kéo cối xay trong nhà, một bà được đem đi và bà kia bị rớt lại. Các chi tiết này giúp cho chúng ta nhận ra rằng dù làm việc trong nhà hay ngoài đồng, phán quyết chung thẩm của Thiên Chúa dành cho họ, không lệ thuộc không gian hay thời gian và cũng không dựa trên các hoạt động hay việc làm của họ. Thiên Chúa hoàn toàn tự do làm chủ việc làm của Người. Tuy nhiên, những kẻ được đem đi có thể ám chỉ đến việc họ đã được cứu; bởi vị họ là những người đã tin và can đảm tuyên xưng Đức Chúa là Đấng Cứu Tinh của họ.

Sau đó là hình ảnh kẻ trộm. Không ai muốn kẻ trộm đột nhập vào nhà mình. Kinh nghiệm bị kẻ trộm đột nhập vào nhà vẫn là một trong các kinh nghiệm đáng sợ. Sau đây là một trải nghiệm. Khi còn ở quê nhà. Vào một ngày nọ, tôi đang chăm chú làm bài tập trên gác, bỗng nghe có tiếng động phát ra từ tầng dưới. Thoạt tiên, tôi nghĩ rằng mẹ đi chợ đã về. Tôi vội vàng leo xuống cầu thang xuống thẳng nhà bếp, nơi vừa phát ra tiếng động. Mẹ đâu chẳng thấy chỉ thấy một người khách không mời mà đến đang đứng đó. Nghe thấy tiếng động, ông ta lao thẳng ra ngoài và biến mất. Tôi khám phá ra ô kính ở của sổ nhà bếp đã bị đập vỡ. Tuy người khách lạ đó chưa thu hoạch được gì. Nhưng tôi thì khiếp sợ và không dám ở nhà một mình trong một thời gian khá dài. Với cảm nghiệm cá nhân như thế thì ai dám nghĩ đến việc mong kẻ trộm đến. Vì thế, hình ảnh kẻ trộm được dùng ở đây như một kiểu nói có ý nhấn mạnh đến sứ điệp là hãy sẵn sàng vì Chúa sẽ đến vào lúc chúng ta không ngờ nhất.

Thưa anh chị em,

Đó là lời cảnh báo rất thực tế vì không ai trong chúng ta biết ngày và giờ nào Chúa đến cả. Người sẽ đến bất thình lình. Tại chỗ khác, Đức Giê-su khuyên bảo chúng ta hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn. Bởi vì, nếu không tỉnh thức và cầu nguyện thì lòng chúng ta sẽ trở thành chai đá. Rồi những lo âu thái quá trong cuộc sống khiến cho đời sống của chúng ta bị quay như chong chóng, mất phương hướng rồi quên đi mục tiêu và các ưu tiên trong cuộc sống.

Thái độ sẵn sàng và tỉnh thức là những đức tính cần thiết mà người tín hữu phải luyện tập. Muốn đạt được điều này, chúng ta tỉnh thức bằng cách chu toàn trách nhiệm hiện tại, biết nhận ra những dấu chỉ thời đại, khám phá ra thánh ý Thiên Chúa, kiên tâm phục vụ trong yêu thương, nỗ lực hơn trong các dự án tình thương, những công việc bác ái, ra sức cổ võ cho sự hiệp nhất,  rộng tay đón tiếp và chia sẻ cho những người nghèo đói, hoạn nạn.

Đó chính là chương trình, dự án mà chúng ta cần hành động trong Mùa Vọng này.  Đây là thời kỳ hồng ân. Đó là thời điểm để chúng ta xét mình, làm cho cuộc sống bớt bị ràng buộc và trở thành nhẹ nhàng hơn, tập sống buông bỏ không bị dính bén để cho lòng mình được nhẹ nhàng thanh thản chờ đợi Ngày Chúa đến. Ngày nào cũng là ngày của Chúa. Ngày nào cũng là dịp thuận tiện để Chúa đến. Vì thế, sẵn sàng trong kinh nguyện và việc làm là cách thức chuẩn bị tốt nhất. Qua đó con người gặp Chúa, mà càng gặp lại càng yêu và càng yêu lại càng nhớ và chỉ muốn gặp mãi. Nếu không thực hiện được như thế thì cuộc sống con người giống như cá thiếu nuớc, con người thiếu dưỡng khí.

Như vậy, tỉnh thức và cầu nguyện là khí cụ để con người luôn sẵn sàng gặp Chúa và gặp nhau. Vì thế, hãy sẵn sàng. Đức Chúa đang đứng ngoài cửa, Người gõ và chờ đợi chúng ta mở cửa đón tiếp Người. Người hằng ước ao được dùng bữa tối với chúng ta. Đó là điều Người mong đợi. Vậy còn chần chờ gì nữa, hãy mở cửa lòng để Chúa ngự đến. Nhất là qua các bữa tiệc tạ ơn, bữa ăn lòng mến, những cuộc gặp gỡ thân tình để làm thế nào mà mọi người đều có thể lớn lên khi gặp được con người thật của nhau trong Chúa.

Ngày nay, sống giữa nền văn hóa của sự vô cảm đối diện với bao lo âu chúng ta nhận ra đây là cơ hội mà chúng ta phải chộp lấy để thi hành bổn phận và trách nhiệm của người môn đệ. Hãy làm sống lại con người thật của mình, để Thiên Chúa hiện diện và sinh ra trong lòng mọi người. Đây là cơ hội, là dịp thuận tiện để chúng ta nghĩ và thực hiện các điều đó!

Đúng thật, tất cả đều là cơ hội để chúng ta chuẩn bị cho Ngày gặp Chúa và anh em, cho đến khi Chúa vinh hiển ngự đến lần sau cùng. Còn hiện nay, trong lúc này, chúng ta hãy nói ‘Ma-ra-na-tha, Lậy Chúa xin hãy đến,’ vì chúng con sẵn sàng rồi. Amen!

Wednesday, 16 November 2022

CHÚA KI-TÔ: VUA VŨ TRỤ, ĐẤNG XÓT THƯƠNG MUÔN LOÀI


Trong Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ, chúng ta hướng về ngày cùng tận của thế giới, ngày mà chúng ta trông đợi Đức Giê-su uy nghi vinh hiển đến trong tư thế của một ông vua, không theo nghĩa thế trần. Đức Ki-tô sẽ đến như một vị vua đầy lòng nhân ái, quan tâm, lo lắng, chăm sóc và hy sinh cho toàn dân thuộc về Nước của Người, không loại trừ một ai. Đó chính là đích điểm nói lên tình yêu, lòng thương xót của Người dành cho thế gian này. Và, để diễn tả ý tưởng này, phụng vụ của Hội Thánh, trong bài Tin Mừng hôm nay, đã mô tả những việc xẩy ra trong giây phút cuối đời của Chúa Giê-su khi Người bị treo trên Thập giá. Giây phút này được coi như cao điểm của những thử thách mà Đức Giê-su đã chiến đấu để hoàn tất vai trò và nhiệm vụ mà Chúa Cha đã trao phó. Những gì xẩy ra hôm nay được coi như thử thách hay cám dỗ cuối cùng mà Đức Giê-su cần phải đối diện. Trận chiến kéo Đức Giê-su ra khỏi thập giá được lập đi lập lại bởi những người đang hiện diện dưới chân của cây thập giá. Còn dân chúng thì đứng từ đàng xa mà nhìn.

Trước hết, các thủ lãnh cám dỗ Chúa: “hãy xuống khỏi thập giá đi!” Lý luận họ đưa ra thật xác đáng rằng nếu Đức Chúa đã từng giúp và cứu nhiều người thì giờ đây tại sao lại chịu trói như thế. Và nếu quyền năng của Thiên Chúa ở với Đức Chúa thì đây là giây phút bộc lộ cho mọi người biết thì hãy tự cứu mình đi. Nghe chúng nói thì chướng tai và nhìn họ lại thêm gai mắt; thôi thì biểu lộ uy quyền cho chúng biết tay. Nếu Đức Giê-su làm như thế sẽ mắc bẫy của chúng!

Quân lính cũng đưa ra món mồi tuơng tự: “Hãy xuống khỏi thập giá”. Vua mà không có quyền thì nói ai tin. Cứu mình khỏi cảnh ô nhục và cho muôn dân thấy vương quyền của Người. Lại một lời mời gọi đi con đuờng tắt dẫn vào ngõ cụt, trái ý Chúa Cha nên Người đã không theo.

Rồi đến người tử tội cũng muốn ăn ké; nhưng cám dỗ mà anh ta đưa ra chạm vào căn tính ‘Mesia’ của Người. Đức Kitô đuợc xức dầu, tấn phong để thực hiện nhiệm vụ của người tôi tớ, chứ đâu phải đến để tìm quyền lực và vinh danh hư ảo.

Đức Giê-su đã không chịu lùi bước, Người đã chiến đấu. Tuy vậy, truớc mắt họ thì hình như Đức Giê-su là nguời thua cuộc, thất bại. Nhưng, qua sự vâng phục thẩm sâu của Đức Giê-su như thế cho nên Thiên Chúa đã siêu tôn Người. Đức Giê-su đã đuợc Chúa Cha tôn vinh là Vua, là Chúa của muôn dân muôn nuớc. Qua tấm lòng hiếu kính và vâng phục, Người đã sửa lại những sai trật của con người từ nguyên thủy để ban cho tất cả nguồn ơn cứu độ.

Còn chúng ta thì sao?

Hãy ghé mắt nhìn vào tội nhân thứ hai. Tôi thấy trong anh có tôi. Anh là đại diện và là mẫu guơng cho các người thuộc về ‘nuớc’ của Đức Giê-su. Anh nhìn nhận lỗi phạm của chính mình và cũng nhận ra sự vô tội của Đức Giê-su, rồi cầu xin Người cứu vớt. Thái độ của anh hòan tòan khác và trái nguợc với những người thủ lãnh, quân lính và phạm nhân bên kia. Và anh đã đuợc cứu.

‘Hôm nay’ không phải ngày mai. Ngay bây giờ, ngay lúc này anh đuợc ở trên thiên đàng với Chúa. Thiên đàng ở đây không phải là nơi chốn, nhưng là tình trạng hiệp nhất hòan hảo giữa Chúa và anh. Anh đã đạt được sự hiệp thông trọn vẹn này qua việc nhận ra sự hèn yếu của bản thân mà nuơng tựa hoàn toàn vào Chúa. Trong mối dây hiệp nhất, anh được ơn tha thứ.

Đây cũng chính là điều mà chúng ta theo đuổi trong suốt cuộc đời. Lòng thuơng xót của Chúa là chốn nuơng thân cho những ai thuộc về Nước Thiên Chúa. Chúa thương xót để chúng ta xót thương nhau.

Sau đây là vài truyện ngắn nói lên một vài gương sáng để chúng ta cùng suy cùng gẫm:

Truyện thứ nhất xẩy ra vào một đêm khuya lạnh giá tại thành phố Dublin, bên Ái Nhĩ Lan. Có cô y tá đang vội vã chạy trên đường hầu bắt kịp chuyến xe buýt cuối cùng để về nhà, thì trước mắt cô là một cảnh tượng rất đáng thương tâm. Một người đàn ông trẻ tuổi nằm trên vỉa hè. Anh ta dường như là người say rượu hay mới bị ai đánh đang cần sự trợ giúp. Tuy đang vội, nhưng lòng trắc ẩn và lương tâm của một y tá đánh thức cô. Cô dừng lại để tìm cách giúp đỡ anh. Nhưng, khi cô vừa cúi mình xuống thì anh ta nhẩy chồm lên, chộp lấy chiếc xách tay của cô. Hai bên giằng co nhau. Cô không chịu buông tay và anh ta cũng không bỏ cuộc. Trong lúc dành giật, thì bỗng nhiên vào một khoảnh khắc nào đó, ánh mắt của họ gặp nhau và chàng thanh niên giả vờ bị thương mới buông tay ra và kêu lên ‘Ồ, chị là cô y tá Murphy,’ và họ bắt đầu trò chuyện.

Số là vào một thời gian trước đây, cậu thanh niên đó đã nằm trong nhà thương với một cái chân bị gãy, và cô y tá Murphy là người đã tận tình săn sóc và đối xử rất tốt với anh.

Trong khi nói chuyện, anh hỏi cô đi đâu? Cô y tá tốt bụng nói cho anh biết là cô đang trên đường đến trạm xe buýt để đón xe về nhà. Nghe đến đó, anh cùng với cô đi bộ đến trạm xe buýt, xin lỗi cô về những gì đã xảy ra và chào tạm biệt cô.

Truyện thứ hai được kể lại bởi mẹ Thánh Teresa thành Calcuta, bên Ấn độ. Vào một ngày kia, từ trong một cống rãnh đầy mùi hôi thối tại Calcuta, Mẹ đã nhặt được một người đàn ông và đưa ông về nhà dành cho những người đang hấp hối. Trước khi chết, anh thưa với mẹ rằng "Thưa sơ, khi còn sống con đã sống như một con vật nhưng khi chết con lại được yêu thương, chăm sóc và chết như một thiên thần." Mẹ vô cùng cảm kích khi nghe những lời như thế. Ông đã chết mà không oán trách hay nguyền rủa ai. Mẹ cảm thấy thật vinh dự khi có cơ hội giúp ông sống những giờ phút cuối đời với cảm giác được yêu thương và trân trọng như một thiên thần.

Lòng nhân ái và sự săn sóc đặc biệt của Mẹ Teresa, các nữ tu trong Dòng của Mẹ và chị y tá mang tên Murphy đã đánh động lòng tốt, sự thiện hảo của nhiều người, trong đó có một người sẵn sàng phạm tội ác. Anh đã được cảm hóa, không cướp giật vì qua việc làm nhân ái của cô y tá Murphy đã đánh thức bản tính thiện lương và lòng tốt mà Thiên Chúa, Đấng tạo hóa đã ban cho anh. Tất cả mọi vật Thiên Chúa tạo dựng đều tốt.

Ước gì qua lối sống xót thuơng mà chúng ta đặt tha nhân làm đối tượng sẽ giúp chúng ta nhận ra sự bất tòan của bản thân mà nương tựa vào Chúa. Vì trong khoảnh khắc như thế, Chúa làm cho con tim ta rung động, mắt ta sáng hơn, đôi tai ta nghe rõ hơn nhưng lời van xin của kẻ khác, nhất là những người nghèo. Họ đang chờ lòng xót thương của anh chị em.

Hãy nuơng tựa vào Chúa. Người chính là nguồn năng lực duy nhất giúp chúng ta tiếp tục sống và làm chứng cho thế giới nhận ra Chúa là Vua yêu thương, là Chúa của lòng thương xót. Amen!

 

Wednesday, 9 November 2022

SẴN SÀNG CHO CHÚA

 

Bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ 33 mùa thường niên là một phần của diễn từ mà chúng ta hay gọi là diễn từ quang lâm. Khi nghe trích đoạn Tin Mừng này các tín hữu đầu tiên đã chứng kiến cảnh đền thờ Giê-ru-sa-lem bị tàn phá. Quả thật, biến cố kinh hoàng này đã khiến cho niềm tin của các tín hữu tiên khởi bị lung lay đến tận xương tủy. Họ tự hỏi nhau rằng phải chăng đây là dấu hiệu báo ngày tận thế sắp xảy ra?

Chúng ta phải đọc diễn từ quang lâm mà Thánh Lu-ca trình bầy ở đây như là một lời nhắc nhở rằng việc đền thờ Giê-ru-sa-lem bị tàn phá được Đức Giê-su dự đoán đã xẩy ra. Đó không phải là dấu hiệu tiên báo điều gì sẽ xẩy ra cho bằng bàn tay của con người phá hủy nó. Chúng ta hãy nhớ rằng Đức Giê-su rao giảng và thiết lập Nước Thiên Chúa. Việc hình thành và phát triển Nước Thiên Chúa không bị lệ thuộc bởi việc xây dựng các cơ sở vật chất do bàn tay con người đóng góp.

Bên cạnh đó, Người còn nói cho những kẻ theo Người biết rằng không chỉ có đền thờ đã bị tàn phá mà sẽ còn nhiều tai ương và hoạn nạn xẩy đến cho thế giới này nữa... Một thế giới vẫn còn nhiều bất ổn, bạo động, chiến tranh và khủng bố; các tai ương như thiên tai, động đất và lũ lụt vẫn xẩy ra.

Cho dù tất cả các biến cố như động đất, ôn dịch, đói kém hay các hiện tượng kinh hoàng khác ập xuống trên mặt đất cũng không làm con người phải hoảng sợ. Đức Giê-su đã quả quyết rằng những sự việc đó sẽ xẩy ra trước, nhưng đó cũng không phải là các điềm báo nói về ngày tận thế đâu. Việc Chúa đến trễ hay đến sớm không phải là việc mà chúng ta cần quan tâm hay lo lắng.

Ngoài ra, các người theo Chúa còn bị bách hại, bị ngược đãi và bị giam cầm, thậm chí còn bị những người thân trong gia đình bắt nộp. Nhưng, tất cả các điều đó không làm cho chúng ta phải hoang mang hay lo sợ; trái lại chúng ta hãy xử dụng hoàn cảnh ngặt nghèo như là những cơ hội để loan báo Tin Mừng cho những ai đang có lối sống thù địch với Tin Mừng. Sống trong tư thế của kẻ đã sẵn sàng hoạt động để loan báo Tin Mừng là thái độ sống tích cực của người tín hữu đã sẵn sàng đón chào Chúa.

Thật ra, chúng ta được mời gọi để đón nhận mọi biến cố xẩy đến trên thế giới này bằng một niềm hy vọng. Chúng ta được mời gọi trung kiên với Chúa và tìm mọi cơ hội để làm chứng cho niềm tin giữa lòng thế giới mà chúng ta đang sống. Tất cả mọi biến cố đều nằm trong kế hoạch yêu thương của Người. Đức Giê-su muốn chúng ta có nhiều thời gian để chuẩn bị cho thật tốt, nhất là biết dùng thời gian đang sống để công bố cho mọi người biết về Tin Mừng của Thiên Chúa.

Đối với chúng ta là những tín hữu, chúng ta cũng được mời gọi hành xử tự do với vốn liếng đã được trao ban để làm chứng cho Tin Mừng trong lòng xã hội và môi trường sống của chúng ta. Sự tự do này đòi hỏi chúng ta phải liều lĩnh và chấp nhận mọi thua thiệt để trung tín với những đòi hỏi triệt để của Tin Mừng. Liều lĩnh trong niềm tin vào Thiên Chúa là một trong những đức tính cần thiết mà chúng ta cần có. Liều lĩnh để làm chứng về tình yêu của Thiên Chúa là một ơn gọi vô cùng cao quí mà Chúa đã mời gọi. Đây còn là một đòi hỏi vô cùng cần thiết cho thế giới bị tục hoá mà chúng ta đang sống hôm nay.

Thưa anh chị em,

Hôm nay, trong tinh thần đó, với niềm hân hoan, chúng ta mừng Lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Cha ông chúng mình đã hy sinh mạng sống để minh chứng đức tin kiên cường của các ngài. Chúng ta không thể phủ nhận gương can đảm, chấp nhận mọi khổ hình mà cha ông chúng mình đã trải qua. Sử sách đã ghi lại bao nhiêu loại cực hình khác nhau đã đuợc dùng để tra tấn các ngài như: nhẹ thì gông cùm, giam tù, bỏ đói; nặng hơn một chút là cho voi dầy, phơi nắng và ném xuống sông; quyết liệt hơn thì bị chặt đầu, bị thắt cổ hay bị đốt cháy; man rợ và hiểm độc nhất là bị phân thây ra từng mảnh hay là tùng sẻo… Chỉ cần tuởng tượng những cực hình nói trên cũng khiến cho con người ngày nay run sợ hãi hùng.

 Tất cả các cực hình đó không nhắm đến các nỗi thống khổ về phần xác; nhưng tất cả đuợc áp dụng để thử lòng trung tín với Chúa của các ngài. Vì thế, thật là thiếu sót, nếu chúng ta chỉ nhấn mạnh đến những nét hào hùng, những tấm gương can đảm, những cực hình mà cha ông chúng ta đã phải gánh chịu mà quên đi động lực chính đã giúp tổ tiên mình đi đến cùng; đó chính là lòng yêu mến Chúa Giê-su của các ngài. Vì yêu mến Chúa mà cha ông chúng ta đã từ khước tất cả và chấp nhận chết cho tất cả.

Thật vậy, sự hiểu biết giáo lý hay những tín điều về Thiên Chúa của các ngài tuy nông cạn và các ngài cũng không có những suy tư cao siêu về thần học. Nhưng khi trở thành tín hữu, các ngài đã yêu Chúa bằng tất cả con người của các ngài. Đỉnh cao của tình yêu nơi các ngài được thể hiện qua việc chấp nhận cái chết không vì phần thưởng đã dành sẵn cho những ai trung tín với Chúa mà thôi; nhưng qua hành vi tự hiến, các ngài đã noi gương Chúa Giê-su, Đấng đã hiến thân để bày tỏ lòng mến tuyệt vời của Thiên Chúa cho nhân lọai.

Tiến ra pháp truờng bằng niềm tin và lòng mến cho nên tâm hồn cha ông của chúng ta rất thư thái và bình an, miệng các ngài vang lên những lời tha thứ và trên môi là nụ cuời hân hoan của niềm vui sắp đuợc đoàn tụ với Chúa Giêsu, Đấng mà các ngài cả đời yêu mến và trông đợi.

Hôm nay dù cuộc sống chịu ảnh hưởng bởi một nền văn minh đã bị tục hóa, chúng ta cũng được mời gọi sống từ bỏ hàng ngày, từ bỏ từ từ cho đến trọn vẹn để sống với lòng mến thiết tha cho đến giây phút cuối cùng.

Khi nói đến lối sống từ bỏ trong cuộc sống hàng ngày, tôi nhớ lại gương sáng của các bậc làm cha làm mẹ. Một trong các mẫu gương đó như sau. Để hoàn thành ơn gọi cao quí mà Chúa đã trao ban, các bậc làm cha làm mẹ đã phải trải qua những đêm dài trằn trọc, vượt qua các thử thách để tìm ra các phuơng thức khả dĩ giúp cho những người con khỏi rơi vào cảnh lầm lạc, có thể dẫn các cháu đến ngõ cụt của cuộc đời. Cuối cùng, dù trải qua trăm cay nghìn đắng… cha mẹ vẫn là những người thua cuộc.

Như tham dự một cuộc chơi ‘trốn-tìm’: anh chị chận đầu này, con cái anh chị chạy lối kia. Truớc những cảnh ngộ đó, tôi thuờng nghĩ rằng trong bổn phận làm cha, làm mẹ, chẳng một ai trong anh chị em là người thắng cuộc. Vì yêu thuơng con cái, anh chị em là những người bại trận, phải từ bỏ ý riêng, vui lòng thua cuộc vì hy sinh và yêu mến các cháu.  

Đó là tâm huyết và tôn chỉ của những người con Chúa. Đó là gương sáng của các Thánh Tử Đạo, cha ông chúng ta, hơn 100.000 người đã anh dũng, hy sinh chết vì đạo, chết vì niềm tin kiên cường, chết để bộc lộ lòng mến thiết tha. Các ngài đã vui lòng thua cuộc trong trận chiến với thế quyền. Nhưng gương hy sinh, phát sinh từ lòng mến của các Ngài với Chúa, vẫn lưu truyền trong cuộc sống của dân Việt khắp nơi trên thế giới.

Hôm nay, hòa chung với niềm hãnh diện là con cháu của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta hãy noi gương các Ngài, biết chọn lối sống hy sinh, chết đi cho ý riêng và tuân phục ý Chúa, Đấng đã hy sinh để nhắc nhở chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta dường bao. Phần chúng ta, hãy bước theo dấu chân của các Thánh Tử Đạo, cha ông mà làm chứng cho thế giới nhận ra tình yêu của Thiên Chúa đang chảy trong huyết quản mình. Amen!

 

 

Wednesday, 2 November 2022

TẤT CẢ ĐANG SỐNG

 

Truyện kể rằng có linh mục kia đang trông coi một giáo xứ miền quê. Vào một buổi chiều nọ, ông chủ tịch hội đồng giáo xứ vào gặp ngài. Hai cha con ngồi nói chuyện dưới mái hiên nhà xứ. Bỗng nhiên, với vẻ trang trọng ông thưa với cha rằng: “Thưa cha, trong suốt 30 năm qua, không ngày nào mà vợ chồng con không cãi nhau.” Nghe đến đó, cha lùi lại phía sau, nhìn thẳng vào mắt ông trùm, với vẻ ngạc nhiên và hỏi: “Mỗi ngày sao?” “Thưa cha, mỗi ngày” ông đáp. Vậy hôm nay thì sao? Ông trùm trả lời: “Dạ thưa cha, sáng nay cũng thế, cô ta quàng tay sang phía con, tung mền và lôi con bò dậy rồi lớn tiếng quát “ông không dậy ra khỏi giường mà lo việc, cứ nằm đó mà nướng.” Thế là lời qua tiếng lại, cuối cùng con vẫn là người chịu thua và im đi cho yên chuyện.

Trong cuộc sống lứa đôi, vợ chồng thường xuyên gặp phải hoàn cảnh thực tế nói trên. Không tranh luận, không cãi vã, không có lời qua tiếng lại thì không phải là sinh hoạt vợ chồng, thế mà vợ chồng vẫn trung thành sống bên nhau. Cuối cùng cả vợ lẫn chồng đều nhận ra một thực tế mà cha ông chúng ta đã trải nghiệm, đó là: “Càng yêu nhau lắm, càng cắn nhau đau.”

Anh chị em thân mến,

Những cuộc cãi vã thường xuyên xẩy ra trong đời sống vợ chồng thế nào thì mấy ông lãnh đạo thời Đức Giê-su cũng thế. Mỗi khi họ gặp nhau thì đề tài kẻ chết sống lại và sự sống đời sau lại được họ mang ra để tranh luận. Phe nào cũng muốn phần thắng thuộc về họ. Những người thuộc nhóm Pha-ri-sêu tin có sự sống lại, còn  những ai thuộc nhóm Xa-đốc thì lại không tin. Không phe nào chịu thua! Họ không có điểm chung, cho nên mọi cuộc tranh luận đều đi vào ngõ bí và không có lối thoát!

Hôm nay, những người thuộc nhóm Xa-đốc muôn gài bẫy Chúa bèn đưa ra câu chuyện về một người đàn bà đã trải qua bẩy đời chồng mà chồng của bà lại là anh em trai với nhau trong một gia đình. Theo quan niệm của họ thì chết là hết và bà chẳng thuộc về ai hết. Còn nếu ai tin rằng sự sống đời sau tiếp nối sự sống hiện tại, thì sau khi chết bà này sẽ là vợ của ai? Vì bà đã là vợ của cả bẩy anh em!

Điểm then chốt mà họ đưa ra ở đây không phải để tìm hiểu giáo lý, nhưng để bắt bí Đức Giê-su. Nếu Người cũng chủ trương có sự sống đời sau thì Người phải đối diện với một tình huống thật khó xử. Đức Giê-su lại một lần nữa bị đặt vào hoàn cảnh dường như không lối thoát. Người sẽ hành xử ra sao trong lúc đối tượng chỉ là những người chống đối và gây khó khăn cho Người?

Dù biết được thâm ý của họ như thế nhưng Đức Giê-su vẫn kiên nhẫn trong cách hành xử để đáp trả vấn nạn mà họ nêu ra. Lời đáp trả của Người về sự sống lại có thể tóm tắt như sau:

·        Điểm quan trọng trước hết là có sự khác biệt giữa sự sống đời này và sự sống đời sau. Cuộc sống với Thiên Chúa trong thời sau khi chết thì khác hẳn với sự sống hiện tại. Khác như thế nào không được nói rõ, nhưng hẳn nhiên không phải là một sự tiếp nối của cuộc sống hiện tại.

·        Điều thứ hai là không có việc lấy vợ gả chồng trong thời đại đó.

·        Điểm thứ ba là họ không thể chết nữa vì trong Chúa họ đang sống đời đời.

·        Sau cùng, những ai đã được cứu độ thì sẽ có lối sống giống như các thiên thần, chầu chực và ca tụng Thiên Chúa.

Sau đó, Đức Giê-su còn trích dẫn lời tuyên xưng của Mô-sê, khi ông gọi Đức Chúa hiện vẫn là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp. Người còn khẳng định rằng Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết mà là người sống, vì đối với Thiên Chúa, tất cả vẫn đang sống.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta cũng thế, câu hỏi về sự sống đời sau không phải để thảo luận, bàn cãi hay tranh luận. Đó là vấn đề của đức tin và cũng là một điều bí ẩn. Nó hàm chứa một niềm hy vọng, một thách đố, một kiếm tìm và một lòng tin tưởng đầy hứa hẹn ở tương lai. Khi sinh ra, chúng ta đã bước vào cuộc hành trình của sự sống vĩnh cửu. Lời hứa của cuộc sống đời sau đó giúp chúng ta đối diện với các khó khăn cũng như nghịch cảnh của cuộc sống này như những con người không để cho sự chết đánh gục. Tuy nhiên, trước các nghịch cảnh trong cuộc sống, chúng ta sẽ buồn phiền, thậm chí thất vọng, nhưng không tuyệt vọng bởi vì chúng ta tin rằng cuộc sống mới sẽ đến. Chúng ta tin rằng có một thực tại tuyệt vời hơn đang chờ đợi chúng ta ở tương lai.

Chúng ta yên tâm về Thiên Đàng, chính nhờ niềm tin này mà chúng ta sẽ sống khác với những ai chỉ thấy thiên đàng tại thế. Chúng ta sẽ sống vì Chúa. Chúng ta sẽ đáp lại tình thương của Người bằng toàn bộ cuộc sống này. Nói khác đi, cuộc sống vĩnh cửu không phải là quà tặng ban cho tôi khi tôi đã về già; nhưng nó đã được khởi động trong ngày tôi lĩnh nhận bí tích Thánh Tẩy để làm Con Chúa của tôi.

Thật đúng như lời Đức Giê-su đã khẳng định Người là Thiên Chúa của kẻ sống. Đối với Người thì tất cả đều đang sống. Hy vọng Lời Chúa nói hôm nay đem đến cho chúng ta sự bình an, niềm vui và hy vọng ngay bây giờ và mãi mãi sau này nữa.

Trong niềm tin và hy vọng vào cuộc sống đời sau đã được hứa ban, nhất là trong tháng các linh hồn năm nay, chúng ta xác tín về số phận của những người thân. Họ đã bước qua ngưỡng cửa, mà chúng ta gọi là sự chết để bước vào nước hằng sống. Quí ngài đang sống gần Chúa hơn chúng ta, các ngài đang nghỉ yên để thụ hưởng tình yêu và sự hiệp thông - cho dù chưa trọn vẹn – với Chúa.

Niềm xác tín như thế được đặt trên căn bản của niềm tin vào Thiên Chúa là Đấng giầu lòng xót thương, chậm bất bình và không kể tội của con mình. Hãy xem cách mà Thiên Chúa đã hành xử với Da-kêu và người con thứ. Cả hai người khi trở về nhà có người nào bị hạch tội hay phải nhắc lại quá khứ của mình hay chăng, ngược lại họ còn được trọng thưởng và mở tiệc mừng ăn khao.

Quả thật, nếu chúng ta tin rằng Thiên Chúa đã săn sóc chúng ta khi còn sống, thì chắc chắn Ngài còn săn sóc và thương yêu chúng ta nhiều hơn nữa khi chúng ta bước về nhà Cha. Trong nhà Cha, con người chuyển sang vũ trụ khác, một trạng thái sống không còn đau khổ, không còn hận thù, nhưng chỉ có bình an, hoan lạc và niềm vui. Sau khi chết, con người được thu hút vào vũ trụ tràn đầy tình thương của Thiên Chúa, và họ biết rõ rằng Thiên Chúa biết và yêu thương họ.

Thưa anh chị em, như vậy việc cầu nguyện cho những người quá cố có cần thiết hay không?

Dạ thưa, cần và rất khẩn thiết. Tuy nhiên chúng ta không đến ngôi mộ để tìm và cầu cho người chết. Họ đang sống. Vì thế, việc cầu nguyện của chúng ta không nhằm mục tiêu đánh thức Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn thương yêu và lo lắng cho mọi người, Người không muốn cho bất cứ ai bị hư đi. Như vậy, việc cầu nguyện và tưởng nhớ đến những người thân hay mọi người đã lìa cõi thế của chúng ta nói lên sự yêu thương, nhớ nhung của chúng ta với các ngài.

Qua việc cầu nguyện, chúng ta minh chứng rằng thân nhân của chúng ta không chết. Sự chết không làm đứt đoạn hay tiêu hủy mọi mối dây tương quan mà chúng ta đã thiết lập và xây dựng. Bởi vì, các mối tương quan đó được đặt trên nền tảng của sự yêu thương trong Chúa. Chính vì sức mạnh của tình yêu giúp chúng ta xác tín rằng cho dù thân nhân của chúng ta đã lìa cõi thế về mặt thể lý, nhưng sự hiện diện của họ tồn tại vĩnh viễn trong lòng yêu thương và sự tưởng nhớ của chúng ta.

Vì, Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống. Đối với Người thì tất cả đều đang sống, không còn ai chết nữa. Đây là niềm hy vọng mà chúng ta dùng để an ủi, nâng đỡ và cầu nguyện cho nhau. Amen!