Wednesday, 16 October 2019

GƯƠNG SÁNG CỦA BÀ GÓA


Dụ ngôn trong phần phụng vụ Lời Chúa của Chúa nhật tuần này và tuần sau liên kết với nhau trong một chủ đề, đó là cầu nguyện. Cầu nguyện là đề tài quan trọng trong Tin Mừng theo Thánh Luca. Thánh sử đã cố gắng đặt tất cả các biến cố quan trọng xẩy ra trong sứ vụ của Đức Giê-su trong bối cảnh của việc cầu nguyện.

Nhìn vào cách thức và lời giảng dậy về cầu nguyện của Đức Giê-su, chúng ta nhận ra rằng cầu nguyện là hành động được bộc lộ của lòng tin, đó không chỉ là việc phát sinh từ lòng đạo đức hay cơ hội để chúng ta trình bầy các nhu cầu của con người lên Chúa. Thật vậy, lòng tin của chúng ta cần được biểu lộ bằng việc làm và các việc làm đó phải được phát sinh từ mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Và mối quan hệ này phải có tính bền vững như điều Đức Giê-su nói với các môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay. Nếu những ai theo Chúa mà không ngày đêm kêu cứu Chúa, thì thực tế họ không có lòng tin nơi Người. Nói khác đi, cầu nguyện là hành động quan trọng mà các kẻ tin phải thường xuyên thực hiện.

Vì thế, trong câu mở đầu của bài Tin Mừng chúng ta đã nhận ra bài học và ý muốn của Đức Giê-su. Người dậy chúng ta phải siêng năng cầu nguyện. Cầu nguyện với lòng tha thiết và liên tục, không được nản chí. Sau đó, Người đã minh họa lời giảng dậy bằng dụ ngôn ông quan tòa bất lương gặp bà góa quấy rầy.

Trước tiên là việc xuất hiện của ông quan tòa. Các chi tiết mô tả về tính nết của ông quan tòa như: bất lương, không sợ trời, chẳng nể đất và cũng chẳng sợ ai được nhấn mạnh nhằm chuẩn bị cho chúng ta nhìn thấy trước khó khăn mà bà góa sẽ phải đối diện. Một ông quan tòa với cá tính như thế thì còn quan tâm và để ý đến lời van xin của ai nữa. Số phận của bà góa thật không may khi việc kiện tụng của bà lại được ông quan tòa ‘không có lòng thương xót’ định đoạt. Việc trình bầy ông quan tòa như thế chuẩn bị cho chúng ta nhìn ra số phận hẩm hiu của bà góa.

Sau đó, một bà góa như tất cả mọi bà góa trong xã hội Do Thái được trình làng. Hoàn cảnh của các bà góa thời Đức Giê-su không được bảo vệ và không có nhiều quyền lợi như các bà góa trong xã hội hiện đại. Họ là những người cô thân cô thế, bị thiệt thòi mọi sự, không ai binh vực. Nhưng lòng kiên tâm của bà được đề cao. Đó là điểm chính yếu của dụ ngôn. Bà cứ kiên trì kêu cầu mãi. Hết ngày này đến hôm khác, bà cứ chờ chực ở cửa quan để đòi công đạo, đòi được minh xét vì bà nghĩ rằng phần lỗi về đối phương, họ đã làm hại đến bà.  

Cuối cùng, vị quan tòa vô tâm và chẳng hề biết sợ ai của chúng ta cũng phải đứng ra xét xử binh vực quyền lợi cho bà. Thật lý thú khi chúng ta nghe được lối suy nghỉ của ông khi xét xử, ông ta chẳng vì công lý hay bị lương tâm thúc đẩy mà binh vực cho quyền lợi của bà mà chỉ vì sợ bị bà quấy rầy khiến cho ông bị nhức đầu long óc mà xử cho xong. Từ trong lối suy nghĩ của ông, chúng ta thấy ông quan tòa trước sau vẫn là ông quan tòa, không có một chút thay đổi. Ông ta vẫn vì tính ích kỷ và vì quyền lợi của bản thân mà xử quách cho xong để khỏi bị bà góa vô danh tiểu tốt làm cho ông bị nhức đầu nhức óc nữa.

Sau khi kể xong câu chuyện, Đức Giê-su mới kết luận: “Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao?” Như vậy, câu đầu tiên và câu cuối cùng của bài Tin Mừng cho chúng ta thấy ý tưởng chính là cần phải cầu nguyện luôn, đừng nản chí.

Vẫn biết là như thế; nhưng sự hiểu biết của chúng ta về cầu nguyện có đem lại lợi ích gì hay không? Có nhiều người nói rất hay mà không thực tâm cầu nguyện thì cho dù bài nói có sâu sắc đến đâu cũng không có sức mạnh để truyền lửa cho người nghe. Các Tông Đồ, sau khi chứng kiến giây phút cầu nguyện giữa Đức Giê-su và Cha Ngài nên họ đã xin Người dậy cho họ phương thức để cầu nguyện; và Đức Giê-su bèn chia sẻ ngay những tâm tình mà Người vừa tâm sự với Cha của Người cho các Tông đồ; từ đó chúng ta có  Kinh Lậy Cha.

Cầu nguyện là việc phải thực hành, không chỉ một lần mà làm liên tục. Trong niềm tin và phó thác chúng ta dâng lên Chúa tất cả, không phải cứ mỗi lần chạy đến với và bên Chúa lại là xin ơn.

Ý tưởng nêu trên được minh họa qua truyện kể sau.

Có một gia đình kia không giống như các gia đình khác. Ông chồng của căn nhà này là người cầm lõi, tay hòm chìa khóa thay vì nằm trong tay bà vợ như mọi gia đình khác thì lại nằm trong tay ông. Được một điều là ông rất đại lượng, không chi ly và ít khi chất vấn vợ con về việc này. Thế mà, đã có một lần ông cảm thấy nhức đầu long óc khi những người con của ông, hết cô này đến chú kia, lần lượt đến xin ông điều này, đứa khác lại xin ông cho tiền mua điều nọ. Đứa nào cũng cần. Cái gì các cháu đưa ra cũng đều đúng… Thế mới làm ông khổ. Từ trong nỗi khổ đó ông mới nghiệm ra một điều là con cái của ông dù lớn về phần xác, nhưng chưa một cháu nào trưởng thành và biết suy tính cho cuộc sống của chúng cả. Lúc nào hết xin lại đến cầu, cứ như vậy thì làm thế nào!

Từ hoàn cảnh thực tế mà nhiều gia đình vướng phải anh chị em thử hình dung ra cảnh Chúa phải nghe chúng ta, bao nhiêu tỷ người, lải nhải. Hơn nữa nhiều lúc chúng ta xin điều mà chúng ta không biết mình xin gì nữa.

            Vẫn biết khi đau thì xin khỏi bịnh… Nhưng, tại sao không xin phó thác và can đảm để đối diện với căn bịnh. Đó là chưa kể đến việc nếu bịnh nào Chúa cũng chữa khỏi thì cần gì mấy ông bác sĩ và cũng chẳng cần ngân sách để xây thêm nhà thương và các viện nghiên cứu nữa.

            Rồi trong cảnh nghèo, túng thiếu thì xin no đủ… Nhưng, tại sao không xin chấp nhận và cầu nguyện cho mấy ông nhà giầu biết noi gương Chúa mà sống đại lượng.

Làm thế nào để lời cầu xin của chúng ta được Chúa ban trong khi chúng ta lại sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến nhu cầu, dù thiết yếu, nhưng vẫn là xin cho mình.

Nói chung, dù xin ơn là điều chính đáng và cần thiết. Nhưng chúng ta dễ rơi vào vị trí của những người chỉ biết ỷ lại, chờ đợi sự bố thì của kẻ khác; chưa kể đến các ơn mà chúng ta xin dường như chỉ vì nhu cầu của bản thân…. Tại sao không xin ý Chúa….

Chúa dậy chúng ta phải lo và quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Lo bằng tâm (có nghĩa là cầu nguyện), quan tâm bằng hành động (viêc làm).
Để kết thúc, xin anh chị em cùng nghe phần chia sẻ của cố Đức Hồng Y Sin, Tổng giám mục Ma-ni-la, Phi Luật Tân. Ngài có thói quen kết thúc các bài giảng bằng việc trích dẫn một vài ý trong bài thơ của một tác giả vô danh như sau:

·        Tôi đã xin Chúa cất đi tính kiêu căng và Chúa trả lời: “Không”. Ngài nói rằng không phải Ngài sẽ cất đi tính xấu đó, mà chính tôi mới là người cố gắng chiến đấu để vượt thắng nó.
·        Tôi đã xin Chúa ban cho tôi lòng kiên nhẫn và Chúa đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng kiên nhẫn là hoa trái của thử thách. Ngài không ban cho tôi trái ấy mà để tôi tự tìm lấy.

·        Tôi đã xin Chúa ban cho tôi được hạnh phúc và Chúa đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng Ngài ban ân phúc cho tôi, còn hạnh phúc hay không là tùy vào cách thức tôi đón nhận và hành động.

·        Tôi đã xin Chúa gia tăng tinh thần cho tôi và Chúa đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng tôi phải học để trưởng thành và lớn lên, nhưng Ngài sẽ mài dũa và cắt tỉa để tôi sinh thêm nhiều hoa trái.

·        Tôi đã xin Chúa đừng để tôi đau khổ và Ngài đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng đau khổ là một phần của đời sống và giúp tôi đến gần Ngài.

·        Tôi đã hỏi: “Liệu Ngài có yêu tôi không” và Ngài đã trả lời: “Có”. Ngài nói rằng Tình Yêu là bản chất và lẽ sống của Ngài. Chính Đức Giê-su, người Con mà Ngài yêu nhất đã chết để bộc lộ Tình Yêu đó cho tôi.

·        Sau cùng, tôi đã xin Chúa giúp tôi yêu mến tha nhân như Ngài yêu thương tôi và Chúa nói: “Cuối cùng con đã xin đúng điều Chúa mong đợi”.

Hy vọng, tâm sự nguyện xin nói trên cũng là tâm tư của chúng ta.

Nguyện xin Chúa ban thêm lòng tin để chúng ta luôn kiên tâm cầu nguyện để đến khi Người đến vẫn còn thấy lòng tin trên trái đất này. Amen.



Thursday, 10 October 2019

SỐNG LÀ ĐỘI ƠN và ĐỘI ƠN ĐỂ SỐNG TỐT



Bắt đầu bằng một truyện kể. Số là sau biến cố xẩy ra tại Việt Nam vào tháng 4 năm 1975, người dân miền Nam Việt Nam sống trong hoang mang và lo sợ. Tất cả đều mới. Người lãnh đạo, kẻ thừa hành và dân chúng đã mò mẫm tìm hướng đi. Nhân lực, tài lực và hầu như tất cả mọi nguồn để xây dựng đất nước đã đổ vào chiến tranh hết. Nay, trước tình hình thực tế, các nguồn viện trợ bị cắt giảm. Chính sách và đường lối điều hành thử đi nghiệm lại sao cho phù hợp với tình hình thực tế khiến mọi người đã nghèo, lại nghèo hơn, nhà nhà đều đói. Trong giai đoạn khó khăn, những ai gặp khó khăn về tinh thần cũng như vật chất thường hay chạy đến các cơ sở bác ái, tiêu biểu là chùa chiền và nhà thờ, để cầu may. Chúng ta nói cầu may là bởi vì các vị trụ trì tại các nơi đó cũng chưa chắc có đủ phần ăn hơn dân thường.

Vào một buổi chiều, trước cửa phòng khách của một tu viện xuất hiện một cô gái trẻ. Chị đến xin gặp linh mục quản xứ. Sau hồi chuông báo, vị linh mục đó bước ra cửa nhà khách, rảo mắt nhìn chung quanh để tìm xem ai là người muốn gặp ngài. Trước mặt ngài là một cô gái. Sau những lời chào hỏi, chị ta kể lại các việc cha đã giúp chị vào mấy năm trước mà cha không còn nhớ. Nói xong chị gửi lại số tiền mà cha đã cho chị mượn. Với lòng biết ơn, chị nói: “Cảm ơn cha đã tin con. Chính nhờ vào niềm tin của cha đã khởi động niềm tin trong con. Và giờ đây, với lòng biết ơn con xin hoàn trả lại số tiền mà cha đã cho con mượn năm nào. Thật là quí hóa, bởi vì nếu không có sự giúp đỡ của cha, đời con rồi không biết sẽ trôi dạt đến bến bờ nào đây?”

Câu chuyện nói trên có thể minh họa cho nội dung của bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe. Trình thuật Tin mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giê-su chữa lành cho mười người bị bịnh phong cùi, thế mà chỉ có một người bộc lộ lòng biết ơn qua việc trở lại và tôn vinh Thiên Chúa, mà ông ta lại là người ngoại bang.

Theo các tài liệu về y học cho biết, bịnh phong cùi ảnh hưởng đến dây thần kinh của tay chân, màng mũi và đường hô hấp. Bịnh còn ảnh hưởng làm cho da bị loét, hệ thần kinh bị tổn thương và các cơ bắp bị suy nhược. Với sự tiến bộ của nền y học hiện nay, dù phong cùi vẫn còn là loại bịnh truyền nhiễm; nhưng nếu ai được chẩn đoán mắc bịnh này trong giai đoạn đầu thì vẫn có thể được chữa khỏi.

Những người sống cùng thời với Đức Giê-su chưa hẳn đã khám phá ra bịnh phong cùi. Nhưng lại có một loại bịnh về da, có sức hủy diệt và lan lây giống như người bị phong cùi ngày nay. Luật lệ ngăn cắt họ cho nên những ai mắc bịnh này phải sống riêng một mình, không được phép tiếp xúc với ai. Bất cứ ai chạm đến họ, theo luật Mai-sen, đều bị coi là ô uế. Vì thế, để tránh bị lây nhiễm, ai mắc bịnh này đi đến đâu cũng phải hô to ‘ô uế, ô uế’ để những người khác biết mà tránh né.

Cho dù tôi chưa hề có cơ hội tiếp cận hay trò chuyện với người bị bịnh phong cùi. Nhưng nhắm mắt lại chúng ta cũng có thể nhận ra được nỗi đau khổ về tinh thần cũng như thể xác của người bị bịnh đó như thế nào? Họ không còn được đối xử như một con người, bị ngược đãi và coi như thành phần cùi hủi của xã hội nói gì đến yêu thương. Ai trong chúng ta khi gặp họ mà lại không né tránh, sợ bị lây! Trong hoàn cảnh đó, họ không còn gì để mất; thế mà họ không nổi loạn đã là may mắn cho chúng ta lắm rồi!

Ngoài việc bị ngược đãi như nói ở trên, theo lề thói của cộng đoàn Do Thái, họ còn bị coi là những người bị Chúa phạt, họ không được phép lên Đền thờ Giê-ru-sa-lem, và nếu có được tham dự lễ nghi phụng vụ, họ phải ở trong một căn phòng đặc biệt dành riêng cho họ. Họ bị đối xử như người ngoại bang.

Bài Tin Mừng kể lại cuộc gặp gỡ của mười người phong cùi với Đức Giê-su.  Trên đường đi Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su băng qua biên giới giữa Sa-ma-ri và Ga-li-lê,  Người tiến vào một ngôi làng thì mười người phong cùi đã ở đó. Họ đã nghe danh tiếng của Người. Hẳn nhiên, có vài người Do Thái trong nhóm nên họ không dám bước qua ranh giới của lề luật mà chỉ đứng ở đàng xa mà kêu gào xin Đức Giê-su thương tình cứu giúp.

Đức Giêsu không chữa trị cho họ ngay lập tức mà bảo họ đi và trình diện với các tư tế. Theo luật dậy thì chỉ có các tư tế mới đủ thẩm quyền xác nhận ai sạch ai dơ trước khi người bị phong cùi được phép trở lại tham dự sinh hoạt với cộng đoàn như mọi người.

Mười người phong cùi vâng lời Đức Giê-su đi trình diện các tư tế và đang trên đường đi thì họ thấy có những sự kiện khác lạ đang xẩy ra trong cơ thể của họ. Tất cả đều thấy sự tăng trưởng xảy ra: những ngón tay của họ mở rộng thành bàn tay bình thường. Các vết mụn trên mặt họ liền lại… Khi các điều này xảy ra, cả mười người đã biết là họ được chữa lành; thế mà chỉ có một người trong nhóm họ quay ngược lại với Đức Giêsu, để cảm ơn Người; còn chín người kia, hẳn nhiên, vẫn đang trên đường đến gặp các tư tế theo lịnh truyền của Đức Chúa.

Điều làm cho Đức Giê-su và mọi người ngạc nhiên là người quay trở lại gặp để nói lời cảm ơn với Đức Giê-su là người Sa-ma-ri-a. Ông bị người Do Thái xem như kẻ thù, giống ngoại bang, thế mà lại trở thành kiểu mẫu của lòng biết ơn và đức tin.

Có một chi tiết mà chúng ta nên ghi nhận ở đây, đó là trong cơn hoạn nạn thì mười người phong cùi có nhau. Họ không bị gốc gác dân tộc, tôn giáo và niềm tin chia cách. Họ có chung một căn bịnh nên gắn bó để bảo vệ và nâng đỡ nhau. Bản sắc chung của những người bị khinh chê, ruồng bỏ đã đẩy họ trở thành những người thân của nhau. Thế mà, sau khi được chữa khỏi, được tự do, họ lập tức bị ngăn cách. Nhưng, chỉ còn một người xứ Sa-ma-ri-a, vẫn còn bị coi là giống ngoại bang, đã trở lại và tiền về phía Đức Giê-su.

Đứng trước phản ứng của chín người kia, những ai khó tính sẽ cảm thấy bị tổn thương và đau lòng vì sự vô ơn của họ. Thật ra, họ đâu có làm điều gì sai, họ vẫn vâng lời Chúa, đang trên đường đến gặp các vị tư tế để xin giấy xác nhận trở về với các sinh hoạt thường nhật như mọi người. Tuy nhiên, vì bám vào lề luật như một bảo đảm cho cuộc sống nên họ đã mất đi cơ hội đón nhận sự thay đổi, điều mới mẻ mà Đức Giê-su vừa thực hiện. Tuy họ không sai nhưng cơ hội để được đổi mới đã vuột khỏi tầm tay của họ. Thật đáng tiếc!

Chúng ta thì sao? Vẫn sống và chu toàn mọi khoản luật như là nguồn sức mạnh cứu thoát chúng ta hay sẵn sàng nhận biết ơn Chúa với lòng cảm tạ mà  tôn vinh và thờ lậy Ngài. Không ai trả lời vấn nạn này thay cho chúng ta.

Đối với Thiên Chúa, điều làm cho con người có giá trị là thái độ và cách ứng xử của chúng ta trước lượng ân sủng vô biên của Thiên Chúa đổ trên chúng ta. Chúng ta đã làm gì với các hồng ân cao cả như thế. Thánh Gioan cho biết: “Tự nguồn sung mãn của Chúa, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.” Ngài ban cho mỗi người những ơn họ cần, tùy thuộc vào khả năng đón nhận của từng người, nhưng cùng mục đích là để họ sống tốt đẹp và thánh thiện hơn.

Trong cuộc sống, đã có bao nhiêu dấu chỉ nói lên sự can thiệp và thông ơn của Thiên Chúa. Nếu không có ơn Chúa thì làm sao vợ chồng có thể yêu thương, kính trọng và luôn làm gương sáng cho con cái được? Nếu Chúa không hoạt động thì làm sao ông cha này bà phước kia hay thầy dòng nọ có thể quên ‘cái tôi’ của bản thân mà hết lòng phục vụ dân Chúa? Kể sao cho hết những ơn lành Chúa ban cho như ơn khôn ngoan, sự hiểu biết, cơ hội phục vụ, sức khỏe tráng kiện, đầu óc minh mẫn, con tim trong sáng, đồng cảm để tha thứ cho nhau, và ngay cả các đau khổ cũng là cơ hội để giúp mình nhận ra sự bất toàn và mỏng dòn của thân phận con người mà nương tựa vào Chúa hơn…, tất cả đều là ơn của Chúa. Điều quan trọng là mắt chúng ta có mở rộng đủ để nhận ra ơn Chúa hay là lại nghĩ rằng đó là những gì mình xứng đáng được, và nếu như thế thì hình như chúng ta đã coi Chúa như là người đầy tớ thay vì Đấng ban ơn rồi!

Đứng trước những ơn lành Chúa ban, chúng ta hay dùng các từ như tạ ơn, cảm ơn, ghi ơn, nhớ ơn, biết ơn…, để diễn tả thái độ của chúng ta, nhưng có lẽ một từ mộc mạc và đầy ý nghĩa nhất mà lâu nay chúng ta quên không dùng đó là ĐỘI ƠN: Ơn Chúa nhiều quá, nặng quá, đến độ ta không cầm, không thể mang, không cách nào khoác vào được, mà phải đội trên đầu, diễn tả sự kính trọng đối với Chúa, với ơn Chúa. Đội trên đầu thì phải sấp mình, quì gối xuống mà tôn vinh Đấng ban ơn. Đó chính là mẫu mực và cách hành xử của người Sa-ma-ri-a làm hôm nay. Và Lời của Đức Giê-su phán xưa kia, là những gì mà Chúa muốn nói cho chúng ta hôm nay: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của con đã cứu chữa con.”

Xin cho chúng con có lòng tin bằng việc làm như người ngoại bang trong bài Tin Mừng để thờ lậy và tôn vinh Chúa. Amen!


Friday, 4 October 2019

SỨC MẠNH CỦA LÒNG TIN



Với bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Lu-ca đã đưa chúng ta trở lại cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem của Đức Giê-su. Người biết ngày hoàn tất sứ vụ đang đến gần, nên từ giờ phút này trở đi, Người dành nhiều thời gian để hướng dẫn các môn đệ.

Đức Giê-su nhìn nhận rằng việc gặp khó khăn, có thể bị vấp ngã hay vi phạm các lỗi lầm là một phần trong sứ vụ của người môn đệ. Nhưng các môn đệ không nên làm cho các thành viên khác bị vấp ngã bởi lối sống của mình. Đức Giê-su đã lên án những ai làm cớ vấp phạm cho kẻ bé mọn, Người nói rằng chẳng thà người đó bị đá cột và xô xuống biển thì hơn. Lời Đức Giê-su vừa phán có vẻ khá gay gắt, nhưng dường như Người không có ý khuyến khích chúng ta có những hành vi bạo động đối với những ai làm gương xấu cho kẻ khác. Thật ra, Đức Giê-su muốn nhắc nhở chúng ta nên nhớ đến bổn phận của mình. Đó là: hãy cẩn thận trong lời nói và hành động. Đừng làm cho người khác bị lầm đường lạc lối, bị vấp ngã hay lòng tin bị lung lay.

Nhìn vào tình hình thực tế và quan sát các hiện tượng đã và đang xẩy ra trong các cộng đoàn; chúng ta không thể nào chối bỏ mức độ ảnh hưởng mà các vụ bê bối của một số vị trong hàng ngũ lãnh đạo đã gây ra. Gần đây chúng ta được nghe nhiều về các biến cố xẩy ra trong Giáo hội từ Mỹ sang đến Úc. Những sự kiện này được gọi là ‘xâm phạm hay lạm dụng tình dục’. Cụm từ tuy ngắn gọn, nhưng ảnh hưởng và sự thiệt hại của nó rất lớn. Nó ám chỉ đến hành vi phản bội về mặt tinh thần, tâm lý và sinh lý của một người có chức quyền đối với người kém thế hơn; đặc biệt là đối với trẻ em. Nó để lại trong tâm hồn và đời sống của các nạn nhân những vết thương và sự thù ghét Giáo hội. Đôi khi, họ còn mang mặc cảm bị khước từ. Họ cắn răng chịu đựng trong tủi nhục. Có một số người lại lâm vào trạng thái ‘trầm cảm’ và nghĩ là mình không còn xứng đáng thuộc về cộng đồng mà họ mong muốn là một thành viên. Quả thực, nếu Lời Chúa phán hôm nay được hiểu theo mặt chữ và áp dụng thì những người làm gương xấu đó, chẳng thà bị đá cột rồi ném xuống biển cho xong.

Tuy nhiên, Đức Giê-su không dừng lại ở lời cảnh báo nghiêm khắc đó. Người tiếp tục khuyên các môn đệ phải giúp đỡ nhau nhận ra lỗi lầm mà ăn năn rồi quên đi các lỗi phạm của nhau không chỉ bẩy lần mà là bẩy mươi lần bẩy. Con số bẩy mươi lần bẩy không ám chỉ đến số lượng mà chúng ta phải tha cho nhau, nhưng còn nói đến chất lượng của sự tha thứ nữa. Có nghĩa là tha liên tục, tha không giới hạn và quan trọng hơn cả là chúng ta tha cho nhau vì chúng ta yêu nhau. Mọi hình thức đổ vỡ chỉ xẩy ra ở nơi không có sự tha thứ.

Làm thế nào có thể đạt được các yêu cầu này. Hãy nhìn vào môi trường chung quanh, chỗ nào cũng hỗ trợ cho nền văn hóa đề cao chủ nghĩa cá nhân, lấy ‘cái tôi’ làm trung tâm. Suy nghĩ và cách sống này thấm nhuần và ảnh hưởng trong đời sống của các tín hữu. Phải chăng chúng ta cũng giống như một nắm cát rời rạc được bốc và đặt để bên nhau vào các sinh hoạt xẩy ra trong nhà thờ vào các dịp cuối tuần, rồi sau đó ra về và không còn có quan hệ hay tương tác nào với nhau. Ai sống mặc ai!

Không phải thế, chúng ta được mời gọi và sống bên nhau như một gia đình. Chúng ta là phần tử của một thân thể, nối kết và được nuôi dưỡng bởi một giòng máu của Đức Ki-tô. Chúng ta được mời gọi sống và chia sẻ cho nhau, chăm sóc lẫn nhau và xây dựng nhau trong gia đình đức tin.

Đó là tâm trạng và cảm nhận của các môn đệ khi họ nghe Chúa ban các chỉ dẫn về việc làm gương sáng và tha thứ cho nhau. Đây quả thật là một yêu cầu vô cùng trọng đại và vượt quá sức của họ. Tự mình họ rất khó thực hiện. Vì thế, các tông đồ, thay mặt cho các môn đệ, xin Chúa:

“HÃY THÊM LÒNG TIN CHO CHÚNG CON.”

Các môn đệ đang cầu xin Chúa Giêsu thêm lòng tin cho họ, nghĩa là làm cho họ trở thành những môn đệ trung thành. Họ biết rằng nếu họ tuân theo mệnh lệnh của Người để tha thứ như Chúa thì họ cần sự giúp đỡ. Hành vi tha thứ này không tự nhiên đến với bất cứ ai, phải được phát sinh từ Chúa. Họ thấy mình trong một tình huống khó xử. Chúa Giê-su ra lệnh cho họ làm một việc mà họ chỉ có thể hoàn thành với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Vì thế, họ đã xin thêm lòng tin.

Đó cũng là lời van xin của chúng ta. Đã có nhiều lúc chúng ta đối diện với các khó khăn, những trở ngại vượt quá sức mình. Tôi muốn thay đổi nhưng dường như cảm thấy bất lực trong việc sửa chữa vì vậy tôi, không chỉ một lần mà rất nhiều lần, đã cầu xin: Chúa ơi, con cần Ngài, xin hãy thêm sức mạnh và lòng tin cho chúng con.

Ngay lúc đó, Lời Chúa phán hôm nay vọng trong tai tôi: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em.” Lòng tin ở đây là sự phó thác và vâng lời mệnh lệnh mà Chúa muốn. Nó ẩn chứa tấm lòng cậy trông và tín thác vào Chúa là mình sẽ thực hiện các việc làm gương sáng, mình sẽ quan tâm và chấp nhận kể cả lỗi lầm của kẻ khác và sẵn sàng tha thứ cho họ nữa. Lòng tin như thế bao hàm việc làm, không chỉ để lòng tin của mình trưởng thành hơn, mà còn trở thành gương sáng cho người khác nữa.

Thưa anh chị em,

Tự căn bản lòng tin không xuất phát tự mình, nhưng được ban tặng từ Chúa cho nên lòng tin phải được bám rễ vào Đức Giê-su và Hội Thánh Người. Lòng tin cần được chứng minh bằng việc làm. Cho dù, khoa học ngày hôm nay có thể làm cho rễ của cây dâu bật lên và đem đến một nơi khác để trồng, nhưng đó không phải là điều làm chúng ta quan tâm. Điều quan trọng mà chúng ta cần thực hiện dưới sức mạnh của lòng tin vào Chúa, chúng ta sẽ quan tâm, yêu thương, chăm sóc và giúp đức tin của chúng ta trưởng thành và lớn mạnh để có thể làm được những điều vĩ đại hơn.

Như vậy, lòng tin mà chúng ta xin hôm nay cũng không phải là quà tặng được trao ban trong một lúc mà thôi. Sự trưởng thành và lớn mạnh của lòng tin thì giống như việc lớn lên của hạt giống. Nó phát triển theo các diễn biến xẩy ra trong các năm tháng của đời người, qua việc sinh lợi bằng các việc làm. Chúng ta cần được lớn lên mỗi ngày. Nhưng giữa những thực tế của cuộc đời, biết bao bóng tối có thể bủa vây chúng ta. Chính vì thế chúng ta luôn phải cầu xin Chúa ban thêm lòng tin cho chúng ta. Xin Ngài ban thêm đức tin để chúng ta biết đón nhận Ngài trong mọi người anh em, nhất là nơi những người thấp hèn, những người bất hạnh, và ngay cả nơi những người thù ghét chúng ta.

Chúng ta tin vào tình yêu Chúa Kitô, tin vào bản thân Ngài. Đức tin của chúng ta cần phải trổ sinh hoa trái bằng việc làm để mọi người có thể hiểu được thế nào là tình yêu mà chúng ta tin, thế nào là ơn tha thứ mà chúng ta đã lĩnh nhận và trao ban cho nhau, và trên hết mọi sự là người ta có thể nhận ra khuôn mặt của Đấng Cứu Thế mà chúng ta đang tôn thờ.

Không ai nhìn thấy lòng tin, phải chăng vì nó nhỏ như hạt cải, nhưng nó có thể chuyển núi dời non. Lòng tin có thể làm bật gốc rễ của: “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy.” (Ga-lát 5:20-21) và thay vào đó là những việc làm vĩ đại, như thánh Phao-lô đã viết trong thư gửi cho tín hữu ở Ga-lát, đó chính là: “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ.” (Ga-lát 5: 23)

Đó là việc làm của lòng tin. Chúng ta tin rằng chỉ có trong Thần Khí và sức mạnh của Chúa chúng ta mới thực hiện được các điều mà Thánh Phao-lô khuyên dậy nói trên. Chúng ta không hãnh diện hay đi tìm lời khen thưởng cho các công việc của mình, bởi vì không phải tự sức riêng mà mình đạt được. Tất cả đều là hồng ân của Chúa. Thiên Chúa không mắc nợ ai điều gì, trừ phi lòng thương mến, vì đó là căn tính của Ngài. Giống như Ngài, chúng ta cố gắng yêu và tha thứ cho nhau trong Chúa, chứ không phải yêu để trả nợ, cho dù đó là món nợ ân tình.


sau khi thi hành xong bổn phận của người môn đệ, chúng ta có thể hãnh diện mà tuyên xưng rằng: những gì chúng con đã làm đều là những điều Chúa muốn, vì ngoài Chúa ra chúng con thật vô dụng. Anh chị em có tin vào điều đó không? Câu trả lời của chúng ta, dĩ nhiên là có rồi. Và giờ đây, xin anh chị em cùng tuyên xưng lòng tin và cầu xin sức mạnh và ơn trợ giúp của Chúa sẽ giúp chúng ta sống điều mà chúng ta tuyên xưng với nhau trong Kinh Tin Kính. Amen!



Friday, 27 September 2019

BỔN PHẬN VỚI NGƯỜI NGHÈO



Dụ ngôn nói về lối sống nhung lụa của ông phú hộ và cảnh nghèo hèn đói khát của La-da-rô hôm nay như một tiếng chuông báo động, nhắc nhở, cảnh tỉnh lối sống vô tâm và vô cảm của chúng ta. Trong dụ ngôn, Đức Giê-su giới thiệu hai nhân vật: Người giàu không có tên, còn ông nghèo hèn kia, tên là La-da-rô. Một nghịch lý, vì theo thói đời, những người giầu có quyền quí mới được khắc tên trên bia đá, bảng vàng để mọi người ghi nhớ; còn có ai dư giờ, rỗi hơi mà ghi tên những người nghèo. Chỉ mình Chúa quan tâm, thương yêu và hay bênh vực họ.

 Trình thuật mô tả hai cảnh đời trái ngược nhau. Chúa không hề nói đến cách làm giàu của ông phú hộ; và cũng không hề ca tụng cảnh nghèo của La-da-rô. Không có chỗ nào nói La-da-rô là một con người nhân đức, anh chỉ được giới thiệu là một người nghèo. Cũng vậy, không có chỗ nào nói ông nhà giầu là kẻ ác ôn, đã vơ vét của cải một cách mờ ám, đã chiếm đoạt, đã bóc lột một cách bất chính, đã lợi dụng hay ngược đãi La-da-rô. Chúa cũng không bảo La-da-rô là người đức hạnh và ông nhà giầu là người xấu xa. Chỉ đơn giản, ông nhà giầu là người giầu, La-da-rô là người nghèo.

Ông nhà giầu đã không nhìn thấy La-da-rô nghèo đói khốn cùng, đang nằm ở ngoài cổng. Giữa họ có một khoảng cách. Khoảng cách không phát sinh từ hoàn cảnh;cho bằng thái độ sống và cách chọn lựa: Lòng vô cảm, không quan tâm của ông nhà giầu.

Giải thích thế nào cũng không vượt qua đuợc trọng tâm mà dụ ngôn muốn gửi đến: Nếu chúng ta không quan tâm, giúp đỡ, thương yêu người nghèo hèn thì chúng ta không còn là bạn của Đức Giê-su nữa.

Vẫn biết sứ điệp thật rõ ràng. Nhưng áp dụng vào hoàn cảnh thực tế không dễ dàng.
Khi còn làm việc tại trung tâm Hoan Thiện, một cơ sở công giáo của người Việt tại Keysborough và các vùng phụ cận thuộc về phía nam của thành phố Melbourne. Tôi thường gặp những hoàn cảnh thật khó xử. Có những người đến xin được giúp đỡ. Dân Việt mình thì xin chứng giấy tờ, bảo đảm đức hạnh. Còn những người khác, người thì xin tiền, kẻ khác đổ xăng hay trả tiền thiếu hụt thuê nhà, v.v.

Lòng thì muốn giúp, thế nhưng đầu óc, kinh nghiệm và những lời khuyên của các vị lão luyện trong việc mục vụ làm tôi chần chừ. Cuối cùng, tôi cũng tìm cách thoái thác và gửi họ đến các văn phòng xã hội lo cho người nghèo, như văn phòng của hội bác ái St. Vincent de Paul. Tuy giải quyết xong vấn nạn. Nhưng lòng tôi cảm thấy không thoải mái khi tiễn chân họ ra khỏi trung tâm. Cách hành xử như thế, tuy là có chút khôn khéo, chưa hẳn là khôn ngoan.

Thật ra, không ai muốn nghèo. Cảnh nghèo thúc đẩy con người không còn chọn lựa; ngay cả nhân phẩm và tư cách cũng có thể bị đổi chác. Tôi còn nhớ rất rõ những gì đã chứng kiến trong chuyến đầu về thăm quê hương vào năm 2005.

Số là sau khi hoàn tất những công việc cần làm. Vào buổi sáng cuối cùng của chuyến viếng thăm đó, thay vì vào nhà dòng, chúng tôi ‘tự thưởng’ cho mình một bữa sáng tại khách sạn. Món ăn thua được cung cấp tại khách sạn không bằng các phần ăn đạm bạc nhưng đầy tình anh em trong nhà dòng. Chỉ được một điều là không khí trang trọng, lịch sự. Khách sạn mà. Đang vui vẻ ba hoa với cha bề trên. Lòng tôi chùng hẳn xuống khi nhìn thấy một nhóm các cô gái, đóan chừng còn rất trẻ, chưa đến 20, đang ôm vai, bá cổ, nhõng nhẹo với mấy người ngọai quốc. Lúc đó, tôi có chia sẻ với cha bề trên rằng. Không hiểu tôi sẽ suy nghĩ và phản ứng thế nào nếu một trong các cô gái đó là con cháu của tôi!

Thưa anh chị em,

Như đã trình bầy ở trên; trọng tâm và sứ điệp của dụ ngôn là việc chia sẻ mối dây yêu thương và lòng quan tâm của chúng ta dành cho người nghèo. Nhưng điều này không chỉ bị hạn hẹp trong việc chia sẻ tiền bạc, cơm bánh mà thôi.
Còn hơn thế nữa.

Tác giả của dụ ngôn truớc tiên nhắm đến những người biệt phái. Chúng ta đừng quên cộng đòan mà Thánh Lu-ca là một cộng đòan dân ngọai gốc Hy lạp. Tuy nhiên, cũng có một số gốc biệt phái. Họ chủ truơng rằng sự giầu sang, thịnh vuợng mà họ đang thụ hưởng là phần thưởng và dấu chỉ mà Thiên Chúa phải trao ban để tưởng thưởng cho các việc lành phúc đức và lối sống chu tòan lề luật của họ. Còn đám dân ngọai kia biết gì về Chúa. Sự hiểu biết thiển cận của họ về lề luật của Chúa nói lên tình trạng nghèo nàn của họ. Trong con mắt của những người biệt phái thì đám dân nghèo đó thật đáng khinh. Họ giống như La-da-rô, ngồi bên ngoài nhà tại cổng ra vào để chờ chực phần ăn rơi rớt từ trên bàn tiệc của những nguời biệt phái vậy.

Quan niệm của những người biệt phái thật sai lầm. Thiên Chúa của Đức Giê-su không hành động như thế. Tất cả mọi người đều là hình ảnh của Thiên Chúa. Con người thật đáng yêu đáng mến. Không có việc lọai trừ hay phân chia giai cấp dựa trên tiêu chuẩn giầu hay nghèo, sang hay hèn. Tất cả đều bình đẳng trong tương quan với Thiên Chúa.
Thánh Phaolô nói rằng không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giê-su. Vì vậy, chúng ta được mời gọi để nhận ra, để nhìn thấy Chúa Giê-su trong nhau, và cũng nhận ra các giá trị thiêng liêng qua việc chia sẻ vật chất dành cho người khác. Và chỉ trong mối dây tương quan mật thiết luôn nghĩ đến nhau, luôn quan tâm cho nhau mới giúp chúng ta lắp đầy hố sâu ngăn cách vì vô tâm, vị kỷ để nối kết con người lại gần nhau hơn, và trở thành một gia đình mà chính Chúa là nguời Cha duy nhất.

Đó là mối quan hệ mà Chúa Giê-su mời gọi chúng ta xây dựng.

Vì vậy, bài đọc hôm nay mời gọi chúng ta buớc ra khỏi tình trạng an tòan trong cuộc sống để ra đi bằng việc làm hàn gắn các hố sâu ngăn cách và kết nối con người lại với nhau. Chúng ta không cần chờ đến sau khi chết mới thấy hậu quả của cuộc sống “vô cảm, vô tâm” của ông phú hộ trong dụ ngôn hôm nay. Ngay đời này. Mấy ai sống trong nhung lụa mà thấy hạnh phúc. Họ đang tự chôn mình trong nỗi cô đơn mà chính họ tạo ra.

Như vậy, dụ ngôn không hề có ý mô tả cuộc sống mai sau. Dụ ngôn muốn nói rằng cuộc sống hiện tại của mấy ông nhà giầu cho dù có sướng thật, nhưng chưa hẳn là một cuộc sống có giá trị. Sự hiện diện của người nghèo không phải là một gánh nặng trong cuộc sống của ông; trái lại qua những người nghèo, mấy ông nhà giầu phải nhận ra rằng cuộc sống của họ đang thụ hưởng chỉ đem lại hạnh phúc đích thật nếu họ biết chia sẻ, xây dựng mối dây thân ái, tạo sự hiệp thông bằng việc làm như những lời vàng ngọc mà chúng ta đã nghe trong phần Lời Chúa của tuần trước là hãy dùng tiền của bất chính mà gây nhân nghĩa. Nhân nghĩa là xây dựng đền thờ trong tâm hồn con người… Nhưng hình như, uớc muốn của các người nghèo như La-da-rô trong bài Tin Mừng hôm nay không đuợc đáp ứng; và như vậy số phận của ông nhà giầu coi như đã được quyết định.  

Còn chúng ta thì sao?

Không có ai, kể cả người chết sống lại, có thể buộc chúng ta phải yêu mến. Lời Chúa, lề luật và các ngôn sứ đã được gửi đến. Mặc khải đã có sẵn. Đức Giê-su đã đến. Việc đón nhận để áp dụng vào trong cuộc sống là bổn phận của chúng ta.


Vực sâu lớn nhất của cuộc đời là ích kỷ, là vô cảm, là vô tâm và chỉ biết đến bản thân. Vì thế, chỉ có việc quan tâm, để ý đến nhu cầu của người khác mới có thể tạo nên những nhịp cầu, những lối đi dẫn con người đến sự hiệp thông, đến tình liên đới. Khi biết để ý đến người khác, dù chỉ là nụ cười, đôi lời tâm sự, vài phút bên nhau … tất cả đều là dấu chỉ mà Thiên Chúa gửi đến. Và, trong Chúa tất cả đều dễ thương, tất cả đều trở thành cơ hội để hành động. Vì thế, đừng sống vô tâm, đừng đến với nhau như những người vô cảm. Còn rất nhiều La-da-rô trong xã hội, trong lòng Hội Thánh. Họ đang chờ chúng ta băng bó, sưởi ấm để cho thế giới bớt băng giá hơn. Ai trong chúng ta cũng nghèo. Nhận ra tình trạng nghèo của bản thân để biết rằng: chỉ có trong Chúa chúng ta mới giàu có, chỉ có trong Chúa chúng ta mới làm được những gì mà Chúa muốn. Amen!



Thursday, 19 September 2019

XỬ DỤNG TIỀN CỦA THẾ NÀO?



Phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật thứ hai mười lăm mùa thường niên mời gọi chúng ta đối diện với một vấn đề rất quen thuộc và vô cùng quan trọng trong lối sống của người môn đệ. Chúng ta cần học để xử dụng của cải như thế nào?
Tiền của có đó. Nhưng cách làm ra tiền và cách xử dụng luôn là những vấn đề then chốt trong cuộc sống của tín hữu. Tiền của có thể là đầy tớ, khi khác lại là ông chủ chi phối cuộc sống của người môn đệ. Nó gần gũi và gắn liền với cuộc sống của chúng ta đến độ đã có nhiều người nói “đồng tiền liền khúc ruột.”  Chúng ta không thể coi thường nó.
Nhìn lại lịch sử và xem lối sống của những người chung quanh, chúng ta khám phá ra một điều thật lạ. Bởi vì có hàng triệu, triệu người đã và đang tin vào tình thương cứu độ của Chúa; rồi lại có hàng hàng lớp lớp những người trẻ có, già có nối đuôi nhau ra đi tham gia vào các công tác thiện nguyện, cứu trợ người nghèo… Thế mà số người chết đói và sống trong cảnh thiếu ăn thiếu mặc vẫn không thuyên giảm! Tài sản mà Thiên Chúa trao ban cho con người thuộc về ai? Chúng ta đã xử dụng nó vào mục tiêu nào? Cho cá nhân hay cho việc chung?
Đối với các tín hữu, chúng ta được dậy là cuộc sống của chúng ta không chỉ lệ thuộc vào tiền của; và tiền bạc cũng không là mục đích tối hậu mà chúng ta nhắm đến. Toàn bộ con người và cuộc sống của chúng ta là để và dành cho việc phục vụ Nước Trời.
Nói thì dễ, làm rất khó. Nhưng đó là bổn phận. Nói chưa đủ, phải làm vì không làm không được.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Luca tiếp tục thách thức những người tham lam và những ai chỉ biết đến tiền và tiền. Trước tiên chúng ta nghe một dụ ngôn tuy đơn giản, nhưng lại đưa ra nhiều điều hơi khó hiểu. Dụ ngôn nói về tình trạng của một vị quản lý bị tố cáo đã phản bội và không xử lý tốt tài sản của chủ nhân. Ông ta bị chủ cho nghỉ việc. Trước khi bị đuổi việc, ông có thời gian để hoàn bị sổ sách với chủ của mình. Trước quyết định như bị sét đánh, ông quản lý không một chút hoảng hốt, bình tĩnh ngồi lại để suy nghĩ và tính toán cho tương lai mình. Ông bèn nghĩ đến việc thực hiện một vài cuộc giao dịch với các con nợ của chủ ông.
Theo luật Môi-sen và để bảo vệ cho nhóm người nghèo thì người Do Thái không được phép cho cho vay ăn lãi. Tuy nhiên, nếu họ tìm ra được chứng cớ công nhận những khoản cho vay là những vật liệu mà người vay không nằm trong tình trạng cấp bách để dùng thì được quyền tính lời. Vì thế, trong dụ ngôn hôm nay chúng ta thấy dầu và lúa được đề cập; vì nhà nào mà không còn chút ít dầu và lúa để dùng; đây là những thứ dùng để dự trữ, không phải là những vật liệu cứu đói; nên ông quản lý được quyền tính lời. Như vậy, việc giảm thu lãi mà người quản lý làm trong dụ ngôn cũng không làm thiệt hại tài sản của ông chủ.
Bằng cách tính toán này, ông quản lý đã chuẩn bị cho giai đoạn hoạn nạn sau khi bị chủ đuổi; ông sẽ có thêm nhiều bạn hữu, họ sẽ nhớ đến ân tình mà cư xử tốt với ông sau này. Còn phía ông chủ, khi phát hiện ra điều này, khen ngợi sự khôn khéo của viên quản lý.
Đức Giê-su kết thúc dụ ngôn bằng lời khẳng định rằng những người tội lỗi của thế hệ này trong cách cư xử với nhau thì khôn khéo hơn con cái của ánh sáng. Sau đó, Người khuyên chúng ta hãy xử dụng tiền của, tự nó đã là vật bất chính, như một cách để tạo lấy bạn bè, phòng lúc bất trắc, khi lâm vào cảnh cùng cực, thì có người sẽ đưa tay ra để đón rước và dẫn chúng ta vào nơi vĩnh cửu.

Tiền của, tự nó đã có mãnh lực như một vị thần, nhưng khi chúng ta biết làm chủ thì nó không thể điều khiển tâm trí và lối sống của chúng ta; lúc đó tiền của lại có thể làm nên những điều lợi và tuyệt vời. Con cái ánh sáng là những người cố gắng sống theo hướng tốt lành và thiện hảo. Là những người con của sự sáng, chúng ta được mời gọi sống khôn ngoan và chân thật về cách xử dụng những hồng ân đã được ban tặng hầu mưu cầu ích lợi bền vững và lâu dài sau này. Hãy luôn ghi nhớ rằng chúng ta, tất cả, đều là những đầy tớ vô dụng chỉ biết thực hiện nhưng điều Chủ sai khiến.
Quả thật, câu chuyện trong dụ ngôn tuy có nhiều điểm khó giải thích, nhưng lại nêu lên một vấn đề căn bản trong cuộc sống của người tín hữu là cần phải khôn ngoan khi dùng những ân huệ mà chúng ta đã lĩnh nhận. Làm giầu bằng cách cho đi thì ích lợi hơn là lối sống đầu cơ tích lũy ân sủng cho công nghiệp riêng mình.
Viên quản lý đã bất chính trong việc xử dụng tài sản của ông chủ. Nhưng theo Đức Giê-su thì ông lại khôn khéo khi dùng việc giảm thiểu phân lời để tạo thêm tình bạn. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là phương thức giải quyết khó khăn tạm thời. Người môn đệ của Chúa phải học để biết cách xử dụng tiền của cho mục tiêu dài hạn theo ý của chủ. Đây mới là điều quan trọng mà chúng ta cần đạt được.
Khi tạo dựng, Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta quyền trông coi tài sản của Ngài. Chúng ta chỉ thi hành bổn phận của người quản lý. Một người quản lý trung tín là người biết coi sóc và lệ thuộc vào ông chủ. Chúng ta không xử dụng tài nguyên, năng lực như của riêng, nhưng phải theo ý của chủ. Phải biết tính lời cho chủ chúng ta. Như thế, không chỉ tiền của mà là mọi sự chúng ta có được nhằm cho người khác. Chúng ta chỉ là những tá điền trong vườn nho của Thiên Chúa.
Tuy nhiên, ai trong chúng ta cũng nên thừa nhận rằng lòng tham là sức mạnh cám dỗ chúng ta trở thành những kẻ lệ thuộc thay vì làm chủ tiền của. Không ai có thể làm tôi hai chủ được. Chúng ta cần học để biết mà sử dụng các ân huệ của Chúa sao cho được sung túc và sinh nhiều hoa lợi, không cho bản thân, mà là cho Chúa và tha nhân. Nói cách khác, một khi chúng ta dấn thân vì nước Trời thì tiền của, năng lực, con người và toàn bộ cuộc sống của chúng ta cũng chỉ là dụng cụ cho việc phục vụ tha nhân theo tiêu chuẩn của Nước Thiên Chúa mà thôi. Amen


Thursday, 12 September 2019

MẤT, TÌM THẤY VÀ VUI MỪNG VÌ CHÚA THƯƠNG TA.



Bài Tin Mừng hôm nay bao gồm ba dụ ngôn: dụ ngôn con chiên bị lạc, dụ ngôn đồng bạc bị mất và dụ ngôn người cha nhân hậu. Chủ đề chính của các dụ ngôn nói về lòng thương xót của Thiên Chúa. Lòng thương xót là căn tính đích thực của Thiên Chúa, Đấng luôn thương yêu con người. Lòng thương xót của Thiên Chúa không lệ thuộc vào thái độ của con người. Người yêu và bộc lộ lòng thương xót vì Người là Thiên Chúa.

Vẫn biết là Thiên Chúa và lòng thương xót của Ngài không thể tách rời. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận ra rằng mạc khải về lòng thương xót của Thiên Chúa được diễn tả qua kinh nghiệm sống và tiến trình của dân Ít ra-en trong thời Cựu Ước, được hoàn tất bởi sứ điệp và sứ mạng của Đức Giê-su và vẫn còn hiện diện trong cuộc sống của từng tín hữu và cộng đoàn mà họ thuộc về.

Lịch sử của dân tộc Ít-ra-en cũng bình thường như lịch sử của con người qua muôn thế hệ, đó là một tiến trình đi từ thái độ bất tuân đến hối cải rồi vâng phục, đi từ mất mát đến tìm được, đổ vỡ rồi hàn gắn; vòng tròn đó cứ được lập đi lập lại theo dòng lịch sử của dân Ít-ra-en và của chúng ta hôm nay. Sự tương phản giữa tấm lòng khoan dung, nhân hậu hay thương xót của Thiên Chúa với sự đố kỵ, hẹp hòi hay ghen tương của con người được mô tả thật sống động trong các dụ ngôn mà chúng ta vừa nghe hôm nay.

Như vậy, thái độ và cách cư xử của những người đồng thời với Đức Giê-su về việc Người làm bạn và cùng ăn uống với những kẻ tội lỗi khiến cho chúng ta phải suy nghĩ; như họ, chúng ta cũng đã cư xử với nhau như thế. Vì thế, sứ điệp của các dụ ngôn không chỉ nói cho họ hôm xưa, mà là cho chúng ta, những kẻ vừa nghe Lời Chúa trong mọi thời đại. Chúng ta cần đổi lòng để nhận ra việc Thiên Chúa thương xót ta dường bao. Những gì mà Đức Giê-su đã nói cho họ thì Người cũng muốn tỏ bầy cho chúng ta. Đức Giê-su muốn mời gọi chúng ta đổi lòng để nhận ra tấm lòng đầy nhân ái và trọn vẹn tình thương xót của Người dành cho chúng ta.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, một lần nữa, chúng ta lại được nghe những lời của Đức Giê-su về lòng thương xót của Thiên Chúa đang hiện diện nơi bản thân Người. Trước mặt Thiên Chúa của Đức Giê-su, ai trong chúng ta cũng đáng được coi trọng. Người không coi thường ai. Không ai có thể thay thế ai. Chín mươi chín con đang sống yên lành cũng không được coi trọng hơn một con chiên bị lạc. Chưa kể đến mức độ nguy hiểm có thể xẩy ra khi chiên được chăn theo bầy; biết đâu, một con chiên bị lạc lại không kéo các con khác cùng đi theo.

Lòng thương xót mạnh mẽ và bao dung biết bao khi người chăn chiên dám điên khùng để lo tìm cho được con chiên đã lạc đàn về với bầy. Chỉ có Thiên Chúa của Đức Giê-su mới có con tim điên rồ và không tính toán vì lòng thương xót của Ngài vĩ đại hơn việc tính toán hơn thiệt giữa số một và số chín mươi chín, số nào lớn hơn!

Tương tự như thế, Thiên Chúa của Đức Giê-su hành động giống như bà nhà quê trong dụ ngôn hôm nay. Bà bị mất chỉ một đồng xu; thế mà đã thắp đèn, quét nhà, lục lọi để tìm kiếm cho được đồng tiền mà bà ấy đã bị mất. Không lẽ đồng xu này lại có giá trị hơn các đồng xu khác chăng? Không hẳn như thế; nhưng chắc một điều là nếu bà không tìm thấy đồng tiền bị mất thì các đồng xu kia cũng chỉ là những đồng tiền rời rạc trong một sâu chuỗi bị đứt. Vì thế, bà ta phải tìm, không chỉ vì giá trị của đồng xu, cho bằng sự nối kết của các đồng xu và tâm tình vui mừng khi bà tìm thấy.

Mặc dù Thánh sử không hề nói với chúng ta về hành động tìm kiếm của bà ấy, nhưng tôi tin rằng bà lục lọi kiếm tìm trong hy vọng là sẽ tìm thấy đồng tiền bị mất. Và, đáng cho chúng ta phải nể phục khi khám phá việc bà gọi bạn bè và hàng xóm đến để ăn mừng. Niềm vui khi tìm thấy có giá trị hơn đồng tiền bị mất.

Vì vậy, điểm mà Lu-ca muốn chúng ta lấy từ bài Tin Mừng hôm nay không nhấn mạnh vào hành động tìm kiếm của bà ta, cho bằng sự kết hợp giữa tinh thần vui vẻ của bà và trái tim rộng mở mà bà muốn chia sẻ với người khác. Tương tự như vậy, Thánh sử cho chúng ta biết các thiên thần của Thiên Chúa cũng vô cùng hân hoan và vui mừng khi một người tội lỗi biết ăn năn trở về.

Và điều này cũng thật xác đáng khi chúng ta áp dụng vào hoàn cảnh của gia đình mà một thành viên bỏ nhà ra đi. Gia đình sẽ mất đi bầu khí gia đình mỗi khi nhớ đến hình ảnh và dáng vẻ của người đã ra đi. Lòng thương xót của Chúa là như thế. Lúc nào cũng ngóng trông và chờ đợi sự hiện diện bằng xương bằng thịt của người vắng mặt. Có tâm trạng như thế, chúng ta mới hiểu được nỗi vui mừng khi gặp lại người đã bị mất.

Chúa Giêsu xử dụng các câu chuyện này để giải thích cho những người Pha-ri-siêu và cho mỗi người chúng ta hiểu rõ lý do tại sao mà Người lại mở lòng ra đón nhận những người tội lỗi và đồng bàn với họ. Tất cả đều có kinh nghiệm này, con chiên bị lạc, đồng xu bị mất và việc đi lạc của câu con thứ đều không quan trọng bằng hành động tìm kiếm và niềm vui khi được tìm thấy.

Thưa anh chị em,

Khi suy niệm tới đây, tôi nhớ lại biến cố đã xẩy ra cho 12 thành viên và vị huấn luyện viên của đội bóng bị lạc, mất liên lạc vì trận lụt bất ngờ xẩy đến quá nhanh tại thạch động Tham Luang , thành phố Chiang Rai bên Thái Lan, vào tháng 6 và tháng 7 năm 2018 vừa qua. Sau bao nhiêu nỗ lực của các nhân viên thuộc các cơ quan thiện nguyện, những nhà hảo tâm và các chuyên viên, cộng thêm với sự may mắn, cuối cùng các cháu đã được cứu thoát. Không chỉ cha mẹ và gia đình các em mà hầu như toàn thể thế giới đều vui mừng và thở phào nhẹ nhõm sau khi chứng kiến trên màn hình cảnh cháu bé cuối cùng của đội bóng được cứu thoát vào ngày 10 tháng 7 năm 2018.

Sự kiện nói trên cùng với sứ điệp của bài Tin Mừng hôm nay giúp cho tôi sống trong hy vọng rằng cho dù bản thân và cuộc sống của tôi có ra sao, Chúa vẫn yêu thương và săn sóc tôi. Chúng ta không bị ruồng bỏ mãi mãi, cho dù đã phạm lỗi lầm. Trái lại hãy nhận ra ngay trong giây phút bị mất hướng, đi lạc hay bị đổ vỡ Chúa vẫn đang ôm ấp chúng ta trong tình yêu và lòng thương xót của Người.

Còn hơn thế nữa, thật là một điều vô cùng khích lệ khi nhận biết rằng Chúa vẫn yêu tôi khi tôi thường xuyên nghĩ và nói hành nói tỏi, thậm chí nói xấu người khác. Chúa vẫn yêu và thương xót tôi khi tôi, dù đã chọn đi theo Chúa, nhưng vẫn quên đặt Chúa làm trung tâm của cuộc đời mình. Chúa còn yêu và thương xót tôi khi tôi nhân danh Chúa và lạm dụng chức vụ để yêu cầu người khác phục vụ và hầu hạ mình, sao đó lại nhắm mắt làm ngơ trước các nhu cầu khẩn thiết cần giúp đỡ của người khác. Chúa vẫn hãnh diện về những việc tôi làm, trong khi đó tôi lại hợm mình, khoe khoang và kể lể những thành tích để đòi tưởng thưởng.

Đó là những điều có thể liệt kê, còn nhiều điều giống như thế và có thể còn nhiều hơn thế nữa. Tuy nhiên, những điều này cũng không làm cho tôi mất đi niềm hy vọng để nhận ra rằng chính nhờ các khuyết điểm này sẽ giúp cho tôi biết mình là ai và đang ở đâu trong mối quan hệ với Đức Giêsu. Tôi tin rằng Người rất vui mừng đón tiếp tôi khi tôi ăn năn, lên đường và trở về với Người.

Các dụ ngôn hôm nay cho thấy rằng chúng ta không chỉ là những người lạc lối mà Đức Giê-su bỏ công sức ra tìm cho bằng được, mà chúng ta còn phải thể hiện và chia sẻ sự quan tâm, mối dây liên lạc và hành động tìm kiếm của chúng ta dành cho những người bị lạc, thậm chí những người chưa phải là thành viên tích cực của cộng đoàn chúng ta. Chúng ta được mời gọi sống sứ điệp của Tin Mừng, như là các sứ giả của lòng thương xót, bằng cách mở rộng mối quan tâm yêu thương và hỗ trợ cho những người chưa có kinh nghiệm về niềm vui gặp lại Chúa như chúng ta.

Niềm vui thúc đẩy niềm vui. Thật vậy, chúng ta hãy chia sẻ niềm vui được Chúa tìm thấy cho nhau. Đây sẽ là một kinh nghiệm sống thật tuyệt vời mà không ai có thể giữ cho riêng mình mà cần phải san sẻ cho nhau.

Thưa anh chị em,

Sau cùng, giống như hai dụ ngôn đầu, nếu dụ ngôn người cha nhân hậu dừng lại ở cảnh ăn mừng ngày cậu con thứ đoàn tụ với gia đình thì vui biết mấy. Đức Giê-su tuy vui, nhưng Người vẫn còn nhớ rằng Người đang nói dụ ngôn này cho ai.

Hình ảnh của người con cả tượng trưng cho chín mươi chín người công chính. Họ là nhóm người đề cao lối sống hoàn hảo dựa vào lề luật như là con đường duy nhất để tiến bước trên con đường nên thánh. Từ đó, họ mải mê khoe khoang về bản thân họ là những người tốt, về việc đối xử đại lương và rộng tay ban phát của họ, và việc thường xuyên tham dự các nghi thức phụng tự và đóng góp công sức của họ vào nhà thờ như thế nào. Họ nghĩ và chủ quan cho rằng chỉ có họ mới là người hoàn hảo và vạch đường cho người khác bước theo. Nhưng lại quên rằng trước mặt Chúa, mọi người đều là những kẻ khó nghèo. Sự giầu có và hoàn hảo giả như có đạt được cũng là hồng ân, là quà tặng của Thiên Chúa ban cho. Bởi vì họ không biết việc đó nên họ mới ngạo mạn; họ là những người sống trong nhà mà không biết mình thuộc về nhà. Họ đã mất mối dây hiệp thông gia đình ngay khi còn ở trong nhà. Anh con cả là đại diện cho nhóm người này. Anh chưa bao giờ có cảm nghiệm về lòng thương xót của Thiên Chúa cho nên không hề biết xót thương và thông cảm cho chú em!

Sau cùng, qua các dụ ngôn hôm nay, chúng ta khám phá sự khờ dại của Thiên Chúa khi thể hiện tình yêu thương. Ai trong chúng ta lại dại dột mà bỏ chín mươi chín con chiên để chỉ đi tìm một con chiên lạc, biết đâu khi tìm được con này lại mất con kia. Ai mà chịu hao phí thời gian có khi đáng giá hơn một đồng xu chỉ để tìm lại có một đồng thôi, rồi còn chịu tốn kém trong việc tổ chức tiệc tùng mời người khác chia vui. Nhưng Thiên Chúa của Đức Giêsu và cũng là Thiên Chúa của chúng ta lại cư xử một cách dại dột như thế.

Qua các dụ ngôn này, Đức Giêsu muốn công bố rằng Thiên Chúa, Cha của Ngài là Đấng giầu lòng thương xót, chậm bất bình và tràn đầy ân sủng. Đức Giê-su vô cùng vui mừng khi người tội lỗi biết ăn năn hối cải, trở về đường ngay nẻo chính, về nhà, tức là trở về tổ ấm yêu thương – đâu có tình yêu thương thì đó là nhà của Thiên Chúa.

Vì thế, khi tiếp xúc và đồng bàn với những người tội lỗi, những con người bị bỏ rơi, nghèo đói và những người bị luật lệ lên án là tội nhân..., Đức Giêsu đã không đi ngược lại với giáo huấn của Người, nhưng còn làm sáng tỏ lời giảng dậy bằng chính lối sống của Người nữa.

Cuối cùng, chúng ta phải xác tín và nhớ rằng Thiên Chúa không bao giờ quên con người. Lòng thương xót của Thiên Chúa trường tồn qua muôn thế hệ. Có cảm nhận được như thế, chúng ta mới không đối xử hẹp hòi với nhau, trái lại sẽ thương xót nhau như Chúa hằng xót thương và không muốn một ai trong chúng ta bị hư đi. Amen!