Thursday, 14 November 2019

SẴN SÀNG CHỜ CHÚA



Mới hôm nào mà nay tôi đã được xếp vào hạng U70. Nhìn vào con số bẩy mươi mà run sợ, thế mà tôi vẫn thấy mình cứ như là một đứa trẻ và nghiệm lại thấy mình vẫn chưa làm được gì hết! Sau tuổi sáu mươi đã được coi như là hưởng thọ; vì thế tôi tự xếp mình vào loại già, nhưng nếu so với các thành viên khác trong cộng đoàn tôi đang sống, thì mình vẫn là người trẻ nhất.

Già rồi nên thích ôn lại chuyện cũ, cho dù trong quá khứ đã xẩy ra quá nhiều chuyện mà tôi chỉ muốn được quên đi cho yên bình. Nhưng nếu nhìn về tương lai thì thấy gì? Phải chăng là những tháng ngày trong nhà dưỡng lão hay bịnh viện và sau cùng là nghĩa trang đang chờ đón mình. Bi quan quá! Nhưng đó là thực tế mà chắc hẳn tôi chạy đâu cũng không thoát. Các vị trưởng thượng đã từ từ rủ nhau ra đi, bạn bè cũng đã lên đường, mình không có lý do gì để tháo lui hay trốn chạy.

Chuyện cũ muốn ôn lại hôm nay cũng không phải của tôi. Đó là những mẩu tâm tình mà tôi đã nghe từ các bậc tiền bối kể lại. Với hiệp định Geneva, chia đôi chiến tuyến và đặt Việt Nam thành 2 miền Nam và Bắc. Bố mẹ tôi theo đoàn người ra đi vào miền Nam. Các cụ ra đi với tâm trạng mong chờ ngày hồi hương. Đi đâu cũng chỉ mong về nhà. Thế mà, thêm một lần ra đi nữa mà ngôi nhà ở miền Bắc của các cụ vẫn chỉ là những ký ức trong lòng và là ước mơ không thành tựu.  

Thay vào đó là ngôi nhà vĩnh cửu. Niềm hạnh phúc được ở trong nhà Cha đã thuộc về các cụ và những anh em đi trước. Họ ra đi với trọn vẹn niềm tin vào Đấng đã ban cho họ niềm hy vọng là họ không chết nữa, sự chết không thể làm chủ và vây hãm được các ngài. Các ngài đã tin rằng Thiên Chúa đã săn sóc họ khi còn sống, thì không có lý do gì mà Thiên Chúa lại bỏ rơi khi họ đã về nhà, tổ ấm của yêu thương, bình an, hoan lạc và niềm vui, nơi đó sẽ không còn hận thù và đau khổ, không còn phân ly và xa cách, không còn thời gian và nơi chốn chỉ có trường cửu và vĩnh hằng. Họ được bao phủ bởi yêu thương và hiệp nhất.

Ngày cùng tận của đời người như thế thì có gì đáng sợ đâu.

Ngày cùng tận sẽ đến với từng người. Không ai tránh thoát. Nhưng, đó không phải là chủ đề chính mà Phụng vụ Lời Chúa nhắm đến hôm nay. Trong những ngày này, phụng vụ Lời Chúa hướng về sự cùng tận của thế giới, ngày mà con người thường gọi là ngày tận thế.

Chúng ta không nên bàn luận hay tiên đoán khi nào ngày đó sẽ đến. Tuy nhiên, mỗi khi thấy những biến cố hay các tai ương xẩy ra trên thế giới như: động đất, lũ lụt, chiến tranh thì không thiếu những người tín hữu vội vàng chạy theo các lời tiên đoán và ám chỉ các biến cố đó là các dấu hiệu báo trước ngày tận thế sắp xẩy ra.

Các lối suy đoán như thế đã từng xẩy ra trong lịch sử. Mỗi một giai đoạn người ta lại có các kiểu đoán khác nhau. Và chưa ai tiên đoán đúng cả. Quả đúng như Lời Chúa nói hôm nay rằng hãy coi chừng các tiên tri giả. Và, chúng ta hãy nhớ tại một chỗ khác Chúa đã xác định thật rõ ràng như sau: “Còn về ngày đó hay giờ đó, thì không một ai biết được, dù các thiên thần trên trời, dù Con Người cũng chẳng biết, chỉ có mình Cha biết thôi”. Đó là việc của Thiên Chúa. Chính vì thế, những gì mà Đức Giê-su nói trong bài Tin Mừng hôm nay giúp chúng ta chuẩn bị sống tốt ngay lúc này. Còn khi nào Chúa đến thì để Chúa lo.

Thưa anh chị em,

Khi Thánh Lu-ca viết diễn từ quang lâm, và bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe là một phần của diễn từ, thì các tín hữu sơ khai đã chứng kiến cảnh đền thờ Giê-ru-sa-lem bị tàn phá. Họ tin rằng đền thờ là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa, trung tâm sinh hoạt tôn giáo, mà nay đã thành bình địa thì còn hy vọng gì nữa. Để hỗ trợ cho lối suy nghĩ này, chúng ta thử tưởng tượng rằng nếu một ngày nào đó Đế Đô Vatican bị sụp đổ thì niềm tin của những người tín hữu nhiệt thành và dựa vào truyền thống sẽ bị lung lay đến độ nào?

Quả thật, biến cố kinh hoàng này đã khiến cho niềm tin của các tín hữu tiên khởi bị lung lay đến tận xương tủy. Thiên Chúa ở đâu? Tại sao Ngài không can thiệp để bảo vệ đền thờ và bộc lộ lòng quan tâm của Ngài dành cho dân mà Ngài đã tuyển chọn? Phải chăng, đây là thời gian hay ngày của Chúa? Họ phải làm gì để đón đợi ngày này đây? Và có khi nào đó là những dấu hiệu báo cho chúng ta biết ngày đó sắp xảy ra chăng?

Diễn từ quang lâm mà Thánh Lu-ca trình bầy hôm nay như là một lời nhắc cho chúng ta nhớ rằng việc đền thờ Giê-ru-sa-lem bị tàn phá được Đức Giê-su dự đoán đã xẩy ra. Đó không phải là dấu hiệu tiên báo ngày chung cục cho bằng do bàn tay của con người đã phá hủy nó. Chúng ta hãy nhớ rằng Nước Thiên Chúa được thiết lập nơi bản thân và sứ vụ của Đức Giê-su chứ không bị lệ thuộc bởi việc xây dựng các cơ sở vật chất do bàn tay con người đóng góp.

Bên cạnh đó, Đức Giê-su còn nói cho những kẻ theo Người biết rằng không chỉ có đền thờ đã bị tàn phá mà sẽ còn nhiều tai ương và hoạn nạn xẩy đến cho thế giới này nữa... Một thế giới vẫn còn nhiều bất ổn, bạo động, chiến tranh, khủng bố, các tai ương như thiên tai, động đất và lũ lụt vẫn xẩy ra.

Cho dù tất cả các biến cố nói trên và các hiện tượng kinh hoàng khác ập xuống trên mặt đất cũng không làm chúng ta phải hoảng sợ. Đức Giê-su đã quả quyết rằng những sự việc đó sẽ xẩy ra trước, nhưng đó cũng không phải là các điềm báo nói về ngày chung cục đâu.

Ngoài ra, các người theo Chúa còn bị bách hại, bị ngược đãi và bị giam cầm, thậm chí còn bị những người thân trong gia đình bắt nộp. Nhưng, tất cả các điều đó không làm cho chúng ta phải hoang mang hay lo sợ; trái lại chúng ta hãy xử dụng các hoàn cảnh ngặt nghèo như là những cơ hội để loan báo Tin Mừng cho những ai đang có lối sống thù địch với Tin Mừng.

Sống trong tư thế của kẻ đã sẵn sàng trong hoạt động để loan báo Tin Mừng là thái độ sống tích cực của người tín hữu đã sẵn sàng đón chào Chúa. Quả thật, chúng ta được mời gọi để đón nhận mọi biến cố xẩy đến trên thế giới này bằng một niềm hy vọng. Chúng ta được mời gọi trung kiên với Chúa và tìm mọi cơ hội để làm chứng nhân cho niềm tin và niềm trung kiên của chúng ta giữa lòng thế giới mà chúng ta đang sống. Tất cả là bối cảnh mà chúng ta được mời gọi để làm chứng cho Đức Ki-tô giữa lòng thế giới và ngay ở trong lòng của những kẻ thù địch với mình.

Như vậy, việc Thiên Chúa đến trễ hay đến sớm không phải là việc mà chúng ta cần quan tâm hay lo lắng. Tất cả mọi biến cố đều nằm trong kế hoạch yêu thương của Người. Đức Giê-su muốn chúng ta có nhiều thời gian để chuẩn bị cho thật tốt, nhất là biết dùng thời gian đang sống để công bố cho mọi người biết về Tin Mừng của Thiên Chúa.

Vì thế, hãy kiên tâm vì mạng sống của chúng ta đã được Thiên Chúa coi sóc. Hãy một lòng tin tưởng vào lời hứa của Thiên Chúa là chăm sóc cho chúng ta. Và, với sức mạnh của lời Chúa hứa, chúng ta hiên ngang dấn bước theo Người và để lại mọi sự, kể cả ngày sau cùng, cho Người lo liệu. Tạ ơn Chúa. Amen!





Thursday, 7 November 2019

TẤT CẢ VẪN ĐANG SỐNG.




Truyện kể rằng có linh mục kia đang trông coi một giáo xứ miền quê. Vào một buổi chiều nọ, ông trùm quản xứ vào gặp ngài. Hai cha con ngồi nói chuyện dưới mái hiên của nhà xứ. Bỗng nhiên, với vẻ trang trọng ông thưa với cha rằng: “Thưa cha, trong suốt 30 năm qua, không ngày nào mà vợ chồng con không cãi cọ nhau.” Nghe đến đó, cha lùi lại phía sau, nhìn thẳng vào mắt ông trùm và với vẻ ngạc nhiên cha hỏi: “Mỗi ngày sao?” “Thưa cha, mỗi ngày” ông đáp. Vậy hôm nay thì sao? Ông trùm trả lời: “Dạ thưa cha, sáng nay cũng thế, cô ta quàng tay sang phía con, tung mền và lôi con bò dậy rồi lớn tiếng quát “ông không dậy ra khỏi giường mà lo việc, cứ nằm đó mà nướng.” Thế là lời qua tiếng lại, cuối cùng con vẫn là người chịu thua và im đi cho yên chuyện.

Trong cuộc sống gia đình anh chị em thường xuyên gặp phải hoàn cảnh thực tế nói trên. Không tranh luận, không cãi vã, không có lời qua tiếng lại thì không phải là sinh hoạt vợ chồng, thế mà anh chị vẫn cứ trung thành sống bên nhau. Cuối cùng cả vợ lẫn chồng đều nhận ra một thực tế mà cha ông chúng ta đã trải nghiệm, đó là: “Càng yêu nhau lắm, càng cắn nhau đau.”

Những cuộc cãi vã thường xuyên xẩy ra trong đời sống vợ chồng thế nào thì mấy ông lãnh đạo thời Đức Giê-su cũng thế. Mỗi khi các ông Pha-ri-sêu và các vị thuộc nhóm Xa-đốc gặp nhau là cơ hội họ tranh luận về đề tài kẻ chết sống lại này. Hầu như không có lối thoát. Phe nào cũng muốn phần thắng lợi thuộc về họ. Không ai chịu thua ai.

Ngoài việc căn cứ vào Lời Chúa phán trong các sách ngũ thư và truyền thống ngôn sứ, mấy ông Pha-ri-sêu còn dựa vào hoàn cảnh thực tế mà dân đang phải gánh chịu, như cảnh những người công chính, ăn ngay ở lành thì bị bách hại, trong khi đó những tay gian ác, ăng ten và làm tay sai cho chính quyền lại phát tài và ăn nên làm ra. Từ đó họ mới suy luận và cho rằng Thiên Chúa công minh sẽ can thiệp vào thời sau hết và không để cho xã hội mãi như thế. Họ không chết trong các nỗi bất hạnh. Chắc chắn có sự sống đời sau. Lúc đó, Thiên Chúa sẽ làm cho kẻ chết sống lại, ban thưởng cho bậc chính nhân và phạt kẻ ác. Với suy tư thần học này, rất đông dân chúng đang sống trong cảnh bị bách hại, theo phe họ.

Trong khi đó, hầu hết các vị Thượng Tế là những người thuộc nhóm Xa- đốc chủ trương không có chuyện kẻ chết sống lại. Bởi vì họ đang thụ hưởng một cuộc sống quá sung túc. Thế giới mà họ đang sống đã là Thiên Đàng rồi, đâu cần một thế giới khác nữa. Giữa họ và người Pha-ri-sêu luôn luôn bất đồng với nhau về việc này.

Vẫn biết rằng, Đức Giê-su đã trở thành mối đe dọa cho vị trí và quyền lợi của những người Pha-ri-sêu và nhóm Xa đốc, cho nên họ luôn tìm cách để nộp Người. Họ luân phiên nhau chất vấn Đức Giê-su và hôm nay đến phiên nhóm Xa-đốc. Câu hỏi về số phận con người sau khi chết chỉ là một cái bẫy mà nhóm Xa-đốc dùng để gài Chúa. Họ không trực tiếp hỏi về cuộc sống sau khi chết, cho bằng dựng nên một câu chuyện, tuy hơi hoang đường với chúng ta, nhưng phản ảnh nền văn hóa và hoàn cảnh xã hội thời bấy giờ. Họ dựa vào khoản luật trong sách Đệ Nhị Luật, chương 25:5-6 để chất vấn Chúa. Điều luật đó như sau, nếu người anh chết mà không có con nối dõi tông đường thì người em phải lấy chị dâu, nay đã góa chồng, làm vợ và đứa con đầu lòng cô ta sinh ra sẽ mang tên của ông anh đã chết. Khoản luật này xem ra không hợp với văn hóa của chúng ta ngày nay, nhưng lại là điều tốt vì có như thế thì người phụ nữ bị góa chồng đó mới được bảo vệ, ít nhất cô ta còn có con cái phụng dưỡng khi về già.

Những người thuộc nhóm Xa-đốc đưa ra câu chuyện của một người đàn bà đã trải qua bẩy đời chồng mà họ là anh em với nhau trong một gia đình. Theo luật Mô-sê thì bà đã làm đúng. Cho dù, những người thuộc nhóm Xa-đốc không tin vào sự sống đời sau; nhưng ở đây họ giả định là nếu có sự sống đời sau thì bà này sẽ là vợ ai? Vì bà đã là vợ của cả bẩy anh em! Điểm then chốt mà họ đưa ra ở đây không phải để tìm hiểu giáo lý, nhưng để bắt bí Đức Giê-su. Nếu Người cũng chủ trương có sự sống đời sau thì Người phải đối diện với một tình huống thật khó xử chưa kể là phi lý nữa. Đức Giê-su lại một lần nữa bị đặt vào hoàn cảnh dường như không lối thoát. Người sẽ hành xử ra sao trong lúc đối tượng chỉ là những người chống đối và gây khó khăn cho Người?

Dù biết được thâm ý của họ như thế nhưng Đức Giê-su vẫn kiên nhẫn trong cách hành xử để đáp trả vấn nạn mà họ nêu ra. Người không chỉ nói lên quan niệm của Người về sự sống lại mà còn giải thích cho họ biết về quan niệm của Người. Chúng ta có thể tóm tắt lời Người giảng dậy như sau:

·        Điểm quan trọng trước hết là có sự khác biệt giữa sự sống đời này và sự sống đời sau. Cuộc sống với Thiên Chúa trong thời sau khi chết thì khác hẳn với sự sống hiện tại. Khác như thế nào không được nói rõ, nhưng hẳn nhiên không phải là một sự tiếp nối của cuộc sống hiện tại.

·        Điều thứ hai là không có việc lấy vợ gả chồng trong thời đại đó.
·        Điểm thứ ba là họ không thể chết nữa vì họ đang sống đời đời.
·        Sau cùng, những ai đã được cứu độ thì sẽ có lối sống giống như các thiên thần, chầu chực và ca tụng Thiên Chúa.

Sau đó, Đức Giê-su còn trích dẫn lời tuyên xưng của Mô-sê, khi ông gọi Đức Chúa hiện vẫn là Thiên Chúa của các tổ phụ: Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp. Người còn khẳng định rằng Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết mà là người sống, vì đối với Thiên Chúa, tất cả vẫn đang sống.

Cho dù bản văn phụng vụ hôm nay không đề cập đến phản ứng và lời đáp trả của một số kinh sư, đa số thuộc về nhóm Pha-ri-sêu. Nhưng nếu chúng ta đọc tiếp thì sẽ thấy mấy ông kinh sư, ít khi đồng ý và tán thưởng hành động của Đức Giê-su, thế mà hôm nay lại đứng về phía Người qua lời ca tụng sau đây: “Thưa Thầy, Thầy nói hay lắm.” Và không có người nào dám chất vấn Người nữa.

Chúng ta cũng thế, câu hỏi về sự sống đời sau không phải để thảo luận, bàn cãi hay tranh luận. Đó là vấn đề của đức tin và cũng là một điều bí ẩn. Nó hàm chứa một niềm hy vọng, một thách đố, một kiếm tìm và một lòng tin tưởng đầy hứa hẹn ở tương lai. Khi sinh ra, chúng ta đã bước vào cuộc hành trình của sự sống vĩnh cửu. Lời hứa của cuộc sống đời sau đó giúp chúng ta đối diện với các khó khăn cũng như nghịch cảnh của cuộc sống này như những con người không để cho sự chết đánh gục. Tuy nhiên, trước các nghịch cảnh trong cuộc sống, chúng ta sẽ buồn phiền, thậm chí thất vọng, nhưng không tuyệt vọng bởi vì chúng ta tin rằng cuộc sống mới sẽ đến. Chúng ta tin rằng có một thực tại tuyệt vời hơn đang chờ đợi chúng ta ở tương lai.

Chúng ta yên tâm về Thiên Đàng, chính nhờ niềm tin này mà chúng ta sẽ sống khác với những ai chỉ thấy thiên đàng tại thế. Chúng ta sẽ sống vì Chúa. Chúng ta sẽ đáp lại tình thương của Người bằng toàn bộ cuộc sống này. Nói khác đi, cuộc sống vĩnh cửu không phải là quà tặng ban cho tôi khi tôi đã về già; nhưng nó đã được khởi động trong ngày tôi lĩnh nhận bí tích Thánh Tẩy để làm Con Chúa của tôi.

Thật đúng như lời Đức Giê-su đã khẳng định Người là Thiên Chúa của kẻ sống. Đối với Người thì tất cả đều đang sống. Hy vọng Lời Chúa nói hôm nay đem đến cho chúng ta sự bình an, niềm vui và hy vọng ngay bây giờ và mãi mãi sau này nữa.

Thưa anh chị em,

Trong niềm tin và hy vọng vào cuộc sống đời sau đã được hứa ban, nhất là trong tháng các linh hồn năm nay, chúng ta xác tín về số phận của những người thân. Họ đã bước qua ngưỡng cửa, mà chúng ta gọi là sự chết để bước vào nước hằng sống. Quí ngài đang sống gần Chúa hơn chúng ta, các ngài đang nghỉ yên để thụ hưởng tình yêu và sự hiệp thông - cho dù chưa trọn vẹn – với Chúa.

Niềm xác tín như thế được đặt trên căn bản của niềm tin vào Thiên Chúa là Đấng giầu lòng xót thương, chậm bất bình và không kể tội của con mình. Hãy xem cách mà Thiên Chúa đã hành xử với Da-kêu và người con thứ. Cả hai người khi trở về nhà có người nào bị hạch tội hay phải nhắc lại quá khứ của mình hay chăng, ngược lại họ còn được trọng thưởng và mở tiệc mừng ăn khao.

Quả thật, nếu chúng ta tin rằng Thiên Chúa đã săn sóc chúng ta khi còn sống, thì chắc chắn Ngài còn săn sóc và thương yêu chúng ta nhiều hơn nữa khi chúng ta bước về nhà Cha. Trong nhà Cha, con người chuyển sang vũ trụ khác, một trạng thái sống không còn đau khổ, không còn hận thù; nhưng chỉ có bình an, hoan lạc và niềm vui. Tất cả đều ở trong tình trạng vĩnh cửu. Con người được thu hút vào vũ trụ tràn đầy tình thương của Thiên Chúa và biết rõ rằng Thiên Chúa biết và yêu thương họ.

Như vậy việc cầu nguyện cho nhau có cần thiết hay không?

Dạ thưa, cần và rất khẩn thiết. Tuy nhiên chúng ta không đến ngôi mộ để tìm và cầu cho người chết. Họ đang sống. Vì thế, việc cầu nguyện của chúng ta không nhằm mục tiêu đánh thức Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn thương yêu và lo lắng cho mọi người, Người không muốn cho bất cứ ai bị hư đi. Như vậy, việc cầu nguyện và tưởng nhớ đến những người thân hay mọi người đã lìa cõi thế của chúng ta nói lên sự yêu thương, nhớ nhung của chúng ta với các ngài.

Qua việc cầu nguyện, chúng ta minh chứng rằng thân nhân của chúng ta không chết. Sự chết không làm đứt đoạn hay tiêu hủy mọi mối dây tương quan mà chúng ta đã thiết lập và xây dựng. Bởi vì, các mối tương quan đó được đặt trên nền tảng của sự yêu thương trong Chúa. Chính vì sức mạnh của tình yêu giúp chúng ta xác tín rằng cho dù thân nhân của chúng ta đã lìa cõi thế về mặt thể lý, nhưng sự hiện diện của họ tồn tại vĩnh viễn trong lòng yêu thương và sự tưởng nhớ của chúng ta.
Vì, Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống. Đối với Người thì tất cả đều đang sống, không còn ai chết nữa. Đây là niềm hy vọng mà chúng ta dùng để an ủi, nâng đỡ và cầu nguyện cho nhau. Amen!



Friday, 1 November 2019

HÃY ĐẶT LẠI ĐÚNG VỊ TRÍ



Hẳn anh chị em vẫn còn nhớ, Tin Mừng không phải là một lý tưởng huyền thoại mà chất chứa một sứ điệp chất vấn và đòi buộc chúng ta phải thay đổi. Nếu chưa được biến đổi thì Tin Mừng vẫn chỉ là những bản văn chết và không có ảnh hưởng gì trên cuộc sống của chúng ta.

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cuộc biến đổi của ông Da-kêu, trưởng ban thu thuế. Câu chuyện này nối tiếp với bài Phúc âm tuần trước. Trong đó, thánh sử đã trình bầy về cử chỉ và hành động của hai người, Pha-ri-siêu và thu thuế, trong đền thờ; còn hôm nay là cuộc gặp gỡ của Đức Giê-su và ông Da-kêu, trưởng ban thu thuế.

Trong xã hội Do Thái dưới thời Đức Giê-su thì những người thu thuế được coi như là những nhận vật nguy hiểm và bị dân chúng thù ghét. Họ là những người cộng tác với đế quốc Rô-ma, một thể chế đang thống trị và đàn áp dân Do Thái lúc bấy giờ. Họ có một đội ngũ tay sai, điềm chỉ viên, chuyên săn tin và báo cáo cho họ biết ai đã thu hoạch được một vụ mùa bội thu hay ai đã kiếm được một khoản lợi nhuận qua việc trao đổi và buôn bán trên thị trường. Sau đó, những người thu thuế sẽ xuất hiện để đòi chia lợi nhuận dựa trên tỷ lệ phần trăm.

Thậm chí, chính quyền Rô-ma còn cho phép họ đánh thuế bằng hiện vật từ những người nghèo, không có tiền đóng thuế. Có nghĩa là, họ có quyền bắt giữ con cái của các gia đình thiếu thuế làm nô lệ cho họ.

Với phương thức như thế, những người thu thuế dù liêm khiết và thành thật đến mức độ nào cũng trở nên giàu có và bị dân chúng thù ghét. Cụm từ địa chủ hay cường hào ác bá, sống trên xương máu của nhân dân cũng chưa đủ nghĩa để nói lên công việc của những người thu thuế.

Những người Do Thái không chỉ thù ghét họ mà còn tránh né và không bao giờ tiếp xúc nói chi đến việc đưa ra lời mời gợi ý giúp họ thay đổi. Và cũng chỉ vì bị cô lập và bị đối xử tách biệt như thế cho nên những người thu thuế chỉ biết dùng đủ mọi cách thức để tiếp tục làm giầu và vui thích với ý nghĩ của những kẻ có quyền lực bằng sự giầu có mà họ đã tích lũy được.

Trong Tin Mừng theo Thánh Lu-ca, chúng ta khám phá rằng không chỉ một lần mà rất nhiều lần các nhân viên thu thuế đã xuất hiện để nghe Thánh Gioan tiền hô và Đức Giê-su rao giảng. Và trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta nhận ra bản chất và sức mạnh của Đức Giê-su mang đến. Người cảm nhận và kinh nghiệm rằng tình yêu của Thiên Chúa không loại trừ một ai và được thể hiện tại bất cứ nơi nào.

Người lại một lần nữa hoán đổi ngôi vị, từ khách ra chủ. Da-kêu có thể vì tò mò nên ông đã chủ động trong việc tìm kiếm để xem Đức Giê-su mà người ta đang bàn tán là ai. Nhưng khi nhìn thấy ông đang ngồi ở trên cây thì Đức Giê-su đã đi bước trước, không bộc lộ một cử chỉ nào để đáp lại Da-kêu, mà Người đã chủ động tự mời mình đến lưu ngụ tại nhà Da-kêu và Da- kêu đã được biến đổi sau khi nhận lời mời của Người.

Cuộc biến đổi trước tiên đã được mô tả thật rõ ràng qua cử chỉ và việc làm của ông. Ông vội vàng tụt xuống, vui mừng đón tiếp Chúa đến nhà ông. Trong khi đó, đám đông lại bị sốc vì hành động của Đức Giê-su. Người không đứng về phía nhân dân nữa mà lại làm bạn với bọn hút máu mủ của dân chúng. Nhưng điều mà Đức Giê-su quan tâm hôm nay là Da-kêu, một con người bị ruồng bỏ hơn là việc luật lệ hay truyền thống bị xúc phạm. Công việc thu thuế của Da-kêu tuy xấu thật; nhưng con người của Da-kêu, cũng như mọi người chưa hẳn là xấu. Sự thiện hảo và lòng tốt vẫn còn trong ông, nó chưa hẳn bị tê liệt hoàn toàn, cần được hâm nóng và làm cho chỗi dậy.

Khi bước chân vào nhà Da-kêu, Đức Giê-su đã trả lại cho ông phẩm giá của một con người có thể bị đánh mất vì chức nghiệp. Người phục hồi hình ảnh tốt trong ông, Người kéo ông ra khỏi môi trường đã giam cầm ông. Nguyên tắc căn bản mà Đức Giê-su thường xuyên áp dụng, đặc biệt cho hoàn cảnh của Da-kêu hôm nay là giúp ông nhận ra sự quảng đại của Thiên Chúa, Đấng hòa hợp với lòng tốt đang tiềm ẩn trong ông. Da-kêu sẽ không thể thay đổi nếu ông không nhận ra bản tính lương thiện vẫn hiện diện trong ông. Ông đã được hâm nóng và đốt cháy bởi ngọn lửa yêu thương, lòng nhiệt thành và tâm hồn quảng đại của Đức Giê-su.

Có một điểm quan trọng mà chúng ta cần lưu ý ở đây mà áp dụng, đó là phải chú ý đến cách mà Đức Giê-su đã làm. Người không đưa ra yêu cầu hay một việc đền tội nào cho Da-kêu cả. Người tạo cơ hội và không gian để Da-kêu tự do chọn lựa cách thức mà ông muốn chuyển hướng cuộc sống của ông.

Thật không may, phản ứng của chúng ta thì giống như đám đông cùng thời với Đức Giê-su. Chúng ta có thói quen chôn và giam giữ người khác chung với những sai lầm trong quá khứ của họ. Chúng ta lại thường xuyên học theo lối lên án và kết tội người khác hơn là tạo cơ hội giúp cho họ khẳng định các mặt tích cực trong cuộc sống của họ. Tầm nhìn của Đức Giê-su thì rộng và xa hơn những gì mà chúng ta có thể nhìn thấy. Người không nhìn Da-kêu là kẻ tội lỗi, mà luôn coi ông là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham, cũng được thừa hưởng một nguồn ơn cứu thoát.

            Như vậy, qua cuộc gặp gỡ của Đức Giê-su với ông Da-kêu, Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta nhận ra một chân lý lạ lùng này, đó là Người đến để mời gọi con người đặt lại đúng chỗ những gì đã bị mất hay đã hư đi. Da-kêu đã được gặp Chúa và cuộc gặp gỡ này đã đổi mới cuộc đời ông. Trong hành trình đổi mới này, Da-kêu trước tiên đã công khai sửa chữa những việc làm sai trái của ông. Thay vì chạy theo tiền bạc, danh vọng, chức vụ rồi chỉ lo đến mình… bây giờ ông theo Chúa và lo cho người khác, nhất là người nghèo rồi đền bù các thiệt hại do ông gây ra.

Liệu chúng ta đã thực sự gặp Chúa để được đổi mới hay chưa?

Dù cuộc đời chúng ta vẫn gắn liền với sự mỏng dòn, yếu đuối của thân phận làm người và thường xuyên phạm tội; nhưng đó cũng chỉ là điều để chúng ta biết rằng chúng ta vẫn là con người, vẫn đang đi trên đường, nhắm đích mà tiến bước. Chúng ta chưa hoàn hảo. Nhưng đừng vội thất vọng. Chúa vẫn đang ngước mắt tìm và nhìn thấu ta. Còn ta thì hãy bước ra khỏi chính mình (leo lên cây) để nhìn sự thiện hảo của Thiên Chúa nơi mình; hành động với lòng yêu mến chân thành mà Chúa đã đặt trong mình; rồi mở rộng vòng tay chào đón nhau trong Chúa. Amen!

Thursday, 24 October 2019

HÃY TẠ ƠN CHÚA VÌ CON LÀ KẺ CÓ TỘI.


Noi gương bà góa trong bài Tin Mừng tuần trước, chúng ta hãy cầu nguyện liên tục, không được ngừng. Tuần này, bài Tin Mừng mô tả việc hai người Pha-ri-sêu và thu thuế lên đền thờ cầu nguyện. Qua đó, Đức Giê-su không chỉ dậy bảo chúng ta có tinh thần khiêm tốn khi cầu nguyện, mà còn mời gọi chúng ta hãy xem xét lại thái độ và lối sống của mình trước mặt Chúa nữa.

Người Pha-ri-sêu được mô tả thật sống động. Ông đứng thẳng người bộc lộ dáng vẻ tự tin, thì thầm với Thiên Chúa. Chúng ta phải thú nhận rằng những việc ông làm, nào là không trộm cắp, không có hành vi bất chính, không ngoại tình, còn tuân thủ việc đóng thuế thập phân cho đền thờ nữa là những việc tốt và rất đáng khích lệ và ông ta đã hành động theo đúng luật Chúa. Ông ta làm được nhiều việc hơn chúng ta. Thật cảm phục cho các tín hữu dám công khai nói như người Pha-ri-sêu hôm nay.

Ông đã tạ ơn Chúa; nhưng cách ông tạ ơn dường như để khoe khoang chứ không để tỏ bầy cử chỉ tôn thờ Thiên Chúa của ông. Sau đó, đã sai ông lại tiếp tục sai khi vịn vào thành tích rồi hợm mình để chê bai người khác. Ông làm như đã trở thành con người hoàn hảo bởi các việc ông làm.

Chúng ta tưởng rằng chỉ mấy ông Pha-ri-sêu thời Đức Giê-su mới hành xử như thế. Thật ra trong mọi thời đại và dù bất kỳ sống trong môi trường nào thì lối sống như ộng Pha-ri-sêu vẫn còn hiện diện và được khuyến khích trong các cơ cấu, ngay cả các tổ chức công giáo. Họ là những người tự cho mình là đạo đức, dựa vào công nghiệp và những đóng góp rồi coi kẻ khác không ra gì.

Thật ra, ai trong chúng ta cũng đều biết rằng chúng ta có làm được các việc như thế cũng là hống ân của Chúa ban cho. Tất cả đều là hồng ân, là quà tặng của Chúa trao ban để chúng ta chia sẻ cho người khác. Đó là bổn phận, nếu không hành động thì chúng ta là người có lỗi, lấy gì mà vinh vang.

Nếu ai trong chúng ta có muốn so sánh thì hãy lấy tiêu chuẩn của Tin Mừng ra mà so sánh. Tất cả chúng ta, dù là ai hay dù đang nắm giữ tác vụ nào của Hội Thánh, tất cả đều là tội nhân, là những con người khuyết hẳn vinh quang và sự Thánh Thiện của Chúa nơi mình.

Vì thế, hãy học vẻ đẹp của người thu thuế. Ông biết các công việc của ông, như cộng tác với chính quyền, thu thuế và làm giàu trên xương máu của nhân dân khiến cho ông tuy giầu có nhưng lại bị dân chúng ghét bỏ. Ông nhận ra một sự thật là cho dù liêm khiết và thành thật đến đâu thì ông cũng là người có tội với dân tộc và với dân chúng. Chính vì thế, ông chẳng có gì để hãnh diện hay trình bầy thành tích trước mặt Chúa. Ông đứng tự đàng xa, không dám ngước mắt nhìn ai, nhìn vào cõi lòng, hẳn nhiên khi nhìn vào cõi lòng ông thấy sự uy nghiêm và thánh thiện của Chúa, nên ông đấm ngực mà thân thưa cùng Chúa rằng: “Lậy Thiên Chúa, xin thương xót, con là kẻ tội lỗi.”

Giống như anh con thứ trong dụ ngôn Tình Phụ Tử, người cha đã không cho phép anh kể hết các tội của mình, không cho phép anh đánh mất mối tương quan khi anh dự định nói rằng mình không xứng đáng là con của ông. Ông đã cắt đứt việc anh con thứ kể lể về tội của anh thế nào thì ở đây cũng thế. Chúng ta không thấy người thu thuế liệt kê các tội của anh. Với thái độ nhìn rõ sự thật và vị trí trong thân phận của một kẻ có tội, anh đã được Thiên Chúa thương và làm cho anh trở nên công chính. Nói khác đi, anh ra về và được khỏi tội.

Thưa anh chị em,

Nơi câu đầu của dụ ngôn, Thánh Lu-ca đã nói mục đich của dụ ngôn này là bài học mà Đức Giê-su muốn trao ban cho một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê kẻ khác. Chúng ta có nằm trong đối tượng mà Đức Giê-su dậy bảo hôm nay hay không?

Tôi thấy cách hành xử của hai người: Pha-ri-sêu và thu thuế, đều được tôi lập lại trong cuộc sống hằng ngày. Sống trong một môi trường coi trọng thành tích, chúng ta nói cho nhau nghe các thành tựu, liệt kê một mớ bảng tạ ơn hay trọng thưởng. Chúng ta muốn nói cho người khác biết là chúng ta đang làm rất tốt; rồi từ đó chúng ta cũng nghĩ rằng Chúa đang mong đợi các điều tương tự từ nơi chúng ta, Chúa sẽ có ấn tượng tốt qua các thành công của chúng ta. Bị ảnh hưởng bới các yếu tố đó nên ông Pha-ri-sêu của mọi thời đại đã làm giống như người Pha-ri-sêu trong bài Tin Mừng. Cho dù ông mở đầu bằng lời tạ ơn, nhưng tâm tình tạ ơn của ông đâu chẳng thấy mà chỉ thấy ông khoe thành tích, kể lể công nghiệp hàm ý rằng những gì mà ông đang thụ hưởng là một sự đáp trả mà Chúa phải ban qua các việc ông đã làm. Ông không còn nhận ra những gì mà ông có được là hồng ân từ Chúa thì làm sao ông có thể tạ ơn được. 

 Chúng ta không cần tạo một ấn tượng tốt nơi Thiên Chúa. Chúa biết rõ chúng ta là ai, và Người còn biết tận tường chúng ta muốn gì. Vì thế, việc nhận ra vị trí và thân phận của chính mình là điều tiên quyết mà chúng ta cần có khi đến với Ngài. Thiên Chúa làm gì còn chỗ đứng nơi những kẻ chỉ biết đến mình. Sự thật giúp chúng ta nhận ra rằng mình là người có tội và chính vì thế chúng ta cần Chúa.

Muốn được như thế, chúng ta cùng nghĩ rằng:

·        Bản thân và tất cả những gì chúng ta có được đều thuộc về Thiên Chúa. Đừng nghĩ rằng mình xứng đáng và chiếm hữu nó; trái lại hãy xử dụng mà chia sẻ cho nhau. Như vậy, những gì mà chúng ta có thể làm được cũng là hồng ân của Chúa; chúng ta đâu còn có gì để báo cáo thành tích mà vinh vang.

·        Tất cả mọi người, dù già hay trẻ, cao hay thấp, sang hay hèn, cao trọng hay thứ dân, đều được mời gọi để trở nên công chính và thánh thiện. Mức độ thánh thiện không tùy thuộc vào công trạng của con người nhưng tùy thuộc vào mối tương quan giữa Chúa và ta. Khởi điểm của việc thiết lập mối tương quan đó là nhận ra sự thật thân phận tội lỗi của mình mà bám víu vào lòng Thương xót của Thiên Chúa. Không vịn vào công trạng mà là một tâm tình phó thác trọn vẹn vào Đấng luôn yêu thương mình.

·        Sau cùng, giống như người thu thuế, chúng ta hãy can đảm chấp nhận thân phận tội lỗi của mình, đến với Chúa để xin được tha thứ và tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương và muốn cho mọi người được cứu thoát. Đó chính là khởi điểm của cuộc sống mới.  Cuộc sống không bị mặc cảm tội lỗi dầy vò; nhưng qua đó mà chúng ta nhận ra Tình Yêu của Chúa cao cả dường bao. Vì Ngài là tình yêu, và Tình yêu chính là bản chất và sức sống của Thiên Chúa. Amen!







Wednesday, 16 October 2019

GƯƠNG SÁNG CỦA BÀ GÓA


Dụ ngôn trong phần phụng vụ Lời Chúa của Chúa nhật tuần này và tuần sau liên kết với nhau trong một chủ đề, đó là cầu nguyện. Cầu nguyện là đề tài quan trọng trong Tin Mừng theo Thánh Luca. Thánh sử đã cố gắng đặt tất cả các biến cố quan trọng xẩy ra trong sứ vụ của Đức Giê-su trong bối cảnh của việc cầu nguyện.

Nhìn vào cách thức và lời giảng dậy về cầu nguyện của Đức Giê-su, chúng ta nhận ra rằng cầu nguyện là hành động được bộc lộ của lòng tin, đó không chỉ là việc phát sinh từ lòng đạo đức hay cơ hội để chúng ta trình bầy các nhu cầu của con người lên Chúa. Thật vậy, lòng tin của chúng ta cần được biểu lộ bằng việc làm và các việc làm đó phải được phát sinh từ mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Và mối quan hệ này phải có tính bền vững như điều Đức Giê-su nói với các môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay. Nếu những ai theo Chúa mà không ngày đêm kêu cứu Chúa, thì thực tế họ không có lòng tin nơi Người. Nói khác đi, cầu nguyện là hành động quan trọng mà các kẻ tin phải thường xuyên thực hiện.

Vì thế, trong câu mở đầu của bài Tin Mừng chúng ta đã nhận ra bài học và ý muốn của Đức Giê-su. Người dậy chúng ta phải siêng năng cầu nguyện. Cầu nguyện với lòng tha thiết và liên tục, không được nản chí. Sau đó, Người đã minh họa lời giảng dậy bằng dụ ngôn ông quan tòa bất lương gặp bà góa quấy rầy.

Trước tiên là việc xuất hiện của ông quan tòa. Các chi tiết mô tả về tính nết của ông quan tòa như: bất lương, không sợ trời, chẳng nể đất và cũng chẳng sợ ai được nhấn mạnh nhằm chuẩn bị cho chúng ta nhìn thấy trước khó khăn mà bà góa sẽ phải đối diện. Một ông quan tòa với cá tính như thế thì còn quan tâm và để ý đến lời van xin của ai nữa. Số phận của bà góa thật không may khi việc kiện tụng của bà lại được ông quan tòa ‘không có lòng thương xót’ định đoạt. Việc trình bầy ông quan tòa như thế chuẩn bị cho chúng ta nhìn ra số phận hẩm hiu của bà góa.

Sau đó, một bà góa như tất cả mọi bà góa trong xã hội Do Thái được trình làng. Hoàn cảnh của các bà góa thời Đức Giê-su không được bảo vệ và không có nhiều quyền lợi như các bà góa trong xã hội hiện đại. Họ là những người cô thân cô thế, bị thiệt thòi mọi sự, không ai binh vực. Nhưng lòng kiên tâm của bà được đề cao. Đó là điểm chính yếu của dụ ngôn. Bà cứ kiên trì kêu cầu mãi. Hết ngày này đến hôm khác, bà cứ chờ chực ở cửa quan để đòi công đạo, đòi được minh xét vì bà nghĩ rằng phần lỗi về đối phương, họ đã làm hại đến bà.  

Cuối cùng, vị quan tòa vô tâm và chẳng hề biết sợ ai của chúng ta cũng phải đứng ra xét xử binh vực quyền lợi cho bà. Thật lý thú khi chúng ta nghe được lối suy nghỉ của ông khi xét xử, ông ta chẳng vì công lý hay bị lương tâm thúc đẩy mà binh vực cho quyền lợi của bà mà chỉ vì sợ bị bà quấy rầy khiến cho ông bị nhức đầu long óc mà xử cho xong. Từ trong lối suy nghĩ của ông, chúng ta thấy ông quan tòa trước sau vẫn là ông quan tòa, không có một chút thay đổi. Ông ta vẫn vì tính ích kỷ và vì quyền lợi của bản thân mà xử quách cho xong để khỏi bị bà góa vô danh tiểu tốt làm cho ông bị nhức đầu nhức óc nữa.

Sau khi kể xong câu chuyện, Đức Giê-su mới kết luận: “Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao?” Như vậy, câu đầu tiên và câu cuối cùng của bài Tin Mừng cho chúng ta thấy ý tưởng chính là cần phải cầu nguyện luôn, đừng nản chí.

Vẫn biết là như thế; nhưng sự hiểu biết của chúng ta về cầu nguyện có đem lại lợi ích gì hay không? Có nhiều người nói rất hay mà không thực tâm cầu nguyện thì cho dù bài nói có sâu sắc đến đâu cũng không có sức mạnh để truyền lửa cho người nghe. Các Tông Đồ, sau khi chứng kiến giây phút cầu nguyện giữa Đức Giê-su và Cha Ngài nên họ đã xin Người dậy cho họ phương thức để cầu nguyện; và Đức Giê-su bèn chia sẻ ngay những tâm tình mà Người vừa tâm sự với Cha của Người cho các Tông đồ; từ đó chúng ta có  Kinh Lậy Cha.

Cầu nguyện là việc phải thực hành, không chỉ một lần mà làm liên tục. Trong niềm tin và phó thác chúng ta dâng lên Chúa tất cả, không phải cứ mỗi lần chạy đến với và bên Chúa lại là xin ơn.

Ý tưởng nêu trên được minh họa qua truyện kể sau.

Có một gia đình kia không giống như các gia đình khác. Ông chồng của căn nhà này là người cầm lõi, tay hòm chìa khóa thay vì nằm trong tay bà vợ như mọi gia đình khác thì lại nằm trong tay ông. Được một điều là ông rất đại lượng, không chi ly và ít khi chất vấn vợ con về việc này. Thế mà, đã có một lần ông cảm thấy nhức đầu long óc khi những người con của ông, hết cô này đến chú kia, lần lượt đến xin ông điều này, đứa khác lại xin ông cho tiền mua điều nọ. Đứa nào cũng cần. Cái gì các cháu đưa ra cũng đều đúng… Thế mới làm ông khổ. Từ trong nỗi khổ đó ông mới nghiệm ra một điều là con cái của ông dù lớn về phần xác, nhưng chưa một cháu nào trưởng thành và biết suy tính cho cuộc sống của chúng cả. Lúc nào hết xin lại đến cầu, cứ như vậy thì làm thế nào!

Từ hoàn cảnh thực tế mà nhiều gia đình vướng phải anh chị em thử hình dung ra cảnh Chúa phải nghe chúng ta, bao nhiêu tỷ người, lải nhải. Hơn nữa nhiều lúc chúng ta xin điều mà chúng ta không biết mình xin gì nữa.

            Vẫn biết khi đau thì xin khỏi bịnh… Nhưng, tại sao không xin phó thác và can đảm để đối diện với căn bịnh. Đó là chưa kể đến việc nếu bịnh nào Chúa cũng chữa khỏi thì cần gì mấy ông bác sĩ và cũng chẳng cần ngân sách để xây thêm nhà thương và các viện nghiên cứu nữa.

            Rồi trong cảnh nghèo, túng thiếu thì xin no đủ… Nhưng, tại sao không xin chấp nhận và cầu nguyện cho mấy ông nhà giầu biết noi gương Chúa mà sống đại lượng.

Làm thế nào để lời cầu xin của chúng ta được Chúa ban trong khi chúng ta lại sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến nhu cầu, dù thiết yếu, nhưng vẫn là xin cho mình.

Nói chung, dù xin ơn là điều chính đáng và cần thiết. Nhưng chúng ta dễ rơi vào vị trí của những người chỉ biết ỷ lại, chờ đợi sự bố thì của kẻ khác; chưa kể đến các ơn mà chúng ta xin dường như chỉ vì nhu cầu của bản thân…. Tại sao không xin ý Chúa….

Chúa dậy chúng ta phải lo và quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Lo bằng tâm (có nghĩa là cầu nguyện), quan tâm bằng hành động (viêc làm).
Để kết thúc, xin anh chị em cùng nghe phần chia sẻ của cố Đức Hồng Y Sin, Tổng giám mục Ma-ni-la, Phi Luật Tân. Ngài có thói quen kết thúc các bài giảng bằng việc trích dẫn một vài ý trong bài thơ của một tác giả vô danh như sau:

·        Tôi đã xin Chúa cất đi tính kiêu căng và Chúa trả lời: “Không”. Ngài nói rằng không phải Ngài sẽ cất đi tính xấu đó, mà chính tôi mới là người cố gắng chiến đấu để vượt thắng nó.
·        Tôi đã xin Chúa ban cho tôi lòng kiên nhẫn và Chúa đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng kiên nhẫn là hoa trái của thử thách. Ngài không ban cho tôi trái ấy mà để tôi tự tìm lấy.

·        Tôi đã xin Chúa ban cho tôi được hạnh phúc và Chúa đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng Ngài ban ân phúc cho tôi, còn hạnh phúc hay không là tùy vào cách thức tôi đón nhận và hành động.

·        Tôi đã xin Chúa gia tăng tinh thần cho tôi và Chúa đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng tôi phải học để trưởng thành và lớn lên, nhưng Ngài sẽ mài dũa và cắt tỉa để tôi sinh thêm nhiều hoa trái.

·        Tôi đã xin Chúa đừng để tôi đau khổ và Ngài đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng đau khổ là một phần của đời sống và giúp tôi đến gần Ngài.

·        Tôi đã hỏi: “Liệu Ngài có yêu tôi không” và Ngài đã trả lời: “Có”. Ngài nói rằng Tình Yêu là bản chất và lẽ sống của Ngài. Chính Đức Giê-su, người Con mà Ngài yêu nhất đã chết để bộc lộ Tình Yêu đó cho tôi.

·        Sau cùng, tôi đã xin Chúa giúp tôi yêu mến tha nhân như Ngài yêu thương tôi và Chúa nói: “Cuối cùng con đã xin đúng điều Chúa mong đợi”.

Hy vọng, tâm sự nguyện xin nói trên cũng là tâm tư của chúng ta.

Nguyện xin Chúa ban thêm lòng tin để chúng ta luôn kiên tâm cầu nguyện để đến khi Người đến vẫn còn thấy lòng tin trên trái đất này. Amen.



Thursday, 10 October 2019

SỐNG LÀ ĐỘI ƠN và ĐỘI ƠN ĐỂ SỐNG TỐT



Bắt đầu bằng một truyện kể. Số là sau biến cố xẩy ra tại Việt Nam vào tháng 4 năm 1975, người dân miền Nam Việt Nam sống trong hoang mang và lo sợ. Tất cả đều mới. Người lãnh đạo, kẻ thừa hành và dân chúng đã mò mẫm tìm hướng đi. Nhân lực, tài lực và hầu như tất cả mọi nguồn để xây dựng đất nước đã đổ vào chiến tranh hết. Nay, trước tình hình thực tế, các nguồn viện trợ bị cắt giảm. Chính sách và đường lối điều hành thử đi nghiệm lại sao cho phù hợp với tình hình thực tế khiến mọi người đã nghèo, lại nghèo hơn, nhà nhà đều đói. Trong giai đoạn khó khăn, những ai gặp khó khăn về tinh thần cũng như vật chất thường hay chạy đến các cơ sở bác ái, tiêu biểu là chùa chiền và nhà thờ, để cầu may. Chúng ta nói cầu may là bởi vì các vị trụ trì tại các nơi đó cũng chưa chắc có đủ phần ăn hơn dân thường.

Vào một buổi chiều, trước cửa phòng khách của một tu viện xuất hiện một cô gái trẻ. Chị đến xin gặp linh mục quản xứ. Sau hồi chuông báo, vị linh mục đó bước ra cửa nhà khách, rảo mắt nhìn chung quanh để tìm xem ai là người muốn gặp ngài. Trước mặt ngài là một cô gái. Sau những lời chào hỏi, chị ta kể lại các việc cha đã giúp chị vào mấy năm trước mà cha không còn nhớ. Nói xong chị gửi lại số tiền mà cha đã cho chị mượn. Với lòng biết ơn, chị nói: “Cảm ơn cha đã tin con. Chính nhờ vào niềm tin của cha đã khởi động niềm tin trong con. Và giờ đây, với lòng biết ơn con xin hoàn trả lại số tiền mà cha đã cho con mượn năm nào. Thật là quí hóa, bởi vì nếu không có sự giúp đỡ của cha, đời con rồi không biết sẽ trôi dạt đến bến bờ nào đây?”

Câu chuyện nói trên có thể minh họa cho nội dung của bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe. Trình thuật Tin mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giê-su chữa lành cho mười người bị bịnh phong cùi, thế mà chỉ có một người bộc lộ lòng biết ơn qua việc trở lại và tôn vinh Thiên Chúa, mà ông ta lại là người ngoại bang.

Theo các tài liệu về y học cho biết, bịnh phong cùi ảnh hưởng đến dây thần kinh của tay chân, màng mũi và đường hô hấp. Bịnh còn ảnh hưởng làm cho da bị loét, hệ thần kinh bị tổn thương và các cơ bắp bị suy nhược. Với sự tiến bộ của nền y học hiện nay, dù phong cùi vẫn còn là loại bịnh truyền nhiễm; nhưng nếu ai được chẩn đoán mắc bịnh này trong giai đoạn đầu thì vẫn có thể được chữa khỏi.

Những người sống cùng thời với Đức Giê-su chưa hẳn đã khám phá ra bịnh phong cùi. Nhưng lại có một loại bịnh về da, có sức hủy diệt và lan lây giống như người bị phong cùi ngày nay. Luật lệ ngăn cắt họ cho nên những ai mắc bịnh này phải sống riêng một mình, không được phép tiếp xúc với ai. Bất cứ ai chạm đến họ, theo luật Mai-sen, đều bị coi là ô uế. Vì thế, để tránh bị lây nhiễm, ai mắc bịnh này đi đến đâu cũng phải hô to ‘ô uế, ô uế’ để những người khác biết mà tránh né.

Cho dù tôi chưa hề có cơ hội tiếp cận hay trò chuyện với người bị bịnh phong cùi. Nhưng nhắm mắt lại chúng ta cũng có thể nhận ra được nỗi đau khổ về tinh thần cũng như thể xác của người bị bịnh đó như thế nào? Họ không còn được đối xử như một con người, bị ngược đãi và coi như thành phần cùi hủi của xã hội nói gì đến yêu thương. Ai trong chúng ta khi gặp họ mà lại không né tránh, sợ bị lây! Trong hoàn cảnh đó, họ không còn gì để mất; thế mà họ không nổi loạn đã là may mắn cho chúng ta lắm rồi!

Ngoài việc bị ngược đãi như nói ở trên, theo lề thói của cộng đoàn Do Thái, họ còn bị coi là những người bị Chúa phạt, họ không được phép lên Đền thờ Giê-ru-sa-lem, và nếu có được tham dự lễ nghi phụng vụ, họ phải ở trong một căn phòng đặc biệt dành riêng cho họ. Họ bị đối xử như người ngoại bang.

Bài Tin Mừng kể lại cuộc gặp gỡ của mười người phong cùi với Đức Giê-su.  Trên đường đi Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su băng qua biên giới giữa Sa-ma-ri và Ga-li-lê,  Người tiến vào một ngôi làng thì mười người phong cùi đã ở đó. Họ đã nghe danh tiếng của Người. Hẳn nhiên, có vài người Do Thái trong nhóm nên họ không dám bước qua ranh giới của lề luật mà chỉ đứng ở đàng xa mà kêu gào xin Đức Giê-su thương tình cứu giúp.

Đức Giêsu không chữa trị cho họ ngay lập tức mà bảo họ đi và trình diện với các tư tế. Theo luật dậy thì chỉ có các tư tế mới đủ thẩm quyền xác nhận ai sạch ai dơ trước khi người bị phong cùi được phép trở lại tham dự sinh hoạt với cộng đoàn như mọi người.

Mười người phong cùi vâng lời Đức Giê-su đi trình diện các tư tế và đang trên đường đi thì họ thấy có những sự kiện khác lạ đang xẩy ra trong cơ thể của họ. Tất cả đều thấy sự tăng trưởng xảy ra: những ngón tay của họ mở rộng thành bàn tay bình thường. Các vết mụn trên mặt họ liền lại… Khi các điều này xảy ra, cả mười người đã biết là họ được chữa lành; thế mà chỉ có một người trong nhóm họ quay ngược lại với Đức Giêsu, để cảm ơn Người; còn chín người kia, hẳn nhiên, vẫn đang trên đường đến gặp các tư tế theo lịnh truyền của Đức Chúa.

Điều làm cho Đức Giê-su và mọi người ngạc nhiên là người quay trở lại gặp để nói lời cảm ơn với Đức Giê-su là người Sa-ma-ri-a. Ông bị người Do Thái xem như kẻ thù, giống ngoại bang, thế mà lại trở thành kiểu mẫu của lòng biết ơn và đức tin.

Có một chi tiết mà chúng ta nên ghi nhận ở đây, đó là trong cơn hoạn nạn thì mười người phong cùi có nhau. Họ không bị gốc gác dân tộc, tôn giáo và niềm tin chia cách. Họ có chung một căn bịnh nên gắn bó để bảo vệ và nâng đỡ nhau. Bản sắc chung của những người bị khinh chê, ruồng bỏ đã đẩy họ trở thành những người thân của nhau. Thế mà, sau khi được chữa khỏi, được tự do, họ lập tức bị ngăn cách. Nhưng, chỉ còn một người xứ Sa-ma-ri-a, vẫn còn bị coi là giống ngoại bang, đã trở lại và tiền về phía Đức Giê-su.

Đứng trước phản ứng của chín người kia, những ai khó tính sẽ cảm thấy bị tổn thương và đau lòng vì sự vô ơn của họ. Thật ra, họ đâu có làm điều gì sai, họ vẫn vâng lời Chúa, đang trên đường đến gặp các vị tư tế để xin giấy xác nhận trở về với các sinh hoạt thường nhật như mọi người. Tuy nhiên, vì bám vào lề luật như một bảo đảm cho cuộc sống nên họ đã mất đi cơ hội đón nhận sự thay đổi, điều mới mẻ mà Đức Giê-su vừa thực hiện. Tuy họ không sai nhưng cơ hội để được đổi mới đã vuột khỏi tầm tay của họ. Thật đáng tiếc!

Chúng ta thì sao? Vẫn sống và chu toàn mọi khoản luật như là nguồn sức mạnh cứu thoát chúng ta hay sẵn sàng nhận biết ơn Chúa với lòng cảm tạ mà  tôn vinh và thờ lậy Ngài. Không ai trả lời vấn nạn này thay cho chúng ta.

Đối với Thiên Chúa, điều làm cho con người có giá trị là thái độ và cách ứng xử của chúng ta trước lượng ân sủng vô biên của Thiên Chúa đổ trên chúng ta. Chúng ta đã làm gì với các hồng ân cao cả như thế. Thánh Gioan cho biết: “Tự nguồn sung mãn của Chúa, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.” Ngài ban cho mỗi người những ơn họ cần, tùy thuộc vào khả năng đón nhận của từng người, nhưng cùng mục đích là để họ sống tốt đẹp và thánh thiện hơn.

Trong cuộc sống, đã có bao nhiêu dấu chỉ nói lên sự can thiệp và thông ơn của Thiên Chúa. Nếu không có ơn Chúa thì làm sao vợ chồng có thể yêu thương, kính trọng và luôn làm gương sáng cho con cái được? Nếu Chúa không hoạt động thì làm sao ông cha này bà phước kia hay thầy dòng nọ có thể quên ‘cái tôi’ của bản thân mà hết lòng phục vụ dân Chúa? Kể sao cho hết những ơn lành Chúa ban cho như ơn khôn ngoan, sự hiểu biết, cơ hội phục vụ, sức khỏe tráng kiện, đầu óc minh mẫn, con tim trong sáng, đồng cảm để tha thứ cho nhau, và ngay cả các đau khổ cũng là cơ hội để giúp mình nhận ra sự bất toàn và mỏng dòn của thân phận con người mà nương tựa vào Chúa hơn…, tất cả đều là ơn của Chúa. Điều quan trọng là mắt chúng ta có mở rộng đủ để nhận ra ơn Chúa hay là lại nghĩ rằng đó là những gì mình xứng đáng được, và nếu như thế thì hình như chúng ta đã coi Chúa như là người đầy tớ thay vì Đấng ban ơn rồi!

Đứng trước những ơn lành Chúa ban, chúng ta hay dùng các từ như tạ ơn, cảm ơn, ghi ơn, nhớ ơn, biết ơn…, để diễn tả thái độ của chúng ta, nhưng có lẽ một từ mộc mạc và đầy ý nghĩa nhất mà lâu nay chúng ta quên không dùng đó là ĐỘI ƠN: Ơn Chúa nhiều quá, nặng quá, đến độ ta không cầm, không thể mang, không cách nào khoác vào được, mà phải đội trên đầu, diễn tả sự kính trọng đối với Chúa, với ơn Chúa. Đội trên đầu thì phải sấp mình, quì gối xuống mà tôn vinh Đấng ban ơn. Đó chính là mẫu mực và cách hành xử của người Sa-ma-ri-a làm hôm nay. Và Lời của Đức Giê-su phán xưa kia, là những gì mà Chúa muốn nói cho chúng ta hôm nay: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của con đã cứu chữa con.”

Xin cho chúng con có lòng tin bằng việc làm như người ngoại bang trong bài Tin Mừng để thờ lậy và tôn vinh Chúa. Amen!