Wednesday, 18 January 2023

HẠNH PHÚC ƠI, BẠN Ở ĐÂU?

 

Cuối tuần này, những người tín hữu Việt Nam cùng nhau đón mừng năm mới âm lịch: Xuân Quý Mão. Một năm cũ Nhâm Dần đã qua đi với bao tai ương, thử thách pha trộn với muôn ngàn hồng ân. Chúng ta còn hiện diện bên nhau là hồng ân cao cả nhất mà chúng ta nên trân trọng trong giây phút này. Vì thế, trong niềm hân hoan đón mừng năm mới Quý Mão, chúng ta dâng lên Thiên Chúa tâm tình tạ ơn và niềm phó thác, xin vâng.

Ngoài ra cho dù vui xuân, chúng ta không quên nghĩa vụ của mình. Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ ba, mùa thường niên hôm nay, Mẹ Hội Thánh nhắc nhở con cái mình hãy nhớ đến ơn gọi của chính mình. Chúa đã kêu gọi các môn đệ tham dự vào công cuộc truyền giáo trong sứ mạng của người môn đệ thế nào thì hôm nay khi nghe lời mời gọi của Chúa, chúng ta hãy nhớ đến nhiệm vụ Chúa dành cho chúng ta là những môn đệ được Chúa gọi và chọn. Với nghĩa vụ của người được chọn, việc đầu tiên chúng ta cần làm là buông bỏ con người cũ để được Chúa biến đổi thành người mới, như Lời Chúa phán hôm nay: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”

Hãy sám hối không chỉ để sửa một sai lỗi nào đó mà là thay đối cách sống, đổi mới cách nhìn để đón nhận Nước Trời làm gia nghiệp, sống và tuân phục bản hiến chương mà Đức Giê-su công bố trong các mối phúc thật mà chúng ta được nghe trong giây phút linh thiêng và trang trọng giữa năm cũ và mới, giữa phút giây chuyển tiếp, giao lưu giữa hồng ân của năm cũ và ân huệ trong năm mới này. Giao Thừa là thế!

Và, trong giây phút thánh thiêng đêm nay, còn gì ích lợi hơn bằng việc dâng lên Thiên Chúa tâm tình tạ ơn và các lời nguyện xin bằng niềm phó thác. Hai ý nguyện này tưởng chừng như là hai, nhưng thật ra được nối kết với nhau như một: trong Chúa chúng ta đi tìm một ý lực sống cho năm mới này.

Trước hết, chúng ta không chỉ tạ ơn về những hồng ân mà Thiên Chúa, đấng làm chủ đất trời đã ban cho chúng ta trong năm qua. Nhưng ngay cả những thất bại, những bất hạnh, đắng cay đã xẩy ra trong năm cũ cũng là những cơ hội giúp ta gạn lọc và chọn lựa những gì thích hợp với cuộc sống hơn. Nói tóm lại, khi vui cũng như lúc buồn, khi hạnh phúc cũng như lúc đau khổ đều là những cơ hội để chúng ta tạ ơn, vì tất cả đều là hồng ân!

Sau đó, với tâm tình tạ ơn này chúng ta quên đi những khắc khoải, ưu tư, phiền muộn của năm cũ, để bắt đầu năm mới bằng niềm phó thác cho Chúa Xuân những nguyện ước của chúng ta để cầu xin Thiên Chúa ban phúc lành cho ông bà, cha mẹ, anh em họ hàng và bạn bè thân hữu được tràn đầy hạnh phúc, làm ăn phát tài và nhất là được ơn lắng nghe và làm theo Ý Chúa.

Anh chị em thân mến,

Việc cầu mong cho nhau được hạnh phúc là điều thiện hảo, tốt lành. Đó là lối cư xử của những người con cái của Cha trên trời. Thiên Chúa đã chúc lành cho chúng ta, còn chúng ta không mau mau ra đi mà chúc tuổi nhau. Tuy nhiên, thật đáng buồn vì việc chúc phúc này đôi khi đã được thực hiện như là một thói quen, kiểu xã giao ‘ông cho đi bà cho lại’. Và như thế thì việc chúng ta làm cũng chẳng có gì mới lạ. Miệng thì nói lời chúc phúc nhưng mấy ai trong chúng ta vui với hạnh phúc của người khác! Và chưa vui với niềm vui và hạnh phúc của tha nhân thì nói chi đến việc đem hạnh phúc đến cho họ.

Biết như thế, nên ngay ngày đầu năm, Mẹ Giáo hội, trong bài đọc một đã dâng lên lời cầu: Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành và gìn giữ anh chị em. Được Thiên Chúa chúc phúc là điều tốt, nhưng vẫn chưa đủ. Chúng ta còn được mời gọi để đem lời chúc phúc đó cho tha nhân. Muốn được như thế, chúng ta cần ôn lại bài học về ‘Tám mối phúc thật’ mà Chúa dậy chúng ta trong bài Tin Mừng của Thánh lễ đêm Giao Thừa hàng năm. Đó không chỉ là những huấn lịnh hay lời mời gọi của Chúa Giêsu. Nhưng đó là lối sống mà Chúa muốn chúng ta chọn để sống trong năm nay.

Các mối phúc của Chúa không phải là điều dễ chấp nhận. Thật chuớng tai và thua thiệt. Tôi xin chia sẻ cho anh em vài kinh nghiệm sống đã được thu lượm:

Ai cũng mong giầu có thì Chúa lại phán: “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó.” Nghèo khó để biết mình và biết được những gì chúng ta đang có là ân huệ của Chúa. Biết để tập sống giầu bằng cách chia sẻ cho nhau mà ca ngợi Chúa.

Vì không chịu nổi việc cấm cách, bị theo dõi, bắt bớ; nên tôi mới liều chết để sang đây. Thế mà Chúa lại nói: “Phúc cho các con khi bị bắt bớ”. Việc đón nhận niềm hạnh phúc khi bị bắt bớ vì Danh Chúa là một ân huệ thật đặc biệt, không phải ai ai cũng được diễm phúc chết vì đạo đâu. Ngay cả các bậc vị vọng đang sống trong môi trường bị cấm đạo cũng có mấy ai nhận được ơn này.

Ngày hôm nay người ta bắt và cấm đạo một cách tinh vi hơn. Một trong những phương thức có thể đang được áp dụng là ‘vỗ cho béo, nuôi cho rửng mỡ’ để các ngôn sứ ngủ quên trên nhung lụa và quên đi vai trò ngôn sứ. Nói như thế thì thử thách này cũng xuất hiện tại các nước bên trời Tây này!

Sống hiền từ là chấp nhận phần thua về mình. Thoạt đầu chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu vì người ta sẽ lấn tới, nhưng lâu dần chính sự hiền từ đó sẽ làm cho người ta thay đổi thái độ và đem lại hiệu quả lâu bền. Chúa đã hiền từ và tha thứ cho chúng ta thì việc đối xử nhân hậu với nhau cũng là phúc lành của Chúa thôi, có phải là của chúng ta đâu!

Tất cả những mối phúc trong ‘Tám mối phúc thật’ là những gì Chúa đã sống. Chúa Giêsu, không trình bầy một lý thuyết về hạnh phúc, mà muốn chia sẻ cho chúng ta chính kinh nghiệm sống của Ngài. Nói chung, tám mối phúc thật xét theo nội dung cũng chỉ là mối phúc duy nhất: Phúc cho ai có lối sống như Chúa Giêsu.

Trong tâm tình đó, Mẹ Hội Thánh ưu tư và ước muốn cho con cái mình được hạnh phúc. Và hạnh phúc đích thật chỉ có thể có được khi chúng ta biết rập khuân theo lối sống của Chúa, theo các tiêu chuẩn của Nước Trời. Vì thế, trong Chúa chúng ta đến với nhau, để mỗi giây mỗi phút chúng ta là nguồn hạnh phúc cho nhau. Để rồi, cho dù mùa xuân của trời đất có qua đi nhưng mùa xuân trong lòng anh chị em vẫn triển nở không ngừng. 

Sau cùng, nhân dịp Xuân về, thay cho lời chúc tuổi, chúng tôi trân trọng gửi đến anh chị em lời nguyện mà tôi không còn nhớ xuất xứ ở đâu nữa. Việc quên xuất xứ này không đáng khích lệ; nhưng tôi hy vọng rằng lời nguyện của tác giả vô danh này sẽ biến đổi chúng ta. Vì thế, chúng ta cùng dâng lên Chúa các lời nguyện này:

“Lậy Chúa, đã bao năm con nài xin sức khoẻ, để con có sức mà làm những việc vĩ đại và hoành tráng; Ngài lại cho đau yếu, để con biết mình yếu đuối.

Con cầu khấn giàu có, để con hạnh phúc; Ngài lại ban nghèo khó, để con khôn ngoan chọn lựa sự giầu có của Thiên Chúa.

Con cầu xin thế lực, để được người đời tôn vinh; Ngài lại cho yếu hèn, để con biết cậy nhờ Chúa.

Con van nài mọi sự, để con sống hưởng thụ; Ngài lại cho sự sống, để con vui hưởng mọi sự.

Con chẳng được ban những điều con nài xin; nhưng lại được tất cả những gì con đang mong chờ.

Và bất kể đời con ra sao; những ước nguyện thầm kín của con Ngài vẫn ban.

Như vậy, con đã được chúc phúc và đời sống con thật phong phú giữa muôn người.”

 

Chúng con xin dâng lời tạ ơn vì Thiên Chúa hằng quan tâm đến chúng con, ngay cả trước khi chúng con khấn xin.

Nguyện xin Thiên Chúa thánh hóa, gìn giữ bản thân chúng ta được vẹn toàn và không có gì đáng trách trong mọi ngày của cuộc sống, nhất là trong năm mới này. Amen!

 

Wednesday, 11 January 2023

CHỨNG THẬT HAY CHỨNG GIAN!


Ngày nay, song song với các phát minh trong các lãnh vực khoa học thì môn công nghệ thông tin có những tiến bộ vượt bực. Mọi tin tức được phát sóng và truyền đi mau hơn khiến chúng ta có ý nghĩ là thế giới bị thu gọn lại. Việc xẩy ra ở tận phương trời nào cũng được tường trình như là các sự kiện xẩy ra trước mắt mình. Đó là công việc của các phóng viên và ký giả mà chúng ta gọi họ là những ‘nhân chứng sống – eyewitness.’ Tuy nhiên, cũng bởi tài năng mà các nhà chuyên môn có thể ‘chỉnh - sửa’ và cho chúng ta nhìn và nghe những gì họ muốn. Nói chung, con người vẫn dành phần kiểm soát thông tin được truyền đi vì lợi ích của mình.

Trong sinh hoạt nhà đạo, môn công nghệ thông tin này cũng được tận dụng. Các nhà giảng thuyết nổi tiếng có tài hùng biện, lập luận vững chắc để thuyết phục người nghe, thêm vào đó là sự hiện diện của các nhân chứng để củng cố cho nội dung các lời giảng dậy của họ. Tuy nhiên, cách xử dụng nhân chúng cũng gây ra nhiều tranh luận. Có những người được dùng làm nhân chứng cò mồi! Trong khi đó chúng ta biêt rằng người làm nhân chứng phải là người giảng thuyết thì chứng từ của họ mới mang tính chân thật và có hiệu quả lâu dài. Chúng ta đừng bao giờ dùng Lời Chúa hay giải thích giáo huấn của Hội Thánh để hỗ trợ cho lập luận và ý tưởng của mình.

Anh chị em than mến,

Bài Phúc Âm hôm nay ghi lại cuộc đối thoại giữa các vị tư tế và các thầy thông luật. Họ đến chất vấn về nguồn gốc và việc làm của Gio-an. Họ hỏi ông có phải là Đức Ki-tô, ngôn sứ Ê-li-a hay một ngôn sứ nào đó hay không? Trước khi nghe câu trả lời của Gio-an, chúng ta hãy dành đôi phút tìm hiểu về nguồn gốc, vị thế và danh tiếng của Gio-an.

Dựa trên các bản văn đã ghi lại trong các sách Tin Mừng, chúng ta được biết Gio-an xuất thân từ một gia đình vọng tộc và danh giá. Ông Da-ca-ri-a, cha của Gio-an thuộc dòng tộc tư tế A-a-ron. Nhưng Gio-an có đuợc dậy dỗ và lớn lên trong khung cảnh của đền thờ hay không thì không ai hay biết. Chúng ta chỉ biết rằng Gio-an càng lớn càng thêm mạnh mẽ. Và, ngay từ thủa ấu thơ, Gio-an đã sống trong hoang địa cho đến ngày ông ra mắt toàn dân Ít-ra-en.

Tại hoang địa, Gio-an đã có kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa. Và chính trong hoang địa mà Gio-an đã khám phá ra ơn gọi, sứ mạng mà Thiên Chúa muốn ông thi hành. Qua Gio-an chúng ta nhận thấy bài học của Chúa, có nghĩa là chỉ có những lúc chúng ta đối diện với sự thật của đời mình, trút bỏ hoàn toàn các mặt nạ, trút bỏ kiêu ngạo, lo lắng, phân tán đi vào cõi sa mạc của chính mình để lắng nghe Lời Chúa thì chúng ta mới có thể gặp gỡ Thiên Chúa, có cơ hội khám phá ra Thánh Ý của Ngài, như trường hợp của Gio-an Tẩy Giả.

Trước khi kêu gọi dân chúng dọn sẵn con đường cho Chúa đến, sửa lối cho thẳng để Người đi thế nào thì bản thân Gio-an cần có cảm nghiệm về việc chuẩn bị, thống hối và dọn đuờng cho Chúa nơi chính mình trước. Như thế, chúng ta nhận ra rằng: thời gian sống trong hoang địa thật quan trọng đối với sứ vụ và sứ điệp của ông. Đây là một hành trình cần phải có để ông chuẩn bị hoàn thành tốt sứ vụ làm người tiền hô, đi trước để dọn đường cho sự xuất hiện của Đức Ki-tô, Đấng sẽ đến để cứu chuộc dân Người.

Ngay tại bờ sông Gio-đan, Thánh nhân đã được nhiều người biết đến. Lối sống và lời rao giảng của Gio-an thu đã hút họ, và người ta đã lầm tưởng và coi ông như Đấng Thiên Sai, nhưng Gio-an chỉ nghĩ đến sứ mạng mà Thiên Chúa đã trao ban cho là giới thiệu về Đức Giêsu cho nhân loại.

Vì thế, trong bài Tin Mừng hôm nay, Gio-an đã vô cùng can đảm khi nhìn nhận sự thật và công khai trả lời cho những người đến chất vấn ông biết rằng, ông không phải là Đức Ki-tô, cũng không phải là Ê-li-a hay một vị ngôn sứ nào đó. Ông chỉ là người dọn đường, tiếng hô trong hoang địa.

Ông đã không tự làm chứng về mình. Chứng từ của ông qui về Đức Giê-su. Lời chứng này nói lên điều Gio-an đã thấy. Cái thấy của ông hôm nay là hồng ân được ban tặng từ Chúa Cha, và soi sáng bởi Chúa Thánh Linh, nên Gio-an đã nói “Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.” Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.” (Gio-an 1:33-34)

Trước đó, Gio-an đã làm chứng và giới thiệu Đức Giê-su là Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian. Khi nghe đến các tước hiệu hay danh xưng này, chúng ta nghĩ và hiểu ngay căn tính của con người mà Gio-an muốn giới thiệu. Đó chính là Đức Giê-su, Con Chiên vẹn toàn đã hy sinh cuộc sống của Người để cứu độ và ban cho chúng ta ơn tha tội. Nhưng những người cùng thời với Đức Giê-su, ngay cả Gio-an vẫn còn mù mờ về chân tướng của Đức Giê-su.

Thật vậy, khi ở trong tù, các môn đệ của Gio-an đã báo cho ông biết về những việc mà Đức Giê-su đã làm khiến ông phải sai họ đến hỏi Chúa rằng: Thầy có phải là Đấng mà chúng tôi đang mong đợi hay chúng tôi còn phải chờ Đấng khác. Có lẽ trong hoàn cảnh đang bị tù đầy như thế, Gio-an đã nghĩ rằng nếu Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, người được Thiên Chúa tuyển chọn thì Chúa phải vào để cứu ông ra khỏi tù và kết tội vua Herode về tội lỗi mà nhà vua đã phạm. Trái lại, Đức Giê-su dường như không chỉ im lặng trước bạo quyền, không binh vực ông mà còn làm bạn với những người tội lỗi nữa.

Đức Giê-su đã không trả lời trực tiếp câu hỏi của Gio-an, Người nhẹ nhàng nói cho các môn đệ của Gio-an làm nhân chứng về các điều mà họ đã thấy và đã nghe, đó chính là người mù được sáng mắt và nhìn thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết được sống lại và những người nghèo được nghe Tin Mừng. Sau đó, Đức Giê-su còn nhắc khéo cho Gio-an biết rằng ông thật là có phúc, nếu không bị vấp ngã vì các công việc mà Đức Giê-su đã làm. Ở đây, Đức Giê-su muốn nói với Gio-an rằng: qua lời tường trình về các công việc Đức Giê-su đã làm mà các ngôn sứ đã loan báo thì ông có tin Người là Đấng Thiên Sai hay không?

Chúng ta không hề hay biết Gio-an có đón nhận lời chúc phúc của Đức Giê-su hay không? Qua cách nói gián tiếp để ca tụng lối sống chứng nhân của Gio-an, chúng ta thấy được Đức Chúa đã coi trọng Gioan đến dường nào! Ông đuợc ví như cây sậy tuy phất phơ và ngả nghiêng trước gió, nhưng đã không bị lôi cuốn và gục ngã trước quyền lực. Gio-an tôn trọng sự thật nên đã không vì hư danh mà đánh lừa dân chúng. Ngài can đảm làm chứng về sự thật. Và vì sự thật mà Ngài phải giữ đứng vị trí của mình, là tiền hô, người dọn đường cho Đức Chúa. Và đã là người dọn đường thì Gio-an phải biết đứng bên lề đường, nhường lối đi cho người được Thiên Chúa tuyển chọn bước vào. Đó là sự thật mà không mấy ai trong chúng ta đủ can đảm đón nhận.

Thật vậy, lối cư xử của Gio-an hoàn toàn ngược lại với lối sống của một số người trong chúng ta hôm nay. Chúng ta muốn thể hiện chính mình, muốn được tuyên dương công trạng, thích phô trương thành tích, muốn được triệu người ‘like’. Vì thế, chúng ta phải sống ảo. Thật và giả lẫn lộn cho đến một ngày mình cũng không còn biết mình là ai nữa! Sự thật dần dần biến mất để nhường chỗ cho giả dối. Sống giả mà được nhiều người ‘like’ thì vẫn thích hơn là sống thật mà bị ghét là quan niệm sống và giao tiếp của nhiều người hôm nay. Đứng trước các hiện tượng xem ra có vẻ bi quan như thế, chúng ta nên ngồi lại mà chỉnh sửa sao cho đúng với căn tính của người tín hữu.

Gương chứng nhân và chứng từ của Gio-an trong bài Tin Mừng hôm nay là lời mời gọi mà Chúa muốn nhắc nhở chúng ta. Chúng ta xác tín rằng tín hữu không chỉ là một tước hiệu, nhưng đó là đặc ân của Thiên Chúa dành cho những người được Thiên Chúa tuyển chọn. Tín hữu là những người bước theo chân Đức Ki-tô để thực hiện và chia sẻ nhiệm vụ của ‘Chiên Thiên Chúa’, sẵn sàng gánh và hứng chịu những khổ đau của tha nhân.

Như Gio-an, chúng ta tôn trọng sự thật, không sống vì hư danh, không làm để khoe khoang mà sẽ làm mọi sự để thể hiện tình yêu và gương hy sinh của Đức Giê-su trong bổn phận của một nhân chứng, có nghĩa là làm chứng về tình yêu của Chúa qua lối sống hy sinh cho nhau, giống như Đức Giê-su vậy. Amen!

Wednesday, 4 January 2023

HAI CUỘC TÌM KIẾM, AI TÌM AI?


Anh chị em thân mến,

Trình thuật Tin Mừng trong ngày Lễ Chúa Hiển Linh hôm nay mô tả hai cuộc tìm kiếm:

Trước tiên là con đường tìm kiếm Chúa của các nhà chiêm tinh. Họ chuyên nghiên cứu thiên văn và nhìn ngắm sao trời để đoán ra vận mạng con người, cách riêng một số người nổi tiếng. Vào một đêm kia, trong khi nhìn trời ngắm sao, họ bỗng nhận ra có một vì sao lạ xuất hiện bên phương Đông. Ngôi sao này rực chiếu hào quang, tỏa chiếu ánh sáng hơn các vì sao mà họ đã từng ngắm. Theo kinh nghiệm và dựa vào khả năng chuyên môn. Họ biết đây là vì sao chiếu mệnh của một vĩ nhân vừa được sinh ra cho thế giới này. Lập tức, các nhà chiêm tinh tuy ở các nơi khác nhau, họ cũng không có phương tiện truyền thông như điện thoại hay hệ thống mạng để báo cho nhau biết khám phá này. Họ không ai bảo ai, lập tức lên đường tìm kiếm.

Hành trình tìm kiếm của họ không dễ dàng. Dù có ngôi sao dẫn đuờng, nhưng ngôi sao lúc ẩn lúc hiện. Cũng có lúc các ông bị mất dấu; không phải do các ông đi lạc; nhưng ngôi sao không xuất hiện thì biết lối nào để đi. Trong hoàn cảnh đó, họ không hề thất vọng, tiếp tục tìm kiếm bằng cách đến hỏi vua Hê-rô-đê về vị quân vương mới được sinh ra ở nơi nào? Nghe tin ấy, Hê-rô-đê một mặt tìm kiếm mặt khác tìm cách thủ tiêu người có thể tranh quyền đoạt vị với ông ta sau này? Vua hỏi các thượng tế và kinh sư để tìm câu trả lời và báo cho ba nhà chiêm tinh biết về nơi chốn đấng chăn dắt dân của Thiên Chúa sẽ ra đời.

Các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó biết Chúa theo kinh điển mà không hề cất bước đi tìm nên cái biết của họ đã chẳng giúp gì cho họ. Vua Hê-rô-đê cũng biết; nhưng điều mà vua biết không đem vua lại gần Chúa; trái lại cái biết đó lại là nguyên nhân đem đến cho vua nỗi lo sợ. Phát sinh từ nỗi sợ hãi hoang tưởng, sợ mất quyền hành, ông ta đã giết hết những ai là mầm mống đe doạ sẽ lật đổ ngai vàng của ông.

Sau cùng, ngôi sao lại xuất hiện dẫn các nhà chiêm tinh đi đến nơi mà họ muốn đến. Thấy hài nhi được quấn tã nằm trong máng cỏ. Họ đã sụp lậy và dâng tặng những bảo vật quí giá nhất rồi sợ vua Hê-rô-đê giết, họ đã theo đường khác mà về nhà. Thật tiếc cho họ vì họ đã hoàn tất một cuộc hành trình, đã vất vả tìm kiếm, đã đi đến đích nhưng cuối cùng lại trở về nơi xưa chốn cũ. Họ vẫn chỉ là những nhà chiêm tinh. Họ chưa phải là môn đệ của Chúa!

Thật ra, hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh tuy đáng quí trọng, nhưng đây không phải là mối bận tâm của Thánh Sử. Điều mà Thánh sử muốn nhấn mạnh là sự xuất hiện của Đức Giê-su trong chương trình yêu thương và tìm kiếm con người trở về nẻo chính đường ngay của Thiên Chúa. Chương trình này đã được khởi sự ngay sau khi con người sa ngã. Người tìm đủ mọi cách để tỏ bầy tình yêu và lòng thương xót để mời gọi con người trở về. Và hôm nay, sau khi Giáng trần, Thiên Chúa muốn tỏ bầy cho nhân loại biết về chân tướng của hài nhi. Do đó, việc Chúa hiển linh là một sáng kiến phát sinh từ kho tàng ân huệ của Thiên Chúa. Ngôi sao cũng là một cách thức để dẫn đưa ba nhà chiêm tinh; thậm chí, Chúa có thể dùng cả những kẻ gian ác như Vua Hê-rô-đê như là cách thức soi sáng, cung cấp thông tin giúp họ khỏi lạc hướng. Như vậy, Thiên Chúa luôn tìm kiếm bằng cách soi sáng cho những ai tha thiết tìm ơn cứu độ, dù đôi khi họ cảm thấy ánh sáng lúc ẩn lúc hiện, đường đi không rõ và tương lai lại mịt mù.

Việc hiển linh đã trở nên trọn vẹn khi Đức Giê-su đã cho đi tận cùng cuộc sống của mình. Chính việc cho đi và tự hiến sau cùng của Người lại là cuộc tỏ mình huy hoàng nhất về chân tuớng đích thật của Người qua biến cố Phục Sinh. Vào ngày đó, Đức Giêsu bộc lộ trọn vẹn thần tính của Thiên Chúa nơi Người. Và chính nhờ ơn Phục Sinh mà chúng ta nhận ra thần tính của Đức Chúa. Các môn đệ là nhân chứng về cuộc Hiển Linh Phục Sinh. Niềm tin của chúng ta hôm nay cũng dựa vào lời chứng của các tín hữu tiên khởi; đó chính là: Thiên Chúa đã tỏ mình trong thân phận con người của Đức Giêsu, Người đã ở giữa chúng tôi và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người từ Chúa Cha mà đến.

Anh chị em thân mến,

Như vậy với trình thuật Hiển Linh, Thiên Chúa tỏ mình cho mọi người biết rằng: với Chúa không ai là người ngoài cuộc, tất cả đều được mời gọi đón nhận ơn cứu độ. Ai ai cũng đựợc diễm phúc làm con của Ngài. Ai ai cũng đuợc mời gọi sống để tỏ bầy sự hiện diện của Thiên Chúa.

Thiên Chúa đã làm người, đã tỏ chân tướng đích thật của Ngài cho chúng ta nhận biết. Nhưng chúng ta đã làm gì để việc hiển linh của Thiên Chúa trở thành lời chứng sống động trong cuộc sống mình? Cũng có lúc chúng ta cảm thấy Chúa quá gần gũi, sát bên mình và thúc giục chúng ta ra đi để thực hiện các việc cả thể. Với ý ngay lành chúng ta tuởng như là Chúa rất cần chúng ta để làm các việc phi thường… Nhưng rồi sứ mạng đâu dễ dàng, trải qua những giây phút chán nản và thất vọng khiến chúng ta muốn bỏ cuộc. Nhưng có một điều khiến ta ngạc nhiên và ngạc nhiên luôn mãi là Thiên Chúa không chán, không thất vọng về ta. Ngài dùng đủ mọi cách thức để bộc lộ và hướng dẫn chúng ta: Từ ngôi sao lúc ẩn lúc hiện, đến người không tin như Hê-rô-đê và các bậc vị vọng am tường đạo Chúa. Thiên Chúa vẫn dùng họ, không chừa một ai, để hỗ trợ, động viên, nhắn gửi cho ta một sứ điệp là ta vẫn đáng tin, đừng chán nản, hãy tiếp tục lên đuờng, căng buồm xuôi gió ra khơi.

Sáng kiến là của Thiên Chúa. Ngài đã đến ngay tại nhà, trong hoàn cảnh riêng của mỗi người. Như các nhà chiêm tinh, chúng ta hãy lên đuờng. Con đuờng làm chứng về việc tỏ mình, hiển linh của Thiên Chúa không nằm xa và ở ngoài khả năng của chúng ta. Nó nằm ngay ở bản thân, trong gia đình, giữa vợ chồng và con cái, giữa kẻ tin và người không tin, giữa những ai đủ can đảm để cho chất ‘người’ lớn hơn và bóp nghẹt chất con (vật) của mình. Để thể hiện lòng quyết tâm này, chúng ta hãy:

-          Trao cho nhau nụ cuời, các câu nói cảm thông hơn là trách móc, ghen tỵ và oán than nhau.

-          Đến với nhau bằng con tim mở rộng để khoan hồng và dung thứ cho những thiếu sót và bất toàn của nhau.

-          Mở rộng đôi tay để đón tiếp hơn là loại bỏ, hất hủi và xua đuổi nhau.

Nói chung, chúng ta làm cho Chúa được hiển linh bằng cách tìm kiếm và thực thi Lời Chúa – lời yêu thương, nâng đỡ, hỗ trợ và khích lệ nhau, hơn là chỉ biết ngồi đó mà kêu nài Lậy Chúa và Lậy Chúa xuông thôi đâu.

Đó là một số đề nghị rất đơn sơ mà ai trong chúng ta cũng có thể thực hiện. Tất cả đều là cơ hội để vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện qua lối sống chứng nhân, tuy tầm thường nhưng lại chứa đựng quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa nơi mình. Cầu xin được như thế. Amen!

Wednesday, 28 December 2022

THÁNH MARIA, ĐỨC MẸ CHÚA TRỜI CẦU CHO CHÚNG CON…


Trong niềm hân hoan chào đón năm mới, chúng ta cùng dâng lên Chúa và Mẹ Maria tâm tình tạ ơn về những hồng ân mà các Ngài đã trao ban trong năm qua. Chúng ta cũng không quên dâng cho các Ngài niềm tín thác và cậy trông của chúng ta trong năm mới 2023 này.

Và thật là chính đáng, khi phụng vụ của Hội Thánh trong ngày đầu năm nhấn mạnh đến vai trò Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria. Thật là một niềm vinh dự khi chúng ta bắt đầu một năm mới  bằng việc nhắc nhở cho nhau nhớ rằng Mẹ không chỉ là Mẹ của Chúa Giêsu mà còn là Mẹ của chúng ta nữa.

Thật ra, chúng ta cần Mẹ, một người nữ thật đặc biệt, không chỉ vào dịp mừng Mâu Nhiệm nhập thể của con Mẹ trong mùa Giáng sinh mà thôi, nhưng còn được trải dài trong suốt cả năm nữa! Tuy nhiên, hôm nay, tôi nhận thấy Tình mẫu tử của Mẹ là tâm điểm và lý do cho mọi chú ý của chúng ta. Mẹ được Thiên Chúa mong muốn và trở thành Mẹ Thiên Chúa qua việc hạ sinh Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa.

Nói cách khác, Chúa Giêsu đã được Mẹ sinh ra, được Mẹ chào đón, ôm ấp, chăm sóc, dậy dỗ và Người đã trưởng thành trong vòng tay yêu thương của cha mẹ mình. Như mọi người mẹ trần thế, thức khuya dậy sớm để chăm lo cuộc sống cho con mình thế nào thì Mẹ của Đức Giê-su cũng thế, nuôi dưỡng Chúa về phần xác, lo cơm ăn, áo mặc cho Người, hiếu khách với những bạn bè của con mình và sau đó, theo đuổi Người trên con đường sứ vụ với sự quan tâm và tận tâm.

Và trong tinh thần của ngày lễ, chúng ta cùng tìm kiếm các gương sáng, những mẫu mực mà Mẹ đã thu hút tôi. Tưởng là tìm được những điều cao siêu, nhưng ai ngờ tâm trí tôi lại bị cuốn hút vào gương sáng của Đức Maria trong vai trò của một người Mẹ trong gia đình của Chúa tại Na-za- rét khi xưa và cả trong lòng Hội Thánh hôm nay.

Trước tiên chúng ta cùng nhìn nhận rằng, Đức Maria vốn chỉ là một tạo vật, cô thiếu nữ Do Thái, giản dị, bình thường như tất cả các cô gái thời đó. Khi nhìn nhận điều này, chúng ta không bất kính đối với Mẹ. Nhưng nhờ vậy mà chúng ta biết rằng Mẹ đã trải qua những bước thăng trầm trong cuộc sống gia đình như chúng ta. Mẹ đã vượt qua những giây phút đau thương và gian nan khi chu toàn vai trò làm vợ, làm mẹ trong cuộc sống gia đình. Mẹ ý thức rằng công việc chuẩn bị cho con của Mẹ sống theo ý Chúa, chứ không sống theo ý Mẹ là ưu tiên một trong cuộc sống của Mẹ. Như vậy Mẹ cần khám phá và tuân phục ý của Thiên Chúa truớc.

Trong trình thuật ghi lại việc Đức Giê-su lần đầu tiên lên đền thờ Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt qua. Sau khi mọi nghi lễ đã xong, “Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Ðức Giêsu, ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta. (Luca 2:51-52).

Chỉ bằng hai câu vắn tắt, Thánh Luca đã ghi lại cho chúng ta thấy rõ thái độ và cách ứng xử của Đức Giê-su và Mẹ Maria trong vai trò riêng của từng người. Tuy nhiệm vụ riêng biệt; nhưng cả hai đều hỗ tương và giúp nhau hoàn thành ý định của Thiên Chúa hơn là sống và hành động theo ý riêng của mình. Đức Giê-su vâng phục cha mẹ, càng lớn càng thêm khôn ngoan và thêm ân nghĩa trước mặt Thiên Chúa và người ta. Người làm gì có được điều này nếu cha mẹ Người không chuẩn bị trước cho Người.

Thật vậy, Mẹ đã phải cố gắng tìm kiếm ý định của Thiên Chúa mà vâng phục. Ý định của Thiên Chúa không dễ dàng khám phá; rất khó hiểu. Vì thế, Mẹ ghi nhớ, ôn đi nghĩ lại những gì đã xẩy ra, những điều con mình nói và làm rồi trong khả năng Mẹ cố gắng chấp nhận – cho dù đôi lúc không hiểu – Mẹ đã nỗ lực giúp Đức Giêsu hoàn tất ý định của Thiên Chúa. Nói khác đi, Mẹ đã có một cuộc sống chiệm niệm thật thâm sâu. Mối tương quan giữa Thiên Chúa và Mẹ thật thắm thiết. Vì thế, Mẹ sẵn sàng vâng phục và trở thành gương sáng về đức vâng phục cho con mình: Đức Giê-su.

Sau cùng, vào giờ tử nạn của Chúa, Mẹ là một trong số ít môn đệ chứng kiến cái chết của Người trên đồi Canvê. Trong giây phút hấp hối, Chúa Giêsu đã trao Thánh Gio-an cho Mẹ bằng lời lẽ thật cảm động “Thưa bà, đây là con trai của bà,” và nói với Thánh Gio-an, đây là Mẹ con. Mẹ đã là Mẹ của Chúa Giêsu thế nào thì cũng là Mẹ của chúng ta như thế. Thật vậy, chúng ta cần Mẹ! Và chúng ta được mời để trở nên giống như Mẹ vậy.

Là con của Mẹ Maria, Chúa Giêsu tuy là con người nhưng rõ ràng cò nhiều điều kỳ diệu hơn bất kỳ một ai khác. Nơi Người không có sự tội. Chính vì điều kỳ diệu này mà Chúa sẽ đáp ứng nhu cầu của chúng ta về Mẹ, Đấng Trung gian, kiểu mẫu (role model) và là một người bạn thiết nghĩa và vô cùng thân mật trong cuộc sống của chúng ta.

Hôm nay, chúng ta mừng lễ Mẹ Thiên Chúa, chúng ta nhớ rằng Mẹ đã ghi nhớ tất cả những điều Chúa nói, không bỏ quên một điều nào. Mẹ nghe. Mẹ nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng. Noi gương Mẹ, chúng ta hãy ghi nhớ những điều Chúa nói, thường là khó hiểu cho nên phải suy đi nghĩ lại rồi đem ra thực hiện cho nhớ luôn.

Sau cùng, nhân dịp đầu năm, cùng với những người con khác trong gia đình Hội Thánh, chúng ta hãy “chào mừng” Mẹ, ca ngợi Mẹ và thân thưa với Mẹ rằng Mẹ thật có phúc vì Con lòng Mẹ thật có phúc. Sau đó, chúng ta nhờ lời Mẹ chuyển cầu cho chúng ta là những kẻ tội lỗi ngay trong lúc dâng lời cầu, và trong giờ phút sau cùng, khi chúng ta hấp hối nữa. Chúng con cần đến sự trợ giúp của Mẹ ngay bây giờ, mỗi ngày và cho đến khi kết thúc cuộc lữ hành trần thế này.

Chúng ta cùng cầu nguyện: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử”. Amen!

Wednesday, 21 December 2022

CHÚA ĐÃ ĐẾN, HÃY MỜI NGƯỜI THAM DỰ TIỆC SINH NHẬT


Sau hai mùa Giáng Sinh chiến đấu với dại dịch và may mắn còn được sống và nhìn thấy nhau, năm nay chúng ta được tự do và thoải mái hơn cho nên việc mừng Lễ Giáng Sinh dường như nhộn nhịp và hòanh tráng hơn. Tuy nhiên, cũng có vài nơi xem ra hơi quá lố. Họ chỉ chuẩn bị phần tiệc tùng và tặng qùa cho nhau mà quên đi món quà của ngày đại lể. Không có món quà đó từ Thiên Chúa thì làm gì có Giáng Sinh. Thiên Chúa làm người, ở cùng chúng ta là món quà cao trọng nhất của Thiên Chúa ban cho nhân loại, đó là lý do chính của việc mừng lễ vậy.

Tuy nhiên, có một điều rất thực tế mà tôi xin anh chị em để ý, đó là lễ này không chỉ dành riêng cho những người theo truyền thống Ki-tô giáo mà thôi, nhưng nay là lễ hội chung cho mọi người. Dù giầu hay nghèo, sang hay hèn, luơng hay giáo, già hay trẻ… Ai ai cũng nô nức đón chào Mầu Nhiệm thật cao cả này.

Vì thế, trong niềm vui chungcủa ngày Đại Lễ, tôi xin gửi đến quí ông bà và anh chị em lời nguyện chúc bình an và yêu thương. Ước mong sứ điệp niềm vui mà sứ thần đã loan báo trong đêm Hồng Phúc sẽ hiện diện và giúp quí vị vượt qua mọi khó khăn trong năm mới 2023 bằng một tâm hồn vui tươi và an bình.

Còn riêng cho những ai theo truyền thống Ki-tô giáo, thì đây là Lễ mừng ngày Sinh Nhật của Đức Giê-su, Chúa chúng ta.

Trong các tuần qua, chúng ta đã chuẩn bị tâm hồn và cuộc sống để xứng đáng cử hành Mầu nhiệm Thiên Chúa Giáng trần. Việc tham dự các nghi lễ phụng vụ để mừng việc Chúa giáng trần thật cần thiết. Nhưng, theo tôi, việc sống mầu nhiệm đó nơi bản thân của mỗi người mới là điều quan trọng. Thiên Chúa không còn hiện diện ở một nơi xa xăm nào đó. Người đã làm người và ở cùng chúng ta. Người cũng chẳng cần nói với chúng ta qua môi miệng của các ngôn sứ nữa. Người đã đến và đang đứng bên cửa để chờ lời mời của chúng ta; ai nghe tiếng và mở cửa tâm hồn đón nhận Người thì Người sẽ đến để dùng bữa với họ.

Trong tâm tình đó, thay vì tìm hiểu ý nghĩa của mầu nhiệm vượt quá mức hiểu biết của con người. Năm nay, xin mời anh chị em nghe tâm sự của một người tên là Giê-su trong tâm thư của Người gửi cho chúng ta như sau:

Anh chị em thân mến,

Cũng như mọi năm, hôm nay là ngày sinh nhật của tôi và như thường lệ, người ta dành cho tôi một ngày. Tôi ít khi tổ chức sinh nhật cho chính tôi. Người ta tổ chức cho tôi. Thật là một niềm vinh dự khi được mọi người nhớ đến và còn tổ chức tiệc sinh nhật cho tôi nữa. Năm nào cũng thế, ít là một lần, người ta nhớ đến tôi, điều đó cũng không tệ vì anh chị em biết, sinh nhật của tôi được mừng từ lâu rồi. 

Những năm đầu tiên, xem ra người ta cũng hiểu ý nghĩa của ngày lễ và cũng tỏ lòng biết ơn về những gì tôi đã làm cho họ; nhưng càng ngày, xem ra không ai còn nhớ đến lý do của ngày lễ.

Tôi nhớ rất rõ, cách đây vài năm, trước khi đại dịch xẩy ra, tại một gia đình nọ, người ta tổ chức một bữa tiệc lớn mừng sinh nhật tôi. Bàn tiệc đầy thức ăn đồ uống, bánh trái đủ các loại… nào kẹo, nào mứt, nào chocolate. Và này, người ta trang hoàng phòng tiệc thật lộng lẫy, nào cây giáng sinh, nào những quả bóng xinh xắn lủng lẳng trên đó; nào hoa, nào những dây đèn rực rỡ… và ở đó, cũng có rất nhiều hộp quà được gói thật đẹp… Nhưng anh chị em biết không, hôm đó, tôi không được mời.

Tôi là khách danh dự, thế mà, người ta không nhớ để gửi cho tôi một tấm thiệp.  

Bữa tiệc dành cho tôi, nhưng khi ngày trọng đại ấy đến, thì tôi phải đứng ngoài. Họ đóng sầm cánh cửa trước mặt tôi… đang khi tôi những ước ao đồng bàn với họ.

Thực ra, điều đó không khiến tôi quá ngạc nhiên, vì trong những năm gần đây, mọi cửa nhà đều đóng lại khi tôi đến. Bởi không được mời, nên tôi đã quyết định lẻn vào mà không gây một tiếng động nào. Tôi nhẹ nhàng đi vào và đứng lớ ngớ trong một góc. Mọi người đều uống, vài người bắt đầu có dấu hiệu say, họ nói năng nghịch ngợm và cái gì cũng có thể khiến họ cười, họ cười mọi chuyện. Họ có một buổi tối thật thú vị.

Đến nửa đêm, mọi người bắt đầu ôm nhau; tôi cũng dang rộng đôi tay đợi một ai đó đến ôm hôn mình, và anh chị em biết, không ai đến hôn tôi cả.

Rồi thì, mọi người bắt đầu trao cho nhau những món quà. Lần lượt, từ món này đến món khác, những gói quà được mở ra và ai ai cũng nô nức muốn biết cái gì bên trong. Khi tất cả quà tặng đã được mở ra, tôi cũng lo lắng không biết liệu mình có nhận được một món nào không. Này anh chị em, anh chị em nghĩ thế nào nếu như vào ngày sinh nhật của anh chị em, khi mọi người trao quà cho nhau đang khi tự bản thân, anh chị em không có lấy một món quà nào cả.

Vậy là tôi hiểu, họ không thích sự có mặt của tôi ở đó, nên cuối cùng, tôi lẳng lặng… ra đi. 

Mỗi năm, sự việc càng trở nên tồi tệ hơn. Ai ai cũng chỉ nhớ đến những món quà, những bánh trái, đồ ăn thức uống và không ai còn nhớ đến tôi.

Năm nay, nhân dịp sinh nhật của tôi. Cho dù cuộc sống của anh chị em vẫn còn nhiều khó khăn. Thế gian mà tôi yêu mến vẫn còn đối diện với chiến tranh, dịch bệnh và nhiều tai ương khác. Nhưng tôi vẫn muốn anh chị em cho phép tôi được cùng sống với anh chị em, cùng đồng hành với anh chị em và đi vào cuộc đời anh chị em.

Tôi muốn mỗi người trong anh chị em ý thức rằng, đã hơn 2000 năm, tôi đã đến trần gian này để trao tặng cho mỗi người một quà tặng là chính cuộc sống của tôi, từ khi lọt lòng Mẹ cho đến lúc bị treo trên cây Thánh giá, để cứu chuộc anh chị em. Hôm nay, tôi chỉ muốn một điều là anh chị em hãy tin điều đó, hãy ghi khắc điều đó vào lòng mình.

Còn một chuyện nữa, tôi cũng muốn nói nhỏ với anh chị em, vì không được mời vào dự tiệc, thì tôi phải liệu tổ chức cho mình một bữa tiệc của tôi, một bữa tiệc lớn… không ai có thể tưởng tượng được, một bữa tiệc tráng lệ huy hoàng mà chính tôi định đoạt và sắp đặt tất cả.

Hôm nay, tôi gửi đi rất nhiều thiệp mời và mỗi người trong anh chị em đều có một tấm thiệp của tôi. Tôi muốn biết, anh chị em có đến tham dự để tôi giữ chỗ bằng cách ghi tên của anh chị em vào sổ các thực khách. Chỉ những ai có tên trong sổ vàng ấy mới được mời vào dự tiệc.

Ai không trả lời thiệp mời, sẽ tự loại mình ra ngoài. Vậy, anh chị em hãy chuẩn bị thật kỹ lưỡng cho mình, vì khi mọi sự đã sẵn sàng, anh chị em sẽ bước vào tham dự bữa tiệc lòng mến với tôi.

Hẹn gặp anh chị em trong bữa tiệc do tôi tổ chức,

Hết lòng yêu mến anh chị em,

Tôi, Giêsu, người bạn lòng của anh chị em.

 

Wednesday, 14 December 2022

HÃY ĐẾN! HÃY ĐẾN! EM-MA-NU-EN.

 

Chúng ta bước sang tuần thứ Tư Mùa Vọng. Chỉ còn một tuần nữa là đến Lễ Giáng Sinh. Sau hai mùa Giáng Sinh thinh lặng bởi Covid-19, năm nay chúng ta hình như mừng lễ bù. Không khí thật nhộn nhịp. Các buổi hội diễn thánh ca đang diễn ra thật tưng bừng và náo nhiệt. Các ca đoàn thi đua tiếng hát dâng lời ca khen và chúc tụng Thiên Chúa. Nói chung, người người nô nức vui mừng trong niềm hy vọng mà Đấng Cứu Thế đã đem đến cho nhân loại hơn 2000 năm qua.

Bên cạnh vẻ huy hoàng tráng lệ hầu như ngược lại với hoàn cảnh nghèo hèn, bị xua đuổi, không có chỗ trú thân khi hài nhi Giê-su được sinh ra. Chúng ta còn nghe thoảng thoảng đâu đó vẫn còn những cảnh đời thật thương tâm, vẫn còn nhiều cảnh đời bất hạnh. Không thiếu những trẻ em sống cô đơn, thiếu vắng tình thương trước sự đổ vỡ của cha mẹ mà hậu quả là mà các cháu phải gánh chịu. Những nạn nhân bị lạm dụng về tinh thần lẫn thể xác bởi việc lạm dụng quyền uy của một số vị lãnh đạo. Còn có những cụ già trong các viện dưỡng lão kiên trì ngồi bên khung cửa để trông chờ và đón đợi con cháu đến thăm. Những ngày như thế này chỉ đem lại cho họ nỗi buồn và tâm trạng tủi thân.

Tuy nhiên, chúng ta tin rằng Chúa đã đến và vẫn còn đến trong hoàn cảnh riêng của từng người.  Khi bước vào trần gian, Người đã không ngần ngại bước đến với con người trong hoàn cảnh mỏng dòn, bội ước và đầy tham vọng của họ. Đây là sáng kiến của Thiên Chúa. Chính Người đã đi bước trước để làm gương cho con cháu Người. Thiên Chúa không còn ở xa, nhưng đã đồng hình đồng dạng để chia sẻ mọi hoạn nạn khổ đau của con người. Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Em-ma-nu-en chính là thế.

Giống như mọi hài nhi, Con Thiên Chúa khởi đầu là một thai nhi, tuỳ thuộc và lớn lên trong cung lòng một trinh nữ, mang tên Maria, Mẹ Người. Sự cộng tác trọn vẹn và phó thác của Mẹ đã khiến một biến cố phi thường xẩy ra một cách thật bình thường. Mẹ là người đã sẵn sàng vuợt qua mọi rào cản để Con Thiên Chúa bước vào cuộc đời Mẹ và bước vào thế giới qua cung lòng của Mẹ. Như mọi bào thai,  Đức Giê-su, Con Thiên Chúa đã đón nhận sự nuôi dưỡng, chăm sóc từ những giọt máu đào và dòng sữa yêu thương của Mẹ. Không ai hiểu thân phận của Chúa bằng Mẹ. Mẹ là mẫu gương mà Hội Thánh muốn cho con cái mình noi theo. Ngoài Mẹ ra, Hội Thánh giới thiệu cho chúng ta một nhân vật khác, tuy thầm lặng và ít được nhắc đến nhưng vai trò không kém quan trọng như vai trò của Mẹ. Đó chính là Thánh Giu-se. Thật vậy, ngoài Mẹ ra, thì không có ai hiểu thấu và quan tâm cho Chúa bằng Thánh Giu-se.

Bản tính thầm lặng và hầu như không một lời nói nào của Thánh Giu-se được các Thánh Sử lưu trữ, lại là một yếu tố giúp chúng ta quên đi những ánh mầu rực rỡ, không khí tưng bừng của ngày đại lễ rồi cùng nhau ngồi xuống, trong thinh lặng để suy gẫm về mầu nhiệm mà chúng ta sắp cử hành.

Anh chị em thân mến,

Con đường của Thiên Chúa dành cho Giu-se bước đi cũng không dễ dàng. Thánh Kinh mô tả ngài là một người công chính, đã đính hôn với cô gái trạc tuổi trăng tròn, tên là Maria. Bên nhà gái khoảng mười sáu tuổi thì lẽ nào Giu-se lại là một cụ già lụ khụ. Giu-se hẳn nhiên là một cậu thanh niên khôi ngô và tuấn tú như vậy mới xứng đôi với cô Maria trẻ trung và mỹ miều.

Vào một ngày kia, Giu-se phải đối diện với một biến cố thật trọng đại khiến anh bị sốc. Vị hôn thê của anh vừa báo cho anh biết là nàng đã có thai, và điều duy nhất Giu-se biết chắc chắn là thai nhi đó không phải là của mình. Anh biết làm sao đây? Làm sao anh có thể tin được lời của Maria nói là nàng ta mang thai bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần?

Xuất phát từ lòng đạo đức, Giu-se chỉ biết âm thầm tâm sự với Chúa. Chúng ta không biết Giu-se đã cầu nguyện như thế nào? Hẳn nhiên là anh xin Chúa soi sáng, giúp anh tỉnh thức để khỏi bị kéo vào đêm đen và có những quyết định mất lòng Chúa. Giu-se định âm thầm lìa bỏ Maria. Đó cũng không phải là giải pháp tốt, bởi thai nhi sẽ lớn lên và nếu anh bỏ nàng thì ai sẽ chịu trách nhiệm về bào thai đó. Anh bị bao phủ bởi màn đêm và cứ thế Giu-se đã thiếp đi trong giấc ngủ.

Trong giấc ngủ anh mơ thấy thiên thần. Trong trình thuật truyền tin cho Maria thì thiên thần Chúa hiện đến, trấn an Maria đừng sợ. Nhưng ở đây, Thánh Mát-thêu đã mô tả Giu-se vượt qua trạng thái sợ hãi khi đối diện với thiên thần. Chính nhờ điều này mà Giu-se, con người của niềm hy vọng, đã dễ dàng tin vào sứ điệp của thiên thần nói với ông như sau: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.” (Mt 1:21)

Khi giật mình thức dậy, Giu-se đã tuân phục ý định của Thiên Chúa qua lịnh truyền của sứ thần và đón vợ về nhà. Và hai người vẫn không ăn ở với nhau, cho đến khi Ma-ri-a sinh một con trai, và Giu-se đã đặt tên cho con trẻ là Giê-su. Theo tục lệ của người thời bấy giờ thì ai đặt tên cho con trẻ thì người đó là cha hợp pháp của đứa trẻ vậy.

Vẫn biết Giu-se một lòng tuân phục và thực hiện ý định của sứ thần. Tuy nhiên, chúng ta không thể bỏ qua tình huống mà Giu-se và Ma-ri-a đang đối diện. Khó khăn vẫn còn. Trong hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan, khi đi đến quyết định đón vợ về nhà, Giu-se vẫn không tránh khỏi giây phút hoang mang về danh tiếng của anh cũng như hậu quả có thể xuất phát từ vụ xì căng đan bởi việc thụ thai của Ma-ri-a, người vợ mà anh hết lòng yêu thương và tin tưởng. Làm sao mà anh và Maria có thể chứng minh cho người ta biết là bào thai mà vợ anh đang mang là do tác động của Chúa Thánh Thần?

Chúng ta hãy nghe đôi bạn trẻ Giu-se và Ma-ri-a tâm sự với nhau. Maria đã nói với Giu-se: sứ thần nói với em rằng con trẻ em đang mang trong người sẽ được gọi là Con Đấng Tối cao, và chúng mình sẽ đặt tên cho con là Giê-su. Giu-se đáp lại: đúng đấy em ơi, anh cũng được báo mộng bởi sứ thần là như thế, vì vậy chúng mình sẽ đặt tên cho con là Giê-su. Sau đó Giu-se nói thêm rằng con chúng mình sẽ được gọi là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”

Giu-se biết rõ tâm tính và lòng đạo đức của Ma-ri-a, nàng không bội ước với anh. Sứ điệp anh nhận được từ sứ thần cũng là những gì mà Ma-ri-a đã nói cho anh. Sao có sự trùng hợp đến thế. Phải chăng đây là việc làm của Thiên Chúa.

Cuối cùng Giu-se cũng đã kết hợp được sức mạnh của niềm tin với tinh thần khiêm cung trước Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa. Anh và Maria tin rằng, Thiên Chúa sẽ hướng dẫn các ngài vượt qua tất cả. Nhưng ngây bây giờ, trong giây phút này anh phải lựa chọn. Hẳn nhiên sự lựa chọn của anh không phát xuất từ một giây phút bồng bột và bốc đồng. Cả đời Giu-se đã chuẩn bị cho giây phút chọn lựa này, và hơn thế nữa, Giu-se sẽ phải sống với quyết định này cho đến cuối đời Ngài.

Có một điều mà Giu-se có nằm mơ cũng không nghĩ ra rằng quyết định của ngài lại mang tầm ảnh hưởng thật sâu xa đối với lịch sử của thế giới đến như thế. Con Thiên Chúa làm người và cư ngụ giữa thế gian. Gương sáng của Giu-se thật đáng kính trọng và lưu truyền cho muôn thế hệ.

Noi theo gương sáng của thánh Giu-se, chúng ta cầu xin có được một con tim rộng mở cho các dự án mà Thiên Chúa thực hiện nơi mình và nơi người khác, mà không một ai trong chúng ta có thể lường trước hay biết rõ được. Nguyện xin lời tuyên xưng Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở cùng chúng ta sẽ trở thành hiện thực trong cuộc sống chứng nhân của chúng ta cho thế giới này. Amen!

 

Wednesday, 7 December 2022

AI CHỜ, AI ĐỢI AI ĐÂY!



                Truyện kể rằng, vào một Chúa nhật cuối năm phụng vụ, linh mục quản xứ long trọng nói cho bà con trong xứ đạo biết về các thành quả mà Giáo Xứ đã đạt được. Ngài rất hài lòng vì số người tham dự các sinh hoạt phụng vụ như tham dự các Thánh Lễ, chia sẻ lời Chúa, tham gia các đoàn thể, phong trào và các sinh hoạt giới trẻ, chầu Thánh Thể tăng nhanh. Ngoài ra, bà con còn hết lòng tham gia các công tác từ thiện như giúp đỡ người nghèo, thăm người đau yếu trong các bịnh viện, nhà dưỡng lão… Nói chung, qua việc làm của anh chị em trong giáo xứ thì vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện cho mọi người nhận biết chúng ta quả thật xứng đáng là đoàn chiên của Người.

                Trong lúc cha xứ đang hân hoan chia sẻ với các tín hữu, bỗng nhiên có một giọng nói rất chậm rãi của một cụ già phát lên từ hàng ghế phía sau của hội trường nhà xứ như sau: “Tạ ơn Chúa, vì các thành quả của chúng ta đã làm để tôn vinh Chúa, thế mà sao chẳng có ma nào trở lại để gia nhập vào Đạo Chúa và học theo lối sống của chúng ta thế này!”

                Lời than van của cụ già trong giáo xứ phản ảnh lời chất vấn của các môn đệ mà Gio-an Tẩy Giả đã phái đến để hỏi về thân thế của Đức Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay. Câu hỏi “Thầy có phải là đấng mà chúng tôi mong đợi?” có thể được đổi thành chúng ta có phải là hiện thân của Đấng Cứu Thế mà thế giới đang mong đợi hay không?

                Thưa anh chị em,

                Trong bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Mát-thêu đã trình bầy cho chúng ta thấy con người thật của Gio-an Tẩy Giả. Lúc này ông đang bị ngồi tù vì dám khiển trách nhà vua đã cả gan cướp vợ của người anh trai lấy làm vợ của mình. Gioan đã cả gan động tới long nhan và đời sống của thiên tử. Nhưng, đứng trước và nhất là khi cần binh vực cho sự thật và công chính, Gio-an đã không một chút kiêng dè và sợ hãi một uy quyền nào hết.

                Dù đang bị giam trong tù, nhưng Gio-an vẫn được nghe nói về các việc mà Đức Giê-su đã làm. Ông cảm thấy hoang mang và tự hỏi mình rằng những gì ông loan báo về Đức Giê-su có ứng nghiệm bởi các việc làm của Chúa hay chăng. Bởi vì, mới tuần trước chúng ta nghe Gio-an giảng khi Đức Giê-su đến, Người sẽ cầm nia trong tay để sàng lọc thóc, thóc tốt thì thu vào kho, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi. Hình ảnh sàng lọc mà Gio-an nói ở đây ám chỉ đến ngày phán xét. Thế mà những gì Gio-an được nghe về Chúa thì dường như chẳng thấy có sự phán xét hay thẩm tội ai từ Chúa cả; cũng chẳng thấy chỗ nào người ta nói đến việc Đức Giê-su ném những người có tội vào lửa cả. Thay vào đó, về mặt giảng dậy thì Đức Giê-su nhấn mạnh đến thời đại hồng ân của Thiên Chúa, còn lối sống của Người thì chẳng ra thể thống hay có lớp lang gì, lang thang ăn uống, binh vực và làm bạn với người tội lỗi. Lời giảng dậy và công việc của Đức Giê-su như thế làm cho Gio-an bị ngộ nhận. Để làm cho sự thật được sáng tỏ, Gio-an đã không ngần ngại sai các môn đệ đến hỏi Chúa Đức Giê-su rằng: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?“

                Đức Giê-su nhẹ nhàng nói cho các môn đệ của Gio-an về các điều mà Người đã làm và họ đã chứng kiến, đó chính là người mù được sáng mắt, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết được sống lại và những người nghèo được nghe Tin Mừng, như đã được loan báo bởi ngôn sứ I-sa-i-a mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc một. Sau đó, Đức Giê-su còn nhắc khéo cho Gio-an biết rằng ông thật là có phúc, nếu không bị vấp ngã vì các công việc mà Đức Giê-su đã làm. Ở đây, Đức Giê-su muốn nói với Gio-an rằng: qua lời tường trình về các công việc Đức Giê-su đã làm thì ông có tin Người là Đấng Thiên Sai hay không?

Anh chị em thân mến,

Chúng ta không hề hay biết Gio-an có đón nhận lời chúc phúc của Đức Giê-su danh cho ông hay không mà chỉ biết rằng sau đó Đức Giê-su ca ngợi lối sống chứng nhân của Gio-an. Qua cách nói gián tiếp này chúng ta thấy được vị trí của Gioan trong con mắt của Đức Chúa. Ông đuợc ví như cây sậy phất phơ trước gió, nhưng đã không ngã gục trước quyền lực của những người đến hỏi tội ông. Gio-an cũng không đánh lừa dân chúng. Ngài can đảm làm chứng về sự thật. Và vì sự thật mà Ngài đã bị xử tử, bị giết chết. Đó chính là con đường mà ngôn sứ phải đi: chỉ biết nói sự thật cho dù phải chết.

Gio-an không phải là ánh sáng mà chỉ là nhân chứng của ánh sáng. Ánh sáng đích thật là Chúa Giêsu. Vì thế khi Đức Kitô bắt đầu sứ vụ công khai thì vai trò của Gio-an phải lu mờ. Cũng như Gio-an, chúng ta phải biết chấp nhận sự thật về mình, sự giới hạn của mình, không giả tạo, không qui công về mình cái mà mình không có, điều mà mình không làm. Bằng không, chúng ta có thể trở thành những con người bất mãn và chỉ biết đòi hỏi.

Đây là sự cao trọng trong sứ mạng của Gio-an. Chính vì biết mình là ai, và cần phải làm gì trong chuơng trình của Thiên Chúa, nên Gio-an đã trở thành con người vĩ đại như lời ca tụng của Đức Giêsu: “Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn Gioan tẩy giả. Tuy nhiên kẻ nhỏ nhất trong Nước trời còn cao trọng hơn ông.” Bởi vì, vai trò của Gio-an dù có cao trọng đến đâu thì ông vẫn chỉ là người dọn đường; còn chính Chúa Giê-su và những kẻ thuộc về Người mới thuộc về Nước Trời.

Đó là giáo lý mới, tin vui mà Chúa Giê-su đã đem lại. Chính Gio-an cũng phải thay đổi lối nhìn và cách sống sao cho phù hợp với những yêu sách của Tin Mừng về Nước Trời. Với Đức Giêsu, trong triều đại của Người, chúng ta hãy cứ để cho ‘cỏ lùng và lúa tốt” cùng mọc lên, cho ‘chiên và dê’ cùng sống chung. Việc phân xử là của Chúa. Thời gian phân xử cũng thuộc về Ngài. Còn bây giờ, chúng ta hãy noi gương Chúa Cứu Thế, đi trên con đuờng mà Người đã đi, chiếu hy vọng đến những nơi tăm tối, đem tin vui đến tận hang cùng ngõ hẻm của thế giới; loan báo năm hồng ân, rao giảng và làm nhân chứng cho Đức Giê-su, Đấng có quyền làm cho kẻ què được đi (trên con đường của Chúa), người điếc được nghe (tin vui từ Chúa), người mù được nhìn thấy (ánh sáng của Chúa) và kẻ chết được sống lại từ cõi chết.

                Tóm lại, vai trò của Gio-an là giới thiệu và dọn đường cho Đấng Cứu Thế; còn Chúa Giêsu và chúng ta là niềm hy vọng, nguồn sống sung mãn của Thiên Chúa cho người khác. Có như thế, viêc chúng ta mừng lễ Giáng Sinh không phải là việc tưởng niệm biến cố đã xẩy ra trong quá khứ; nhưng là tiếp tục công việc của Thiên Chúa qua Mầu Nhiệm Nhập Thể của Đức Giê-su, Đấng đã đến trong kiếp người để chia sẻ cuộc sống với những người nghèo khổ, bất hạnh mang đầy thương tích, những nạn nhân của bất công, những con người đang khao khát công lý và an bình. Nguyện xin ân huệ của Ngôi Hai Thiên Chúa luôn biến đổi cuộc đời của chúng ta thành những con đường đem Chúa đến cho người khác. Amen!