Wednesday, 27 January 2021

UY QUYỀN CỦA LỜI RAO GIẢNG

 

Trong các tuần vừa qua, chúng ta đã tham dự ngày khai mạc sứ vụ công khai rao giảng về Nước Thiên Chúa của Đức Giê-su tại sông Gióc-đan. Sau đó còn được nghe kể lại việc Đức Giê-su đã gọi và thiết lập nhóm môn đệ đầu tiên. Đây cũng là cơ hội giúp chúng ta nhớ lại và hâm nóng ơn gọi của chính mình.

Tất cả chúng ta được Thiên Chúa mời gọi tham dự vào sứ mạng của Chúa Kitô trong hoàn cảnh sống của mình. Có người tham gia vào chức vụ mục tử coi sóc và phân phát ân sủng của Thiên Chúa qua các bí tích của Giáo Hội. Có người diễn tả lòng yêu mến của họ qua các phương thức như chăm sóc bịnh nhân, thăm viếng những người bị bỏ rơi, an ủi những ai cô đơn, giúp đỡ những người cùng khốn, binh vực những ai bị áp bức, tham gia vào các công tác truyền giáo và phục vụ những người khổ đau nghèo đói tại các hang cùng ngỏ hẻm ở khắp mọi nơi.

Nói chung, Thiên Chúa gọi ai là vì yêu thương và trọn niềm tín thác nơi người đó. Vì thế, lời đáp trả phải diễn tả và bộc lộ lòng mến của người được gọi dành cho Chúa trước. Lòng mến khi đáp trả không dừng lại ở mặt cảm xúc nhưng cần được diễn tả bằng cử chỉ và hành động như các môn đệ đầu tiên đã làm. Họ đã từ bỏ gia đình, đến nơi Chúa ở, lưu lại với Người, chia sẻ cuộc sống và xây dựng mối thân tình với Thầy. 

Như vậy, tất cả mọi ơn gọi xoay quanh bản thân Chúa Giêsu. Chúa gọi vì yêu con người, và con người đáp trả cũng vì yêu Chúa. Vì thế, trước khi được gọi để lãnh nhận các tác vụ riêng biệt khác để phục vụ Hội Thánh thì chúng ta đều được gọi để trở thành môn đệ, tín hữu của Chúa trước.

Thật vậy, qua bí tích rửa tội, chúng ta đã gia nhập vào hàng ngũ của những người môn đệ, chúng ta là chi thể của Đức Kitô. Để chu toàn vai trò của người tín hữu, chúng ta phải học để nói như Chúa nói, sống như Chúa sống. Đó chính là sứ điệp mà Thánh Mác-cô muốn gửi đến cho chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay.

Truyện kể lại việc rao giảng và chữa lành của Đức Giê-su tại Ca-phác-na-um. Ngày hôm đó là ngày hưu lễ, giống như bao người khác, Đức Giê-su vào hội đường. Chúng ta không biết nội dung lời giảng dậy của Đức Giê-su tại hội đường ở Ca-phác-na-um là gì. Thánh Mác-cô đã ghi lại phản ứng của những người nghe. Họ ngỡ ngàng và nhận ra uy quyền của Thiên Chúa trong lời Người giảng dậy. Người đã giảng dậy như một Đấng có uy quyền. Thẩm quyền của Đức Giê-su không dựa vào truyền thống của tiền nhân như các kinh sư mà dựa trên mối quan hệ giữa Người và Thiên Chúa Cha. Lời rao giảng của Người lôi cuốn và thu hút những người nghe trở về mối quan hệ với Thiên Chúa.

Và cũng trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta được chứng kiến thêm cuộc đối thoại, đúng hơn là cuộc chiến bằng Lời của Đức Giê-su và thần ô uế. Truyện kể về tình trạng của một người bị thần ô uế nhập. Ông tự nguyện đến trình diện với Đức Giê-su. Đây là cuộc chạm trán đầu tiên giữa Đức Giê-su và thần ô uế, một thứ quyền lực chống lại Thiên Chúa. Một cách khác, chúng ta có thể đọc câu chuyện này như một cuộc hiển linh của Đức Giê-su, Đấng được Thiên Chúa sai đến để chiến đấu với quyền lực của ma quỉ. Cuối cùng, Đức Giê-su đã chiến thắng, và qua đó Người đã trục xuất thần ô uế ra khỏi người bị ám và đã trả lại phẩm giá và căn tính làm người cho ông.

Công việc chữa lành và trục xuất thần ô uế ra khỏi ngượi bị sự dữ ám nói lên tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa. Thần ô uế và mọi thứ quyền lực khác đã làm đảo lộn mọi sinh hoạt nhất là tương quan giữa con người và Thiên Chúa thế nào thì nay với uy quyền của Đức Giê-su, Đấng muốn chúng ta biết rằng phẩm giá và căn tính của con người không khi nào bị thống trị bởi quyền lực sự dữ cả. Vì thế, khi chúng ta thiết lập, nối lại tương quan với Thiên Chúa là lúc chúng ta để cho quyền lực của Thiên Chúa trở thành hiện thực và giải thoát mình khỏi quyền lực của sự ác.

Ngày nay, thần ô uế hay các thế lực khác chống lại Thánh ý của Thiên Chúa mặc mầu áo và xuất hiện dưới hình ảnh khác nhau. Nó có thể là tính tự mãn, chủ nghĩa tôn sùng tự do cá nhân, tự mình sắp xếp cuộc sống mình mà quên đi mối giao tiếp và sự hỗ trợ của đồng loại rồi không  cần sự trợ lực của Thiên Chúa nữa. Tất cả các điều đó dần dà kiểm soát cuộc sống khiến cho mọi sinh hoạt bị đảo lộn. Trong tình huống đó, Đức Giê-su yêu cầu lối suy nghĩ và quan niệm đi ngược lại với tính sáng tạo và liên kết mà Thiên Chúa đã thiết lập, thoát ra khỏi chúng ta.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta vẫn biết rằng không bao giờ chúng ta trở nên và giống Chúa hoàn toàn. Và không phải tất cả chúng ta đều có năng quyền xua trừ ma quỷ hay các ảnh hưởng của nó. Chỉ một số người được trao ban cho đặc ân, họ mới có năng quyền trên các tà thần. Tuy nhiên, nói chung, ai trong chúng ta cũng có thể nói lời yêu thương, hành động vì lòng mến. Và đó chính là những điều mới lạ, phi thường mà thế giới này đang cần.

Sau đây là một số chứng từ được ghi nhận để anh chị em cùng suy nghĩ.

Truyện kể như thế này. Cha Peter Robb là linh mục thuộc tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Úc, đã cống hiến gần hết cuộc đời linh mục của Ngài cho công cuộc truyền giáo cho nhóm người dân tộc thiểu số -Dumagat- bên Phi luật Tân. Một lần kia, trong lúc đi vào buôn làng. Ngài nghe thấy tiếng nói rất hung hăng và cử chỉ thật dữ tợn của một chàng thanh niên thuộc buôn làng đó. Hình như anh này đã uống quá chén cho nên không còn kềm chế được bản thân. Có một nhóm nhân viên công lực đi ngang qua. Nhìn thấy cảnh tuợng như thế, họ tính dùng quyền uy và sức mạnh để áp chế và đưa anh này về đồn.

Ngay lúc đó, có một ông thầy giáo già, đã về hưu, đi ngang qua. Thấy hiện tượng đó, ông xin nhân viên cảnh sát cho phép ông gặp để khuyên anh ta. Ông đến gần và choàng tay qua vai người đó rồi nhỏ nhẹ nói: “Jim, đừng làm những chuyện quá trớn. Hãy điềm tĩnh và về nhà đi con.” Qua cử chỉ và lời nói thật thân thương của ông, Jim có vẻ như đã biến thành một người khác. Trông anh không còn giống như người say rượu nữa, miệng lí nhí nói câu chào thầy. Sau đó, anh từ từ đi về huớng mấy ông cảnh sát nói lời xin lỗi rồi đi về nhà trước các cặp mắt đầy ngạc nhiên của các kẻ có quyền. Họ tự hỏi nhau rằng: “Ông thầy này là ai mà chỉ bằng một câu nói đã có thể biến một người đang hung hăng trở nên thuần thục như vậy!”

Đó là truyện xẩy ra bên Phi. Còn bên nhà chúng ta thì sao? Truyện sau đây đã được cố giáo sư Nguyễn Ngọc Lan ghi trong “Chủ nhật hồng giữa mùa tím.”  

Sau năm 1975, có một người bị bịnh phong cùi ra ngồi ăn xin tại chợ Bến Thành. Nhân viên công lực và các chú bảo vệ muốn làm đẹp thành phố, nên đã yêu cầu anh rời đi nơi khác. Anh ta không nghe theo, ngược lại có vẻ tức giận, xem ra có vẻ hơi hung hăng và sẵn sàng cắn người nào muốn đụng vào anh. Trước tình huống đó, không ai dám đến gần, vì sợ bị lây nhiễm. Thấy thế anh ta càng hăng hơn.

Thấy thế, có người đến báo tin cho văn phòng bịnh xá chuyên trị bịnh da liễu gần đó. Nhân viên trực ban lúc đó là dì Hai Loan. Thực ra dì là một nữ tu, nhưng người ta quen gọi là dì cho nên chẳng còn mấy ai nhớ đến thân phận của sơ nữa, chỉ biết đó là dì Hai Loan. Khi nhận đuợc tin báo, dì lập tức đến hiện truờng và nhận ra anh là một trong những bịnh nhân do các dì coi sóc. Nhìn thấy anh, dì tiến đến gần, với một giọng nhỏ nhẹ, cực kỳ dễ thương, dì nói: “Trời ơi! Tại sao con lại ở đây. Các dì và những người bạn của con đang lo lắng cho con. Đứng dậy, rồi đi về nhà với dì.” Không một chút phản kháng, anh lập tức đứng dậy và theo chân dì đi về như một chú chiên con.” Các chú công an, những người qua đường nhìn hiện tượng đó bằng một cặp mắt ngạc nhiên và kính phục. Họ tự hỏi nhau rằng: “Bà này là ai mà lại có uy quyền như thế!”

Anh chị em thân mến,

Uy quyền của ông giáo già bên Phi và của dì Hai Loan tại chợ Bến Thành không lệ thuộc vào vị trí của họ trong xã hội hay phẩm trật trong Giáo Hội. Họ không thuộc về lớp các đấng các bậc. Bàn tay họ cũng chưa được xức dầu năng quyền. Họ là những con người bình thường như mọi người chúng ta. Nhưng mối quan hệ, tình yêu thương của họ dành cho tác nhân đã tạo nên uy quyền khiến lời họ nói có sức mạnh ảnh hưởng trên người khác. Họ nhận ra rằng sức mạnh biến đổi khiến người khác phải nghe theo đều xuất phát từ Thiên Chúa là Đấng mà họ đã gặp gỡ, tin yêu và phó thác. Mối quan hệ thân thiết này tỏa sáng trên lời họ nói khiến cho lời trở thành sức mạnh lay chuyển người khác. Còn phản ứng của dân chúng khi chứng kiến các sự kiện nói trên thì giống như phản ứng của dân thành Ca-phác-na-um đã dành cho Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay: “Thế nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân theo!”

Ước vọng của dân chúng mọi thời đều giống nhau. Họ uớc mong được nghe những lời giảng dậy thực tế và ích lợi cho cuộc sống, nhưng tốt hơn vẫn cần có các chứng từ kèm theo để chứng thực những lời nói hay lời giảng đó được xuất phát từ Chúa. Tôi còn nhớ đã được diễm phúc tham dự cuộc tĩnh tâm do Viện phụ Vuơng đình Lâm hướng dẫn. Nội dung các bài giảng và cách thức truyền đạt cuả ngài rất bình dân, câu văn không chải chuốt, thật mộc mạc và đơn sơ. Nhưng mỗi lời ngài nói đánh động người nghe bằng những dấu ấn khó quên. Lời giảng của Ngài dường như có sức mạnh của lửa, nhằm sưởi ấm tâm hồn nguội lạnh như tôi.

Trở lại với ơn gọi môn đệ của người tín hữu, chúng ta xác tín rằng ai cũng đuợc mời gọi để cổ vũ, hỗ trợ và thi hành sứ mạng của Đức Giê-su mà chúng ta đã được trao ban. Vẫn biết là còn nhiều ơn gọi và đặc sủng khác để xây dựng cộng đoàn dân Chúa. Nhưng, trước tiên chúng ta phải chu toàn bổn phận của người tín hữu bằng lời nói cũng như việc làm. Chỉ có lời rao giảng đi kèm với hành động yêu thương mới chứng thực rằng chúng ta có uy quyền và uy quyền đó từ Thiên Chúa. Ai cũng đuợc Chúa yêu thương. Đây là một hồng ân thật cao cả, một chân lý luôn luôn mới và không bao giờ bị phai lạt. Qua lời nói kèm theo với các chứng từ, chúng ta đuợc mời gọi làm cho người khác nhận ra điều khác lạ và mới mẻ để tôn vinh Chúa. Chỉ có ai dám sống cho cái gì tồn tại mãi mới dẫn họ đến sự sống đời đời. Nói khác đi, thực hiện Lời Chúa, sống yêu thương và sẵn sàng để cho uy quyền của Thiên Chúa được bộc lộ xung quanh cuộc sống của mình đều là khí cụ xua trừ quyền lực của sự dữ và dẫn chúng ta đến cuộc sống vĩnh cửu. Cầu xin được như thế, Amen!

Tuesday, 19 January 2021

SÁM HỐI LÀ BƯỚC ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI MÔN ĐÊ.

 

Hôm nay, Đức Giê-su khai mạc sứ vụ công khai, bắt đầu rao giảng về Nước Thiên Chúa và mời gọi những kẻ đi theo Người rằng “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” Tin Mừng ở đây ám chỉ con người Đức Giê-su, Đấng đang hiện diện giữa họ. Sau lời rao giảng là việc Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên tham dự vào việc loan báo Tin Mừng. Điều này chứng tỏ sự quan tâm của Chúa dành cho việc đào tạo các Tông đồ, nhóm môn đệ đầu tiên, lớp người thừa kế di sản của Người.

Tuần trước, Đức Giê-su đã gọi hai môn đệ đầu tiên. Hôm nay, Người gọi thêm bốn người ở biển hồ Ga-li-lê-a, đó là các ông Si-mon, An-rê, Gia-cô- bê và Gio-an. Cho đến giây phút được gọi, chúng ta không hề biết giữa các ông và Đức Giê-su có mối quan hệ như thế nào? Đây có phải là lần đầu tiên Đức Giê-su gặp họ hay chăng? Chúng ta chỉ biết là hai ông đang quăng lưới còn hai ông kia đang vá lưới. Còn về lai lịch, nguồn gốc, bản tính, chỗ đứng trong xã hội và đền thờ, khả năng chuyên môn, trình độ học vấn của các ông thì chúng ta biết rất ít. Tuy nhiên, có một điều khiến chúng ta phải kinh ngạc đó là trong con người của Đức Giê-su tỏa ra một sức mạnh bí nhiệm thu hút các ông mà các ông không thể cưỡng lại được, cho dù các ông không hề biết Đức Giê-su sẽ dẫn các ông đi đâu.

Hơn thế nữa, dựa trên hoàn cảnh thực tế của xã hội mà các ông đang sống, chúng ta có thể nói nhóm môn đệ đầu tiên, đặc biệt là nhóm mười hai, các Tông đồ của Chúa, đều là những con người bình thường, sinh ra và lớn lên ở Ga-li-lê-a, một tỉnh thuộc phương Bắc của xứ Ít-ra-en. Trong khi đó thủ đô lại ở phía Nam, nơi đền thờ Giê-ru-sa-lem tọa lạc, nơi hàng ngũ các đấng các bậc sinh sống. Vì thế họ, dân phía Bắc bị coi thường và được xếp hạng như dân ngoài luồng. Thế mà họ lại được chọn. Đây không phải là một đặc ân dành riêng cho ai. Người muốn tất cả mọi người trở thành môn đệ. Bản chất của ơn gọi trở thành môn đệ của Chúa thì giống nhau, không phân biệt giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân. Tất cả đều được mời gọi tham dự vào công cuộc mở mang Nước Chúa.

Trên hành trình theo Chúa và nghe Người rao giảng có vô số người. Đa số là những người tội lỗi, bị áp bức, bị chà đạp, bị tẩy chay bởi những ai có quyền lực. Họ quá nghèo về tinh thần lẫn vật chất nên dễ dàng đón nhận lời mời và các thách đố của Đức Giê-su. Tuy nói như thế, nhưng khi gặp khó khăn không phải tất cả những ai theo Chúa đều kiên tâm ở lại với Chúa cả đâu! Hãy nhìn thái độ của họ trên đường khổ nạn của Đức Giê-su thì biết: chẳng còn vài người. Họ bỏ chạy hết chỉ còn lại vài người phụ nữ, nhưng các bà cũng chỉ đứng đàng xa để nhìn rồi khóc!

Còn những ai tự nhận mình là người công chính thì chúng ta không cần phải bàn! Họ quá giầu công đức. Công nghiệp đã choán hết chổ trong lòng làm cho họ kiêu hãnh, ung dung tự đắc. Từ đó mắt họ không còn mở ra được và tai họ cũng bị che lấp bởi những câu tán dương, ca tụng thành tích cho nên họ còn chỗ nào để nghe Lời Chúa đây. Mỗi khi đến với Chúa là một dịp để họ gài bẫy, bắt bẻ Chúa.  Họ thiếu thành tâm khi gặp Chúa. Họ âm mưu khi theo Chúa.

Sự khác biệt của hai nhóm này cũng dễ hiểu: như những nguời đau yếu cần đến thầy thuốc thế nào thì những người tội lỗi cần đến sự tha thứ của Chúa như thế. Còn người công chính, tự nhận mình là kẻ không có tội thì còn cần đến ai nữa.

Tuy nhiên, việc Thiên Chúa yêu thương người tội lỗi không có nghĩa là Ngài dung thứ tội lỗi. Cho dù Đức Giê-su yêu thương tội nhân nhưng Người rất ghét tội. Tình yêu và lòng nhân hậu của Người không miễn trừ việc nhìn nhận lỗi lầm của con người, cũng không cho phép con người lạm dụng lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã đến để giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Người thấu hiểu và thông cảm cho sự yếu đuối của con người và sẵn sàng tha thứ, nhưng con người phải thành thật nhìn nhận tội lỗi của mình và trở lại với Người.

Thưa anh chị em,

Nhìn nhận tội lỗi, bỏ đường gian ác mà trở lại cùng Chúa là sứ điệp mà Thiên Chúa đã dùng miệng ngôn sứ Giô-na nói cho dân thành Ni-ni- vê biết mà ăn năn. Thoạt đầu, Giô-na thoái thác, không dám nhận trách nhiệm còn tìm cách trốn tránh. Tuy nhiên, cuối cùng, trải qua bao gian nan, lịnh truyền của Thiên Chúa cũng được ông thi hành. Thiên Chúa đã chọn và dùng cách thức của Người để gửi Giô-na đến đúng nơi Chúa muốn. Lời tuyên cáo mà Chúa muốn dùng miệng Giô-na thật ngắn gọn, ông nói “còn bốn mươi ngày nữa, Ni-ni-vê sẽ bị phá đổ.” Câu này ẩn chứa lời mời dân chúng tại Ni-ni-vê hãy ăn năn. Kết quả là dân chúng đã trở lại, bỏ đường gian ác và Chúa bỏ ý định và không giáng phạt họ nữa.

Thấy hiệu quả của lời rao giảng quá dễ dàng và quá tốt khiến Giô-na bực mình. Ông ca thán và lý luận với Thiên Chúa rằng Người đâu cần sai ông đi, chỉ cần lòng từ bi và thương xót của Thiên Chúa quá đủ để cứu dân thành Ni-ni-vê rồi. Nghe tiếng than van của ông, Thiên Chúa đã dùng hình ảnh ‘sớm nở tối tàn’ của cây thầu dầu để nhắc nhở ông rằng cho dù ông đã thương hại cho thân phận ‘sớm nở chiều tàn’ của cây thầu dầu mà ông đã không vất vả vì nó, và không làm cho nó lớn lên. Còn Thiên Chúa, chẳng lẽ Người lại không thương xót và đối xử từ bi với dân chúng thành Ni-ni-vê khi chúng đã ăn năn hay sao! (Giô-na 4:10-11)

Như vậy chủ đề ơn gọi và lòng hối cải cũng được án chỉ trong bài đọc một. Chúa không chỉ mời gọi Giô-na tham gia sứ mạng mà còn ban cho ngôn sứ Giô-na một sứ điệp, đó là kêu gọi dân thành Ni-ni vê sám hối. Nhưng trong bài Phúc Âm hôm nay, bốn người được gọi mà không có bất kỳ một lời chỉ dẫn nào từ Chúa hết. Họ trước tiên cũng được mời sám hối và tin để bước vào một tương lai không nằm trong dự án của họ, hoàn toàn không chắc chắn và lẽ dĩ nhiên sẽ sinh nhiều lo ngại.

Bước đầu tiên mà cả hai bài đọc đều nhấn mạnh đó là tâm tình sám hối của người môn đệ cần có để đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa. Lòng sám hối này không xẩy ra một lần, nhưng phải lập đi lập lại từng giây từng phút trong sứ vụ. Càng gần Chúa, càng được trọng dụng bao nhiêu thì càng phải sám hối bấy nhiêu.

Và để đáp trả lời kêu gọi và trở nên môn đệ của Chúa, chúng ta phải sám hối, phải từ bỏ cuộc sống cũ, xếp lại các tham vọng, ích kỷ và những ước mơ cũ ở lại sau lưng; rồi tin vào Tin Mừng, chấp nhận theo Đức Giêsu và sống theo các huấn lệnh của Người. Các điều đó sẽ làm cho chúng ta xứng đáng trở nên môn đệ, thành viên của Nước Thiên Chúa.

Sám hối không chỉ là việc nhận ra mình có tội, xưng tội để hòa giải cho được sạch tội mà thôi; nhưng để tin vào Tin Mừng, nghĩa là tin vào lời giảng dậy, việc làm và lối sống của Đức Giêsu, Đấng sẵn sàng chia sẻ cuộc sống của Người với đời sống của ta, Đấng đã tiêu diệt quyền lực của sự ác trong ta, để nhường chỗ cho sự hiện hiện của Nuớc Thiên Chúa qua Đức Giêsu. Niềm xác tín này là một yếu tố quan trọng trong hành trình của môn đệ. Thiếu vắng nó thì cuộc sống của chúng ta cũng lâm vào cảnh “bị tắc nghẽn”, giống như trường hợp thiếu niềm tin của dân làng Nazareth trong lần Đức Giêsu về cố hương thăm họ.

Chúng ta không thể tách rời các yếu tố: sám hối, từ bỏ, tin, chấp nhận rồi theo Chúa thành các phần riêng biệt để thực hiện. Các yếu tố này xẩy ra cùng một lúc khi chúng ta đưa ra quyết định. Không ai khác có thể làm thay cho chúng ta. Không có việc từ bỏ trước rồi mới thành môn đệ sau. Không có việc hôm nay quyết định với một quyết tâm rõ ràng, rồi mai này khi gặp hoàn cảnh khó khăn sẽ làm tiêu hao nguồn năng lực, và việc dấn thân cho ơn gọi cũng bị suy giảm.

Thời gian chờ đợi, các thử thách trước mắt, sự yếu hèn có thể là nguyên nhân khiến cho lời cam kết mang đầy nhiệt huyết của những ngày đầu tiên bị bóp nghẽn và chết đi. Chỉ có nhờ quyền năng và sống trong sức mạnh của Chúa mới giúp chúng ta vực lại tính năng nổ, bầu nhiệt huyết để sống trung tín với các lời cam kết mà chu toàn sứ mạng của người môn đệ.

Sau cùng, anh chị em nhớ rằng: công việc của chúng ta không chỉ là việc ước nguyện cho Nước Cha mau đến, nhưng thật ra Nước Thiên Chúa đã hiện diện, đang tìm cách xâm nhập vào trái tim và biến đổi chúng ta thành những người môn đệ của Đức Giê-su. Vì vậy, hãy để cho các tiêu chuẩn của Nước Thiên Chúa hướng dẫn và chỉ đạo cuộc sống chúng ta. Hãy để cho tiếng gọi của Đức Chúa chuyển hướng, làm chủ và chiếm đoạt tâm hồn mình và từ đó chúng ta từ bỏ con người cũ, quên đi nếp sống tù túng của tội lỗi mà mặc lấy con người mới, con người hồng ân của Đức Ki-tô, Đấng kêu gọi và làm chủ cuộc sống của mình, những người môn đệ chân chính của Đức Chúa. Amen!

Tuesday, 12 January 2021

CHÚA GỌI.

 

Anh chị em thân mến,

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật tuần này xoay quanh chủ đề ơn gọi. Ơn gọi ở đây nhấn mạnh đến lời mời gọi của Thiên Chúa cho mọi tín hữu, những người được kêu gọi trở thành môn đệ của Chúa. Ai ai cũng được Thiên Chúa mời gọi tham dự vào công việc rao giảng của Chúa Kitô trong hoàn cảnh sống của mình. Có người được gọi sống bậc gia đình; có người được gọi sống độc thân để trở thành các bậc thầy hay trở thành giáo sĩ và tu sĩ. Nói chung ai cũng được mời gọi tham dự vào công việc mở mang Nước Chúa và ai cũng cần đáp trả.

Bài đọc thứ nhất kể lại việc Chúa gọi Sa-mu-en nhưng cậu không hiểu ai đang gọi mình. Mỗi lần nghe thấy tiếng gọi, Sa-mu-en lầm tưởng là Thầy Ê-li gọi, nên mỗi lần nghe thấy tiếng gọi vang lên, cậu đã chạy đến bên Thầy để trả lời. Cuối cùng Thầy Ê-li đã ghép mọi chi tiết lại với nhau và với tư cách là người cố vấn tinh thần, hướng dẫn linh đạo, thầy đã giúp Sa-mu-en nên biết trả lời như thế nào. Thầy đã góp ý cho Sa-mu-en câu trả lời thật tuyệt vời như sau: “Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe”. Và từ đó, Thiên Chúa ở cùng Sa-mu-en. Phần cậu, cậu đã không để rơi mất lời nào của Chúa mà không sinh hoa trái khi trở về với Người.

Và, trong bài Tin Mừng hôm nay, để mời gọi, Đức Giêsu hình như không nói trực tiếp. Người chỉ trả lời cho nỗi khát vọng tìm kiếm khi hỏi những ai đi theo Người rằng “các ông tìm gì?” Thật là một điều ngạc nhiên cho chúng ta khi nghe họ hỏi lại: “Thầy ở đâu?” Câu hỏi của họ có thể hiểu theo nghĩa bình thường là ám chỉ đến nơi cư ngụ của Đức Giêsu. Nhưng, theo nghĩa của Tin Mừng, thì câu hỏi này còn có thể quảng diễn như: Chúng tôi sẽ gặp Thầy ở đâu? Làm thế nào chúng tôi có thể gặp Thầy để được biến đổi? Làm thế nào chúng tôi có thể tiếp cận và chia sẻ cuộc sống với Thầy?

Đứng trước yêu cầu chính đáng của họ, Đức Giêsu không trả lời trực tiếp câu hỏi của họ; Người lại mời họ “Hãy đến mà xem”. Chúa không chỉ cho họ đi đến đâu và xem cái gì? Người chỉ nói “Hãy đến mà xem”. Câu nói này ám chỉ đến cuộc gặp gỡ sống động và riêng tư. Đức Giêsu không trao cho họ một mớ tín điều, yêu cầu họ phải sống theo một vài tiêu chuẩn luân lý của Giáo Hội. Người kêu gọi họ thiết lập và xây dựng mối dây hiệp thông với Người. Phần những kẻ theo Người, họ không được phép đóng vai như những người đứng bên lề, như những quan sát viên. Họ cần dấn thân, chia sẻ cuộc sống và buớc đi với Người, cùng Nguời đi trên các nẻo đường khác nhau mà đến với mọi người.

Như vậy, qua lời chứng và lời giới thiệu của Gio-an Tẩy Giả về Đức Giêsu mà các môn đệ của ông đã bước vào nhà của Người, đi sâu vào trong mối dây thân tình với Đức Chúa. Họ đã để cho chúng ta một bài học là những ai muốn biết Đức Giê-su ở đâu thì phải nhận ra lời mời gọi của Người, rồi đáp trả bằng cách đến với Người. Chúng ta hãy đến rồi sẽ thấy!

Tiến trình của việc tìm kiếm, đón nhận và đáp trả này không thể xẩy ra trong một giây một phút; nhưng đó chính là hành trang của cả đời kiếm tìm. Đến rồi gặp, gặp rồi lại nhớ. Vòng tròn gặp rồi lại nhớ, nhớ rồi phải gặp cứ thế thôi thúc khiến chúng ta đã nhớ lại càng nhớ thêm và cứ như thế tình của Chúa càng gặp càng cắm rễ sâu đậm hơn trong cuộc sống của chúng ta, những người môn đệ của Chúa.

Thưa anh chị em,

Dựa trên kinh nghiệm sống và các chia sẻ của anh chị em, chúng ta nhận biết rằng mối dây hiệp thông của chúng ta với Đức Giê-su không chỉ dựa trên các tiêu chuẩn như tin tưởng, thành thật, cởi mở và đón nhận mà thôi, nhưng nhất là cần lắng nghe bằng trái tim vì cuối cùng Lời mà Đức Giê-su giao tiếp với chúng ta là chính bản thân Người. Khi chúng ta lắng nghe Người, gặp Người rồi thì cuộc sống của chúng ta sẽ thay đổi. Bởi vì Chúa không truyền đạt sự kiện, tin tức hay dữ kiện mà Người truyền ban cho chúng ta chính bản thân Người, tình yêu của Chúa, sự sống và lòng thương xót của Chúa. Và khi chúng ta cho phép mình lắng nghe Lời mời gọi của Chúa, để cho tình yêu và lòng thương xót của Chúa chạm vào chúng ta, tức khắc chúng ta sẽ biến đổi.

Thật vậy, Thiên Chúa có trăm phương nghìn cách để nói với con người. Mỗi người là một cá thể riêng biệt. Và có bao nhiêu cá thể thì có bấy nhiêu cách qua đó Thiên chúa không ngừng dùng để tiếp cận với ta. Và có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu vì sao Thiên Chúa dùng để soi dẫn mở đường cho ta nhận biết và vâng nghe tiếng Ngài.

Cách thức của Thiên Chúa thật diệu kỳ và khó hiểu. Có nhiều trường hợp con người phải kinh qua những đau khổ, những mất mát và đổ vỡ rồi mới nhận ra tiếng Chúa. Như trường hợp của hai anh em mà chúng ta thường được nghe trong Tin Mừng của thánh Luca. Người con thứ trải qua trăm cay nghìn đắng mới nhận ra ý Chúa. Còn ông con cả thì thế nào? Anh chưa bao giờ làm trái lịnh cha. Anh sống trong khuôn mẫu, kích thước của chính anh. Cuộc sống của anh quá êm đềm; êm đềm đến độ anh cũng chẳng cần biết người khác nghĩ gì về anh, và anh cũng chẳng thèm nghĩ đến nhu cầu của người khác. Phải chăng anh chỉ là ‘một xác chết biết đi’. Nhưng mọi sự đều đổi khác khi em anh trở về. Quả thật, anh không có trách nhiệm gì về sự sai lầm của chú em. Nhưng với sự đỗ vỡ của chú ta, qua đó Thiên Chúa dùng để đánh thức anh! Nếu muốn sống thật mối tương quan cha con, anh cần chọn lựa một lối đi mới. Một lối đi khác hẳn lối đi cũ. Lối đi không bị bao vây bởi giáo điều và kinh kệ. Nhưng được phát xuất từ mối dây liên kết giữa anh và Cha.

Phần chúng ta cũng thế. Chuyện mà chúng ta cần bàn ở đây không phải là chọn lựa bậc sống này và coi thường lối sống kia. Nhưng đâu là động cơ thúc đẩy cho việc chọn lựa lối sống của mình? Điều này rất quan trọng; thiếu nó mọi công việc của chúng ta làm chẳng còn giá trị gì; thiếu nó cuộc sống của chúng ta cũng chỉ là thanh la phèng phèng và chũm chọe xoang xoảng. Đó là điều mà thánh Phao-Lô đã nhận lãnh và Ngài cũng muốn truyền lại cho chúng ta bí quyết căn bản và quan trọng đó: “Giả như tôi có nói được thứ tiếng của lòai người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi… Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.” (1 Cor.13:1-13)

Như vậy, để khám phá ra ý định của Thiên Chúa, chúng ta cần sống mật thiết với Người. Chính trong sự kết hợp của tình yêu này chúng ta sẽ được giải thóat để sống với điều đôi khi không giống với sự kỳ vọng của đám đông. Nhưng, chắc hẳn một điều là quyết định hay chọn lựa phát sinh từ lòng yêu mến của chúng ta với Chúa và dĩ nhiên điều đó rất phù hợp với ý Chúa, Đấng không ngừng yêu mến, họat động và cùng ta dấn bước.

Và nếu chúng ta cưỡng lại ý Chúa thì những lời Chúa đã phán cho Phê-rô khi xưa cũng là những điều Người sẽ nói với chúng ta: “Xa tan, lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của lòai người.” (Mc 8:33b) Vì thế, mọi chọn lựa sống theo ý Chúa đều đòi buộc lòng can đảm, vị tha và trên hết mọi sự là lòng yêu mến của chúng ta với lối sống đó.

Tóm lại, Thiên Chúa thăm viếng và nói với ai lắng nghe Người. Thiên Chúa còn dùng những con người đang sống cùng thời với ta giúp ta nhận ra tiếng của Người. Cụ thể, trong các bài đọc hôm nay, chúng ta đã nhìn ra hai gương mẫu giúp người khác nhận ra ý Chúa. Thầy của Samuel đã giúp cho cậu nhận ra và đáp trả lời mời của Chúa. Các môn đệ của Gio-an cũng thế, nhờ lời giới thiệu của Thầy mà họ nhận ra Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a rồi đi theo Người. Họ là những người thầy về mặt tâm linh, hướng dẫn và giúp chúng ta nhận ra ý của Chúa mà đáp trả. Chúng ta biết ơn họ.

Hơn thế nữa, qua mầu nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa vì yêu thương đã ẩn mình trong những từ ngữ và tiếng nói của con người. Vì thế, trong cuộc sống, chúng ta cần mở ra để đón nhận nhau vì ai cũng được Thiên Chúa dùng để sinh ích lợi cho người khác. Thật vậy, không ai có thể nghe được Thiên Chúa nếu người ấy tự khép mình lại, sống cô độc, xa lánh người khác. Và, cho dù chúng ta biết rằng Chúa không hề ép buộc ai. Tuy nhiên, những ai đã nghe lời Chúa thì không thể cưỡng lại ý Chúa được.

Sống với Đức Giêsu, chia sẻ mối thâm tình của Người sẽ đem đến cho ta niềm vui, để rồi lại đến lượt chúng ta là những chứng nhân mời gọi người ta đến chia vui với mình. Vẫn biết bổn phận của người môn đệ là như thế, nhưng liệu chúng ta có dám nói với những người trong cộng đoàn, xóm giáo, gia đình của chúng ta là hãy đến mà xem cuộc sống của chúng ta rồi qua đó họ sẽ thấy Chúa không?

Thật sự, đây là một thách đố cho chúng ta là các môn đệ của Chúa, không phân biệt giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân. Tất cả đều được mời gọi để sống thân tình với Chúa và với kinh nghiệm sống thân mật với Chúa, chúng ta sẽ can đảm tuyên xưng rằng: Hãy đến mà xem chúng tôi, những người môn đệ của Chúa Cứu Thế, yêu mến nhau đến dường nào. Amen!

Tuesday, 5 January 2021

KHỞI ĐẦU HÀNH TRÌNH THEO CHÚA


Anh chị em thân mến,

Trong thời gian qua chúng ta đã mừng kính mầu nhiệm “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” qua thân phận của một hài nhi trong Lễ Giáng Sinh và Lễ Hiển Linh. Ngày hôm nay, qua việc dìm mình trong nước tại dòng sông Gióc-đan, Đức Giê-su hoàn toàn đi vào thế giới của chúng ta. Người hòa nhập vào lớp tội nhân và nên một giữa chúng ta. Giữa Người và chúng ta không còn một rào cản nào. Đức Giê-su không chôn mình trong hoang địa, không xa lánh thế trần, nhưng là người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.

Qua hành động dìm mình vào trong nước hôm nay, Đức Giê-su đã chứng tỏ cho chúng ta thấy tình thương và sự hiệp thông mà Người đem đến. Đức Giê-su đã nên một với con người, và mời gọi chúng ta trở thành một với Người, trong cùng một phép rửa mà Người sẽ trải qua và ban cho chúng ta sau này.

Biến cố Đức Giê-su đón nhận phép rửa bởi Gio-an tẩy giả hôm nay không phải là bí tích rửa tội mà Đức Giê-su có ý định thành lập bởi máu của Người, đem đến cho chúng ta ơn tha tội. Phép rửa của Gio-an giục lòng sám hối. Chính vì điểm này, sẽ có một vài ý nghĩ cho rằng tại sao Đức Giê-su lại đón nhận phép rửa. Việc này chỉ dành cho những người tội lỗi thôi. Cho dù Đức Giê-su đã trở thành người phàm giống chúng ta mọi sự, hẳn nhiên ngoại trừ tội lỗi. Không có tội thì tại sao Đức Giê-su lại để cho Gio-an tẩy giả rửa.

Dù vô tội, Đức Giê-su cũng nhập đoàn với những kẻ đang nghe lời giảng dậy và chịu phép rửa của Gio-an tại bờ sông Gióc-đan. Phép rửa mà Gio-an đã cử hành như là dấu chỉ bộc lộ lòng sám hối, ăn năn và hoán cải để được ơn tha tội. Đức Giê-su đón nhận phép rửa không phài vì Người cần được rửa để được sạch tội, nhưng vì phép rửa này sẽ nối kết người với nhân loại, với cộng đồng tín hữu. Đó là dấu chỉ nói lên tình liên đới, một hành động nhân bản của Con Thiên Chúa, Đấng đã từ bỏ hầu như mọi sự để hòa nhập với con người thời đó.

Phép rửa của Gio-an cũng không nhằm để tha tội nguyên tổ như phép rửa mà chúng ta đã lĩnh nhận bởi sự chết của Đức Giê-su, nhưng qua phép rửa này, Đức Giê-su muốn đắm chìm trong vũng lầy do bản tính nhân loại mà chúng ta gây ra, luôn đi ngược lại ý muốn của Thiên Chúa. Tuy thế, Người không bị chìm đắm để bị đắm chìm trong vũng lầy đó, nhưng Người cất nhấc những con người tội lỗi lên khỏi đống bùn lầy đó và mặc cho họ bộ áo thần thiêng của Con Thiên Chúa.

Thưa anh chị em,

Sau khi đón nhận phép rửa bởi Gio-an, và lúc Đức Giê-su vừa bước từ dưới nước lên thì tầng trời mở ra, Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống và ngự xuống trên Người và có tiếng xác nhận của Chúa Cha phán rằng: Thiên Chúa rất hài lòng về việc làm của Người, Con yêu dấu của Cha.

Các yếu tố nước, Thần Khí và tiếng nói của Cha hiện diện trong phép rửa mà Đức Giê-su lĩnh nhận bởi Gio-an hôm nay gợi lại cho chúng ta trình thuật sáng tạo. Lúc đó cũng có nước, Thần khí Thiên Chúa bay lượn trên nước và có tiếng phán của Thiên Chúa hãy có vũ trụ thì liền có như Lời Chúa phán. Phải chăng, qua phép rửa hôm nay, Đức Giê-su muốn nhắc nhở chúng ta về chương trính sáng tạo của Thiên Chúa được khai mạc bởi Đức Giê-su, người Con mà Thiên Chúa rất yêu mến.

Thật vậy, trật tự mà Thiên Chúa đã tạo dựng đã bị đảo lộn và phá hủy bởi sự bất tuân của con người. Hôm nay, một nền trật tự và công trình sáng tạo mới được khai mạc nơi sự vâng phục của Đức Giê-su. Người khai mạc sứ vụ cứu độ bằng phép rửa tại sông Gióc-đan, bắt đầu một thời đại mới, thời đại của ân sủng. Trong đó, con người được tặng ban những ơn cần thiết. Như một phàm nhân, Đức Giê-su đã phục hồi phẩm giá của con người. Mọi người đều được tôn trọng và đối xử thật công bằng. Ai ai cũng cảm nhận được tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa. Một nền hòa bình vĩnh cửu được hiển trị nói lên triều đại công chính của Thiên Chúa đã hiện diện nơi sứ vụ mà Đức Giê-su khai mạc qua phép rửa của Gio-an hôm nay.

Tâm tình của Đức Giêsu khi cịu phép rửa hôm nay là tâm tình phó thác, bất chấp mọi đối kháng. Cho dù bị chối bỏ hay phải đối diện với thù địch từ bất cứ nơi đâu, Người vẫn kiên trì đến cùng đích. Quả thật là thế. Cả vào lúc, chừng như Người bị huỷ hoại và tận cùng bằng cái chết khổ nhục, Người vẫn nối kết, hài hoà cả triệu triệu người, thuộc mọi thế kỷ chung quanh Người. Công cuộc cứu độ của Người đã giải thoát hết mọi người chúng ta, không phân biệt giới tính, địa vị, sang giầu nghèo hèn, đưa ta về chốn tự do, trả lại cho ta vinh dự và bổn phận của những người làm con cái của Thiên Chúa. Đó chính là ý nghĩa đích thực của sự kiện “Chúa chịu thanh tẩy” bởi Thánh Thần. Đó, là “bài sai” Cha uỷ thác dành riêng cho Chúa.

Cử hành lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa hôm nay còn là cơ hội để ta suy tư về chính ơn thanh tẩy mà ta lĩnh nhận. Đây không là nghi thức công nhận ta trở thành người theo Chúa. Nhưng, là khởi đầu của một hành trình trải dài trong cuộc sống.  Trong bí tích rửa tội chúng ta được mời gọi bước vào một hành trình không có đoạn kết. Phép rửa mời gọi ta dấn bước theo chân Chúa. Vì thế, chúng ta quyết tâm canh tân, làm mới điều chúng ta tin và mạnh dạn làm chứng hành trình theo Chúa của chúng ta. Có nghĩa là trên hành trình đó, chúng ta chỉ mong ước thưc hiện ý Chúa mà thôi.

Tóm lại, theo Chúa, hợp tác với Chúa trong việc đem tin vui đến cho người khác là sứ vụ mà chúng ta cần được hâm nóng trong Thánh lễ chịu phép rửa hôm nay, đánh dấu ngày khai mạc sứ vụ của Đức Giê-su, Đấng đã đến dìm mình dưới nước của dòng sông Gióc-đan để kéo chúng ta lên và bước đi với sứ vụ của Người luôn mãi. Amen!