Friday, 16 March 2018

HẠT GIỐNG ĐI VỀ ĐÂU?



Kính thưa quí cụ, quí ông bà và anh chị em,

Trong bài Tin Mừng tuần trước, Thánh Gio-an đã diễn tả cho chúng ta biết về Tình yêu của Thiên Chúa như sau Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. Có người cho rằng đây chính là toát yếu của toàn bộ Tin Mừng và cũng là trọng tâm của đời sống tín hữu.

Chúng ta còn được mời gọi suy gẫm và thực thi giao ước Tình Yêu này trong cuộc sống. Tình yêu là cho đi, là ban phát. Thật vậy, Đức Giê-su là quà tặng của Thiên Chúa cho nhân loại. Người đã đến để làm chứng cho Tình Yêu, không bằng chữ viết hay ngôn từ, nhưng còn bằng chính cuộc sống của Người. Cả cuộc đời của Người hướng về đích điểm đó, đích điểm diễn tả một cách thật cụ thể Tình Yêu Của Thiên Chúa, mà hôm nay theo Tin Mừng của Thánh Gio-an gọi là ‘giờ’.

Trong khi thi hành sứ vụ, bao nhiêu người đã ngộ nhận về mục tiêu, đích điểm, giờ của Đức Giê-su; nhưng Người luôn luôn nói: “Giờ Ta chưa đến”. Giờ mà Đức Giê-su đã tiên báo lần đầu tiên, khi xuất hiện trong tiệc cưới tại Cana. Giờ mà Người đến để Chúa Cha thành toàn và tôn vinh. Nhưng, trước tiên ngay bây giờ và cũng như trong mọi khoảnh khắc của sứ vụ, Người cần vâng phục trọn vẹn ý định của Chúa Cha. Nói như thế có nghĩa là mọi cử chỉ của Người, mọi thái độ và cách hành xử của Người đều hướng về giờ đó. Đức Giê-su ý thức và biết rất rõ các việc Người làm dẫn Người đến cái chết. Nhưng cũng chỉ vì việc này mà Người đã đến.

Thật là hào hùng và can đảm cho ai biết rõ việc mình làm sẽ đem đến tai họa cho bản thân; nhưng vì lợi ích của người khác mà Người vẫn hân hoan thực hiện chỉ để làm chứng rằng Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài cho chúng ta được sống.

Và trong bài Tin Mừng hôm nay, Người cuối cùng cũng phải xác định giờ đó sắp diễn ra. Người muốn nói ở đây là giờ nào vậy? Và, làm thế nào tâm tình của chúng ta có thể biến chuyển từ quan điểm cho rằng đó là thời điểm của thất bại. Tệ hại hơn, người ta còn coi như đó là giây phút của ô nhục và đáng khinh miệt. Nói theo ngôn ngữ hiện đại thì làm sao chúng ta có thể nhìn nhận giờ chết của một người sắp bị hành hình trên ghế điện hay là bị xử tử lại có thể là giây phút đem lại vinh quang cho người đó. Lối suy nghĩ và đặt vấn đề như thế cũng không xa lạ gì với cách nhìn vấn đề về cái chết trên Thập Giá của những người cùng thời với Đức Giê-su. Đó là án chết dành cho các tử tội. Đức Giê-su không nằm chết giữa hai cây nến trên bàn thờ; nhưng là treo trên thập giá giữa 2 tên trộm cướp, nằm trên một ngọn đồi đầy sọ người mà người ta gọi là núi sọ.

Chết như thế mà dám gọi là vinh quang hay sao? Để đáp trả cho câu hỏi này, Đức Giê-su như một vị thầy khôn ngoan, Người đã không tiếp tục giải thích về sự nối kết giữa ‘giờ vinh quang’ và cái chết mà Người sắp đón nhận. Người dùng ví dụ mà người đương thời hay những ai có kinh nghiệm trong việc trồng cấy điều hiểu ngay điều Chúa muốn nói: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.”

Ý nghĩa của ví dụ về sự phát triển của hạt giống trở nên rõ nghĩa hơn khi Đức Giê-su nhấn mạnh đến việc yêu thương và hy sinh cuộc sống mình vì lợi ích của người khác. Ai trong chúng ta cũng có trải nghiệm này là sống cho bản thân, chỉ lo cho mình là một lối sống tự diệt. Một Tình Yêu chỉ được thăng hoa khi người đó dám yêu và dám sống cho người khác. Tuy đó là hy sinh nhưng sự hy sinh đó là việc cần thiết vì nó đem lại ích lợi cho tha nhân. Cho nên đó là một lối sống giầu có và được thăng hoa để có thể chạm đến nguồn suối yêu thương của Thiên Chúa. Tất cả những điều đó đã được thể hiện qua cuộc sống từ bỏ, chấp nhận trong hân hoan để được chết đi, trở thành bánh hằng sống nuôi dưỡng những ai đang đói khát nguồn ơn cứu thoát. Thật, đúng như thế, vì Thiên Chúa đã không sai Con của Ngài đến để luận tội và xét xử thế gian, nhưng nhờ Con của Ngài mà thế gian được cứu thoát.

Như vậy, thưa anh chị em,

Qua tấm lòng vâng phục, ngay cả sự chết cũng không làm Đức Giêsu chùn bước; cho nên Thiên Chúa đã siêu tôn Người vượt lên trên mọi sự. Nhưng, sao mà Đức Giê-su có thể vượt qua mọi sự, ngay cả nỗi cô đơn, vuợt qua muôn vàn thử thách, ngay cả sự chối bỏ của những người bạn cùng đồng hành với Người, để trung thành và chấp nhận sự chết như thế? Chỉ có một câu trả lời xác đáng rằng sức mạnh mà Đức Giê-su có được, hoàn toàn phát sinh từ mối dây hiệp thông mật thiết với Chúa Cha, chỉ muốn làm hài lòng Cha. Có nghĩa là cái chết của Đức Giê-su cho thấy tình yêu vô biên của Thiên Chúa trong Người, bởi vì Người sống hoàn toàn cho Chúa Cha và hoàn toàn cho thế gian.

Còn một điều khác vừa kỳ diệu vừa thách thức bản thân khi chúng ta lại được nghe qua môi miệng của Chúa, Đấng sẵn sàng nối kết cái chết của chính Người vào với sự chết của mỗi người chúng ta. Vẫn biết rằng sự chết của Đức Giê-su chỉ một lần là đủ lắm rồi; nhưng không vì thế mà Chúa chỉ muốn chết một mình. Bởi vì, qua sự chết Người không bị biến mất nhưng thấm vào lòng đất để thông chia sự sống cho các hạt giống khác. Người tha thiết mời gọi chúng ta cùng tham dự vào sự chết của Người, như những hạt giống mà Thiên Chúa đã gieo trồng cần bị mục nát, cần chết đi để sinh hoa lợi cho người khác. Và như thế, chỉ những ai kết hiệp với Người khi phục vụ thì sẽ được Thiên Chúa chấp nhận và cho phép chia sẻ vinh quang với Con của Ngài sau này.

Đây là giây phút cao quí nhất của những ai theo và noi gương để chết đi như Đức Giê-su. Đây là giây phút tập trung lại tất cả những gì Đức Giê-su đã thực hiện khi còn sống và đuợc tiếp tục qua lối sống tự hạ của chúng ta là những người sẵn sàng chấp nhận mất đi cho nhau được sống. Như Đức Giê-su, cuộc đời của chúng ta cũng được dẫn đưa đến giây phút được tôn vinh với Chúa.

Và trong tâm tình đó và cũng để kết thúc, tôi xin mời anh chị em cùng nhìn về một vài gương sáng.

Trước hết là cuộc đời của mục sư Martin Luther King. Ông là một con người đã dùng cả cuộc đời để tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da đen; và sau cùng, ông đã bị ám sát chết vào ngày 4 tháng 4 năm 1968. Trước cái chết vô cùng tang thương, trước sự mất mát thật to lớn của nhân loại; có ai trong chúng ta dám nói lúc ông bị ám sát là giây phút vinh quang của đời ông? Hay là chúng ta chỉ biết than khóc cho một con người đã hết lòng vì người khác. Đây phải chăng là một sự thảm bại mà ông phải chịu khi dám đứng ra để chống lại một thế lực quá lớn không hỗ trợ cho phép người da đen được bình đẳng.

Tuy nhiên, ngày hôm nay sau 50 năm, chúng ta đều nhận ra một điều là qua sự chết, ông đã đạt được giấc mơ đem lại quyền bình đẳng giữa người da mầu và da trắng. Đó chính là giây phút vinh quang mà ông muốn nhắm đến. Qua sự chết, ông đã truyền sức sống cho những hạt giống ở các thế hệ kế tiếp.

Qua sự chết của cố mục sư Martin Luther King làm chúng ta nhớ lại cái chết của vị cha già dân tộc Ấn là Mahatma Gandhi. Người ta cũng không thể quên cái chết của linh mục dòng Phan-xi-cô, cha Maximilianô Kônbê đã tình nguyện chết thay cho người bạn tù. Hoa quả của cái chết mà Ngài để lại là tình thân ái, yêu thương và chia sẻ của những người bạn tù còn sống sót trong trại giam. Ai cũng cảm phục và muốn noi gương vị Linh mục dòng Phanxicô, đã hy sinh mạng sống để cứu một người anh em.

Đó là những mẫu gương phi thường đòi hỏi một cố gắng đem đến kết quả cũng phi thường. Nhưng đối với chúng ta, hãy nhìn vào cuộc sống gia đình, chúng ta vẫn nhận ra rằng còn có những người cha và mẹ sẵn sàng hy sinh bản thân, chấp nhận là người thua cuộc chỉ vì họ yêu con cái của họ và người bạn đời hơn yêu chính bản thân.

Còn bao nhiêu người đang âm thầm chết để bộc lộ tình yêu và gầy dựng tương lai cho các thế hệ mai sau. Trong Chúa, họ rất đáng được ca ngợi và tôn vinh.


Friday, 9 March 2018

TIN CHÚA, YÊU CHÚA, SỐNG VỚI CHÚA




Kính thưa quí cụ, quí ông bà và anh chị em,

Chủ đề chính của bài Tin Mừng hôm nay là Lòng Mến hay còn được gọi là Tình yêu của Thiên Chúa. Đây vừa là trọng tâm của Tin Mừng mà Đức Giê-su đem đến và cũng là bản chất của Thiên Chúa.

Vẫn biết Tình Yêu là trọng tâm của cuộc sống và chỉ có ai ở trong nguồn suối yêu thương của Thiên Chúa thì mới có thể tìm được hướng giải quyết cho những vấn nạn, tìm ra những giải pháp cho các bất hạnh và khổ đau của kiếp con người.

Nhưng, trong mấy ngày qua, khi suy tư về chủ đề này, lòng tôi cảm thấy thật chua xót khi nhớ đến các nạn nhân của các vụ lạm dụng. Họ đã trao mối tình, phó thác cuộc sống cho những người mà họ hết lòng tin tưởng, để rồi chính họ lại trở thành nạn nhân bị lạm dụng. Họ được lại những gì: Phải chăng là một con tim tan nát? Phải chăng hành trình còn lại của họ chỉ là những mảnh vụn của đổ vỡ? Trong cơn đau khổ dường như không thể chịu đuợc như thế, có một số người không tìm được lối thoát. Chỉ muốn được giải thoát để cho cuộc sống tinh thần và thể xác của họ bớt đau hơn!

Còn chúng ta, làm thế nào để diễn tả cho họ thấy được Tình Yêu và lòng bao dung của Thiên Chúa?

Giả như, họ nhận ra rằng họ không phải là những người đau khổ nhất. Trên thế gian này còn bao nhiêu người đang chịu nhiều cảnh tai ương khác nhau. Đau khổ vẫn là người bạn không mời mà vẫn đến trong cuộc đời chúng ta. Không ai có thể tránh thoát được.

Một điều kỳ diệu mà chúng ta cần khám phá là Thiên Chúa đã không yêu chúng ta bằng quyền năng. Ngài làm được mọi chuyện. Nhưng Ngài lại chọn cách yêu thương chúng ta bằng cách từ bỏ ngôi vị đồng hàng với Thiên Chúa, trút bỏ năng quyền chấp nhận nỗi đau khổ và trở nên giống hệt chúng ta để đi vào thế gian này. Đây chính là tin vui cho tất cả mọi người: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban chính Con một mình, để tất cả những ai tin vào Con Ngài thì được sống đời đời. Bởi vì Thiên Chúa không sai Con của Ngài giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con Ngài mà được cứu độ”. Tin vui trọng đại này đã được diễn tả một cách thật trọn vẹn qua sứ vụ và cuộc đời vâng phục của Đức Giê-su.

Thật ra để chuẩn bị cho dân chúng đón nhận được mầu nhiệm cao cả này, Thiên Chúa đã chọn một dân tộc để bộc lộ sự quan tâm, săn sóc và thương yêu của Ngài cho đám dân đó.

Đúng vậy! Tình yêu của Thiên Chúa không phải là mớ giáo thuyết, cũng không lệ thuộc vào các trải nghiệm của con người. Nhưng, tất cả đều có thể được kiểm chứng qua các biến cố lịch sử; trong đó con người có thể nhận ra bàn tay can thiệp của Thiên Chúa. Một cách cụ thể, trong bài đọc 1 mà chúng ta nghe hôm nay. Với thái độ bao dung và nhân từ của Vua Ky-rô, người đã cho phép dân Israel được hồi hương, trở về tái thiết xứ sở, và việc đầu tiên là việc xây dựng lại Đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Qua hành động của Vua Ky-rô này, dân Do Thái và chúng ta nhận ra lòng yêu thương của Thiên Chúa được tỏ hiện trong viêc Ngài đã can thiệp để cứu thoát dân riêng của Ngài.

Nhìn chung lại lịch sử Israel, chúng ta nhận ra việc Thiên Chúa đã bầy tỏ cho dân Do Thái thấy tình yêu của Ngài như thế nào:

Vì yêu thương, Ngài đã cứu họ khỏi cảnh nô lệ bên Ai cập, dẫn họ tiến về Đất hứa. Đến khi gặp một vài thử thách trong Sa Mạc, họ chẳng còn nhớ đến ơn Ngài, lại còn đòi quay về Ai cập, cho dù ở nơi đó họ bị đối xử khắc nghiệt như những kẻ nô lệ, nhưng lại có thịt để ăn; bây giờ được tự do, ở sa mạc lại lâm vào cảnh chết đói. Dân chúng mọi thời vẫn thế. Được voi đòi tiên. Đến với Thiên Chúa theo ước muốn của riêng mình. Đến khi gặp thử thách thì lại trách móc. Tuy nhiên, Thiên Chúa của chúng ta luôn trung tín, không bao giờ thất hứa. Ngài ban cho họ Man-na để khỏi bị chết đói, cho họ nước uống để khỏi chết khát.

Sau khi được no nê và không bị chết khát, họ lại nổi loạn đòi giết chết cả ông Mai-sen. Với thái độ bất trung và phản bội như thế, một hiện tượng đã xẩy ra cho dân, đó là biến cố rắn lửa bò ra cắn chết một số người trong họ. Trong nguy cơ đó, họ mới biết sợ và năn nỉ tổ phụ Mai-sen xin Chúa cứu họ. Chúa dạy ông Mai-sen làm một con rắn bằng đồng treo lên cao. Ai nhìn lên con rắn đồng mà sám hối thì sẽ được cứu khỏi chết.

Con rắn đồng ở đây như là hình ảnh của Tình Yêu, quan tâm, chăm sóc. Đó là dấu chỉ của một con tim biết yêu thương, luôn tha thứ và mở rộng để đón nhận tất cả.

Sau khi nhắc lại về sự tích con rắn đồng, Đức Giêsu kết luận: “Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Ngài, được cứu độ”. Nghĩa là Thiên Chúa chỉ biết thương và muốn cứu, chứ không bao giờ muốn lên án hay trừng phạt ai cả. Chỉ có con người tự lên án và tự trừng phạt mình.

Thiên Chúa luôn yêu thương, kiên tâm chờ đợi việc quay về nẻo chính đường ngay của con người. Các câu chuyện trở về được kể lại trong Sách Thánh cho chúng ta thấy rằng: Khi trở về, Thiên Chúa không kể lể các hành vi bất trung của con người. Trở về với giao ước để đầu phục Ngài là Thiên Chúa duy nhất và chúng ta là thần dân của Ngài là đủ rồi. Về trong nhà của Thiên Chúa, con người sẽ tìm thấy tất cả những gì đã đánh mất trong thời gian đi hoang.

Anh chị em thân mến,

Vẫn biết là Đức Giê-su đã hoàn tất dự án của Thiên Chúa, đã bộc lộ cho thế gian nhận biết Tình yêu của Thiên Chúa dành cho thế gian đến dường nào. Nhưng, tất cả những gì mà Đức Giêsu đã làm, thì Người chỉ làm có một lần duy nhất, nhưng hiệu quả kéo dài đến mọi nơi mọi thời. Chúng ta không có mặt cùng thời với Chúa Giêsu, nhưng không vì thế mà lợi ích của chúng ta lại thua kém những người cùng thời với Người.

Thật ra, họ cũng giống như chúng ta, phải chờ đến ánh sánh Phục Sinh, nhất là dưới quyền năng tác động của Chúa Thánh Thần rồi mới nhận ra, nơi Người ơn cứu độ chứa chan cho những ai Tin vào Đức Giê-su. Như thế, Đức Tin là một việc làm đáp trả hồng ân không chỉ bằng lời nói, nhưng qua cách sống, một lối sống hoàn toàn phụ thuộc vào quyền năng của Đức Ki-tô, mà với lòng tin, chúng ta tôn vinh Người là CHÚA.

Thật đúng như lời bảo đảm của Chúa nói hôm nay: “Ai tin thì sẽ không bị lên án, còn ai không tin sẽ bị kết án.” Những người không tin không bị kết án bởi Thiên Chúa, mà chính họ tự kết án chính mình bằng thái độ ngoan cố, bướng bỉnh, chỉ muốn tự mình làm chủ và loại trừ Chúa ra khỏi cuộc sống của họ.

Nhưng, với trải nghiệm trong cuộc sống, anh chị em đều hiểu rằng lòng tin cần được chứng tỏ bằng việc làm của mình, như lời của Thánh Gia-cô-bê: “Đức tin không việc làm là đức tin chết.” Nghĩa là một đức tin đúng nghĩa phải được biểu lộ trong cuộc sống của một con người đến để phục vụ.

Nói cho cùng thì Tin rồi Yêu và càng yêu thì càng tin. Đó chính là lối sống của người môn đệ. Chúng ta không bộc lộ, không diễn tả tình yêu của riêng mình. Nhưng, tin tưởng vào sự hiện diện của Chúa trong mọi tình huống, trong mọi giai đoạn, ngay cả những lúc yếu đuối nhất… để mà bước đi và quảng bá cho thế gian biết rằng Tình yêu của Chúa vẫn trường tồn trong lối sống của mình.

Thật vậy, trong thân phận của những người môn đệ, chúng ta hãnh diện và xác tín rằng: chỉ có tình yêu mới làm cho con người luôn sống trong hy vọng về một tương lai tươi đẹp hơn những gì mà chúng ta, cùng với toàn thể Giáo Hội - kẻ có tội hay không có tội đều thuộc về Thân Thể Chúa - đang đối diện.

Tình yêu luôn mở ra các cơ hội để con người đến với nhau.

Tình yêu là cánh cửa mở ra cho bàn tay và khối óc của mỗi người bước vào.

Tình yêu là động lực giúp ta cùng bước để loan báo bằng chính cuộc sống mình rằng: “Không có tình yêu nào cao quý hơn mối tình của người thí mạng sống vì người mình yêu".

Đức Giêsu đã tuyên bố như thế và Người đã sống chính Lời Người nói ra bằng việc đi đến cùng con đường Người tự chọn để thể hiện Tình Yêu của Người. Cái chết trên thập giá diễn tả mối tình của một người đã yêu và yêu cho đến cùng... Chết cho Tình Yêu để rồi sống mãi cho Tình Yêu.

Với niềm tin vào sự hiện diện của Đức Kitô, chúng ta xác tín rằng: Chúa Giêsu mong muốn lối sống hy sinh, yêu thương và phục vụ hết mình này được tiếp tục qua cuộc sống của mỗi tín hữu, trong đó có bạn và tôi, kẻ có tội cũng như kẻ bị lạm dụng, không ai bị loại trừ.


Friday, 2 March 2018

ĐỀNTHỜ: NƠI THỜ PHƯỢNG hay HANG TRỘM CƯỚP?




Các hành động của Đức Giê-su trong bài Tin Mừng theo Thánh Gio-an hôm nay là một ‘dấu chỉ’. Qua dấu chỉ này, Đức Giê-su muốn dậy cho chúng ta biết rằng Đền Thờ đích thật chính là Thân Thể của Người. Giống như hoàn cảnh của chúng ta, các môn đệ phải nhờ đến ánh sáng Phục Sinh, có nghĩa là sau khi Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, hmới hiểu thấu ý nghĩa của việc Chúa làm hôm nay.

Như chúng ta được biết, đền thờ Giê-ru-sa-lem là trung tâm, giữ một vai trò quan trọng trong việc thiết lập và phát triển đạo Do Thái. Đó còn là dấu chỉ nói đến sự hiện diện của Thiên Chúa và với sự tồn tại của đền thờ, những người Do Thái còn hãnh diện được làm dân riêng của Thiên Chúa, dòng giống mà Thiên Chúa đã tuyển chọn.

Thưa anh chị em,
Theo thông lệ, hàng năm, vào dịp lễ Vượt qua, mọi công dân Do Thái buộc lên đền thờ Giê-ru-sa-lem tham dự các nghi lễ theo luật dậy. Mỗi gia đình phải dâng tế phẩm cho Thiên Chúa, nộp vào đền thờ các phần hoa lợi trong năm, đồng thời thi hành các tục lệ và mừng Đại Lễ Vượt qua, làm sống lại việc can thiệp của Thiên Chúa cứu thoát dân vượt qua Biển Đỏ.

Một điều đáng cho chúng ta lưu tâm là dân từ khắp nơi tuôn về; và các phương tiện di chuyển thời đó không nhanh chóng và thuận tiện như chúng ta ngày nay. Nói chung, họ phải đi bộ mấy ngày đường thì làm sao có thể mang theo của lễ theo như luật dậy. Vì thế, người ta buôn bán những vật liệu cần thiết cho việc tế tự và xử dụng các loại tiền riêng để nộp thuế đền thờ. Nghĩa là, dịch vụ buôn bán và đổi chác là các phương tiện cần thiết giúp cho dân thực hành việc tế lễ.

Nhưng, thay vì xử dụng chức vụ để phục vụ nhu cầu tế tự của dân chúng. Trái lại, để kiếm lợi, các thầy thượng tế và hàng ngũ tư tế đã tổ chức các bàn đổi tiền ngay tại sân đền thờ, đồng thời buôn bán những con vật để làm của lễ như chiên, bò và chim câu. Họ độc quyền trong việc áp dụng bảng giá thật khắt khe để thu lợi nhiều hơn. Dân đen vẫn là đám thua thiệt và bị chèn ép.

Đó là điều Đức Giêsu không thể chấp nhận, Người nổi giận vì tâm địa tàn ác, óc não vụ lợi, xử dụng chức quyền vào mục đích riêng tư của cá nhân và phe nhóm họ. Khi xua đuổi những người đổi tiền và những người buôn bán ra khỏi đền thờ là Đức Giêsu đã đụng chạm đến quyền lợi, uy danh của tầng lớp thế lực là các thượng tế và luật sĩ. Thiên Chúa không còn là đối tượng của việc thờ phượng cho nhóm họ, trái lại Thiên Chúa đã trở thành bình phong cho các mưu đồ riêng tư của cá nhân và phe nhóm họ.

Đức Giê-su đã không chỉ vì an toàn cho bản thân mà làm ngơ trước hành vi sai trái của họ. Đức Giê-su còn biết rất rõ là họ sẽ chống đối và tìm cách tiêu diệt Người. Nhưng vì lòng yêu mến Thiên Chúa và những người dân vô tội, Đức Giêsu đã hành động quyết liệt:  xô đổ bàn ghế, lấy dây làm roi xua đuổi chiên bò và còn ra lịnh cho họ: hãy đem tất cả những thứ này ra khỏi nơi đây và đừng biến nhà Cha Người thành hang trộm cướp.

Thưa anh chị em,
Qua hành động rất quyết liệt của Đức Giêsu khiến chúng ta có thể nghĩ rằng: Người làm như thế không chỉ đơn giản là việc xua đuổi mấy con buôn; nhưng Người muốn thay đổi một quan điểm, lật nhào một hệ thống tôn giáo đã mất gốc và đem đến một luồng gió mới, phục hồi lại bản chất đích thực của việc thờ phượng, tái tạo một lối sống đạo, trong đó Thiên Chúa là gốc và cùng đích của mọi sinh hoạt. Và, không có một tà thần nào có thể thay thế Thiên Chúa. Không có một kiểu thờ ngẫu tượng nào thay thế một tâm hồn chân chính trong việc phụng thờ Thiên Chúa được. Điều này đã đuợc thể hiện thật rõ ràng qua Lời Người phán “các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại”. Người nói như thế để ám chỉ đến Đền Thờ mới là Thân Thể Người. Nhưng, họ đã không hiểu. Làm thế nào họ có thể hiểu được khi con tim và đôi mắt của họ chỉ nhắm đến việc thu vén tiền của và củng cố uy quyền mà thôi.

Theo tinh thần của Đức Giê-su thì tôn giáo hay đạo không chỉ dựa trên một hệ thống giáo điều và các việc tế tự tập trung vào trong tay của giai cấp lãnh đạo đền thờ mà thôi. Đạo chính là con đường, là lối sống đuợc xây dựng trên các mối tương quan giữa những kẻ tin với nhau. Và trong niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh, chúng ta nhớ lại lời dậy bảo của Chúa: Người muốn việc làm của chúng ta được phát sinh bởi lòng mến, lòng thương xót đối với người khác chứ không bằng hy lễ hay các nghi thức tế tự mà thôi. Hy lễ tuy cần thiết, nhưng nếu các điều đó không được phát sinh bởi tình yêu và lòng thương xót thì các nghi thức tế lễ cũng chỉ có tính chất trình diễn, nặng về mặt hình thức và chúng ta vẫn bị luẩn quẩn trong các nghi thức chết và không có sức sống (Mt 9: 13).

Đền thờ tuy cần thiết cho tôn giáo, nhưng nếu đền thờ không còn mang ý nghĩa là tụ điểm của yêu thương, không còn là nơi để con người thờ phượng Chúa và chia sẻ tình huynh đệ thì cho dù đền thờ có nguy nga, tráng lệ và bền vững đến đâu cũng chẳng còn ích lợi gì cho lối sống đạo của chúng ta nữa. Ngoài ra, nếu cách biểu lộ việc sống đạo của chúng ta chỉ còn được diễn tả bằng các hình thức tế tự tại các đền thờ và quên đi tình yêu và lòng thương xót mà Đức Giê-su đã làm gương, thì lối sống đạo hình thức đó còn đem lại giá trị và hậu quả gì nữa đây!
Thật vậy, lối sống của Chúa là lối sống mở ra để đón nhận mọi người. Trong tình yêu thì không có biên cương, không bị giới hạn và trói buộc bởi hệ thống giáo điều, cơ cấu hay đền đài. Sự sống của Người là lối sống chia sẻ, nghĩa là sống cho và sống với người khác; đặc biệt là những ai bị bỏ rơi, những ai bị liệt vào hạng tội lỗi. Tất cả đều được mời gọi đồng bàn với Người; và khi đồng bàn với Người thì Người ban cho họ sức mạnh đổi mới, mời gọi họ chia sẻ con đường và lối sống của Người. Đến lúc đó, chúng ta có thể hãnh diện làm chứng rằng chính thật chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa.

Thưa anh chị em,
Trong tâm tình đó, chúng ta hãy dành đôi phút để nhìn vào thực tế những gì mà Giáo Hội tại các nước Tây Phương, đặc biệt tại Úc đang phải đối diện. Làm sao chúng ta không đau lòng khi đọc bản báo cáo của Uỷ Ban Hoàng Gia điều tra về các vụ lạm dụng tình dục trẻ em, cho rằng có 60% những vụ lạm dụng xẩy ra trong các tổ chức của Giáo Hội Công Giáo. Họ đã bị lạm dụng bởi vì họ đã trao niềm tin của họ cho một vài người thuộc giai cấp lãnh đạo, để rồi chính họ đã phải ôm một mối hận trong lòng mà không làm sao có thể thoát ra được.

Những sự kiện này được gọi là ‘xâm phạm hay lạm dụng tình dục’. Cụm từ tuy ngắn gọn, nhưng ảnh hưởng và sự thiệt hại của nó rất lớn. Nó ám chỉ đến hành vi phản bội về mặt tinh thần, tâm lý và sinh lý của một người có chức quyền đối với người kém thế hơn; đặc biệt là đối với trẻ em. Nó để lại trong tâm hồn và đời sống của các nạn nhân những vết thương và sự thù ghét Giáo hội. Đôi khi, họ còn mang mặc cảm bị khước từ. Họ cắn răng chịu đựng trong tủi nhục. Có một số người lại lâm vào trạng thái ‘trầm cảm’ và nghĩ là mình không còn xứng đáng thuộc về cộng đồng mà họ mong muốn là một thành viên.

Có một số người trong chúng ta cho rằng Uỷ Ban Hoàng Gia được thành lập để khai thác và làm mất uy tín của các tổ chức trong Giáo Hội Công Giáo, đặc biệt là công kích hàng ngũ lãnh đạo. Cái nhìn như thế xem ra không chính xác. Thật ra, những người trong Uỷ Ban tuy có trình độ chuyên môn riêng, nhưng họ làm việc theo nhóm. Dù nhiều người trong ủy ban có khả năng về luật pháp, nhưng họ chỉ đề nghị với các nhà lãnh đạo của các tổ chức liên hệ tìm cách chấm dứt tình trạng mà chúng ta ngày nay coi như là ‘tội ác’ này. Họ không kết tội. Họ giúp chúng ta thanh lọc và yêu cầu mọi người tôn trọng công lý để bảo vệ mọi thành phần có cuộc sống an vui. Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người miễn là chúng ta nhận ra bàn tay và sự can thiệp của Thiên Chúa nơi các con người đó.

Khi nhìn vào những vết sẹo, những nỗi hằn do các chi thể trong Thân Thể của Đức Kitô tạo ra, cũng là dịp giúp chúng ta nhận ra tính mỏng dòn và yếu đuối của con người. Tuy nhiên, chúng ta không nhìn lại các sự kiện xẩy ra trong quá khứ, đôi khi bị coi là tội ác đó, bằng cái nhìn mặc cảm, chán nản, thất vọng và buông xuôi. Trái lại, qua đó chúng ta nhận ra được một điều là chỉ Trong Chúa, con người mới được đổi mới. Với Đức Ki-tô, chúng ta mới tìm thấy cách thức thờ phượng Thiên Chúa đích thật.

Phần chúng ta, hãy tiếp tục nỗ lực đổi thay bằng cách xây dựng cuộc đời và lối sống đạo của mình trên nền tảng của Đức Ki-tô Phục Sinh; nghĩa là xây dựng hình ảnh Đức Ki-tô trong đời mình đến mức hoàn hảo hơn.

Thursday, 22 February 2018

HIỂN DUNG: KINH NGHIỆM CHO HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN


Trình thuật Chúa hiển dung hay còn gọi là Chúa biến hình đổi dạng mà chúng ta suy niệm hôm nay đóng một vai trò thật quan trọng trong hành trình của người môn đệ. Qua biến cố này, Đức Giêsu cho các môn đệ ‘nếm một chút’ ánh sáng vinh hiển của Người. Vẫn biết rằng ánh sáng đích thật này chỉ chiếu toả một cách thật trọn vẹn qua biến cố Phục sinh. Nhưng hiện tại, trong phút giây này, trước mắt Người vẫn là hành trình khổ nạn và sau cùng là cái chết trên Thập Giá chứ chưa phải là vinh quang Phục Sinh.

Việc Chúa hiển dung không nhằm vào chính bản thân của Người, nhưng vì lợi ích của các môn đệ. Qua việc hiển dung của Đức Giê-su, chúng ta mới nhận ra việc Chúa yêu thương, săn sóc và lo lắng cho các môn đệ và chúng ta đến độ nào. Người hiểu các nỗi yếu đuối của chúng ta, Người biết lòng trí không ngay thẳng của những ai đang theo Người, Người còn biết rõ ý định sai lạc muốn tìm kiếm địa vị của Gio-an và Gia-cô-bê, v.v... Người còn biết rõ là họ chưa đủ sức để chấp nhận những thống khổ mà Người sẽ đón nhận trong hành trình Thương Khó; và sau cùng làm thế nào các môn đệ có thể hiểu được rằng Thầy mà họ đã theo đuổi bấy lâu, có quyền năng trên các tà thần, làm cho người què đi được, người mù được sáng mắt và thậm chí kẻ chết sống lại… Thế mà lại bị treo trên Thập Giá cho đến chết.

Đức Giê-su biết rõ sự mỏng dòn và yếu đuối của các môn đệ. Nhưng Người lại không hề thất vọng về họ. Người chuẩn bị cho các môn đệ và chúng ta đủ sức để đối diện và CÙNG ĐỒNG HÀNH với cuộc khổ nạn của Người bằng cách cho họ và chúng ta ‘nếm một chút’ vinh quang của Con Thiên Chúa. Kinh nghiệm độc nhất vô nhị này vô cùng quí giá, nó sẽ nâng đỡ chúng ta khi gặp nhưng hòan cảnh tuởng như là quá sức của mình.

Thật vậy, kinh nghịệm ‘Hiển Dung’ sẽ nâng đỡ các môn đệ và chúng ta hiên ngang tiến vào vuờn Giệt-si-ma-ni và sau cùng là đồi Can-vê để đồng hành với Đức Giêsu trên đường Thuơng Khó của Người. Và chúng ta tin rằng tất cả không dừng lại ở đó, nhưng còn mở ra một chân trời hạnh phúc và vinh hiển trong ngày Phục Sinh.

Trong hành trình đức tin, những trải nghiệm ‘Chúa Hiển Dung’ rất quan trọng và cần thiết. Ai trong chúng ta cũng cần và nên ôn đi ôn lại các trải nghiệm này trong cuộc sống. Đôi khi các biến cố đó xẩy ra rất bình thường, nhưng dấu ấn và sự tác động của Thiên Chúa giúp chúng ta nhận ra ý nghĩa và khám phá ra bàn tay của Thiên Chúa can thiệp mới là điểm đáng quan tâm.

Thưa anh chị em, sau đây là vài gợi ý:
Có những bà mẹ đã nhận ra ơn gọi thật cao quí mà Chúa đã trao ban cho bà qua những công việc thường nhật mà các bà thường làm trong công tác của một người nội trợ. Nhìn thấy cảnh chồng con ăn ngon, hạnh phúc đầm ấm bên bàn cơm do công sức của bà chuẩn bị, khiến cho cơn mệt nhọc dường như biến mất, còn lại trong phần sâu thẳm của tâm hồn bà là niềm vui, một niềm vui không sao diễn tả được. Bà đã phải quay mặt đi để dấu những giọt lệ hạnh phúc đang sẵn sàng trào ra trong đôi mắt ngập tràn hạnh phúc của bà.  Bà hãnh diện và nhận ra rằng nhờ sự hy sinh của bà mà gia đình mới vui như thế. Rõ ràng đó là một việc làm bình thường như mọi ngày của cuộc sống, thế mà đến hôm đó bà mới nhận ra sự diệu kỳ và phi thường của nó. Một khoảnh khắc, một kinh nghiệm thật diệu kỳ đã đến với bà qua công việc rất bình thường.

Về đời sống thiêng liêng cũng thế, đã có thời điểm chúng ta trải qua những kinh nghiệm thật đặc biệt, nhận ra sự hiện diện và can thiệp của Thiên Chúa qua các việc rất bình thường. Trong những cuộc tĩnh tâm, nội dung các bài giảng, sự tận tâm phục vụ và hướng dẫn của các anh chị em giúp khóa; đều là các yếu tố giúp ta khám phá ra bàn tay và sự tác động của Thiên Chúa. Tác động của Chúa mạnh đến độ chúng ta không cầm được nước mắt. Trong nỗi vui sướng được thay đổi đó, chúng ta đã từng hứa như ý định của Phêrô, xin được ở luôn bên Chúa trên núi, trong bài Tin Mừng hôm nay.

Nhưng, chúng ta được mời gọi đi xa hơn, không dừng lại ở các kinh nghiệm về những lần gặp gỡ mang năng chất tình cảm đó. Việc chiêm ngưỡng dung nhan vinh hiển của Đức Giêsu không làm chúng ta bị chóa mắt, hay quáng gà rồi không còn nhìn thấy những thực tại ở trần gian nữa.

Chúa không còn Thần Hiện để con người nhận ra sự hiện diện của Ngài như kinh nghiệm của Maisen và dân Israel xưa kia, Ngài cũng không biến hình đổi dạng cho các Tông đồ nhìn thấy vinh quang cuả Ngài như trong bài Tin Mừng hôm nay. Ngài đã trở thành người và cư ngụ giữa chúng ta. Ngài chính là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta mọi nơi mọi lúc. Đó là một chứng tích thật diệu kỳ mà chúng ta cần khám phá luôn mãi. Một sự đổi thay mà chỉ có ai ở trong Chúa mới nhận ra. Trong Chúa, chúng ta nhận ra trong mọi người luôn luôn là hình ảnh của Thiên Chúa, và mọi sự Ngài tác tạo đều tốt đẹp, rất dễ thương và như vậy cuộc đời đáng sống và đáng yêu hơn.

Vì thế, với những kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa - qua cầu nguyện, các biến cố xẩy đến trong đời - đều là hồng ân giúp chúng ta trở về với đời sống hàng ngày, đối diện với muôn ngàn thử thách, đắng cay bằng ánh sáng và con tim mới. Với sự hiện diện của Đức Giêsu, không chỉ ở trên núi (Thánh), nhưng ở mọi giây phút của cuộc đời; chúng ta sẽ chấp nhận cuộc sống với tinh thần lạc quan, sẵn sàng chiến đấu mà không ngại gian khổ, chấp nhận những bất tòan của chính bản thân để có thể thông cảm các nỗi yếu đuối và không hòan hảo của nhau; rồi cùng đồng hành với nhau trên con đường mà Chúa đã đi qua.
Xin dung nhan của Chúa Hiển Dung hôm nay và nhất là Ánh Sáng Phục sinh của Đức Kitô luôn dẫn lối chỉ đuờng cho chúng ta, để chúng ta biết đón nhận và sống trọn vẹn mọi phút giây trong cuộc sống và tiếp tục ‘bước theo’ và ‘cùng bước vào’ dấu chân của Đức Kitô đã bước qua.



Wednesday, 14 February 2018

VƯỢT QUA THỬ THÁCH BẰNG GÌ?


Anh chị em thân mến,

Câu chuyện nói về việc Đức Giê-su chịu cám dỗ trong bài Tin Mừng năm nay tuy ngắn, nhưng vẫn còn chất chứa các điểm then chốt giúp chúng ta tìm ra các phương thế để đối diện với các thử thách hay cám dỗ trong cuộc sống.

Đó chính là Thần Khí, hơi thở của Thiên Chúa hay còn được gọi là Thánh Thần, Đấng thúc đẩy và hiện diện với Đức Giê-su trong suốt thời gian Người chịu cám dỗ. Sau đó là yếu tố thời gian, phải chăng 40 ngày gợi lại cho chúng ta hành trình 40 năm của dân Israel xưa kia. Sau cùng là yếu tố không gian, đó chính là hoang địa hay sa mạc là nơi xẩy ra việc Đức Giê-su chịu cám dỗ.

Tất cả các chi tiết nói trên gợi lại cho chúng ta hai câu chuyện.
Câu chuyện thứ nhất là hành trình và các thử thách mà dân Is-ra-el đã phải đối diện. Đây là ví dụ cụ thgiúp chúng ta hiểu dân Chúa đã trải qua các cuộc thử nghiệm và bị sa ngã như thế nào. Trong hoang địa, khi phải đối diện với những thử thách, họ đã quên đi công trình tay Chúa, Đấng đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ của Vua Pha-ra-ôn. Trái lại, họ lại nghĩ rằng Thiên Chúa dẫn họ vào đây và sẽ để họ chết trong hoang địa.

Họ đã bất trung, bội phản và sa ngã; thậm chí có lúc họ muốn biến Đức Chúa thành một pho tượng, qua việc xin đắp con bê bằng vàng để thờ lậy. Thực ra, qua việc này, họ muốn điều khiển cả Thiên Chúa nữa. Thay vì để Chúa dẫn đường chỉ lối, họ lại muốn, qua con bê bằng vàng, khiêng Chúa đi đâu theo ý họ.

Trong lúc nhìn lại cách diễn tả việc sa ngã của con người trong trình thuật tạo dựng cho đến hành trình tiến về đất hứa, chúng ta khám phá ra nguyên nhân khiến họ sa ngã. Đó là cách cư xử theo ý riêng và thiếu tin tưởng vào quyền năng và Lời của Chúa.

Còn câu chuyện hôm nay kể lại việc Đức Giêsu, cũng trong hoang địa và với thời gian 40 đêm ngày để chịu ma quỷ cám dỗ. Người trung tín với Cha Ngài và vượt qua mọi thử thách không chỉ trong 40 ngày này mà thôi; nhưng còn được thể hiện trong suốt hành trình cuộc sống hiến dâng và tự hạ của Người. Và, ngày hôm nay, trong lúc chiến đấu với các thử thách, Đức Giêsu đã trọn vẹn để cho Thần Khí hướng dẫn trong cuộc tìm kiếm và làm hài lòng Cha. Tâm tình hiệp nhất này đã lan toả khiến cho bầy thú dữ trong hoang địa không còn là những con vật nguy hiểm nữa; nhưng đã trở thành những con vật thật hiền hòa. Chúng hiện diện với các thiên thần để hầu hạ Chúa.

Phải chăng đây là cảnh sắc của vườn địa đàng được phục hồi bởi sự vâng phục của Đức Giêsu, để đổi lại những gì mà con người đã đánh mất sau khi sa ngã.

Vì thế, thưa anh chị em,

Ngay đầu Mùa Chay, để giúp chúng ta đối diện và chiến đấu với các sa ngã; Hội Thánh muốn nhắc nhở đến thân phận mỏng dòn, yêú đuối và dễ đổ vỡ của mỗi người. Trong phận mỏng dòn đó, chúng ta chỉ có thể vượt qua các sa ngã và mọi thử thách bằng quyền năng của Chúa mà thôi. Hãy nhớ mình từ bụi tro mà ra rồi sẽ trở về tro bụi. Ý nghĩa của lời đó quá rõ ràng. Thiên Chúa đã truyền ban sự sống vào đám tro tàn đó. Rồi có một ngày chúng ta sẽ về với cội nguồn. Hiện tại chúng ta còn sống; có nghĩa là thử thách và cám dỗ vẫn còn. Nó là một phần của cuộc sống. Không ai có thể tránh thoát được. Tất cả vẫn hiện diện. Có nhiều người lầm tưởng là các cám dỗ sẽ đến từ bên ngoài. Thực ra nó ẩn tàng ngay bên trong bản thân và cuộc sống của từng người.


Những thử thách mà chúng ta gặp trong cuộc sống rất khó biện phân như hoàn cảnh và cách thức đối diện với các thử thách của người thanh niên giầu có trong Tin Mừng. Anh đã thất bại và không vuợt qua được thử thách khi để cho cuộc sống của mình bám víu vào những bảo đảm do tiền của mà anh tạo ra. Tiền của và sự giầu sang không dẫn anh đến sa ngã. Nhưng, vì giầu có nên anh không trải nghiệm được cảnh nghèo để khám phá ra rằng những gì anh có đều do Chúa ban cho nên anh cần có cuộc sống lệ thuộc vào Người. Anh không làm được chuyện đó nên lủi thủi bỏ đi và Chúa nhìn anh bằng một cái nhìn thật buồn; bởi vì anh đã chọn sai ưu tiên cho cuộc sống.

Trong dụ ngôn người gieo giống, Chúa đã không báo cho chúng ta biết rằng chính những bụi gai là những vật cản khiến cho các hạt giống không đâm chồi nẩy lộc được hay sao! Bụi gai là thử thách mà chúng ta cần vượt qua. Nhưng bụi gai là gì?

Đối với tôi thì hào quang có thể là những bụi gai làm sai lạc ý hướng trong các công tác phục vụ của tôi. Bụi gai cũng có thể là những việc làm, các câu nói ngoại giao để làm thỏa mãn nhu cầu và thị hiếu của đám đông, và kiếm được vài lời khen tặng hay một tặng vật nào đó từ họ cho mình. Trong khi đó, với sứ mạng ngôn sứ, tuân phục và loan báo Lời của Người là ưu tiên hàng đầu của chúng ta.

Rồi còn nữa, trong dụ ngôn tiệc cưới. Các khách từ chối lời mời nào có tội gì. Họ bận việc và ai cũng có việc phải lo. Họ không sai khi từ chối lời mời của ông chủ tiệc. Nhưng lại một lần nữa, họ và chúng ta thay vì chọn Chúa thì lại chọn ý riêng. Đó chính là nguyên nhân đưa chúng ta đến sa ngã.

Nói chung, để chuẩn bị tham dự vào Mầu Nhiệm Phục Sinh, trong Muà Chay này chúng ta được mời gọi quay trở về với Chúa. Để trở về, chúng ta cần sống phó thác hơn; có nghĩa là ngoài Chúa ra, không ai cung cấp và làm cho cuộc sống của chúng ta được bảo đảm. Một khi chúng ta lo lắng quá nhiều về thành công và an ninh cho cuộc sống của chính mình cũng là lúc chúng ta chấp nhận lối sống thoả hiệp, lối sống ích kỷ, sống mà chỉ biết nghĩ đến hạnh phúc cho riêng mình và quên đi các giá trị đích thực của Tin Mừng. Trở về với Chúa là một hành động quay lưng lại với tất cả tiếng nói khác tiếng nói của Chúa.

Trong tâm tình đó, cùng với Đức Giê-su, nhất là để cho Thần Khí Thiên Chúa tác động, chúng ta cùng bước vào Mùa chay trong không khí thật tưng bừng rộn rã của Mùa Xuân Mậu Tuất 2018 này.


Mùa Chay hay Mùa Xuân đều thuộc về Chúa. Chúa mới là Đấng làm chủ của Mùa Xuân Vĩnh Cửu. Triều đại của những ai thuộc về Mùa Xuân Vĩnh Củu đó đã được khai mạc trong sứ vụ của Đức Giê-su. Người quan tâm, lo lắng và chăm sóc cho từng người. Hồng ân và niềm vui của Chúa Xuân thật bao la. Trong sự phong phú và tràn đầy của khối lượng và thời đại hồng ân này, chúng ta hãy quyết tâm sống đổi mới, sống phù hợp với ý định của Chúa Xuân trong việc phục vụ lẫn nhau. Amen 


Mùa Chay 2018


Anh chị em thân mến,
Ba việc đạo đức được nhắc nhở trong bài Tin Mừng, khai mạc Mùa chay năm nay là: Bố thí, ăn chay và cầu nguyện. Những việc lành phúc đức này, khi làm thì hãy làm với tấm lòng yêu mến của mình; không làm để khoe khoang. Làm để Thiên Chúa thấu hiểu và biết cho ý nguyện và tấm lòng của chúng ta là đủ rồi.
Ăn chay, kiêng thịt và đón nhận việc xức tro chỉ là hình thức bên ngoài. Canh tân đời sống, nâng cao niềm tin, củng cố đức cậy và phát huy đức ái mới là những điều thiết yếu cần thực hiện trong Mùa chay. Sửa đổi tính nết để trở thành người tốt hơn, đạo đức hơn, thánh thiện hơn. Bớt nói hành, nói xấu, lười biếng việc đạo đức là điều phải thực hành.
Ngay đầu Mùa Chay, Hội Thánh đã nhắc nhở chúng ta nhớ về thân phận mỏng dòn của mình là “Hỡi người, hãy nhớ mình là bụi tro và sẽ trở về tro bụi”. Ý nghĩa của lời đó quá rõ ràng: mọi người sẽ trở về tro bụi, có nghĩa là phải chết. Vẫn biết là như thế, nhưng còn sống thì còn phải chấp nhận sự mỏng dòn. Và trong chính sự mỏng dòn, yếu đuối và dễ đổ vỡ nên chúng ta bị quay cuồng bởi các thách đố và thử thách.
Cuối cùng thì điều gì trong cuộc sống khiến chúng ta phải quan tâm? Và nhân đức nào chúng ta cần đào luyện làm nến tảng cho cuộc sống, nhất là trong những ngày chay của năm nay hầu giúp ta đủ sức chia sẻ hành trình Thập giá với Đức Kitô, để được cảm nghiệm sự Phục sinh của Người.
Đức Thánh Cha Benedicto, trong sứ điệp mùa chay năm 2012, đã nhắc cho chúng ta thấy tầm quan trọng của đức ái. Ngài viết: “Tất cả mọi Kitô hữu, nhất là những người làm việc bác ái, cần có đức tin, đó là tụ điểm của sự gặp gỡ cá nhân với Thiên Chúa trong Đức Kitô và cảm nghiệm được tình yêu của Người… Kitô hữu là những người đã được tình yêu Thiên Chúa chinh phục và do đó, dưới ảnh hưởng của tình yêu này, họ hoàn toàn cởi mở cho việc yêu thương tha nhân bằng những phương cách cụ thể”.
Và trong sứ điệp Mùa chay 2014, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã nói “Lòng bác ái, tình yêu, có nghĩa là chia sẻ trong mọi sự số phận của người mình yêu. Tình yêu làm cho trở nên giống nhau, kiến tạo sự bình đẳng, phá đổ các bức tường và những ngăn cách”.
Cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi ra đi, cởi bỏ chính mình để chia sẻ theo gương của người Samaritano đến chăm sóc tận tình cho người bị bỏ rơi nửa sống nửa chết bên vệ đường.
Khi thực hiện các việc bác ái, chúng ta nên nhớ rằng những việc đó cho dù là những cố gắng riêng của mỗi cá nhân; nhưng trên hết mọi sự, qua các việc làm đó chúng ta minh chứng sự hiện diện của Đức Ki-tô, Đấng đã trở nên nghèo để chúng ta được giàu sang và cũng trong cái nghèo đó, chúng ta được mời gọi hy sinh trong các công việc bác ái chỉ vì ích lợi của người khác.
Đức ái là tình yêu của chúng ta với Thiên Chúa. Và tình yêu đó phải được thể hiện qua việc phục vụ tha nhân.
Đức ái được xuất phát từ sự thông hiệp với Đức Giê-su mà chúng ta ra đi. Vì thế, chúng ta cần xây dựng mối tương quan giữa ta với Chúa mỗi ngày mỗi thắm thiết hơn.
Rồi khi làm các việc bác ái, chúng ta phải hy sinh. Tôi không tin có người nào ra đi phục vụ tha nhân mà lại không quên mình.
Chính vì thế, ngoài những công việc đạo đức mà chúng ta thường làm. Năm nay, chúng ta hãy chú tâm thực hiện tất cả các việc đó dựa trên nền tảng của lòng mến. Vì, chúng ta là phương tiện mà Chúa dùng để thể hiện lòng mến, tình yêu cho người khác, đặc biệt những người khổ đau, nghèo đói và thiếu thốn tình thương..
Vì thế, trong Mùa chay này chúng ta cố gắng sống:
·        Vui tươi và chấp nhận cuộc sống với những hoàn cảnh thực tế.
·        Niềm nở, tiếp đón nhau.
·        Lắng nghe với tâm tình thông cảm hầu chia sẻ và an ủi nhau.
·        Thay vì đoán xét, phê bình thì tìm ra những điểm tốt của tha nhân để ca tụng Chúa.
·        Lập dự án, kế hoạch cụ thể trong việc thực thi đức ái.


Thursday, 8 February 2018

CHÚA MUỐN, PHONG CÙI BIẾN MẤT. CÒN TA, MUỐN GÌ?


Anh chị em thân mến,

Tin mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giê-su chữa lành cho một người bị bịnh phong cùi. Với sự tiến bộ của nền y học hiện nay, dù phong cùi vẫn là bịnh truyền nhiễm; nhưng nếu ai được chẩn đoán mắc bịnh này trong giai đoạn đầu thì vẫn có thể được chữa khỏi.

Dưới thời Đức Giê-su thì khác. Những ai mắc bịnh này phải sống riêng một mình, không được phép tiếp xúc với ai. Bất cứ ai chạm đến họ đều bị coi là ô uế. Vì thế, để tránh bị lây nhiễm, ai mắc bịnh này đi đến đâu cũng phải hô to ‘ô uế, ô uế’ để những người khác biết mà tránh né.

Cho dù tôi chưa hề có cơ hội tiếp cận hay trò chuyện với người bị bịnh phong cùi. Nhưng nhắm mắt lại chúng ta cũng có thể nhận ra được nỗi đau khổ về tinh thần cũng như thể xác của người bị bịnh đó như thế nào? Họ bị đối xử như một xác chết biết đi. Họ không còn được đối xử như một con người, bị ngược đãi và coi như thành phần cùi hủi của xã hội nói gì đến yêu thương. Trong hoàn cảnh đó, họ không còn gì để mất; thế mà họ không nổi loạn đã là may mắn cho chúng ta lắm rồi!

Ngoài việc bị ngược đãi như nói ở trên, theo lề thói của công đoàn Do Thái, họ còn bị coi là những người bị Chúa phạt, họ không được phép lên Đền thờ Giêrusalem, và nếu có được tham dự lễ nghi phụng vụ, họ phải ở trong một căn phòng đặc biệt dành riêng cho họ. Họ bị đối xử như người đã chết.

Trong hoàn cảnh như thế, tôi ngạc nhiên khi người bị phong cùi trong bài Tin Mừng hôm nay dám liều lĩnh đến gặp Đức Giê-su. Thái độ liều lĩnh này của ông kèm theo lời cầu khẩn, không mang tính ép buộc, “nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch” biểu lộ một thái độ tin tưởng của ông ta dành cho Đức Giê-su. Ông tin rằng Đấng đang hiện diện trước mặt ông là ngươì có đầy uy quyền làm cho ông được sống. Tiếp cận Đức Giê-su là gặp gỡ Đấng trả lại vinh dự làm người cho ông; trao lại cho ông sự sống mà theo luật lệ ông đã bị coi như là người đã chết.

Còn Đức Giê-su thì sao? Đức Giê-su sinh ra và lớn lên trong truyền thống Do Thái; hẳn nhiên Người biết rất rõ khoản luật cấm không được chạm đến người bị phong cùi. Thế mà trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su được mô tả là Người không màng đến lề luật, đã chạm vào người bị phong cùi. Vì sao? Bởi vì Người động lòng thương ông ta, giơ tay đụng vào người ông và bảo “Tôi muốn”.

Tất cả các cử chỉ: động lòng, giơ tay, chạm vào rồi lên tiếng phán bảo xẩy ra một loạt.  Qua các cử chỉ này, chúng ta nhận ra tính duy nhất trong con người của Đức Giê-su. Không có việc nghĩ trước làm sau. Tất cả xẩy ra đồng loạt để nói cho chúng ta biết rằng Chúa thương chúng ta vô cùng. Chúa không yêu chúng ta bằng lời nói suông, hay qua các giao uớc dựa trên lý thuyết. Nhưng Đức Giê-su đã yêu chúng ta bằng chính việc làm cụ thể, bằng cuộc sống và sự dấn thân trọn vẹn của Người.

Thật vậy, với Đức Giê-su: Giúp một người bị đau khổ. Phục hồi phẩm vị con người là ưu tiên số một trong cuộc sống và sứ vụ của Đức Giê-su. Người tự do và thoải mái hành động vì hạnh phúc con người. Luật lệ có tồn tại và được áp dụng cũng vì lợi ích cho con người. Một khi những khoản luật ngăn cản con người thể hiện lòng yêu thương thì không còn giá trị. Không có một điều gì có thể ngăn cản việc Đức Giê-su thực hiện ý định của Thiên Chúa. Tình yêu mà Người dành cho Chúa Cha được mô tả và thể hiện ngay trong cuộc sống. Người động lòng thương tất cả mọi người mà Đức Giê-su đã gặp.

Còn một điều mà chúng ta cần lưu ý, cụ thể, trong bài Tin Mừng hôm nay là khi làm cho người phong cùi được sạch, được khỏi bịnh thì chính Đức Giê-su lại bị khó khăn, bị trục xuất và gặp sự đối nghịch của hàng ngũ lãnh đạo, dẫn đến cái chết mà Người sẽ chịu.


Khi Đức Giê-su yêu cầu ông ta đi trình diện với hàng tư tế để chửng tỏ ông đã khỏi bịnh, được sạch sẽ không còn là phường ô uế nữa, và được hoà nhập vào trong mọi sinh hoạt cộng đoàn mà ông ta được hưởng. Nhưng, chính vì việc làm này khiến Đức Giê-su không còn chỗ đứng, như trong bài Tin Mừng đã diễn tả như sau “vừa ra khỏi đó, anh đã bắt đầu rao truyền và tung tin ấy khắp nơi, đến nỗi Người không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành.” Hay nói khác đi, kẻ bị ly khai vì lề luật thì nay, nhờ Chúa, ông đã được nối kết lại với các sinh hoạt trước đây; còn kẻ làm cho ông ta được khỏi thì lại bị khai trừ vì tính bướng bỉnh và tự tôn của con người.

Tuy biết là như thế. Nhưng vì yêu thương chúng ta, Đức Giê-su sẵn sàng đánh đổ mọi sự để mạc khải cho chúng ta biết rằng Người là Thiên Chúa thật, không còn ở trên cao; nhưng đã cúi mình xuống để đồng hành và chia sẻ các nỗi khổ đau của con người. Người đã cúi mình thật sâu trong biến cố làm người và trong cái chết trên thập giá. Người cúi xuống để nâng con người lên, miễn là con người nhận ra phẩm giá của chính mình và được cứu độ.

Chính vì thế, qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta sống bớt nghi kỵ, biết gạt bỏ thành kiến, chấp nhận các nỗi ô uế của nhau; tôn trọng nhau trong phẩm vị con người; rồi cố gắng đến với nhau, đem cho nhau một chút nữa tình người, yêu và thông cảm nhau hơn. Và với Đức Giê-su, chúng ta xác tín rằng không một ai bị phong cùi mà không được chữa lành, không ai sống trong ô uế mà không được sạch sẽ, không ai chịu đau khổ mà không tìm được hạnh phúc; và không ai sống trong tội lỗi mà không tìm được sự tha thứ mà được cứu độ.

Như vậy, chúng ta thật có phúc để sống trọn vẹn ơn gọi mãi mãi là những quà tặng cao quí nhất mà Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại.