Wednesday, 19 October 2022

CON XIN TẠ ƠN VÌ CON LÀ KẺ TỘI LỖI!


Đức Giê-su trong bài Tin Mừng tuần trước đã khuyên chúng ta hãy siêng năng cầu nguyện. Cầu nguyện liên lỷ. Cầu nguyện không ngừng. Bởi vì, không cầu nguyện con người sẽ mất chỗ dựa, mất đi nguồn sống.

Tiếp tục xoay quanh chủ đề cầu nguyện, bài Tin Mừng hôm nay mô tả việc hai người lên đền thờ cầu nguyện: Một ông Pha-ri-sêu, tự nhận mình là người công chính. Còn ông bên kia là tay thu thuế, cường hào ác bá, bóc lộc dân chúng bằng nghể thâu thuế; và bị coi là phường tội lỗi!

Người Pha-ri-sêu được mô tả thật sống động. Ông đứng thẳng người bộc lộ dáng vẻ tự tin, thì thầm với Thiên Chúa. Chúng ta phải thú nhận rằng những việc ông làm, nào là không trộm cắp, không có hành vi bất chính, không ngoại tình, còn tuân thủ việc đóng thuế thập phân cho đền thờ là những việc tốt và rất đáng khích lệ và ông ta đã hành động theo đúng luật Chúa. Ông ta làm được nhiều việc hơn chúng ta. Thật cảm phục cho các tín hữu dám công khai nói như người Pha-ri-sêu hôm nay.

Ông đã tạ ơn Chúa; nhưng cách ông tạ ơn dường như để khoe khoang chứ không để tỏ bầy cử chỉ tôn thờ Thiên Chúa. Sau đó, đã sai ông lại tiếp tục sai khi vịn vào thành tích rồi hợm mình để chê bai người khác. Ông làm như đã trở thành con người hoàn hảo bởi các việc ông làm.

Chúng ta tưởng rằng chỉ mấy ông Pha-ri-sêu thời Đức Giê-su mới hành xử như thế. Thật ra trong mọi thời đại và dù bất kỳ sống trong môi trường nào thì lối sống như ộng Pha-ri-sêu vẫn còn hiện diện và được khuyến khích trong các cơ cấu, ngay cả các tổ chức công giáo. Họ là những người tự cho mình là đạo đức, dựa vào công nghiệp và những đóng góp rồi coi kẻ khác không ra gì.

Thật ra, ai trong chúng ta cũng đều biết rằng chúng ta có làm được các việc như thế cũng là hống ân của Chúa ban cho. Tất cả đều là hồng ân, là quà tặng của Chúa trao ban để chúng ta chia sẻ cho người khác. Đó là bổn phận, nếu không hành động thì chúng ta là người có lỗi, lấy gì mà vinh vang.

Nếu ai trong chúng ta có muốn so sánh thì hãy lấy tiêu chuẩn của Tin Mừng ra mà so sánh. Tất cả chúng ta, dù là ai hay dù đang nắm giữ tác vụ nào của Hội Thánh, tất cả đều là tội nhân, là những con người khuyết hẳn vinh quang và sự Thánh Thiện của Chúa nơi mình.

Vì thế, hãy học vẻ đẹp của người thu thuế. Ông biết các công việc của ông, như cộng tác với chính quyền, thu thuế và làm giàu trên xương máu của nhân dân khiến cho ông tuy giầu có nhưng lại bị dân chúng ghét bỏ. Ông nhận ra một sự thật là cho dù liêm khiết và thành thật đến đâu thì ông cũng là người có tội với dân tộc và với dân chúng. Chính vì thế, ông chẳng có gì để hãnh diện hay trình bầy thành tích trước mặt Chúa. Ông đứng tự đàng xa, không dám ngước mắt nhìn ai, nhìn vào cõi lòng, hẳn nhiên khi nhìn vào cõi lòng ông thấy sự uy nghiêm và thánh thiện của Chúa, nên ông đấm ngực mà thân thưa cùng Chúa rằng: “Lậy Thiên Chúa, xin thương xót, con là kẻ tội lỗi.”

Giống như anh con thứ trong dụ ngôn Tình Phụ Tử, người cha đã không cho phép anh kể hết các tội của mình, không cho phép anh đánh mất mối tương quan khi anh dự định nói rằng mình không xứng đáng là con của ông. Ông đã cắt đứt việc anh con thứ kể lể về tội của anh thế nào thì ở đây cũng thế. Chúng ta không thấy người thu thuế liệt kê các tội của anh. Với thái độ nhìn rõ sự thật và vị trí trong thân phận của một kẻ có tội, anh đã được Thiên Chúa thương và làm cho anh trở nên công chính. Nói khác đi, anh ra về và được khỏi tội.

Thưa anh chị em,

Nơi câu đầu của dụ ngôn, Thánh Lu-ca đã nói mục đich của dụ ngôn này là bài học mà Đức Giê-su muốn trao ban cho một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê kẻ khác. Chúng ta có nằm trong đối tượng mà Đức Giê-su dậy bảo hôm nay hay không?

Tôi thấy cách hành xử của hai người: Pha-ri-sêu và thu thuế, đều được tôi lập lại trong cuộc sống hằng ngày. Sống trong một môi trường coi trọng thành tích, chúng ta nói cho nhau nghe các thành tựu, liệt kê một mớ bảng tạ ơn hay trọng thưởng. Chúng ta muốn nói cho người khác biết là chúng ta đang làm rất tốt; rồi từ đó chúng ta cũng nghĩ rằng Chúa đang mong đợi các điều tương tự từ nơi chúng ta, Chúa sẽ có ấn tượng tốt qua các thành công của chúng ta. Bị ảnh hưởng bới các yếu tố đó nên ông Pha-ri-sêu của mọi thời đại đã làm giống như người Pha-ri-sêu trong bài Tin Mừng. Cho dù ông mở đầu bằng lời tạ ơn, nhưng tâm tình tạ ơn của ông đâu chẳng thấy mà chỉ thấy ông khoe thành tích, kể công nghiệp hàm ý rằng những gì mà ông đang thụ hưởng là một sự đáp trả mà Chúa phải ban qua các việc ông đã làm. Ông không còn nhận ra những gì mà ông có được là hồng ân từ Chúa thì làm sao ông có thể tạ ơn được. 

 Chúng ta không cần tạo một ấn tượng tốt nơi Thiên Chúa. Chúa biết rõ chúng ta là ai, và Người còn biết tận tường chúng ta muốn gì. Vì thế, việc nhận ra vị trí và thân phận của chính mình là điều tiên quyết mà chúng ta cần có khi đến với Ngài. Thiên Chúa làm gì còn chỗ đứng nơi những kẻ chỉ biết đến mình. Sự thật giúp chúng ta nhận ra rằng mình là người có tội và chính vì thế chúng ta cần Chúa.

Muốn được như thế, chúng ta cùng nghĩ rằng:

·        Bản thân và tất cả những gì chúng ta có được đều thuộc về Thiên Chúa. Đừng nghĩ rằng mình xứng đáng và chiếm hữu nó; trái lại hãy xử dụng mà chia sẻ cho nhau. Như vậy, những gì mà chúng ta có thể làm được cũng là hồng ân của Chúa; chúng ta đâu còn có gì để báo cáo thành tích mà vinh vang.

·        Tất cả mọi người, dù già hay trẻ, cao hay thấp, sang hay hèn, cao trọng hay thứ dân, đều được mời gọi để trở nên công chính và thánh thiện. Mức độ thánh thiện không tùy thuộc vào công trạng của con người nhưng tùy thuộc vào mối tương quan giữa Chúa và ta. Khởi điểm của việc thiết lập mối tương quan đó là nhận ra sự thật than phận tội lỗi của mình mà bám víu vào lòng Thương xót của Thiên Chúa. Không vịn vào công trạng mà là một tâm tình phó thác trọn vẹn vào Đấng luôn yêu thương mình.

·        Sau cùng, giống như người thu thuế, chúng ta hãy can đảm chấp nhận thân phận tội lỗi của mình, đến với Chúa để xin được tha thứ và tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương và muốn cho mọi người được cứu thoát. Đó chính là khởi điểm của cuộc sống mới.  Cuộc sống không bị mặc cảm tội lỗi dầy vò; nhưng qua đó mà chúng ta nhận ra Tình Yêu của Chúa cao cả dường bao. Vì Ngài là tình yêu, và Tình yêu chính là bản chất và sức sống của Thiên Chúa. Amen!

 

 

 

 

 

 

Wednesday, 12 October 2022

GƯƠNG SÁNG CỦA BÀ GÓA


Dụ ngôn trong phần phụng vụ Lời Chúa của Chúa nhật tuần này và tuần sau liên kết với nhau trong một chủ đề, đó là cầu nguyện. Cầu nguyện là đề tài quan trọng trong Tin Mừng theo Thánh Luca. Thánh sử đã cố gắng đặt tất cả các biến cố quan trọng xẩy ra trong sứ vụ của Đức Giê-su trong bối cảnh của việc cầu nguyện.

Nhìn vào cách thức và lời giảng dậy về cầu nguyện của Đức Giê-su, chúng ta nhận ra rằng cầu nguyện là hành động được bộc lộ của lòng tin, đó không chỉ là việc phát sinh từ lòng đạo đức hay cơ hội để chúng ta trình bầy các nhu cầu của con người lên Chúa. Thật vậy, lòng tin của chúng ta cần được biểu lộ bằng việc làm và các việc làm đó phải được phát sinh từ mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Và mối quan hệ này phải có tính bền vững như điều Đức Giê-su nói với các môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay. Nếu những ai theo Chúa mà không ngày đêm kêu cứu Chúa, thì thực tế họ không có lòng tin nơi Người. Nói khác đi, cầu nguyện phải đi đôi với việc làm. Đó là lối sống của những ai tin vào Thiên Chúa.

Vì thế, trong câu mở đầu của bài Tin Mừng chúng ta đã nhận ra bài học và ý muốn của Đức Giê-su. Người dậy chúng ta phải siêng năng cầu nguyện. Cầu nguyện với lòng tha thiết và liên lỷ, không được nản chí. Sau đó, Người đã minh họa lời giảng dậy bằng dụ ngôn ông quan tòa bất lương gặp bà góa quấy rầy.

Trước tiên là việc xuất hiện của ông quan tòa. Các chi tiết mô tả về tính nết của ông quan tòa như: bất lương, không sợ trời, chẳng nể đất và cũng chẳng sợ ai được nhấn mạnh nhằm chuẩn bị cho chúng ta nhìn thấy trước khó khăn mà bà góa sẽ phải đối diện. Một ông quan tòa với cá tính như thế thì còn quan tâm và để ý đến lời van xin của ai nữa. Số phận của bà góa thật không may khi việc kiện tụng của bà lại được ông quan tòa ‘không có lòng thương xót’ định đoạt. Việc trình bầy ông quan tòa như thế chuẩn bị cho chúng ta nhìn ra số phận hẩm hiu của bà góa.

Sau đó, một bà góa như tất cả mọi bà góa trong xã hội Do Thái được trình làng. Hoàn cảnh của các bà góa thời Đức Giê-su không được bảo vệ và không có nhiều quyền lợi như các bà góa trong xã hội hiện đại. Họ là những người cô thân cô thế, bị thiệt thòi mọi sự, không ai binh vực. Nhưng lòng kiên tâm của bà được đề cao. Đó là điểm chính yếu của dụ ngôn. Bà cứ kiên trì kêu cầu mãi. Hết ngày này đến hôm khác, bà cứ chờ chực ở cửa quan để đòi công đạo, đòi được minh xét vì bà nghĩ rằng phần lỗi về đối phương, họ đã làm hại đến bà.  

Cuối cùng, vị quan tòa vô tâm và chẳng hề biết sợ ai của chúng ta cũng phải đứng ra xét xử bịnh vực quyền lợi cho bà. Thật lý thú khi chúng ta nghe được lối suy nghỉ của ông khi xét xử, ông ta chẳng vì công lý hay bị lương tâm thúc đẩy mà binh vực cho quyền lợi của bà mà chỉ vì sợ bị bà quấy rầy khiến cho ông bị nhức đầu long óc mà xử cho xong. Từ trong lối suy nghĩ của ông, chúng ta thấy ông quan tòa trước sau vẫn là ông quan tòa, không có một chút thay đổi. Ông ta vẫn ích kỷ và vì quyền lợi của bản thân mà xử quách cho xong để khỏi bị quấy rầy.

Sau khi kể truyện xong, Đức Giê-su mới kết luận: “Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao?” Như vậy, câu đầu tiên và câu cuối cùng của bài Tin Mừng cho chúng ta thấy ý tưởng chính là cần phải cầu nguyện luôn, đừng nản chí.

Cầu nguyện cần đi đôi với việc làm, không chỉ một lần là đủ mà cần sự liên lỷ và bền đỗ. Trong niềm tin và phó thác chúng ta dâng lên Chúa tất cả, không phải cứ mỗi lần chạy đến với Chúa lại là xin ơn.

Ý tưởng nêu trên được minh họa qua truyện kể sau.

Có một gia đình kia không giống như các gia đình khác. Ông chồng của căn nhà này là người cầm lõi, tay hòm chìa khóa thay vì nằm trong tay bà vợ như mọi gia đình khác thì lại nằm trong tay ông. Được một điều là ông rất đại lượng, không chi ly và ít khi chất vấn vợ con về việc này. Thế mà, đã có một lần ông cảm thấy nhức đầu long óc khi những người con của ông, hết cô này đến chú kia, lần lượt đến xin ông điều này, đứa khác lại xin ông cho tiền mua điều nọ. Đứa nào cũng cần. Cái gì các cháu đưa ra cũng đều đúng… Thế mới làm ông khổ. Từ trong nỗi khổ đó ông mới nghiệm ra một điều là con cái của ông dù lớn về phần xác, nhưng chưa một cháu nào trưởng thành và biết suy tính cho cuộc sống của chúng cả. Lúc nào hết xin lại đến cầu, cứ như vậy thì làm thế nào!

Từ hoàn cảnh thực tế mà nhiều gia đình vướng phải anh chị em thử hình dung ra cảnh Chúa phải nghe chúng ta, bao nhiêu tỷ người, lải nhải. Hơn nữa nhiều lúc chúng ta xin điều mà chúng ta không biết mình xin gì nữa.

            Vẫn biết khi đau thì xin khỏi bịnh… Nhưng, tại sao không xin phó thác và can đảm để đối diện với căn bịnh. Đó là chưa kể đến việc nếu bịnh nào Chúa cũng chữa khỏi thì cần gì mấy ông bác sĩ và cũng chẳng cần ngân sách để xây thêm nhà thương và các viện nghiên cứu nữa.

            Rồi trong cảnh nghèo, túng thiếu thì xin no đủ… Nhưng, tại sao không xin chấp nhận và cầu nguyện cho mấy ông nhà giầu biết noi gương Chúa mà sống đại lượng.

Làm thế nào để lời cầu xin của chúng ta được Chúa ban trong khi chúng ta lại sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến nhu cầu, dù thiết yếu, nhưng vẫn là xin cho mình.

Nói chung, dù xin ơn là điều chính đáng và cần thiết. Nhưng chúng ta dễ rơi vào vị trí của những người chỉ biết ỷ lại, chờ đợi sự bố thí của kẻ khác; chưa kể đến các ơn mà chúng ta xin dường như chỉ vì nhu cầu của bản thân…. Tại sao không xin ý Chúa….

Chúa dậy chúng ta phải lo và quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Lo bằng tâm (có nghĩa là cầu nguyện), quan tâm bằng hành động (viêc làm).

Để kết thúc, xin anh chị em cùng nghe phần chia sẻ của Đức cố Hồng Y Sin, Tổng giám mục Ma-ni-la, Phi Luật Tân. Trong một bài giảng, Ngài đã kết thúc bằng việc trích dẫn một vài ý trong bài thơ của một tác giả vô danh như sau:

·        Tôi đã xin Chúa cất đi tính kiêu căng và Chúa trả lời: “Không”. Ngài nói rằng không phải Ngài sẽ cất đi tính xấu đó, mà chính tôi mới là người cố gắng chiến đấu để vượt thắng nó.

·        Tôi đã xin Chúa ban cho tôi lòng kiên nhẫn và Chúa đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng kiên nhẫn là hoa trái của thử thách. Ngài không ban cho tôi trái ấy mà để tôi tự tìm lấy.

·        Tôi đã xin Chúa ban cho tôi được hạnh phúc và Chúa đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng Ngài ban ân phúc cho tôi, còn hạnh phúc hay không là tùy vào cách thức tôi đón nhận và hành động.

·        Tôi đã xin Chúa gia tăng tinh thần cho tôi và Chúa đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng tôi phải học để trưởng thành và lớn lên, nhưng Ngài sẽ mài dũa và cắt tỉa để tôi sinh thêm nhiều hoa trái.

·        Tôi đã xin Chúa đừng để tôi đau khổ và Ngài đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng đau khổ là một phần của đời sống và giúp tôi đến gần Ngài.

·        Tôi đã hỏi: “Liệu Ngài có yêu tôi không” và Ngài đã trả lời: “Có”. Ngài nói rằng Tình Yêu là bản chất và lẽ sống của Ngài. Chính Đức Giê-su, người Con mà Ngài yêu nhất đã chết để bộc lộ Tình Yêu đó cho tôi.

·        Sau cùng, tôi đã xin Chúa giúp tôi yêu mến tha nhân như Ngài yêu thương tôi và Chúa nói: “Cuối cùng con đã xin đúng điều Chúa mong đợi”.

Hy vọng, tâm tình và nguyện xin nói trên cũng là tâm tư của chúng ta.

Nguyện xin Chúa ban thêm lòng tin để chúng ta luôn kiên tâm cầu nguyện cho đến khi Người đến vẫn còn thấy lòng tin trên trái đất này. Amen!

Tuesday, 4 October 2022

SỐNG LÀ ĐỘI ƠN và ĐỘI ƠN LÀ SỐNG


Bắt đầu bằng một truyện kể. Số là sau biến cố xẩy ra tại Việt Nam vào tháng 4 năm 1975, người dân miền Nam Việt Nam sống trong hoang mang và lo sợ. Tất cả đều mới. Người lãnh đạo, kẻ thừa hành  và dân chúng đã mò mẫm tìm hướng đi. Nhân lực, tài lực và hầu như tất cả mọi nguồn để xây dựng đất nước đã đổ vào chiến tranh hết. Nay, trước tình hình thực tế, các nguồn viện trợ bị cắt giảm. Chính sách và đường lối điều hành thử đi nghiệm lại sao cho phù hợp với tình hình thực tế khiến mọi người đã nghèo, lại nghèo hơn, nhà nhà đều đói. Trong giai đoạn này, những ai gặp khó khăn về tinh thần cũng như vật chất thường hay chạy đến các cơ sở bác ái, tiêu biểu là chùa chiền và nhà thờ, để cầu may. Chúng ta nói cầu may là bởi vì các vị trụ trì tại các nơi đó cũng chưa chắc có đủ phần ăn hơn dân thường.

Vào một buổi chiều, trước cửa phòng khách của một tu viện xuất hiện một cô gái trẻ. Chị đến xin gặp linh mục bề trên. Sau hồi chuông báo, vị linh mục đó bước ra cửa nhà khách, rảo mắt nhìn chung quanh để tìm xem ai là người muốn gặp ngài. Trước mặt ngài là một cô gái. Sau những lời chào hỏi, chị kể lại các việc cha đã giúp chị vào mấy năm trước mà cha không còn nhớ. Nói xong chị gửi lại số tiền mà cha đã cho chị mượn. Với lòng biết ơn, chị nói: “Cảm ơn cha đã tin con. Chính nhờ vào niềm tin của cha đã khởi động niềm tin trong con. Và giờ đây, với lòng biết ơn con xin hoàn trả lại số tiền mà cha đã cho con mượn năm nào. Thật là quí hóa, bởi vì nếu không có sự giúp đỡ của cha, đời con rồi không biết sẽ trôi dạt đến bến bờ nào đây!” Câu chuyện nói trên có thể minh họa cho nội dung của bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe.

Trình thuật Tin mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giê-su chữa lành cho mười người bị bịnh phong cùi, thế mà chỉ có một người bộc lộ lòng biết ơn, quay trở lại và tôn vinh Thiên Chúa, còn chín người kia tiếp tục đi trình diện với các tư tế.

Có một chi tiết mà chúng ta nên ghi nhận ở đây, đó là trong cơn hoạn nạn thì mười người phong cùi có nhau. Họ không bị gốc gác dân tộc, tôn giáo và niềm tin chia cách. Họ có chung một căn bịnh nên gắn bó để bảo vệ và nâng đỡ nhau. Bản sắc chung của những người bị khinh chê, ruồng bỏ đã đẩy họ trở thành những người thân của nhau. Thế mà, sau khi được chữa khỏi, được tự do, họ lập tức bị ngăn cách. Nhưng, chỉ còn một người xứ Sa-ma-ri-a, vẫn còn bị coi là giống dân ngoại, đã trở lại gặp Đức Giê-su, Đấng vừa ban on cho ông được khỏi bịnh.

Đứng trước phản ứng của chín người kia, những ai khó tính sẽ cảm thấy bị tổn thương và đau lòng vì sự vô ơn của họ. Thật ra, họ đâu có làm điều gì sai, họ vẫn vâng lời Chúa, đang trên đường đến gặp các vị tư tế để xin giấy xác nhận trở về với các sinh hoạt thường nhật như mọi người. Tuy nhiên, vì bám vào lề luật như một bảo đảm cho cuộc sống nên họ đã mất đi cơ hội đón nhận sự thay đổi, điều mới mẻ mà Đức Giê-su vừa thực hiện. Tuy họ không sai nhưng cơ hội để được đổi mới đã vuột khỏi tầm tay của họ. Thật đáng tiếc!

Chúng ta thì sao? Vẫn sống và chu toàn mọi khoản luật như là nguồn sức mạnh cứu thoát chúng ta hay sẵn sàng nhận biết ơn Chúa với lòng cảm tạ mà  tôn vinh và thờ lậy Ngài. Không ai trả lời vấn nạn này thay cho chúng ta.

Đối với Thiên Chúa, điều làm cho con người có giá trị là thái độ và cách ứng xử của chúng ta trước lượng ân sủng vô biên của Thiên Chúa đổ trên chúng ta. Chúng ta đã làm gì với các hồng ân cao cả như thế. Thánh Gioan cho biết: “Tự nguồn sung mãn của Chúa, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.” Ngài ban cho mỗi người những ơn họ cần, tùy thuộc vào khả năng đón nhận của từng người, nhưng cùng mục đích là để họ sống tốt đẹp và thánh thiện hơn. Có nhiều ơn rất tự nhiên, tự nhiên đến độ chúng ta quên luôn người đã tạo ra các ơn huệ đó.

Thí dụ không khí và hơi thở. Trong thời gian chống trả với nạn đại dịch Covid vừa qua, khi chứng kiến các bịnh nhân bị nhiễm Covid, hơi thở mệt nhọc vì thiếu dưỡng khí, tôi mới nhớ lại nguồn năng lực này. Nếu không có dưỡng khí, mấy ai trong chúng ta còn sống được. Hàng triệu người đã chết vì Covid, thế mà chúng ta vẫn còn sống. Không là hồng ân được ban tặng thì là điều gì nữa đây, thế mà chúng ta vẫn sống như người vô ơn!

Trong cuộc sống, đã có bao nhiêu dấu chỉ nói lên sự can thiệp và thông ơn của Thiên Chúa. Nếu không có ơn Chúa thì làm sao vợ chồng có thể yêu thương, kính trọng và luôn làm gương sáng cho con cái được? Nếu Chúa không hoạt động thì làm sao ông cha này bà phước kia hay thầy dòng nọ có thể quên ‘cái tôi’ của bản thân mà hết lòng phục vụ dân Chúa? Kể sao cho hết những ơn lành Chúa ban cho như ơn khôn ngoan, sự hiểu biết, cơ hội phục vụ, sức khỏe tráng kiện, đầu óc minh mẫn, con tim trong sáng, đồng cảm để tha thứ cho nhau, và ngay cả các đau khổ cũng là cơ hội để giúp mình nhận ra sự bất toàn và mỏng dòn của thân phận con người mà nương tựa vào Chúa hơn…, tất cả đều là ơn của Chúa. Điều quan trọng là mắt chúng ta có mở rộng đủ để nhận ra ơn Chúa hay là lại nghĩ rằng đó là những gì mình xứng đáng được, và nếu như thế thì hình như chúng ta đã coi Chúa như là người đầy tớ thay vì Đấng ban ơn rồi!

Đứng trước những ơn lành Chúa ban, chúng ta hay dùng các từ như tạ ơn, cảm ơn, ghi ơn, nhớ ơn, biết ơn…, để diễn tả thái độ của chúng ta, nhưng có lẽ một từ mộc mạc và đầy ý nghĩa nhất mà lâu nay chúng ta quên không dùng đó là ĐỘI ƠN: Ơn Chúa nhiều quá, nặng quá, đến độ ta không cầm, không thể mang, không cách nào khoác vào được, mà phải đội trên đầu, diễn tả sự kính trọng đối với Chúa, với ơn Chúa. Đội trên đầu thì phải sấp mình, quì gối xuống mà tôn vinh Đấng ban ơn. Đó chính là mẫu mực và cách hành xử của người Sa-ma-ri-a làm hôm nay.

Bằng cử chỉ trở lại để đội ơn Chúa đã làm cho người Sa-ma-ri-a được chữa lành hoàn toàn, về phần xác anh được khỏi bịnh phung và phần hồn anh được đổi mới để nhận biết Chúa là gia nghiệp và là sức sống của anh. Thật vậy, điều Chúa phán “Đứng dậy về đi! Lòng tin của con đã cứu chữa con” đã ứng nghiệm trong cuộc sống của anh ngay trong giây phút anh gặp Chúa.

Xin cho cuộc sống của chúng con là một chuỗi ngày đội ơn Chúa, Đấng thường xuyên săn sóc, bảo vệ và ban ơn chữa lành cho chúng ta về phần hồn cũng như phần xác. Amen!

 

 

Wednesday, 28 September 2022

HÃY THÊM LÒNG TIN CHO CON


Với bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Lu-ca đã đưa chúng ta trở lại cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem với Đức Giê-su. Người biết ngày hoàn tất sứ vụ đang đến gần, nên từ giờ phút này trở đi, Người dành nhiều thời gian để hướng dẫn các môn đệ.

Đức Giê-su nhìn nhận rằng việc gặp thử thách, bị vấp ngã rồi phạm lỗi là các điều thường xẩy ra trong cuộc sống của người môn đệ. Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta có thể nại vào sức yếu đuối rồi làm gương mù, gương xấu khiến cho các thành viên khác trong cộng đoàn bị vấp ngã. Đức Giê-su xem ra có vẻ nghiêm khắc khi lên án những ai làm cớ vấp phạm cho kẻ bé mọn, Người nói rằng chẳng thà người đó bị đá cột và xô xuống biển thì hơn. Lời Đức Giê-su vừa phán có vẻ khá gay gắt, nhưng Người không có ý khuyến khích chúng ta có những hành vi bạo động đối với những ai làm gương xấu cho kẻ khác. Thật ra, Đức Giê-su muốn nhắc nhở chúng ta nên nhớ đến bổn phận của mình. Đó là: hãy cẩn thận trong lời nói và hành động. Đừng làm cho người khác bị lầm đường lạc lối, bị vấp ngã hay lòng tin bị lung lay.

Đức Giê-su không dừng lại ở lời cảnh báo nghiêm khắc đó. Người tiếp tục khuyên các môn đệ phải giúp nhau nhận ra lỗi lầm mà sửa đổi, không chỉ bẩy lần mà là bẩy mươi lần bẩy. Con số bẩy mươi lần bẩy không ám chỉ đến số lần phải tha, nhưng muốn nhấn mạnh đến việc tha thứ vô hạn định, tha liên tục, tha không điều kiện và điều quan trọng hơn cả là chúng ta tha cho nhau vì chúng ta yêu nhau.

Hẳn chúng ta còn nhớ rằng, mọi hình thức đổ vỡ thường xẩy ra ở nơi khi con người không biết tha thứ, khi con người sống vô tâm, sống ích kỷ và không để ý đến nhu cầu trong cuộc sống của nhau. Trong khi đó, chúng ta được mời gọi sống bên nhau như một gia đình. Chúng ta là phần tử của một thân thể, nối kết và được nuôi dưỡng bởi Đức Ki-tô. Chúng ta được mời gọi sống và chia sẻ cho nhau, chăm sóc lẫn nhau và xây dựng nhau trong gia đình đức tin.

Đó là tâm trạng và cảm nhận của các môn đệ khi họ nghe Chúa ban các chỉ dẫn về việc làm gương sáng và tha thứ cho nhau. Đây quả thật là một lịnh truyền vô cùng trọng đại và vượt quá sức của họ. Tự mình họ rất khó thực hiện. Vì thế, các tông đồ, thay mặt cho các môn đệ, xin Chúa: “Hãy thêm lòng tin cho chúng con.”

Các môn đệ đang cầu xin Chúa Giêsu thêm lòng tin cho họ, nghĩa là làm cho họ biết sống phó thác hơn, biết lệ thuộc và nương tựa vào Chúa nhiều hơn nữa, biết cố gắng sống trung tín với ơn gọi của người môn đệ. Họ biết rằng nếu họ tuân theo mệnh lệnh của Người để tha thứ như Chúa thì họ cần Chúa giúp đỡ. Hành vi tha thứ này không tự nhiên đến với bất cứ ai, phải được phát sinh từ Chúa. Họ thấy mình yếu đuối, trong khi đó giới lịnh của Chúa thì cao cả. Họ chỉ có thể hoàn thành với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Vì thế, họ đã xin thêm lòng tin.

Đó cũng là lời van xin của chúng ta. Đã có nhiều lúc chúng ta đối diện với các khó khăn, những trở ngại vượt quá sức mình. Tôi muốn thay đổi nhưng dường như cảm thấy bất lực trong việc sửa chữa vì vậy tôi, không chỉ một lần mà rất nhiều lần, đã cầu xin: Chúa ơi, con cần Ngài, xin hãy thêm sức mạnh và lòng tin cho chúng con.

Ngay lúc đó, Lời Chúa phán hôm nay vang vọng trong tai tôi: “Nếu các con có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh chị em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh chị em.” Lòng tin ở đây là sự phó thác và vâng lời mệnh lệnh mà Chúa muốn. Nó ẩn chứa tấm lòng cậy trông và tín thác vào Chúa là mình sẽ thực hiện các việc làm gương sáng, mình sẽ quan tâm, chấp nhận lỗi lầm và sẵn sàng tha thứ cho họ nữa. Lòng tin như thế không chỉ chứng tỏ mình đã trưởng thành, mà còn trở thành gương sáng cho người khác nữa.

Thưa anh chị em,

Như thế, cuộc sống của người môn đệ trước tiên phải được đặt trên căn bản của lòng tin, sự phó thác và lòng yêu mến vào Đấng mà chúng ta tin tưởng sẽ bảo vệ và săn sóc cho chúng ta. Ý nghĩ này được mô tả qua câu chuyện sau đây. Truyện kể như sau:

Mỗi khi có dịp đi xem xiếc, chúng ta thấy có màn đu bay nhào lộn rất hồi hộp. Một lần kia cha Henri Nouwen, một thần học gia chuyên về tu đức, đi xem xiếc. Đến màn biểu diễn đu bay. Ngài chăm chú theo dõi và đặc biệt ghi lại những động tác của các diễn viên khi thực hiện màn xiếc này. Nhiệm vụ của người bay là bung người ra khỏi xà ngang, đôi tay duỗi thẳng. Ông ta bay về hướng người đu, rồi để người đu lo phần chộp bắt. Người bay đặt trọn niềm tin và phó thác nơi bạn diễn của mình. Ông ta không hề có ý định nắm chụp tay của người đu; bởi vì, nếu ông ta phạm phải lỗi lầm đó thì sẽ gây ra tai nạn cho cả hai.

Sau buổi trình diễn, cha Nouwen đến hỏi người bay ra khỏi xà ngang rằng: “Vai trò của ông có phải chỉ cần bung người mình ra mà thôi và không cần làm bất cứ một động tác nào khác chứ?” Đúng vậy, tôi không được phép làm bất cứ chuyện gì khác, ngoài việc bung người ra và duỗi thẳng đôi tay để cho bạn tôi là người đu chộp lấy”. Cha cũng như mọi khán giả đều nghĩ tôi là một diễn viên xuất sắc. Thật ra thì không phải như thế, chính người đu và chộp vào đôi tay của tôi mới là diễn viên chính, anh bạn diễn của tôi cần bay ra, chụp vào cườm tay của tôi và đưa tôi về lại xà ngang đúng lúc. Tất cả mọi động tác anh làm cần đúng thời điểm và chuẩn xác bằng không thì tai nạn sẽ xẩy ra cho chúng tôi. 

Anh chị em thân mến,

Cuộc sống của chúng ta cũng thế, giống hệt như nhiệm vụ của người bay trong màn đu bay của đoàn xiếc. Chúng ta được sinh ra và sống trong thế gian này với tất cả mọi thứ tự do bay lượn và thực hiện những ước mơ, nhưng chúng ta cần bay lượn trong sự phó thác, bay trong niềm xác tín vào Đấng sẽ chụp bắt và đưa chúng ta vào trong vũ trụ của Ngài.

Như người bay trong đoàn xiếc chúng ta hãy bung ra khỏi xà ngang và đặt trọn vẹn niềm tin vào Đấng đang đu và luôn trông chờ để chộp bắt chúng ta. Hãy để cho người chộp lo toan mọi sự cho chúng ta.

Hãy từ bỏ mọi ước vọng, mọi toan tính, mọi ước muốn có thể thay thế vai trò và nhiệm vụ của người đu bắt.

Trên hết mọi sự hãy sống vui tươi, sống phó thác, sống tin tưởng và đặt mình vào bàn tay yêu thương của Đấng nắm giữ vận mạng cuộc đời của ta.

Cuối cùng, hãy thân thưa cùng Chúa rằng: “Trong tay Ngài, Lậy Chúa, con xin phó thác thần trí, hơi thở, sức sống và mọi sinh hoạt trong đời sống của con.” Amen!

Wednesday, 21 September 2022

BỔN PHẬN VỚI NGƯỜI NGHÈO


Bài Tin Mừng của Chúa Nhật tuần này nói về lối sống nhung lụa của ông phú hộ và cảnh nghèo hèn đói khát của La-da-rô. Chúa không hề nói đến cách làm giàu của ông phú hộ; và cũng không hề ca tụng cảnh nghèo hèn của La-da-rô. Không có chỗ nào nói La-da-rô là một con người nhân đức, anh chỉ được giới thiệu là một người nghèo. Cũng vậy, không có chỗ nào nói ông nhà giầu là kẻ ác ôn, đã vơ vét của cải một cách mờ ám, đã chiếm đoạt, đã bóc lột một cách bất chính, đã lợi dụng La-da-rô. Chúa cũng không bảo La-da-rô là người đức hạnh và ông nhà giầu là người xấu xa. Chỉ đơn giản, ông nhà giầu là người giầu, La-da-rô là người nghèo.

Ông nhà giầu đã không nhìn thấy La-da-rô nghèo đói khốn cùng, đang nằm ở ngoài cổng. Giữa họ có một khoảng cách. Khoảng cách không phát sinh từ hoàn cảnh sống hay địa vị của họ, cho bằng thái độ sống và cách chọn lựa, đó là lòng vô cảm, không quan tâm đến người khác của ông nhà giầu. Như vậy, chúng ta mới nhận ra trọng tâm mà dụ ngôn muốn gửi đến, đó là: nếu chúng ta không quan tâm, giúp đỡ, thương yêu nhau, đặc biệt những ai nghèo hèn thì chúng ta không còn là bạn của Đức Giê-su nữa.

Vẫn biết sứ điệp thật rõ ràng. Nhưng áp dụng vào hoàn cảnh thực tế không dễ dàng.

Khi còn làm việc tại trung tâm Hoan Thiện, một cơ sở công giáo để phục vụ người Việt tại Keysborough và các vùng phụ cận thuộc về phía nam của thành phố Melbourne. Tôi thuờng gặp những hoàn cảnh thật khó xử. Có những người đến xin được giúp đỡ. Dân Việt mình thì xin chứng giấy tờ, bảo đảm đức hạnh. Còn những nguời khác, người thì xin tiền, kẻ khác đổ xăng hay trả tiền thiếu hụt thuê nhà, v.v.

Lòng thì muốn giúp, thế nhưng đầu óc, kinh nghiệm và những lời khuyên của các vị lão luyện trong việc mục vụ làm tôi chần chừ. Cuối cùng, tôi cũng tìm cách thoái thác và gửi họ đến các văn phòng xã hội lo cho người nghèo, như văn phòng của hội bác ái St. Vincent de Paul. Tuy giải quyết xong vấn nạn. Nhưng lòng tôi cảm thấy không thoải mái khi tiễn chân họ ra khỏi trung tâm. Cách hành xử như thế, tuy có chút khôn khéo nhưng chưa hẳn là khôn ngoan.

Thưa anh chị em, như đã trình bầy ở trên, trọng tâm và sứ điệp của dụ ngôn là việc chia sẻ mối dây yêu thuơng và lòng quan tâm của chúng ta dành cho người nghèo. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên để ý đến đối tượng mà dụ ngôn muốn gửi đến, đó là những người biệt phái hay có tinh thần biệt phái. Họ nghĩ rằng cuộc sống nhung lụa mà họ đang thụ huởng là phần thuởng mà Thiên Chúa phải trao ban vì những ông đức, nhất là việc chu tòan lề luật một cách chu đáo của phe nhóm họ. Còn đám dân ngọai kia biết gì về Chúa. Không biết gì về Chúa thì làm sao hiểu và chu toàn luật Chúa được. Và như thế làm sao Chúa ban ơn cho họ được. Nghèo là phần số dành cho những ai không tuân giữ lề luật của Chúa thôi! Một điều đáng buồn là trong con mắt và dưới cái nhìn của những người biệt phái thì đám dân nghèo đó thật đáng khinh. Họ giống như La-da-rô, ngồi tại cổng ra vào để chờ chực phần ăn rơi rớt từ trên bàn tiệc của những nguời biệt phái vậy.

Quan niệm của những người biệt phái thật sai lầm. Thiên Chúa của Đức Giê-su không hành động như thế. Tất cả mọi người đều là hình ảnh của Thiên Chúa. Người nào cũng đáng yêu và đáng mến cả. Không có việc lọai trừ hay phân chia giai cấp dựa trên tiêu chuẩn giầu hay nghèo, sang hay hèn. Tất cả đều bình đẳng trong tương quan với Thiên Chúa. Ai trong chúng ta cũng được Chúa yêu thương. Không có một quyền lực nào có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giê-su.

Vì vậy, chúng ta được mời gọi để nhận ra, để nhìn thấy Chúa Giê-su trong nhau, và cũng nhận ra các giá trị thiêng liêng qua việc chia sẻ vật chất dành cho người khác. Và chỉ trong mối dây tuơng quan mật thiết luôn nghĩ đến nhau, luôn quan tâm cho nhau mới giúp chúng ta lắp đầy các hố sâu ngăn cách vì vô tâm, vị kỷ để nối kết con người lại gần nhau hơn, và trở thành một gia đình mà chính Chúa là nguời Cha duy nhất. Đó là mối quan hệ mà Chúa Giê-su mời gọi chúng ta xây dựng.

Vì vậy, bài đọc hôm nay mời gọi chúng ta buớc ra khỏi tình trạng an tòan trong cuộc sống để ra đi bằng việc làm hàn gắn các hố sâu ngăn cách và kết nối con người lại với nhau. Chúng ta không cần chờ đến sau khi chết mới thấy hậu quả của cuộc sống “vô cảm, vô tâm” của ông phú hộ trong dụ ngôn hôm nay. Ngay đời này. Mấy ai sống trong nhung lụa mà thấy hạnh phúc. Họ đang tự chôn mình trong nỗi cô đơn mà chính họ tạo ra.

Như vậy, dụ ngôn không hề có ý mô tả cuộc sống mai sau. Dụ ngôn muốn nói rằng cuộc sống hiện tại của mấy ông nhà giầu cho dù có sướng thật, nhưng chưa hẳn là một cuộc sống có giá trị và thật sự sướng. Sự hiện diện của người nghèo không phải là một gánh nặng trong cuộc sống của ông; trái lại qua những người nghèo, mấy ông nhà giầu phải nhận ra rằng cuộc sống của họ đang thụ hưởng chỉ đem lại hạnh phúc đích thật nếu họ biết chia sẻ, xây dựng mối dây thân ái, tạo sự hiệp thông bằng việc làm như những lời vàng ngọc mà chúng ta đã nghe trong phần Lời Chúa của tuần trước là hãy dùng tiền của bất chính mà gây nhân nghĩa. Nhân nghĩa là xây dựng đền thờ trong tâm hồn con người… Nhưng hình như, uớc muốn của các người nghèo như La-da-rô trong bài Tin Mừng hôm nay không được mấy vị giầu có trong xã hội và giáo hội quan tâm đến, và như thế thì tự việc chọn lựa cách sống vô cảm, vô tâm của mấy ông nhà giầu đã quyết định cho số phận của họ rồi.  

Còn chúng ta thì sao?

Trong bài Tin Mừng, Chúa nói thật rõ rằng không có ai, kể cả người chết sống lại, có thể buộc chúng ta phải yêu mến. Lời Chúa, lề luật và các ngôn sứ đã được gửi đến. Mặc khải đã có sẵn. Đức Giê-su đã đến. Việc đón nhận để áp dụng vào trong cuộc sống là bổn phận của chúng ta. Vì thế, là người tín hữu, môn đệ của Chúa Cứu Thế, chúng ta tin rằng: chỉ có việc quan tâm, để ý đến nhu cầu của người khác mới có thể tạo nên những nhịp cầu, những lối đi dẫn con người đến sự hiệp thông, đến tình liên đới. Khi biết để ý đến người khác, dù chỉ là nụ cười, đôi lời tâm sự, vài phút bên nhau…tất cả các cử chỉ nói trên đều là những dấu chỉ mà Thiên Chúa muốn chúng ta trao cho nhau. Và, trong Chúa tất cả đều dễ thương, tất cả đều trở thành cơ hội để chúng ta yêu thương. Vì thế, đừng sống vô tâm, đừng đến với nhau như những người vô cảm. Còn rất nhiều La-da-rô trong xã hội, trong lòng Hội Thánh. Họ đang chờ chúng ta băng bó, suởi ấm để cho thế giới bớt băng giá hơn.

Anh chị em hãy nhớ rằng, ai trong chúng ta cũng nghèo. Nhận ra tình trạng nghèo của bản thân để biết rằng: chỉ có trong Chúa chúng ta mới giàu có, chỉ có trong Chúa chúng ta mới làm được những gì mà Chúa muốn. Vì thế, hãy san sẻ cho nhau bởi vì chỉ có như thế Chúa mới có cơ hội ban của đầy dư để chúng ta có mà tiếp tục chia sẻ cho nhau. Amen!

Wednesday, 14 September 2022

XỬ DỤNG TIỀN CỦA THẾ NÀO?


Phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật tuần này mời gọi chúng ta đối diện với một vấn đề rất quen thuộc và vô cùng quan trọng trong lối sống của người môn đệ. Chúng ta cần học để xử dụng của cải như thế nào?

Tiền của có đó. Nhưng cách làm ra tiền và cách xử dụng luôn là những vấn đề then chốt. Tiền của có thể là đầy tớ, khi khác lại là ông chủ chi phối cuộc sống của người môn đệ. Nó gần gũi và gắn liền với cuộc sống của chúng ta đến độ đã có nhiều người nói “đồng tiền liền khúc ruột.”  Chúng ta không thể coi thường nó.

Nhìn lại lịch sử và xem lối sống của những người chung quanh, chúng ta khám phá ra một điều thật lạ. Bởi vì có hàng triệu, triệu người đã và đang tin vào tình thương cứu độ của Chúa; rồi lại có hàng hàng lớp lớp những người trẻ có, già có nối đuôi nhau ra đi tham gia vào các công tác thiện nguyện, cứu trợ người nghèo… Thế mà số người chết đói và sống trong cảnh thiếu ăn thiếu mặc vẫn không thuyên giảm! Tài sản mà Thiên Chúa trao ban cho con người thuộc về ai? Chúng ta đã xử dụng nó vào mục tiêu nào? Cho cá nhân hay cho việc chung?

Đối với các tín hữu, chúng ta được dậy là cuộc sống của chúng ta không chỉ lệ thuộc vào tiền của, và tiền bạc cũng không là mục đích tối hậu mà chúng ta nhắm đến. Toàn bộ con người và cuộc sống của chúng ta là để và dành cho việc phục vụ Nước Trời.

Nói thì dễ, làm rất khó. Nhưng đó là bổn phận. Nói chưa đủ, phải làm vì không làm không được.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Luca tiếp tục thách thức những người tham lam và những ai chỉ biết đến tiền và tiền. Trước tiên chúng ta nghe một dụ ngôn tuy đơn giản, nhưng lại đưa ra nhiều điều hơi khó hiểu. Dụ ngôn nói về tình trạng của một vị quản lý bị tố cáo đã phản bội và không xử lý tốt tài sản của chủ nhân. Ông ta bị chủ cho nghỉ việc. Trước khi bị đuổi việc, ông có thời gian để hoàn bị sổ sách với chủ của mình. Trước quyết định như bị sét đánh, ông quản lý không một chút hoảng hốt, bình tĩnh ngồi lại để suy nghĩ và tính toán tương lai cho mình. Ông bèn nghĩ đến việc thực hiện một vài cuộc giao dịch với các con nợ của chủ ông.

Theo luật Môi-sen và để bảo vệ cho nhóm người nghèo thì người Do Thái không được phép cho cho vay ăn lãi. Tuy nhiên, nếu họ tìm ra được chứng cớ công nhận những khoản cho vay là những vật liệu mà người vay không nằm trong tình trạng cấp bách để dùng thì được quyền tính lời. Vì thế, trong dụ ngôn hôm nay chúng ta thấy dầu và lúa được đề cập; vì nhà nào mà không còn chút ít dầu và lúa để dùng; đây là những thứ dùng để dự trữ, không phải là những vật liệu cứu đói; nên ông quản lý được quyền tính lời và số lợi lộc này được coi như hoa hồng, bonus riêng mà người quản lý được thu nhận. Như vậy, việc giảm thu lãi mà người quản lý làm trong dụ ngôn không làm thiệt hại tài sản của ông chủ.

Bằng cách tính toán này, ông quản lý đã chuẩn bị cho giai đoạn hoạn nạn sau khi bị chủ đuổi; ông sẽ có thêm nhiều bạn hữu, họ sẽ nhớ đến ân tình mà cư xử tốt với ông sau này. Còn phía ông chủ, khi phát hiện ra điều này, khen ngợi sự khôn khéo của viên quản lý.

Đức Giê-su kết thúc dụ ngôn bằng lời khẳng định rằng những người tội lỗi của thế hệ này trong cách cư xử với nhau thì khôn khéo hơn con cái của ánh sáng. Sau đó, Người khuyên chúng ta hãy xử dụng tiền của, tự nó đã là vật bất chính, như một cách để tạo lấy bạn bè, phòng lúc bất trắc, khi lâm vào cảnh cùng cực, thì có người sẽ đưa tay ra để đón rước và dẫn chúng ta vào nơi vĩnh cửu.

Tiền của, tự nó đã có mãnh lực như một vị thần, nhưng khi chúng ta biết làm chủ thì nó không thể điều khiển tâm trí và lối sống của chúng ta; lúc đó tiền của lại có thể làm nên những điều lợi và tuyệt vời. Con cái ánh sáng là những người cố gắng sống theo hướng tốt lành và thiện hảo. Là những người con của sự sáng, chúng ta được mời gọi sống khôn ngoan và chân thật về cách xử dụng những hồng ân đã được ban tặng hầu mưu cầu ích lợi bền vững và lâu dài sau này. Hãy luôn ghi nhớ rằng chúng ta, tất cả, đều là những đầy tớ vô dụng chỉ biết thực hiện nhưng điều chủ sai khiến.

Quả thật, câu chuyện trong dụ ngôn tuy có nhiều điểm khó giải thích, nhưng lại nêu lên một vấn đề căn bản trong cuộc sống của người tín hữu là cần phải khôn ngoan khi dùng những ân huệ mà chúng ta đã lĩnh nhận. Làm giầu bằng cách cho đi thì ích lợi hơn là lối sống ích kỷ và đầu cơ tích trữ ân sủng cho bản thân mình mà thôi.

Viên quản lý đã bất chính trong việc xử dụng tài sản của ông chủ. Nhưng theo Đức Giê-su thì ông lại khôn khéo khi dùng việc giảm thiểu phân lời để tạo thêm tình bạn. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là phương thức giải quyết khó khăn tạm thời. Người môn đệ của Chúa phải học để biết cách xử dụng tiền của cho mục tiêu dài hạn theo ý của chủ. Đây mới là điều quan trọng mà chúng ta cần đạt được.

Khi tạo dựng, Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta quyền trông coi tài sản của Ngài. Chúng ta chỉ thi hành bổn phận của người quản lý. Một người quản lý trung tín là người biết coi sóc và lệ thuộc vào ông chủ. Chúng ta không xử dụng tài nguyên, năng lực như của riêng, nhưng phải theo ý của chủ. Phải biết tính lời cho chủ chúng ta. Như thế, không chỉ tiền của mà là mọi sự chúng ta có được nhằm cho người khác. Chúng ta chỉ là những tá điền trong vườn nho của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, ai trong chúng ta cũng nên thừa nhận rằng lòng tham là sức mạnh cám dỗ chúng ta trở thành những kẻ lệ thuộc thay vì làm chủ tiền của. Không ai có thể làm tôi hai chủ được. Chúng ta cần học để biết mà sử dụng các ân huệ của Chúa sao cho được sung túc và sinh nhiều hoa lợi, không cho bản thân, mà là cho Chúa và tha nhân. Nói cách khác, một khi chúng ta dấn thân vì nước Trời thì tiền của, năng lực, con người và toàn bộ cuộc sống của chúng ta cũng chỉ là dụng cụ cho việc phục vụ tha nhân theo tiêu chuẩn của Nước Thiên Chúa mà thôi.

Việc làm này rất khó! Vì thế, chúng ta hãy cầu xin cho nhau sống được điều Chúa dậy bảo hôm nay. Amen!

Wednesday, 7 September 2022

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA TỒN TẠI MUÔN ĐỜI


Ba dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay nói về tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, qua Đức Giê-su, Đấng đến làm bạn và kêu gọi những kẻ tội lỗi ăn năn trở lại. Tuy nhiên hành động của Người lại làm cớ vấp phạm cho những người tự nhận mình là người công chính. Đức Giê-su muốn nhắc cho họ nhớ lại rằng: Trước mặt Thiên Chúa, ai cũng đáng được coi trọng. Người không coi thường ai, xem ra kẻ có tội lại đáng thương hơn. Không ai có thể thay thế ai. Chín mươi chín con chiên đang sống yên lành cũng không được coi trọng hơn một con chiên bị lạc. Chưa kể khi chiên được chăn theo bầy thì sức ảnh hưởng của con chiên đi lạc có thể tạo thành mối nguy hiểm cho cả đàn chiên rồi kéo các con khác cùng đi theo. Lòng thương xót của Người bao la hơn việc tính toán giữa số một và số chín mươi chín xem số nào lớn hơn!

Tương tự như thế, cách cư xử của Thiên Chúa nơi Đức Giê-su thì giống như bà nhà quê trong dụ ngôn hôm nay. Bà bị mất chỉ một đồng xu; thế mà đã thắp đèn, quét nhà, lục lọi để tìm kiếm cho được đồng tiền mà bà ấy đã bị mất. Không lẽ đồng xu này lại có giá trị hơn các đồng xu khác chăng? Không hẳn như thế; nhưng chắc một điều là nếu bà không tìm thấy đồng tiền bị mất thì các đồng xu kia cũng chỉ là những đồng tiền rời rạc trong một sâu chuỗi bị đứt. Vì thế, bà phải tìm, không chỉ vì giá trị của đồng xu, cho bằng sự nối kết của các đồng xu và tâm tình hân hoan và vui mừng khi bà tìm thấy.

Và điều này cũng thật xác đáng khi chúng ta áp dụng vào hoàn cảnh của gia đình mà một thành viên bỏ nhà ra đi. Gia đình sẽ mất đi bầu khí gia đình mỗi khi nhớ đến hình ảnh và dáng vẻ của người đã ra đi. Lòng thương xót của Chúa là như thế. Lúc nào cũng ngóng trông và chờ đợi sự hiện diện bằng xương bằng thịt của người vắng mặt. Có tâm tình như thế, chúng ta mới hiểu được nỗi vui mừng khi gặp lại người đã bị mất.

Chúa Giê-su xử dụng các câu chuyện này để giải thích cho những người Pha-ri-siêu và cho mỗi người chúng ta hiểu rõ lý do tại sao mà Người lại mở lòng ra đón nhận những người tội lỗi và đồng bàn với họ. Tất cả đều có kinh nghiệm này, con chiên bị lạc, đồng xu bị mất và việc đi lạc của cậu con thứ đều không quan trọng bằng việc tìm kiếm và niềm vui của Thiên Chúa khi tìm thấy họ.

Vì thế, thưa anh chị em,

Sứ điệp của bài Tin Mừng hôm nay giúp cho chúng ta tin tưởng và sống trong hy vọng rằng cho dù bản thân và cuộc sống của mình có ra sao, Chúa vẫn yêu thương và săn sóc ta. Chúng ta không bị ruồng bỏ, cho dù đã phạm lỗi lầm. Trái lại hãy nhận ra ngay trong giây phút bị mất hướng, đi lạc hay bị đổ vỡ Chúa vẫn đang ôm ấp chúng ta trong tình yêu và lòng thương xót của Người.

Các dụ ngôn hôm nay còn mời gọi chúng ta cộng tác với Thiên Chúa trong việc tìm kiếm những người bị lạc, không cần biết họ là ai và cuộc sống của họ ra sao. Thương xót vì đã được xót thương. Giống như thế, niềm vui khi được Chúa ôm ấp vỗ về sẽ trở thành động lực thúc đẩy chúng ta chia sẻ niềm vui đó cho nhau. Trong giây phút đó, niềm vui tăng gấp bội. Vui vì được Chúa yêu và còn gì vui hơn khi biết người thân đang đi lạc cũng được Chúa yêu qua mình. Thật vậy, đây là một kinh nghiệm sống thật tuyệt vời mà không ai có thể giữ cho riêng mình mà cần phải san sẻ cho nhau.

Còn một chi tiết, đó là giống như hai dụ ngôn đầu, nếu dụ ngôn người cha nhân hậu dừng lại ở bữa tiệc mừng ngày trở về với gia đình của cậu con thứ thì vui biết mấy. Nhưng không phải như thế, Đức Giê-su tuy vui, nhưng niềm vui vẫn chưa trọn vẹn, Người vẫn còn nhớ rằng cậu con cả vẫn đang đứng bên ngoài. Anh chưa cảm nhận được niềm vui của cha anh! Đó là thách đố mà cậu con cả và chúng ta cần phải đáp trả.

Hình ảnh của người con cả tượng trưng cho chín mươi chín người công chính. Họ là nhóm người đề cao lối sống hoàn hảo dựa vào lề luật như là con đường duy nhất để nên thánh. Từ đó, họ mải mê khoe khoang về bản thân họ là những người tốt, về việc đối xử đại lương và rộng tay ban phát của họ, và việc thường xuyên tham dự các nghi thức phụng tự và đóng góp công sức của họ vào nhà thờ như thế nào. Họ nghĩ và chủ quan cho rằng chỉ có họ mới là người hoàn hảo và làm gương cho những người khác noi theo. Nhưng họ lại quên rằng trước mặt Chúa, mọi người đều là những kẻ khó nghèo. Sự giầu có và hoàn hảo giả như có đạt được cũng là hồng ân, là quà tặng của Thiên Chúa ban cho. Bởi vì họ không biết việc đó nên họ mới ngạo mạn; họ là những người sống trong nhà mà không biết mình thuộc về nhà. Họ đã mất mối dây hiệp thông gia đình ngay khi còn ở trong nhà.

Anh con cả là đại diện cho nhóm người này. Anh chưa bao giờ có cảm nghiệm về lòng thương xót của Thiên Chúa cho nên không hề biết xót thương và thông cảm cho chú em! Cho dù là như thế, Thiên Chúa vẫn yêu thương anh. Anh vẫn được chào mừng qua cử chỉ của người cha khi ông không đứng ở cửa chính mà từ trong nhà chạy ra để đón tiếp anh. Chúng ta cũng thế, hãy sẵn sàng mở lòng ra để đón nhận kẻ đi lạc khi họ trở về với Chúa. Bởi vì đó là sự vui mừng của Chúa khi chào đón sự trở về của chúng ta.

Vì thế qua các dụ ngôn hôm nay, chúng ta khám phá sự khờ dại của Thiên Chúa khi thể hiện tình yêu và lòng thương xót. Ai trong chúng ta lại dại dột bỏ chín mươi chín con chiên để chỉ đi tìm một con chiên lạc, biết đâu khi tìm được con này lại mất con kia. Ai mà chịu hao phí thời gian có khi đáng giá hơn một đồng xu chỉ để tìm lại có một đồng thôi, rồi còn chịu tốn kém trong việc tổ chức tiệc tùng mời người khác chia vui. Nhưng Thiên Chúa của Đức Giê-su và cũng là Thiên Chúa của chúng ta lại cư xử một cách dại dột như thế.

Đức Giê-su muốn công bố rằng Thiên Chúa, Cha của Ngài là Đấng giầu lòng thương xót, chậm bất bình và tràn đầy ân sủng. Đức Giê-su vô cùng vui mừng khi người tội lỗi biết ăn năn hối cải, trở về đường ngay nẻo chính. Về nhà, tức là trở về tổ ấm yêu thương – đâu có tình yêu thương thì đó là nhà của Thiên Chúa.

Vì thế, khi tiếp xúc và đồng bàn với những người tội lỗi, kết bạn với những con người bị bỏ rơi, nghèo đói và những ai bị luật lệ lên án và loại bỏ…, Đức Giê-su đã không đi ngược lại với giáo huấn của Người, nhưng còn làm sáng tỏ lời giảng dậy bằng chính lối sống của Người nữa.

Cuối cùng, chúng ta phải xác tín và nhớ rằng Thiên Chúa không bao giờ quên con người. Lòng thương xót của Thiên Chúa trường tồn qua muôn thế hệ. Có trải nghiệm như thế, chúng ta mới không đối xử hẹp hòi với nhau, trái lại sẽ thương xót nhau như Chúa hằng xót thương và không muốn một ai trong chúng ta bị hư mất. Amen!