Wednesday, 28 July 2021

CHÚA LÀ CỦA ĂN NUÔI SỐNG CHÚNG TA.

 


Kính thưa anh chị em,

Có câu nói rằng: “Thiên Chúa chỉ cần một ngày để đưa dân Do Thái ra khỏi Ai Cập; nhưng Ngài lại dùng đến bốn mươi năm để đưa sinh hoạt, văn hoá, và lối sống của người Ai Cập ra khỏi người Do Thái.” Ý nghĩa của câu nói trên là đoạn đường về đất hứa tuy ngắn, nhưng Thiên Chúa cần bốn mươi năm để thanh luyện và giáo dục họ thoát khỏi các tập tục, lề thói mà họ đã bị nhiễm bên Ai Cập mà trở về với đặc tính dân riêng của Thiên Chúa và nhận ra sự chăm sóc của Ngài. Chúng ta cũng thế, Thiên Chúa luôn kiên nhẫn chờ đợi và hiện diện với chúng ta trong mọi tình huống của cuộc sống để giáo dục và giúp chúng ta nhận ra Chúa là Tình Yêu, là của ăn nuôi sống con người.

Hôm nay trong bài đọc thứ nhất, chúng ta nhận ra tính hờn dỗi và hay kêu trách của dân Do Thái. Cái gì cũng muốn. Họ chỉ muốn Thiên Chúa làm theo ý của họ. Khi còn bị làm nô dịch bên Ai Cập thì cầu xin Thiên Chúa giải thoát họ, đến khi đối diện với cơn đói khát trong sa mạc thì lại kêu trách, chẳng thà chết no bên nồi thịt tại xứ Ai Cập còn hơn là chết đói ở nơi hoang vu này.

Tâm tình đó dường như cũng xuất hiện trong bài Tin Mừng hôm nay. Sau khi được chứng kiến dấu lạ Chúa làm và bụng được no nê, đám đông bèn đi tìm Người. Khi tìm thấy Người và nghe qua cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su và họ, chúng ta mới thấy rõ lý do thầm kín bên trong cuộc săn tìm này. Họ tìm Chúa không phải để ca tụng vinh quang và quyền năng của Thiên Chúa qua việc Người vừa làm. Họ tìm Người vì nhu cầu được thỏa mãn, vì bụng được no nê. Họ chỉ dán mắt vào của ăn vật chất cần cho thân xác, cho nên đã không nhận ra tình yêu của Thiên Chúa qua dấu lạ Bánh hóa nhiều mà chúng ta mới nghe tuần trước. Thiên Chúa đã ban bánh cho họ để nuôi dưỡng thân xác thể lý của họ, nhưng nhu cầu của thân xác không phải là tất cả những gì họ và chúng ta cần quan tâm; còn một điều cao quí hơn, đó chính là tình thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta qua từng biến cố của cuộc sống.

Phần Đức Giê-su, tuy Người đã chạnh lòng, tâm hồn Người rối bời trước cảnh tất bật, lang thang trong cuộc tìm kiếm người chăn chiên của đám đông. Nhưng, không vì thế mà Người chiều theo các yêu cầu vật chất của họ. Người có thể làm thêm vài phép lạ ‘bánh hoá nhiều’ khiến họ khỏi đói. Rồi sau này họ sẽ ra sao! Bánh ăn rồi sẽ phải đói. Nuôi ăn một vài bữa chứ ai nuôi cả đời. Vì thế, Đức Giê-su muốn dậy họ nhớ rằng thay vì tìm bánh nuôi ăn tạm thời thì hãy nỗ lực tìm bánh hằng sống, đó chính là Đức Giê-su. Người đến để thực hiện ý định của Cha Người. Ý của Cha Người là qua Đức Giê-su, Thiên Chúa muốn họ tìm những gì sâu xa và trường tồn hơn. Người nói: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.”

Thưa anh chị em,

Như thế, điều duy nhất mà Đức Giê-su muốn là chúng ta hãy tin vào Người. Tin ở đây không chỉ tóm gọn như một nhân đức hay là chấp nhận một số tín điều nào đó trong Hội Thánh. Nhưng niềm tin cần được thể hiện bằng công việc mà Thiên Chúa muốn chúng ta làm.

Tin Đức Giê-su là Đấng nuôi sống chúng ta. Tin vào Lời Người phán hôm nay rằng ‘ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!’ Vì chính Người là Bánh trường sinh, là nguồn sống cho chúng ta đến với nhau. Muốn đến với nhau thì chúng ta cần đến với Chúa truớc. Đến với Chúa là một hành động của niềm tin. Tin rằng Chúa ở trong ta. Tin rằng việc siêng năng đón nhận ‘Mình Thánh Chúa’ không làm cho mình thánh thiện hơn, mà là trở nên giống Chúa, nên một với Chúa. Nên một với Chúa không phải để cho mình trọn hảo, nhưng đó là nguồn động lực thúc đẩy chúng ta đến với nhau như là anh chị em một nhà, cùng chia sẻ một niềm tin, cùng đến và trao cho nhau một lòng mến. Có như thế, chúng ta mới đủ can đảm và dũng mạnh chia sẻ cuộc đời mình cho nhau.

Nhưng, nhìn vào thực tế và với lòng can đảm chúng ta phải nhận định rằng đã có bao nhiêu người sống đúng lời mời gọi của Chúa hôm nay! Đến với Chúa qua việc siêng năng đón nhận ‘Mình Thánh Chúa’ thì nhiều, nhưng mấy ai trong chúng ta đã để cho ‘Bánh’ mà chúng ta lĩnh nhận biến đổi chúng ta giống Chúa Ki-tô, để trở thành của lễ hiến dâng cho Thiên Chúa và san sẻ cuộc đời cho nhau và cho thế giới; hay là chúng ta lại hành xử giống như người Do Thái, chỉ biết đến với Người nhằm thỏa mãn nhu cầu riêng của mình. Thậm chí, có một số người lập ra các bảng thông kê, những bó hoa thiêng ghi lại bao nhiêu lần họ đã rước lễ để báo cáo thành tích và cùng tôn vinh nhau. Như vậy, liệu chúng ta có khác người Do Thái cùng thời với Đức Giê-su hay không?

Tuy nhiên, không vì các hiện tượng tiêu cực đó mà chúng ta quên đi các giá trị cao siêu mà Mình Thánh Chúa đã đem lại cho chúng ta. Tôi vô cùng ngưỡng mộ và kính phục thái độ của một số người khi đón nhận Thánh Thể Chúa. Chúng ta không cần biết họ là ai? Quá khứ họ ra sao? Nhưng chỉ nhìn thái độ cung kính với lòng mến yêu khi đón nhận, chúng ta cũng nhận ra sức mạnh của Đức Ki-tô trong tấm bánh đã tác động và ảnh hưởng trong cuộc sống họ ra sao.

Đó là chưa kể đến một số trường hơp ngoại lệ mà tôi nghe đuợc trong các trại cải tạo. Cho dù vẫn biết rằng việc cử hành và đón nhận Thánh Thể Chúa sẽ đem lại thêm nhiều nguy hiểm cho anh chị em đang bị giam cầm tại các nơi đó. Nhưng nếu họ không nhận ra đó là nguồn sống đích thật thì mấy ai trong anh chị em có đủ can đảm để làm những việc liều lĩnh như thế. Tôi luôn dành cho họ lòng mến yêu và cảm phục.

Thật vậy, cùng với họ, chúng ta tin Đức Giê-su, Đấng không chỉ làm ra bánh nuôi chúng ta, nhưng chính Người là của ăn đích thật, không chỉ bẻ ra một lần mà từng giây từng phút đã trở thành mảnh vụn nuôi sống và hoà tan vào trong cuộc sống của những người môn đệ, những kẻ đặt trọn niềm tin và cuộc sống vào tay Người cho tha nhân.

Khi xưa, Đức Giê-su đã dùng cả cuộc đời để chỉ dâng một Thánh Lễ! Hôm nay, từng giây từng phút trong lòng Hội Thánh đang có hiến lễ được dâng. Vì vậy, anh chị em hãy tin rằng, trong từng hơi thở sống động của Hội Thánh, hoà chung với mọi diễn biến xẩy ra trong vũ trụ này, ngay cả sự bấp bênh mà chúng ta đang phải đối diện trong thời đại dịch, Đức Giệ-su đang dùng và biến chúng ta thành những miếng bánh, do chính Người bẻ ra, để nuôi sống nhau, đặc biệt cho những ai tin Người là Bánh trường sinh, là Đấng ban sự sống. Amen!

Wednesday, 21 July 2021

TRONG CHÚA KHÔNG AI CÒN ĐÓI KHÁT


Kính thưa quý cụ, quý ông bà và anh chị em,

Trong thời gian qua, đại dịch tiếp tục bùng nổ tại một số tiểu bang trên đất Úc, một số thành phố lớn như Sài-gòn bên Việt Nam, Ja-car-ta bên Nam Dương, và tại nhiều nơi khác nữa. Lịnh phong tỏa được tái lập. Việc tụ họp để cử hành các nghi thức phụng vụ như Thánh Lễ bị đình chỉ. Vẫn biết, đây là một nghĩa cử cần thiết diễn tả lòng yêu thương và sự quan tâm của chúng ta dành cho nhau, đặc biệt cho những thành viên dễ bị tổn thương nhất trong cộng đoàn, họ là những người có nhiều rủi ro bị lây nhiễm do Covid-19 gây ra. Tuy nhiên, thật lòng mà nói với nhau thì việc không được phép tham dự Thánh Lễ cuối tuần là một mất mát thật lớn lao cho đời sống đạo của chúng ta. Việc xem hay tham dự các Thánh Lễ trực tuyến không thể thay cho việc tham dự Thánh Lễ một cách trực tiếp và việc làm này sẽ làm giảm ý nghĩa của Bí Tích.

Song song với các diễn biến thật tiêu cực do đại dịch Covid-19 gây ra. Tôi nhìn ra một cơn đói khát đang ở với chúng ta. Khát khao được kết nối. Ước mong được gặp nhau. Khao khát có những giây phút an ủi và đỡ nâng nhau. Khao khát nghe tiếng than thở và cầu nguyện của nhau. Khao khát được cùng nhau cử hành bữa tiệc Lòng Mến qua các Thánh Lễ.

Quả thật, đây là một cơn khát về mặt tinh thần mà ít ai trong chúng ta để ý đến trước đây. Cho đến khi phải đối diện với thời điểm thật đáng sợ và dễ dàng mất phương hướng như thế này, chúng ta mới thấy được phép cử hành Thánh Lễ là một hồng ân. Vì vậy, trước hoàn cảnh hiện tại thì việc lắng nghe Lời Chúa phán với chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay quả thật cần thiết và đem lại cho chúng ta một cảm nhận thật đặc biệt.

Bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe hôm nay là một trong những dấu lạ, được trích dẫn từ Tin Mừng theo Thánh Gio-an. Và trong các Chúa Nhật của những tuần kế tiếp, chúng ta sẽ được nghe Đức Giê-su giải thích ý nghĩa về dấu lạ mà chúng ta hay gọi đó là diễn từ bánh hằng sống. Người chính là Bánh Hằng Sống duỡng nuôi chúng ta.

Ý nghĩa thần học về bí tích Thánh Thể rất sâu xa và không thể nào có thể hiểu thấu một cách trọn vẹn. Con người ở các thời đại khác nhau có cách diễn tả khác nhau về mầu nhiệm mà họ đã lĩnh nhận. Mỗi giai đoạn lịch sử và qua từng thế hệ, con người bầy tỏ và sống niềm tin của mình cách khác nhau. Nhưng nói chung, niềm tin đó đều phải được trao ban và xuất phát từ Hội Thánh. Vì thế, đứng trước mọi mầu nhiệm trong đạo, cho dù cao siêu đến đâu, hay là đã đuợc giải thích tường tận và rõ ràng đến độ nào, rồi sau cùng chúng ta cũng quay về để đón nhận và sống chung một niềm tin với gia đình Mẹ Hội Thánh.

Nói như thế để xin anh chị em, hôm nay chúng ta không tìm hiểu về các điều sâu thẳm của mầu nhiệm Thánh Thể. Chúng ta hãy tự đặt mình trong vị trí và phản ứng của đám đông đứng trước biến cố này, rồi suy nghĩ và tìm ra cho mình một bài học. Phản ứng của họ trước tiên là thán phục, muốn tôn Chúa lên làm vua; thế mà sau khi nghe Chúa giải thích, họ liền bỏ đi hết, nghĩa là sao?

Đối với người Do Thái, dấu lạ bánh hoá nhiều hôm nay làm cho họ nhớ lại uy quyền và sức mạnh của Thiên Chúa, Đấng đã dẫn dắt họ vượt qua biển đỏ duới sự lãnh đạo của Mai-sen trong thời xuất hành. Và trong hành trình về Đất hứa, Ngài đã ban Man-na để nuôi dưỡng họ. Vì thế, hôm nay khi chứng kiến các việc Chúa làm họ nhận ra vai trò ngôn sứ của Đức Giê-su. Nhưng, với hoàn cảnh đất nuớc đang bị đô hộ, dân chúng trải qua muôn vàn đau khổ, mọi đắng cay đang dầy xéo thân xác và tâm can họ, thì làm sao họ có thể nhận ra và đánh giá đúng việc làm và chân tướng của Đức Giê-su được. Tầm nhìn của họ tuy thực tế, nhưng bị ước vọng chính trị che khuất. Họ chỉ nghĩ đến những gì có thể xẩy ra trước mắt. Trong tâm tình và lối suy nghĩ đó, họ có thể nghĩ rằng Đức Giê-su là vị lãnh đạo mà Thiên Chúa sai đến để cứu thoát và giải phóng họ như Thiên Chúa đã làm qua bàn tay của Mai-sen khi xưa. Vì thế, họ muốn ép Đức Giê-su lên làm vua để Người thực hiện ý muốn và yêu cầu của họ. Họ đã để cho ước muốn và các ý nghĩ sai lầm hướng dẫn cách nhìn của họ. Thay vì tìm ra ý nghĩa của dấu lạ để tìm ra chân tướng đích thật của Đức Giê-su như là Đấng được Thiên Chúa sai đến, thì mắt họ lại chỉ dán vào bánh, của ăn chóng qua nuôi sống nhất thời cho thân xác của họ mà thôi.

Về phần Đức Giê-su, Người đã sinh ra, lớn lên và sống cùng thời với họ; cho nên Người hiểu lối suy nghĩ mang tính chính trị của họ, Người hiểu nỗi khao khát được sống độc lập, thoát khỏi ách nô dịch mà dân chúng đang phải gánh chịu. Nhưng Đức Giê-su không muốn bị lôi cuốn vào các phong trào đấu tranh cực đoan và mang sắc thái chính trị như thế. Người tìm cách né tránh cách nhìn và các lối giải thích có thể làm sai ý nghĩa của sứ vụ mà Chúa Cha đã tín thác và trao vào tay Người.

Anh chị em thân mến,

Phần chúng ta cũng nên thông cảm cho các nhận định sai lầm của họ. Rồi ra và suy cho cùng thì lối suy nghĩ và thái độ cư xử của chúng ta cũng như họ mà thôi! Đã bao phen chúng ta theo Chúa và muốn tôn vinh Chúa làm vua, nhưng theo ý muốn của Người hay để Người làm theo ý muốn của chúng ta.

Vẫn biết rằng, chúng ta được mời gọi và có bổn phận xây dựng trời mới đất mới. Chúng ta được mời gọi đi vào các cơ cấu của trần gian mà làm cho nó tươi đẹp hơn, công bằng hơn. Nhưng hãy nhớ rằng, vinh quang của chúng ta không dừng lại ở các công việc đó. Hướng về Thiên Chúa bằng con tim mở rộng để nhận biết rằng chỉ có Chúa thì chúng ta mới hoàn thành đuợc các dự án mục vụ, không phải theo ý mình mà là theo ý Chúa.

Xin hãy để cho Chúa làm việc của Người. Chỉ có Đức Giê-su mới đủ uy quyền giúp chúng ta thực hiện kế hoạch và các dự án của Người mà thôi. Chúng ta chỉ là những chú bé với vài chiếc bánh và mấy con cá để trao tặng lại cho Người. Phần làm cho mọi người khỏi đói, trong đó kể cả chúng ta, là việc của Người.

Khi xưa Người đã cầm trên tay tấm bánh cuộc đời mà chia sẻ cho mọi nguời được no nê mà còn dư thừa thế nào, thì ngày nay, Lời của Chúa vẫn còn đủ năng lực và uy quyền như thế; miễn là chúng ta, đừng ai làm thay Người, tự đưa ra một phương án chính trị rồi lôi Người vào. Hãy làm việc để Nước Cha trị đến, Vương Quyền Cha ngự trị trong mọi cách cư xử của chúng ta trước, rồi mọi sự sẽ được cho thêm và trở thành hoàn hảo hơn.

Tóm lại, cuộc sống và những gì chúng ta có không bao giờ thuộc về chúng ta. Trước hết, tất cả đều thuộc về tài sản của Thiên Chúa. Chúng ta là những món quà trân quí đến từ Thiên Chúa cho thế giới này. Và Đức Giê-su, qua dấu chỉ hôm nay, đã đến để mở tấm lòng và bàn tay của chúng ta cho những người xung quanh. Giống như Người, chúng ta hãy cố gắng sống để trở thành nguồn trợ lực và giúp nhau hoàn thành sứ mạng trở thành món quà như ‘tấm bánh của Thiên Chúa’ ban cho thế gian đầy bão tố như thời điểm mà chúng ta đang phải đối diện hôm nay.

Wednesday, 14 July 2021

HÃY YÊN TÂM NGHỈ NGƠI CHO LẠI SỨC.


Hình ảnh ‘người chăn chiên’ đã được các ngôn sứ thời Cựu Ước dùng để ám chỉ các vị lãnh đạo về phần đời cũng như trong đạo của người Do Thái. Khái niệm này đã bắt đầu xuất hiện khi dân Do Thái bị lưu đầy bên Ba-by-lon. Đó là giai đoạn đau khổ. Họ mất đi tất cả, sống lưu đầy và chịu nhiều khổ dịch như những người nô lệ. Trong hoàn cảnh cơ cực như thế, họ dành nhiều thời gian để ôn lại công trình và bàn tay của Thiên Chúa đã thể hiện trong quá khứ và nhìn về tương lai với niềm hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ giải thoát và đưa họ trở về cố hương.

Trong hoàn cảnh đó, vai trò của các ngôn sứ thật quan trọng và cần thiết. Một trong những khuôn mặt sáng giá xuất hiện trong thời lưu đầy, đó là ngôn sứ Ê-dê-ki-en. Ngôn sứ đã khơi lên niềm hy vọng cho dân bằng cách trình bầy Thiên Chúa là Người chăn chiên tốt lành, là Mục tử nhân hậu, là Đấng dẫn dắt đàn chiên, tìm chỗ cho chiên ăn, dẫn lại về đàn các con chiên lạc đường và cứu chiên thoát khỏi các cạm bẫy, các hiểm nguy của các thợ săn và thú dữ.

Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã thẳng thắn nói ra những sai lầm của các nhà lãnh đạo thời bấy giờ, đó chính là thay vì quy tụ, họ lại làm cho đàn chiên bị phân tán; thay vì chăm sóc họ lại xâu xé đàn chiên! Nhưng Thiên Chúa vẫn là chủ. Vì thế cho dù các vị lãnh đạo có sai lầm khiến cho đàn chiên của Chúa bị tan tác. Sau cùng Ngài cũng qui tụ đàn chiên và trao vào tay một vị mục tử duy nhất, từ dòng giống Đa-vít. Người được sai đến để cất đi các nỗi lo sợ rồi dắt họ về đồng cỏ xanh tươi và đầy mầu mỡ.

Đức Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay đã áp dụng cho chính Người một cách thật tự nhiên hình ảnh vị Mục Tử mà ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã loan báo.

Kính thưa quí ông bà và anh chị em.

Trình thuật trong bài Tin Mừng tuy ngắn gọn nhưng diễn tả dung mạo của Đức Giê-su thật thân tình, gần gũi và đầy tình người. Người cho chúng ta biết tâm tình của vị mục tử ấy. Đức Giê-su không chỉ tin và trao cho các ông chia sẻ sứ mạng với Người; nhưng Đức Giê-su còn dậy cho họ biết một điều sâu thẳm nữa là các ông chỉ có thể trao ban cho người khác điều mà các ông phải nhận lãnh trước. Muốn lo cho người khác thì trước tiên các ông cũng cần lo cho bản thân mình. Trong tâm tình yêu mến, với một thái độ rất ân cần trong việc chăm sóc các Tông đồ, Người đã khuyên họ: “Anh em hãy lánh riêng ra, đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút”.

Khi đưa cho họ lời khuyên này, Đức Giê-su nói lên lòng quan tâm của Người đến toàn bộ con người của người môn đệ hơn là công việc, Người muốn các ông noi gương Người khi yêu cầu họ nghỉ ngơi. Cả các con nữa hãy dành những giây phút để lắng đọng tâm hồn, để múc lấy nguồn năng lực rồi mới có thể trao ban. Có nghĩa là, muốn cho công việc rao giảng đuợc bền lâu các Tông đồ cần ý thức rằng nghỉ ngơi cũng là một phần của sứ vụ. Trong giây phút đó họ không hưởng thụ, nhưng nạp thêm sức lực để công việc phục vụ được hữu hiệu và lâu dài hơn.

Tuy ý định của Đức Giê-su thật tốt, nhưng mọi nỗ lực, cố gắng để tìm một giây phút cho tâm hồn đuợc thư dãn và thân xác được nghỉ ngơi cũng không thực hiện được. Cùng với nhóm mười hai, Đức Giê-su đã lên thuyền, nhưng đám đông dân chúng đã chạy đến trước nơi Thầy trò sắp đến.

Trước cảnh tượng đó, lòng dạ của Đức Giê-su rối bời. Người sững sờ nhìn họ. Những khuôn mặt mệt nhọc, những buớc chân lê thê trên đường theo Người. Cảnh tượng trước mắt khiến ruột gan Chúa như bị đứt ra từng khúc một và tâm can của Chúa bị đánh động một cách mãnh liệt hơn. Người biết họ đang khao khát điều gì. Người không thể bỏ rơi khiến họ phải bơ vơ và lạc bước. Với tấm lòng của người mục tử, trái tim Chúa đau nhói vì đám đông theo Người như bầy chiên không người chăn dắt. Người không thể để họ bơ vơ, cho nên đã tiếp tục dậy dỗ họ.

Thưa quí ông bà và anh chị em,

Hoàn cảnh khó khăn của đám đông theo Chúa khi xưa, một cách nào đó, giống như hoàn cảnh mà dân chúng tại Sydney và một vài thành phố lớn bên các nước thuộc vùng Đông Nam Á đang phải gánh chịu trong các tuần vừa qua. Số người bị lây nhiểm do biến chủng của Covid-19 mang tên Delta đang tăng một cách đáng sợ. Mọi dự án cho kỳ nghỉ giữa học kỳ bị hủy bỏ. Luật đeo khẩu trang mỗi khi đến đám đông được áp dụng lại.  Các nơi thờ phượng bị đóng cửa. Nhà nào biết nhà nấy, mọi cuộc thăm viếng và tụ họp bị hủy bỏ hay bị nghiêm cấm. Các cụ già lại bị bỏ rơi trong các nhà dưỡng lão, nhất là hoàn cảnh neo đơn của những người lớn tuổi đang vật lộn với sự sống và cái chết tại các trung tâm an dưỡng và hồi sức.

Có một điều khiến cho chúng ta cảm thấy đau khổ và dễ thất vọng hơn, đó là sau gần hai năm, tình trạng đại dịch vẫn vượt ra khỏi tầm kiểm soát và khống chế của con người. Những phương thế mà chúng ta tìm được cũng chỉ để ngăn chận. Con người vẫn bó tay, chưa triệt hạ được mầm mống do Virus-19 gây ra. Người ta trấn an nhau rằng chúng ta nên tập để sống với nó! Không diệt được Virus, không dám chấp nhận sự giới hạn và thua cuộc của mình rồi lập luận huề vốn là thôi thì cố tập mà sống với nó.

            Trước hoàn cảnh như thế, chúng ta tức giận, cáu kỉnh và thất vọng. Tất cả các phản ứng nói trên đều rất hợp lý và dễ dàng thông cảm. Tuy nhiên, trong lúc lắng nghe bài Tin Mừng hôm nay, tôi nhận ra một điều là Chúa đang nói với chúng ta rằng: “Các con hãy đi đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Có nghĩa là Chúa đang mời ta, không như thái độ của dân chúng chạy đến nơi trước cả chốn Người sẽ đến, mà là lên thuyền đi vào nơi hoang vắng để tĩnh tâm với Người.

            Chỉ thị của Chúa quả thật rất phù hợp với tình hình thực tế mà chúng ta đang phải đối diện. Chúng ta không miễn cưỡng, nhưng tự nguyện chấp nhận các hạn chế như thể một cách chúng ta đi vào sa mạc để tĩnh tâm. Khi nghĩ đến điều này, tôi nhớ đến rồi tưởng tượng ra một khóa tĩnh tâm mà chúng ta đôi lần đã có kinh nghiệm. Vào nơi thanh vắng không để cách biệt với thế giới bên ngoài, nhưng tại nơi đó chúng ta nối kết những gì đang xẩy ra, không bằng tâm trạng lo âu, không phân tâm và lo ra, nhưng là thời điểm chúng ta đưa tất cả thực tại vào mối dây kết nối mình và Chúa. Tại nơi đó, chúng ta tập trung suy nghĩ và dành nhiều thời gian cho bản thân để lấy thêm sức mạnh từ Chúa. Hãy dành thời gian để ôn lại những ân huệ của Chúa dành cho mình, và với tâm tình tạ ơn chúng ta hãy nói một cách thật cụ thể tấm lòng biết ơn của chúng ta với Người. Sau cùng, chúng ta có thể nói với Chúa những điều xuất phát từ cõi lòng với Chúa.

            Và cho dù chúng ta đã trải qua bao nhiêu đổi thay, gặp bao cảnh gian truân, đối diện với muôn ngàn khó khăn và sống giữa cơn bão của đại dịch, chúng ta tin rằng Chúa vẫn đang ở trên thuyền với chúng ta. Người có mặt ở ngay đó như Lời Người đã hứa từ ngàn xưa rằng Người sẽ ở cùng chúng ta, ở bên chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Ngay cả có những điều mà mắt chúng ta không nhìn thấy, tương lai không chắc chắn, nhưng có một điều, chúng ta không thể không tin, đó là tình yêu và lòng thương xót của Người vẫn không thay đổi qua muôn thế hệ, nhất là trong lúc này.

            Đúng vậy, xin anh chị em yên tâm. Chúa không đòi chúng ta hơn điều chúng ta có thể nhận lĩnh. Chúa có dự án của Người cho chúng ta. Mọi việc chúng ta làm, mọi suy nghĩ của chúng ta phải được xuất phát từ lòng từ bi và nhân hậu của Đức Giê-su. Và trong giai đoạn đầy bấp bênh này Chúa mời chúng ta hãy cùng với Chúa ở trong nhà, nghỉ ngơi cho lại sức vì chương trình và dự án của Người vẫn còn cần đến sự cộng tác của chúng ta. Amen!

 

Wednesday, 7 July 2021

HÃY CHO CHÚA TẤT CẢ!


Tuần trước, trong lần về thăm cố hương Na-da-rét, Đức Giê-su đã không nhận được nhiều thuận lợi như tại các nơi khác. Họ chào đón Người bằng môi miệng, nhưng tâm can của họ không hề bị đánh động bởi Lời giảng của Người. Trái lại, họ còn không tin. Đức Giê-su rất đỗi kinh ngạc về thái độ không tin của họ, nhưng thái độ bất cộng tác và không tin của họ không thể ngăn cản Người thực thi sứ mạng.

Hôm nay, Đức Giê-su rời Na-da-rét, tiếp tục lên đường để hoàn tất nhiệm vụ mà Cha đã trao phó cho Người. Trong lần ra đi này, Đức Giê-su đã làm một việc mà cho đến lúc này Người chưa làm, đó là bắt đầu sai các Tông đồ ra đi làm nhân chứng, thay mặt Người kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Còn phần các ông thì được trao ban cho quyền trừ quỷ và chữa lành bịnh nhân.

Vì đây là chuyến đi đầu tiên của các Tông đồ, cho nên Đức Giê-su đã ban cho các ông những lời hướng dẫn rất cụ thể như không mang gì đi đường, ngoại trừ cây gậy; không mang của ăn thức uống, không mang tiền trong túi; chân được đi dép nhưng không được mang hai áo. Nói chung, chỉ thị của Đức Giê-su ban cho các Tông đồ và các môn đệ sau này là phải sống nghèo, ra đi cũng nghèo; cuộc sống và hành trang của người môn đệ chỉ lệ thuộc vào sự giầu sang và phong phú của Thiên Chúa, Đấng sai các ông ra đi. Muốn được như thế, các môn đệ cần ghi nhớ rằng chúng ta được sai đi để tiếp nối sứ vụ của Chúa, chứ không hẳn là của chúng ta.

Thật vậy, Chúa là Đấng được Chúa Cha sai đến; và chúng ta, giống như các Tông đồ và các môn đệ khi xưa, là những người được sai. Người đuợc sai không thể cao trọng hơn kẻ sai phái, và những ai được sai đi cũng không thể tiếm quyền kẻ sai mình.

Hãy nhìn vào lịch sử cứu độ, trong những ngày đầu tiên và trải dài theo dòng lịch sử, Thiên Chúa đã không ngừng sai các sứ giả của Người đến với chúng ta; và sau cùng qua Mầu Nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa đã mặc lấy thân phận con người mà lưu ngụ giữa chúng ta. Vì thế, chúng ta có thể xác tín rằng Thiên Chúa không hề bỏ rơi con người, dù hành vi và cách ứng xử của chúng ta có như thế nào vẫn không làm lay chuyển lòng thương xót của Người. Và, giống như Đức Giê-su, Đấng đã được Chúa Cha sai đến như thế nào, thì hôm nay Người cũng muốn sai các Tông đồ ra đi như vậy. Vì thế, hiệu quả sứ vụ của các Tông Đồ nói riêng và chúng ta nói chung hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự gắn bó vào Chúa.

Có Chúa trên hành trang là có tất cả, và đó cũng là điều mà Đức Giê-su căn dặn các Tông đồ hôm nay. Để nhẹ nhàng mà lo việc Chúa, các Tông đồ tuy sống vào lòng hiếu khách và rộng rãi của tha nhân, nhưng không được dính bén với bất kỳ môt ai. Các ông cũng không để cho bất kỳ một quyền lực nào ảnh hưởng trên hành trang của người môn đệ. Ngay cả cơm ăn, áo mặc và nơi cư trú là những điều cần thiết cho cuộc sống, nhưng các ông cũng không nên lo lắng thái quá. Mọi sự đó Chúa sẽ ban tặng. Phần các ông, hãy trao hết mọi sự cho Người và chỉ cần ra đi với một lòng tín thác vào Người là đủ.

Nói khác đi, yêu cầu mà Chúa mời gọi các môn đệ hôm nay là biết chấp nhận thân phận nghèo của mình. Nghèo ở đây không chỉ thu tóm vào đời sống vật chất hay tinh thần cho bằng nhấn mạnh đến việc chúng ta phải lệ thuộc vào Chúa như thế nào! Điều này có nghĩa là người được Chúa sai đi luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng, bằng lòng từ bỏ dần dần và trọn vẹn để cho sự giầu có và phong phú của Thiên Chúa được biểu lộ.

Như vậy, sống nghèo là sống dựa vào Chúa chứ không dưạ vào bất cứ một thứ quyền lực nào, cho dù đó là thứ thần quyền của một tổ chức, ngay cả tổ chức đó là giáo hội. Sống nghèo là mệnh lệnh mà Chúa dành cho ai muốn trở thành môn đệ đích thực của Người. Với lối sống như thế thì lời rao giảng của người môn đệ sẽ trở thành Tin Vui cho mọi người. Đó đích thực là lối rao giảng của Chúa.

Trái với các điều ấy có thể là sự giàu có của giáo hội; lòng tham lam thích vơ vét của hàng giáo sĩ; sự bủn xỉn, thiếu đại lượng, không đủ bao dung của những ai làm môn đệ… tất cả đều làm cho lời rao giảng trở nên cằn cỗi, nghèo nàn, thiếu sức thuyết phục và không đủ sức để chữa lành các vết hằn hoặc không đủ hấp lực để thu hút tâm hồn người nghe.

Tuy nhiên, có một sự thật mà chúng ta không thể chối cãi đó là thân phận mỏng dòn với muôn ngàn yếu đuối đã là nguyên nhân khiến các môn đệ của Chúa muốn tháo lui. Thật ra thân phận và ơn gọi của chúng ta, xuất phát từ Chúa, cho nên cũng sẽ bị khước từ. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta hãy nhớ lại chính Đức Giê-su đã bị ruồng rẫy trước. Người đã bị khước từ. Nhưng không vì sự khước từ đón nhận của họ lại có thể ngăn cản Người chu toàn sứ mạng. Chúng ta, các môn đệ của Chúa cũng thế, cần được đổi mới và chính tâm tình đổi mới này sẽ là nguồn động lực giúp chúng ta tiếp tục tiến bước vượt qua mọi khó khăn, ngay cả việc chấp nhận thất bại, miễn sao sứ vụ được chu toàn.

Muốn được như vậy, người môn đệ cần sống điều mình sẽ công bố. Đức Ki-tô phải là tin vui cho người môn đệ trước khi họ giới thiệu và chia sẻ cho người khác. Triều đại Thiên Chúa mà Đức Giê-su đã rao giảng phải là vương quốc của người môn đệ trước khi họ ra đi loan báo cho người khác.

Đây cũng chẳng phải là điều gì mới lạ, vì chính Đức Giê-su, khi bắt đầu sứ vụ đã kêu gọi các Tông đồ và các môn đệ tham gia vào sứ mạng của Người. Lời mời gọi đó vẫn còn khẩn thiết và có thể đuợc minh hoạ trong câu chuyện sau đây.

Số là, trong cuộc chiến tại Hàn Quốc, có một ngôi làng nhỏ nằm ngay trên làn mưa đạn của các trận pháo kích. Trong làng, có một ngôi nhà thờ. Bên ngoài nhà thờ, có một bức tượng Chúa Giê-su Kitô đuợc đặt trên một cái bệ. Và, sau cuộc chiến, người ta chỉ thấy cảnh tang hoang và đổ nát. Bức tượng cũng không ngoại lệ. Nó nằm chung số phận, bị đổ xuống và vỡ thành từng mảnh vụn tung tóe trên nền nhà thờ.

Xẩy ra là có một nhóm lính Mỹ đến thu dọn. Thấy cảnh tượng như thế, một cách thận trọng, họ đã thu thập các mảnh vụn rồi ráp lại thành gần như một pho tượng, chỉ thiếu đôi tay. Họ đề nghị với cha sở của họ đạo đó cho phép họ đem pho tượng về Mỹ để gắn thêm đôi tay vào cho hoàn chỉnh. Nhưng vị linh mục đó đã từ chối. Người nói: Tôi nghĩ chúng ta cứ để nguyên pho tượng thiếu hai tay như thế, rồi ghi dưới bệ của bức tượng hàng chữ “bạn ơi, làm ơn cho Tôi mượn đôi tay của bạn”. Với cách thức đó, pho tượng thiếu đôi tay của Chúa sẽ loan báo cho những ai đi qua nơi này nhớ lại rằng giờ đây Chúa đang cần đôi tay của bạn để nâng dậy những ai bị vấp ngã, những ai đang cần bạn ôm ấp để bớt cô đơn và vơi đi nỗi phiền sầu.

Không chỉ có thế, Chúa còn cần đôi chân bạn để đi tìm những ai bị lạc lối. Chúa lại cần bờ vai của bạn để làm chỗ dựa cho những ai lao đao và vất vả. Chúa cần đôi mắt của bạn để nhìn ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi những con người bé mọn và bị coi thuờng. Chúa cần con tim của bạn để cảm thông nỗi thất vọng của người tội lỗi.  Sau cùng, Chúa rất cần mọi chi thể của bạn để nối kết những nguời mà bạn đã gặp và cùng nhau xây dựng Nước Trời, nơi đó chỉ có bình an, hoan lạc, niềm vui và tất cả những gì Chúa muốn dựng xây.

Quả thật, đó là niềm vinh dự dành cho những ai đuợc tham gia vào việc rao giảng của Đức Giê-su, kiến tạo trời mới đất mới! Và, hạnh phúc thay cho ai đã được Thiên Chúa trao ban cho nhiệm vụ cao quí như thế!

Trong tâm tình đó, hãy dâng lời ngợi khen với tâm tình cảm tạ vì lòng tín thác của Đức Giê-su, khi Người trao ban cho chúng ta được phép tham gia vào sứ mạng của Người, dù chúng ta bất xứng. Amen!

Wednesday, 30 June 2021

THẤT BẠI MỞ RA CON ĐƯỜNG MỚI

 

Kính thưa quí ông bà và anh chị em,

Hôm nay, trong bài Tin Mừng chúng ta chứng kiến cảnh Đức Giê-su bị chối từ bởi những người bà con trong lần Người về thăm cố hương Na-da-rét. Dân trong làng vẫn nhận ra sự khôn ngoan trong lời giảng dậy của Người. Nhưng khi nhớ lại gốc tích và các kinh nghiệm mà họ đã từng trải qua với Đức Giê-su trong thời thơ ấu thì không một ai trong họ còn nhận ra quyền năng của Thiên Chúa đang hoạt động trong và với Người nữa. Đối với họ, Đức Giê-su vẫn chỉ là con bà Maria. Thân nhân và anh chị em của Người, họ đều biết rõ.

Đức Giê-su sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo. Cha Người là bác thợ mộc quê mùa. Người thuộc về tầng lớp không được trọng vọng, chẳng có địa vị gì. Và như vậy, dù Người có nổi tiếng và làm được nhiều điều kỳ diệu tại các nơi khác, thì truớc mặt họ, Chúa của chúng ta vẫn chỉ là con bác thợ mộc Giu-se. Với gốc tích bần cùng và nghèo hèn như thế thì Đức Giê-su có thể làm được gì tại Na-da-rét để cho họ khâm phục!

Nói khác đi, Đức Giê-su không có quyền trở thành một người khác hơn là một con người do họ nghĩ ra và tạo nên. Có nghĩa là Đức Giê-su bị nhốt trong lối suy nghĩ và cách nhìn của họ. Người bị giam lỏng như một số người trong chúng ta vẫn thường xuyên nhốt Người trong các cơ sở vật chất, cho dù nguy nga và tráng lệ đến đâu; nhưng thiếu tình yêu, bác ái và lòng thương xót thì các đền đài đó còn có ý nghĩa gì hay không?

Với ngần ấy lý do, chúng ta có thể thông cảm với cách hành xử thiếu tin tưởng của dân làng Na-da rét. Họ từ chối đón nhận sứ điệp của Người. Vì với lối suy nghĩ rất giới hạn và đầy thành kiến như thế thì làm sao họ có thể nhận ra chân tướng đích thật của Đức Giê-su! Làm thế nào họ có thể đón nhận Người là Đấng được Thiên Chúa sai đến để loan báo sứ điệp giải thoát và đem tin vui đến cho họ! Đó là các nguyên nhân đã làm mờ mắt họ khiến họ không còn nhận ra vẻ kỳ diệu và phi thường mà Thiên Chúa muốn tỏ bầy qua con người của Đức Giê-su nữa. Đức Giê-su đối với họ vẫn là con người Na-da-rét.

Truớc tình hình đó, Đức Giê-su còn biết nói gì hơn! Người chỉ biết trích một câu ngạn ngữ rất phổ thông để làm cho tình hình bớt căng thẳng, và đây cũng là dịp nhắc lại cho họ biết về sứ mạng và thân phận của một ngôn sứ. Đó là: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.”

Thưa anh chị em,

Công việc mà Đức Giêsu cần làm trong hoàn cảnh này là thẳng thắn đối diện với tình trạng thiếu niềm tin của họ. Không thể để cho thái độ tiêu cực của họ làm cho Người bị nản chí hay bị gục ngã. Họ không tin. Nhưng các môn đệ cần nhìn vào gương sáng của Thầy. Gương sáng đó là niềm tin và tâm tình phó thác tuyệt đối vào Cha của Người, Đấng hiện diện trong mọi tình huống, nhất là trong những lúc Đức Giê-su cần đến Cha của Người. Bài học là như thế. Đức Giê-su đã trở thành gương sáng cho các môn đệ noi theo. Chu toàn ý định của Thiên Chúa hơn là đi tìm sự chấp thuận của thế gian, cho dù thế gian vẫn không tin Người.

Trạng thái thiếu niềm tin này có thể được cụ thể hoá qua lối sống của những người trẻ trong xã hội mà chúng ta đang sống hôm nay. Biết bao bậc làm cha làm mẹ đã và đang ngao ngán trước lối sống xa cách với niềm tin tôn giáo của con cái họ. Chính Đức Giêsu, dù là Đấng đuợc Cha sai đến cũng đã gặp những người không tin, nhất là những người đó lại là thân nhân của Người. Đứng trước thái độ không tin của những người đồng hương, Đức Giê-su dường như bị bất lực. Thật ra, không hẳn là như thế. Sự im lặng của Chúa có thể cho chúng ta biết rằng Người hoàn toàn tôn trọng quyền tự do mà Thiên Chúa đã ban cho họ.  Cho dù con người đã nhiều lần xử dụng sai cái thẩm quyền đó. Nhưng vì yêu thương, Người vẫn tôn trọng và tìm cách khác để lôi kéo họ về nẻo chính đuờng ngay.

Có một sự thật vô cùng hiển nhiên mà chúng ta không thể chối bỏ được là Đức Tin tuy là điều cần thiết để nhận ra uy quyền của Thiên Chúa. Nhưng đức tin đó không phải là thành quả phát sinh từ sự cố gắng của con người, cho bằng đó chính là hồng ân cao quí của Thiên Chúa ban cho.

Và, với bản chất mỏng dòn và yếu đuối của con người như thế nào thì niềm tin của chúng ta cũng mỏng dòn và yếu đuối như thế. Chính vì thế, chúng ta cần có sự trợ lực. Sự hỗ trợ này không phát xuất bất cứ từ một sức mạnh nào, cho bằng nhìn nhận sự yếu đuối của bản thân, rồi để cho sức mạnh của Thiên Chúa được tỏ hiện. Đó chính là kinh nghiệm đã được san sẻ bởi Thánh Phao-lô trong bài đọc thứ hai mà chúng ta vừa nghe hôm nay.

Những gì mà Thiên Chúa đã nói với Thánh Phao-lô khi xưa, cũng là Lời mà Chúa muốn nói với chúng ta hôm nay. Đó là “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Và Thánh nhân đã rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của mình, để sức mạnh của Đức Ki-tô được biểu dương.

Đây, chính là bài học vô cùng quý giá cho những yếu đuối, thất bại và bị chối bỏ bởi người thân và những ai mà chúng ta quan tâm và hết lòng yêu mến. Chúng ta cần vững tin tiếp tục bước về phía trước, miễn sao chúng ta làm đẹp lòng Chúa là đủ rồi.

Vì thế, đứng trước sự từ khước của thân nhân và bà con lối xóm, Đức Giê-su đã không chấp nhận ngã gục hay thua cuộc, nhưng lại tiếp tục lên đuờng hoàn tất sứ mạng. Thánh Mác-cô nhận xét là Người ngạc nhiên vì họ thiếu lòng tin. Nhưng cũng chính vì ngạc nhiên mà Người tiếp tục tìm kiếm câu trả lời bằng cách thi hành sứ vụ. Câu trả lời đã đến qua việc Người đón nhận sự gục ngã toàn diện trên Thập Giá để củng cố niềm tin cho những ai đi theo Người.  Và, đó cũng là cách mà Đức Giê-su muốn tỏ bầy để biểu lộ trọn vẹn kế hoạch của Thiên Chúa thành toàn nơi bản thân Người. Và chúng ta, hôm nay, đang được mời gọi để thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa chứ không phải sự đồng thuận hay hỗ trợ của thế gian. Xin cho những suy nghĩ, hành động và từng bước chân của chúng ta luôn ở trong kế hoạch vẹn toàn của Thiên Chúa. Amen!

 

Wednesday, 23 June 2021

“ĐỪNG SỢ, CHỈ CẦN TIN.”


Bịnh tật, đau khổ, tai ương và sự chết vẫn làm cho con người lo sợ. Hôm nay trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su đã chứng tỏ cho chúng ta thấy quyền năng của Thiên Chúa ở trong Người khi chữa cho người phụ nữ được khỏi bịnh và làm cho con gái của ông Giai-rô sống lại. Câu chuyện bắt đầu như sau.

Trước tiên, chúng ta hãy nhớ rằng: khi thi hành sứ vụ, Đức Giê-su đã gặp phải sự chống đối của các nhà lãnh đạo tôn giáo, sống cùng thời với Người. Thế mà thái độ của ông Giai-rô dành cho Đức Giê-su hôm nay khiến cho chúng ta phải ngạc nhiên. Tuy, ông cũng thuộc vào lớp người danh giá, có quyền có thế, đường đuờng là viên chức trưởng hội đường, thế mà ông đã phải hạ thấp mình xuống dưới chân Đức Giê-su và van xin Người rằng: “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và đuợc sống.”

Sự chết luôn luôn là mối bận tâm của con người. Nó trở thành nỗi lo âu, mối đe dọa thật khủng khiếp cho mọi người, đặc biệt những ai còn trẻ. Hoàn cảnh của cô con gái ông Giai-rô là như thế. Cô ta sắp chết. Cô rất khó để qua khỏi cơn gian nan này. Đặt mình vào hoàn cảnh của một người cha như ông Giai-rô, chúng ta có thể tìm ra vài lời giải thích cho hành động của ông hôm nay. Vì tình thương của người cha dành cho con, xen kẽ với niềm tin vào Đức Giê-su và nhất là ông phải thoát khỏi vòng ảnh huởng của các bạn đồng nghiệp, rồi mở lòng ra để đón nhận Tin Vui của Đức Giê-su mang đến. Đó là các động lực giúp ông can đảm hơn để gặp Chúa. Một cuộc gặp gỡ công khai chứ không thầm kín hay lén lút. Ông cần mạnh dạn để làm điều ông tin. Thật đáng cảm phục!

Tuy là như thế, nhưng con đường đến nhà ông Giai-rô lại bị gián đoạn bởi sự chen lấn của đám đông. Trong đám đông đầy người đó, có một người phụ nữ vô danh, đã tiếp xúc với Đức Giêsu một cách bí mật. Thật ra bà biết rằng theo luật thì bà không được phép đụng chạm đến ai; bởi vì bất kỳ ai tiếp xúc hay chạm vào bà đều bị ô uế và cần tẩy sạch.

Khỏi cần nói nhiều, chúng ta cũng hiểu cuộc sống của bà đau khổ đến dường nào. Đau khổ vì bịnh tật. Đau khổ vì bị sống cách ly khỏi các sinh hoạt của cộng đoàn. Đau khổ khi bị gia đình và người thân bỏ rơi. Thậm chí bà đã bao phen khổ sở vì tìm sai thầy, uống nhầm thuốc khiến cho bà tiền mất tật mang, thế mà không những bịnh vẫn hoàn bịnh mà còn bị nặng hơn. Bà sống trong tình trạng tuyệt vọng, không còn biết trông cậy vào ai là người có thể chữa cho bà được khỏi bịnh và trả lại phẩm vị con người cho bà nữa đây!

Trong cơn đau khổ và gần như tuyệt vọng đó, bà đã tìm gặp Đức Giê-su. Lúc đó bà chỉ nghe người ta nói về Người là Đấng đã chữa cho nhiều người được khỏi bịnh. Trong đầu bà chỉ cầu mong làm thế nào có thể sờ vào tua áo của Người thì sẽ được khỏi bịnh. Một ý nghĩ đơn sơ mang tính dị đoan và chút vụ lợi này của bà đã là khởi điểm giúp bà bước ra khỏi những điều đã giam hãm và đóng kín bà. Bà cần được thoát ra khỏi cái vỏ bên ngoài và bằng vào con người thật bà đến gặp Đức Giê-su.

Ngay khi đó bà ta nhận thấy có một sự thay đổi trong cơ thể của mình. Và, cũng ở thời điểm đó, Đức Giê-su nhận ra có một sự thay đổi trong cơ thể của Người. Không ai nhận ra điều này ngoại trừ Chúa và người phụ nữ biết có sự thay đổi đang xẩy ra nơi họ! Và bà đã đuợc chữa lành. Máu liền ngưng chảy ra. Căn bịnh đã biến mất.

Nhưng, cuộc gặp gỡ giữa Đứa Giê-su và bà không ngừng ở phần chữa lành thể xác. Sau khi thấy lực trong người thoát ra, Chúa nhìn bà. Bằng vào cái nhìn của Đức Giê-su khiến bà cảm thấy sợ phát run lên. Tuy nhiên, không vì nỗi run sợ khiến bà chạy trốn cái nhìn của Chúa. Trái lại, bà can đảm buớc ra khỏi cõi lòng để tự giới thiệu mình với Chúa và trình bầy toàn bộ sự thật. Không ai bắt người phụ nữ này phải làm như thế. Bà vẫn có thể ẩn mình vì máu đã ngưng chảy, căn bịnh băng huyết đã được chữa khỏi. Nhưng hình như bà thấy đuợc cái nhìn mãnh liệt, một cái nhìn soi thấu tâm can của Chúa, khiến bà phải buớc ra để bộc lộ và phơi bầy mọi sự đang xẩy ra cho bà. Nhờ cuộc gặp gỡ với Đức Giê-su, nhất là với cái nhìn của Người khiến bà thay đổi, nhận ra căn tính và phẩm vị của một con người và buớc vào để thiết lập mối quan hệ với Đức Giê-su, Đấng đã phán: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bịnh.”

Anh chị em thên mến,

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người phụ nữ bị băng huyết đã làm trì hoãn việc Người đến chữa lành cho con gái ông Giai-rô. Nên khi Người đến nơi thì được tin cô bé đã chết. Với nguồn tin sét đánh này, người nhà của ông chủ hội đuờng mới góp ý đừng làm phiền đến Chúa nữa. Họ có lý khi có lối suy nghĩ như thế. Bởi vì, sự chết vẫn là một vấn nạn khiến họ phải bó tay. Chạy đến với Đức Giê-su để xin Người chữa lành bịnh tật là chuyện mà ông Giai-rô và một số người cùng thời với Chúa đã làm; nhưng bây giờ đứa bé đã chết, còn gì để hy vọng nữa đây!

Nghe được những lời bàn như thế, Đức Giê-su quay sang an ủi và động viên ông Giai-rô đừng sợ, nhưng hãy vững tin. Quả thật, đây là một thách đố mới. Thách đố này đòi hỏi ông tiến thêm một buớc trong lòng tin. Ông đã tin rằng Đức Giê-su có thể chữa lành bịnh mà con gái ông phải mang thế nào; thì giờ đây ông hãy tin rằng Chúa còn có quyền trên cả sự chết nữa.

Nói thế rồi, Người tiếp tục bước đến nhà ông Giai-rô, có ba môn đệ thân tín cùng đi với Người. Bước vào nhà, Đức Giê-su liền nói: “Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” Nghe những lời nói đó, phản ứng của đám đông là chế riễu Người.

Thật vậy, làm sao chúng ta có thể nói một người đã chết là họ đang ngủ. Nhưng, đối với Đức Giê-su thì khác. Người mang đến một giáo lý mới, Người loan báo một Tin Vui. Đó chính là điều mà con người gọi là sự chết thì theo Chúa họ đang nghỉ ngơi, đợi chờ ngày được đánh thức để sống đời đời, để tham dự vào cuộc sống đời đời với Thiên Chúa, Cha Người. Điều này có nghĩa là, khi Đức Giê-su đến thì cái chết không còn là cái chết nữa mà đó chỉ là giấc ngủ.

Đến lúc này là sự đáp trả của ông Giai-rô: Ông có tin hay không?

Ông đã tin và với niềm tin của ông, Đức Giê-su đã tiến vào nơi cháu bé đang nằm, cầm tay cháu và truyền cho nó chỗi dậy. Con bé liền chỗi dậy và đi lại được. Chi tiết đi lại đuợc ám chỉ cho chúng ta biết rằng sau khi đuợc hồi sinh, cháu đã trưởng thành và có thể tự mình đi lại như người lớn. Ngoài ra, việc Đức Giê-su yêu cầu họ cho cô bé ăn chứng minh là cô đã hồi sinh. Cô không chỉ đi lại mà còn ăn uống bình thường như mọi người.

Tóm lại, Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta đến gặp Chúa Cứu Thế. Qua hành trình rao giảng, cùng với các phép lạ kèm theo và sau cùng là sự chết của Người đã ban cho nhân loại ơn chữa lành và cuộc sống được thay đổi, một sự thay đổi toàn diện cho mọi người: không phân biệt giai cấp, không phân chia địa vị, sang giầu hay nghèo hèn, không đánh giá vẻ bên ngoài, không vì tội nhân hay công chính. Nói chung Người không loại trừ một ai và cũng không bỏ rơi ai. Tất cả đều được chữa lành và đổi mới. Có nghĩa là khi gặp Chúa thì con người được đổi mới. Người muốn chúng ta tin rằng Người có sức mạnh đổi mới và hoàn thiện chúng ta.

Còn chúng ta thì sao?

Là thành viên của một cộng đoàn của những kẻ tin, cùng san sẻ một lòng mến, nhất là cùng đón nhận Chúa làm gia nghiệp, chúng ta có thể thay đổi các điều kiện của cuộc sống mình và những người xung quanh hay không? Và, liệu chúng ta có thể mang lại sự chữa lành cho những ai đang lâm vào các hoàn cảnh khó khăn và tuyệt vọng hay không?

Xin Chúa ban cho chúng ta can đảm và tin rằng Chúa sẽ thực hiện trong ta những điều cả thể như thế. Amen!

Wednesday, 16 June 2021

SAO LẠI NHÁT ĐẢM NHƯ THẾ! HÃY TIN VÀO THẦY.


Trước khi suy ngẫm về trình thuật Tin Mừng hôm nay, tôi mời gọi anh chị em cùng ôn lại hành trình vuợt biển năm nào. Tôi tin rằng hầu hết những người Việt Nam đang sống ở Nước ngoài đều trải qua những tháng ngày đau thương trong hành trình vượt biên. Tôi không dám và không muốn gợi lại những chuỗi ngày đau khổ đó. Bản thân tôi muốn quên mà vẫn không quên được. Nó là một phần trong cuộc sống. Đối với tôi, biến cố ra đi tìm sự sống qua cõi chết vẫn là một sự cố kinh hoàng mà mỗi khi nhớ đến tôi vẫn còn run sợ.

Trong chuyến vượt biên vào năm 1982, thuyền của chúng tôi đã bị mắc kẹt trong cơn bão (thật ra là gần cuối cơn bão). Chúng tôi đã trải qua những giây phút thật kinh sợ. Hầu như tất cả đều bất lực trước sức mạnh của bão táp và sự tàn phá của thiên tai. Có khoảng chừng tám mươi người trên tầu. Ngọai trừ gia đình chủ tầu, tài công là những người quen biết nhau từ trước; còn chúng tôi hòan tòan xa lạ đối với nhau. Một số gốc Công giáo; những người khác theo Phật giáo và còn một số là tín đồ của các giáo phái như Cao Đài… Nói chung, trong giây phút nguy hiểm đó, tất cả chúng tôi không cần biết mình thuộc tôn giáo nào nữa. Tất cả đều qui huớng về Đấng Chí Tôn, Đấng Tạo Hóa để cầu xin. Chỗ này lần hạt cầu nguyện, chỗ kia niệm kinh Nam Mô. Chúng tôi cùng chia sẻ một niềm tin vào Đấng Tạo Dựng và điều khiển vũ trụ. Chúng tôi tin rằng chỉ có sức mạnh tối cao từ Đấng Tạo Hóa, Đấng có thể cứu chúng tôi khỏi cơn gian nan đầy nguy hiểm này.

Thời gian cứ thế trôi qua. Sóng biển vẫn tiếp tục gầm thét như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi vào lòng biển. Tất cả đều quá mệt mỏi và đuối sức đến độ ngay cả lời cầu nguyện cũng im dần. Tất cả đều chờ đợi sự chộp bắt của Thần Chết.

Thật may mắn, sau đó cơn bão đã suy yếu dần. Thuyền của chúng tôi tiếp tục lênh đênh trên biển cả. Năm ngày sau, chúng tôi được sự hướng dẫn của các nhân viên trên dàn khoan dầu, con thuyền từ từ đến đảo Ku-ku, một trong những hòn đảo rất quen thuộc đối với các thuyền nhân tạm cư tại các trại tỵ nạn bên In-đô.

Sau này, tôi đã được nghe anh tài công cho hay khi đi qua cửa biển, con tầu của chúng tôi đã bị các chú công an biên phòng rượt bắt, nhưng họ đã bỏ cuộc, bởi vì họ nghĩ rằng con tầu của chúng tôi, sớm hay muộn, cũng bị đắm chìm khi phải chống chọi với cơn bão. Đúng là vận may đã đến trong cơn hoạn nạn.

Thành thật mà nói, tôi nghĩ rằng không có ai trong chúng ta còn đủ can đảm để đi trên biển trong hoàn cảnh như thế! Và, cho đến hôm nay, mỗi lần đi dạo trên bờ biển, nhất là vào buổi tối, đứng nhìn sự bao la và cũng rất đáng sợ của biển cả, cảm giác sợ hãi vẫn ám ảnh. Tôi nhận ra cuộc vượt biên ra đi tìm sự sống trong cái chết của chúng ta quả thật đáng sợ; và việc đến được bến bờ tự do quả thật diệu kỳ, chỉ còn biết coi đó là hồng ân mà thôi.

Cơn bão vượt biên đã xẩy ra chỉ một lần khiến cho con người khiếp sợ. Trong khi đó bão tố cuộc đời không chỉ xẩy ra một lần mà có thể nhiều lần trong đời. Vậy, chúng ta đối diện thế nào đây?

Thưa anh chị em,

Như anh chị em đã biết, đối với những người sống cùng thời với Chúa Giêsu. Họ tin rằng, sự kết hợp của biển cả và bão tố là biểu tượng của sự tàn phá và hỗn loạn; nó không chỉ làm cho con người khiếp sợ mà còn đe dọa mạng sống của họ nữa. Hơn thế nữa, chúng ta nên để ý đến bối cảnh mà sự việc xẩy ra hôm nay là vào lúc chiều đến. Chi tiết này làm tăng nỗi sợ hãi của các môn đệ trước trận cuồng phong bất chợt ập đến. Thế mà, Đức Giê-su vẫn ngủ yên trên thuyền. Người ngủ vì mệt hay vì say sóng. Có lẽ cả hai lý do nêu trên đều không đúng. Người có được sự bình an, một sự bình an mà ai trong chúng ta cũng mơ ước, bởi vì Chúa Giê-su đặt trọn niềm tin, phó thác sự sống vào tay Cha Người.

Tương tự như thế, nhiều lần chúng ta thấy mình ở nơi đầy tràn hoan lạc và bình an như thế. Chúng ta cảm thấy được yêu thương và dường như đang nằm thu gọn trong vòng tay yêu dấu kề cận Trái Tim Chúa. Trong khoảnh khắc đó, chúng ta có cảm giác là hiểm nguy nào cũng vượt qua, thử thách nào chúng ta cũng có thể đối diện được… Nhưng sau đó, mọi sự rồi cũng qua đi, mọi cảm xúc cũng biến mất để nhường chỗ cho một thực tại, mình trở về với chính mình, lại muốn độc lập, lại muốn làm chủ và tự mình định liệu cho cuộc sống đầy tham vọng của bản thân. Cái ‘tôi’ được vuốt ve và sự tin cậy và lệ thuộc của chúng ta vào Chúa cũng yếu dần.

Đó là cách phản ứng của các môn đệ. Họ thiếu lòng tin. Dù ngủ hay thức thì Chúa đang ở trên thuyền với họ, nhưng mắt họ chỉ nhìn thấy sóng gió và cuồng phong nên không nhận ra Chúa. Phản ứng thiếu lòng tin của các môn đệ được diễn tả qua câu than vãn “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi mà Thầy không quan tâm gì sao?” Họ cho rằng Chúa không để ý đến sự sống chết mà họ đang đối diện. Có ai quan tâm đến các môn đệ và mỗi người chúng ta bằng Chúa. Cho dù người mẹ có nhẫn tâm bỏ con, Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Chúa nói như thế, thế mà vì lo sợ và hoảng hốt quá nên chúng ta lại quên. Chúa vẫn đồng hành với các môn đệ trên đường về Em-mau, thế mà vì buồn và thất vọng nên các môn đệ không nhìn thấy Chúa. Chúa yêu thương thế gian đến độ hy sinh người Con yêu dấu, thế mà chúng ta lại nói với nhau rằng Chúa chẳng lo cho chúng ta. Một câu nói làm tổn thương Trái Tim Chúa.

Điều này còn xẩy ra trong các mối quan hệ. Hai người đang yêu nhau thắm thiết, thế mà có một hôm chị nói rằng: “Em thấy anh chẳng còn yêu và quan tâm hay để ý gì đến em nữa! Anh đã quên em rồi sao!” Thật là đau lòng! Anh đang mong từng giờ từng phút được ở bên em thế mà chị lại nói một câu làm anh buồn rười rượi. Trong gia đình cũng thế, bố mẹ nào mà lại chẳng thương con! Thế mà, có một hôm người con yêu dấu của họ than rằng: “Bố mẹ chẳng thương con gì hết.”

Thật vậy, “chúng ta chết đến nơi” là tiếng kêu van của các môn đệ về tình trạng bất lực của họ trước sự đe dọa của cơn bão. Nhưng hôm nay, khi nghe câu nói này tôi lại nhớ đến lời mời gọi được chết với Chúa. Chúng ta cùng chết với Người. Chết cho nỗi hoảng sợ của mình. Chết đi cho cái tôi đang giam hãm và trói buộc chúng ta. Chết đi cho các nhu cầu của cá nhân. Chết đi cho chính mình. Chết đi cho tội lỗi. Chết đi rồi chỗi dậy với Chúa mà đối diện với các sóng gió cuộc đời bằng chính quyền năng của Chúa, Đấng đã ra lịnh cho biển như đã ra lịnh cho các thần dữ rằng: “Hãy im đi! Hãy câm đi!” tức thì biển lặng yên và gió ngừng thổi.

Vì thế, là những tín hữu, những người có niềm tin, chúng ta thực sự sống cuộc đời của mình như có Chúa, khắc sâu các lịnh truyền của Người vào tâm can và đem ra thực hành thì cuộc sống của mình sẽ không còn giống như cũ nữa. Biển cả vẫn gầm thét. Sóng gió cuộc đời vẫn xẩy ra. Bão tố làm bật tung những thứ bị che đậy để con người có thể nhìn thấy rõ nhu cầu của nhau mà giúp đỡ. Chúng ta thật đã thay đổi. Cái cũ đã qua đi để nhường chỗ cho tái tạo mới. Chúng ta rời bỏ chính mình để “Duc In Altum – Ra Khơi” vào vùng nước sâu, nơi dễ bị phong ba bão táp, nhưng lại có nhiều cá. Tại chỗ đó, chúng ta không còn sống cho chính mình mà là trong Chúa, với Chúa chúng ta sống. Sống trong mầu nhiệm hiệp nhất với Chúa và tha nhân để mọi sự trở nên mới hơn. Không còn sợ hãi, không còn âu lo chỉ còn hoan lạc và bình an để cùng nhau “Ra Khơi” thôi.

Như vậy, sứ điệp mà bài Tin Mừng hôm nay đến thật đúng lúc. Nó tiếp tục giúp chúng ta sống tin tưởng hơn để đối diện với các khó khăn do đại dịch Covic-19 gây ra hơn một năm qua. Thiên Chúa vẫn còn ở trên con thuyền cuộc đời chúng ta. Người ở với chúng ta trong mọi cảnh huống. Hãy tin rằng chúng ta được Chúa yêu thuơng. Chúa yêu ta vô bờ bến. Tuy Chúa ngủ, nhưng con tim Chúa vẫn không ngừng tuôn đổ máu huyết để nuôi sống chúng ta. “Đừng nhát đảm! Nhưng hãy tin!”

Thật vậy, con người chỉ thắng được các nỗi sợ hãi nhờ tin vào Ðức Giêsu, Ðấng đã nên một với Thiên Chúa vì Người đã Tin vào quyền năng của Thiên Chúa lúc nào cũng họat động trong Người và với Người. Người đã không ngã gục vì sợ hãi mà đã đi tới cùng cho dù là cái chết, miễn là làm hài lòng Thiên Chúa. Chúng ta sẽ được như thế. Hãy tin và trao tay lái cuộc đời chúng ta cho Người rồi Người sẽ điều khiển và lèo lái con thuyền của chúng ta đến bến bờ bình an. Amen!