Wednesday, 26 June 2024

“ĐỪNG SỢ, NHƯNG HÃY TIN.”


Bịnh tật, đau khổ, tai ương và sự chết vẫn làm cho con người lo sợ. Hôm nay trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su đã chứng tỏ cho chúng ta thấy quyền năng của Thiên Chúa ở trong Người khi chữa cho người phụ nữ được khỏi bịnh và làm cho con gái của ông Giai-rô sống lại. Câu chuyện bắt đầu như sau.

Trước tiên, chúng ta hãy nhớ rằng: khi thi hành sứ vụ, Đức Giê-su đã gặp phải sự chống đối của các nhà lãnh đạo tôn giáo, sống cùng thời với Người. Thế mà thái độ của ông Giai-rô dành cho Đức Giê-su hôm nay khiến cho chúng ta phải ngạc nhiên. Tuy, ông cũng thuộc vào lớp người danh giá, có quyền có thế, đường đuờng là viên chức trưởng hội đường, thế mà ông đã phải hạ thấp mình xuống dưới chân Đức Giê-su và van xin Người rằng: “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và đuợc sống.”

Sự chết luôn luôn là mối bận tâm của con người. Nó trở thành nỗi lo âu, mối đe dọa thật khủng khiếp cho mọi người, đặc biệt những ai còn trẻ. Hoàn cảnh của cô con gái ông Giai-rô là như thế. Cô ta sắp chết. Cô rất khó để qua khỏi cơn gian nan này. Đặt mình vào hoàn cảnh của một người cha như ông Giai-rô, chúng ta có thể tìm ra vài lời giải thích cho hành động của ông hôm nay. Vì tình thương của người cha dành cho con, xen kẽ với niềm tin vào Đức Giê-su và nhất là ông phải thoát khỏi vòng ảnh huởng của các bạn đồng nghiệp, rồi mở lòng ra để đón nhận Tin Vui của Đức Giê-su mang đến. Đó là các động lực giúp ông can đảm hơn để gặp Chúa. Một cuộc gặp gỡ công khai chứ không thầm kín hay lén lút. Ông cần mạnh dạn để làm điều ông tin. Thật đáng cảm phục!

Tuy là như thế, nhưng con đường đến nhà ông Giai-rô lại bị gián đoạn bởi sự chen lấn của đám đông. Trong đám đông đầy người đó, có một người phụ nữ vô danh, đã tiếp xúc với Đức Giêsu một cách bí mật. Thật ra bà biết rằng theo luật thì bà không được phép đụng chạm đến ai; bởi vì bất kỳ ai tiếp xúc hay chạm vào bà đều bị ô uế và cần tẩy sạch.

Khỏi cần nói nhiều, chúng ta cũng hiểu cuộc sống của bà đau khổ đến dường nào. Đau khổ vì bịnh tật. Đau khổ vì bị sống cách ly khỏi các sinh hoạt của cộng đoàn. Đau khổ khi bị gia đình và người thân bỏ rơi. Thậm chí bà đã bao phen khổ sở vì tìm sai thầy, uống nhầm thuốc khiến cho bà tiền mất tật mang, thế mà không những bịnh vẫn hoàn bịnh mà còn bị nặng hơn. Bà sống trong tình trạng tuyệt vọng, không còn biết trông cậy vào ai là người có thể chữa cho bà được khỏi bịnh và trả lại phẩm vị con người cho bà nữa đây!

Trong cơn đau khổ và gần như tuyệt vọng đó, bà đã tìm gặp Đức Giê-su. Lúc đó bà chỉ nghe người ta nói về Người là Đấng đã chữa cho nhiều người được khỏi bịnh. Trong đầu bà chỉ cầu mong làm thế nào có thể sờ vào tua áo của Người thì sẽ được khỏi bịnh. Một ý nghĩ đơn sơ mang tính dị đoan và chút vụ lợi này của bà đã là khởi điểm giúp bà bước ra khỏi những điều đã giam hãm và đóng kín bà. Bà cần được thoát ra khỏi cái vỏ bên ngoài và bằng vào con người thật bà đến gặp Đức Giê-su.

Ngay khi đó bà ta nhận thấy có một sự thay đổi trong cơ thể của mình. Và, cũng ở thời điểm đó, Đức Giê-su nhận ra có một sự thay đổi trong cơ thể của Người. Không ai nhận ra điều này ngoại trừ Chúa và người phụ nữ biết có sự thay đổi đang xẩy ra nơi họ! Và bà đã đuợc chữa lành. Máu liền ngưng chảy ra. Căn bịnh đã biến mất.

Nhưng, cuộc gặp gỡ giữa Đứa Giê-su và bà không ngừng ở phần chữa lành thể xác. Sau khi thấy lực trong người thoát ra, Chúa nhìn bà. Bằng vào cái nhìn của Đức Giê-su khiến bà cảm thấy sợ phát run lên. Tuy nhiên, không vì nỗi run sợ khiến bà chạy trốn cái nhìn của Chúa. Trái lại, bà can đảm buớc ra khỏi cõi lòng để tự giới thiệu mình với Chúa và trình bầy toàn bộ sự thật. Không ai bắt người phụ nữ này phải làm như thế. Bà vẫn có thể ẩn mình vì máu đã ngưng chảy, căn bịnh băng huyết đã được chữa khỏi. Nhưng hình như bà thấy đuợc cái nhìn mãnh liệt, một cái nhìn soi thấu tâm can của Chúa, khiến bà phải buớc ra để bộc lộ và phơi bầy mọi sự đang xẩy ra cho bà. Nhờ cuộc gặp gỡ với Đức Giê-su, nhất là với cái nhìn của Người khiến bà thay đổi, nhận ra căn tính và phẩm vị của một con người và buớc vào để thiết lập mối quan hệ với Đức Giê-su, Đấng đã phán: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bịnh.”

Anh chị em thên mến,

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người phụ nữ bị băng huyết đã làm trì hoãn việc Người đến chữa lành cho con gái ông Giai-rô. Nên khi Người đến nơi thì được tin cô bé đã chết. Với nguồn tin sét đánh này, người nhà của ông chủ hội đuờng mới góp ý đừng làm phiền đến Chúa nữa. Họ có lý khi có lối suy nghĩ như thế. Bởi vì, sự chết vẫn là một vấn nạn khiến họ phải bó tay. Chạy đến với Đức Giê-su để xin Người chữa lành bịnh tật là chuyện mà ông Giai-rô và một số người cùng thời với Chúa đã làm; nhưng bây giờ đứa bé đã chết, còn gì để hy vọng nữa đây!

Nghe được những lời bàn như thế, Đức Giê-su quay sang an ủi và động viên ông Giai-rô đừng sợ, nhưng hãy vững tin. Quả thật, đây là một thách đố mới. Thách đố này đòi hỏi ông tiến thêm một buớc trong lòng tin. Ông đã tin rằng Đức Giê-su có thể chữa lành bịnh mà con gái ông phải mang thế nào; thì giờ đây ông hãy tin rằng Chúa còn có quyền trên cả sự chết nữa.

Nói thế rồi, Người tiếp tục bước đến nhà ông Giai-rô, có ba môn đệ thân tín cùng đi với Người. Bước vào nhà, Đức Giê-su liền nói: “Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” Nghe những lời nói đó, phản ứng của đám đông là chế riễu Người.

Thật vậy, làm sao chúng ta có thể nói một người đã chết là họ đang ngủ. Nhưng, đối với Đức Giê-su thì khác. Người mang đến một giáo lý mới, Người loan báo một Tin Vui. Đó chính là điều mà con người gọi là sự chết thì theo Chúa họ đang nghỉ ngơi, đợi chờ ngày được đánh thức để sống đời đời, để tham dự vào cuộc sống đời đời với Thiên Chúa, Cha Người. Điều này có nghĩa là, khi Đức Giê-su đến thì cái chết không còn là cái chết nữa mà đó chỉ là giấc ngủ.

Đến lúc này là sự đáp trả của ông Giai-rô: Ông có tin hay không?

Ông đã tin và với niềm tin của ông, Đức Giê-su đã tiến vào nơi cháu bé đang nằm, cầm tay cháu và truyền cho nó chỗi dậy. Con bé liền chỗi dậy và đi lại được. Chi tiết đi lại đuợc ám chỉ cho chúng ta biết rằng sau khi đuợc hồi sinh, cháu đã trưởng thành và có thể tự mình đi lại như người lớn. Ngoài ra, việc Đức Giê-su yêu cầu họ cho cô bé ăn chứng minh là cô đã hồi sinh. Cô không chỉ đi lại mà còn ăn uống bình thường như mọi người.

Tóm lại, Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta đến gặp Chúa Cứu Thế. Qua hành trình rao giảng, cùng với các phép lạ kèm theo và sau cùng là sự chết của Người đã ban cho nhân loại ơn chữa lành và cuộc sống được thay đổi, một sự thay đổi toàn diện cho mọi người: không phân biệt giai cấp, không phân chia địa vị, sang giầu hay nghèo hèn, không đánh giá vẻ bên ngoài, không vì tội nhân hay công chính. Nói chung Người không loại trừ một ai và cũng không bỏ rơi ai. Tất cả đều được chữa lành và đổi mới. Có nghĩa là khi gặp Chúa thì con người được đổi mới. Người muốn chúng ta tin rằng Người có sức mạnh đổi mới và hoàn thiện chúng ta.

Còn chúng ta thì sao?

Là thành viên của một cộng đoàn của những kẻ tin, cùng san sẻ một lòng mến, nhất là cùng đón nhận Chúa làm gia nghiệp, chúng ta có thể thay đổi các điều kiện của cuộc sống mình và những người xung quanh hay không? Và, liệu chúng ta có thể mang lại sự chữa lành cho những ai đang lâm vào các hoàn cảnh khó khăn và tuyệt vọng hay không?

Xin Chúa ban cho chúng ta can đảm và tin rằng Chúa sẽ thực hiện trong ta những điều cả thể như thế. Amen!

Friday, 21 June 2024

HÃY TIN VÀO THẦY

 

Trước khi suy ngẫm về trình thuật Tin Mừng hôm nay, tôi mời gọi anh chị em cùng ôn lại hành trình vượt biển năm nào. Tôi tin rằng hầu hết những người Việt Nam đang sống ở nước ngoài đều trải qua những tháng ngày đau thương trong hành trình vượt biên. Tôi không dám và không muốn gợi lại những chuỗi ngày đau khổ đó. Bản thân tôi muốn quên mà vẫn không quên được. Nó là một phần trong cuộc sống. Đối với tôi, biến cố ra đi tìm sự sống qua cõi chết vẫn là một sự cố kinh hoàng mà mỗi khi nhớ đến tôi vẫn còn run sợ.

Trong chuyến vượt biên vào năm 1982, thuyền của chúng tôi đã bị mắc kẹt trong cơn bão, thật ra là gần cuối cơn bão. Chúng tôi đã trải qua những giây phút thật kinh sợ. Hầu như tất cả đều bất lực trước sức mạnh của bão táp và sự tàn phá của thiên tai.

Có khoảng chừng tám mươi người trên tầu. Ngọai trừ gia đình chủ tầu, tài công là những người quen biết nhau từ trước; còn chúng tôi hòan tòan xa lạ đối với nhau. Một số gốc Công giáo; những người khác theo Phật giáo và còn một số là tín đồ của các giáo phái như Cao Đài… Nói chung, trong giây phút nguy hiểm đó, tất cả chúng tôi không cần biết mình thuộc tôn giáo nào nữa. Tất cả đều qui hướng về Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa để cầu xin. Chỗ này lần hạt cầu nguyện, chỗ kia niệm kinh Nam Mô. Chúng tôi cùng chia sẻ một niềm tin vào Đấng Tạo Dựng và điều khiển vũ trụ. Chúng tôi tin rằng chỉ có sức mạnh tối cao từ Đấng Tạo Hóa, Đấng có thể cứu chúng tôi khỏi cơn gian nan đầy nguy hiểm này.

Thời gian cứ thế trôi qua. Sóng biển vẫn tiếp tục gầm thét như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi vào lòng biển. Tất cả đều quá mệt mỏi và đuối sức đến độ ngay cả lời cầu nguyện cũng im dần. Tất cả đều chờ đợi sự chộp bắt của Thần Chết.

Thật may mắn, sau đó cơn bão đã suy yếu dần. Thuyền của chúng tôi tiếp tục lênh đênh trên biển cả. Năm ngày sau, chúng tôi được sự hướng dẫn của các nhân viên trên dàn khoan dầu, con thuyền từ từ đến đảo Ku-ku, một trong những hòn đảo rất quen thuộc đối với các thuyền nhân tạm cư tại các trại tỵ nạn bên In-đô.

Sau này, tôi đã được nghe anh tài công cho hay khi đi qua cửa biển, con tầu của chúng tôi đã bị các chú công an biên phòng rượt bắt, nhưng họ đã bỏ cuộc, bởi vì họ nghĩ rằng con tầu của chúng tôi, sớm hay muộn, cũng bị đắm chìm khi phải chống chọi với cơn bão. Đúng là vận may đã đến trong cơn hoạn nạn.

Thành thật mà nói, tôi nghĩ rằng không có ai trong chúng ta còn đủ can đảm để đi trên biển trong hoàn cảnh như thế! Và, cho đến hôm nay, mỗi lần đi dạo trên bờ biển, nhất là vào buổi tối, đứng nhìn sự bao la và cũng rất đáng sợ của biển cả, cảm giác sợ hãi vẫn ám ảnh. Tôi nhận ra cuộc vượt biên ra đi tìm sự sống trong cái chết của chúng ta quả thật đáng sợ; và việc đến được bến bờ tự do quả thật diệu kỳ, chỉ còn biết coi đó là hồng ân mà thôi.

Cơn bão vượt biên đã xẩy ra chỉ một lần khiến cho con người khiếp sợ. Trong khi đó bão tố cuộc đời không chỉ xẩy ra một lần mà có thể nhiều lần trong đời. Vậy, chúng ta đối diện thế nào đây?

Thưa anh chị em,

Như anh chị em đã biết, đối với những người sống cùng thời với Chúa Giêsu. Họ tin rằng, sự kết hợp của biển cả và bão tố là biểu tượng của sự tàn phá và hỗn loạn; nó không chỉ làm cho con người khiếp sợ mà còn đe dọa mạng sống của họ nữa. Hơn thế nữa, chúng ta nên để ý đến bối cảnh mà sự việc xẩy ra hôm nay là vào lúc chiều đến. Chi tiết này làm tăng nỗi sợ hãi của các môn đệ trước trận cuồng phong bất chợt ập đến. Thế mà, Đức Giê-su vẫn ngủ yên trên thuyền. Người ngủ vì mệt hay vì say sóng. Có lẽ cả hai lý do nêu trên đều không đúng. Người có được sự bình an, một sự bình an mà ai trong chúng ta cũng mơ ước, bởi vì Chúa Giê-su đặt trọn niềm tin, phó thác sự sống vào tay Cha Người.

Tương tự như thế, nhiều lần chúng ta thấy mình ở nơi đầy tràn hoan lạc và bình an như thế. Chúng ta cảm thấy được yêu thương và dường như đang nằm thu gọn trong vòng tay yêu dấu, ở bên Trái Tim Chúa. Trong khoảnh khắc đó, chúng ta có cảm giác là hiểm nguy nào cũng vượt qua, thử thách nào chúng ta cũng có thể đối diện được… Nhưng sau đó, mọi sự rồi cũng qua đi, mọi cảm xúc cũng biến mất để nhường chỗ cho một thực tại, mình trở về với chính mình, lại muốn tự lập, lại muốn làm chủ và tự mình định liệu cho cuộc sống đầy tham vọng của bản thân. Cái ‘tôi’ được vuốt ve và sự tin cậy và lệ thuộc của chúng ta vào Chúa cũng yếu dần.

Đó là cách phản ứng của các môn đệ. Họ thiếu lòng tin. Dù ngủ hay thức thì Chúa đang ở trên thuyền với họ, nhưng mắt họ chỉ nhìn thấy sóng gió và cuồng phong nên không nhận ra Chúa. Phản ứng thiếu lòng tin của các môn đệ được diễn tả qua câu than vãn “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi mà Thầy không quan tâm gì sao?” Họ cho rằng Chúa không để ý đến sự sống chết mà họ đang đối diện.

Có ai quan tâm đến các môn đệ và mỗi người chúng ta bằng Chúa. Cho dù người mẹ có nhẫn tâm bỏ con, Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Chúa nói như thế, thế mà vì lo sợ và hoảng hốt quá nên chúng ta lại quên. Chúa vẫn đồng hành với các môn đệ trên đường về Em-mau, thế mà vì buồn và thất vọng nên các môn đệ không nhìn thấy Chúa. Chúa yêu thương thế gian đến độ hy sinh người Con yêu dấu, thế mà chúng ta lại nói với nhau rằng Chúa chẳng lo cho chúng ta. Một câu nói làm tổn thương Trái Tim Chúa.

Điều này còn xẩy ra trong các mối quan hệ. Hai người đang yêu nhau thắm thiết, thế mà có một hôm chị nói rằng: “Em thấy anh chẳng còn yêu và quan tâm hay để ý gì đến em nữa! Anh đã quên em rồi sao!” Thật là đau lòng! Anh đang mong từng giờ từng phút được ở bên em thế mà chị lại nói một câu làm anh buồn rười rượi. Trong gia đình cũng thế, bố mẹ nào mà lại chẳng thương con! Thế mà, có một hôm người con yêu dấu của họ than rằng: “Bố mẹ chẳng thương con gì hết.”

Thật vậy, “chúng ta chết đến nơi” là tiếng kêu van của các môn đệ về tình trạng bất lực của họ trước sự đe dọa của cơn bão. Nhưng hôm nay, khi nghe câu nói này tôi lại nhớ đến lời mời gọi được chết với Chúa. Chúng ta cùng chết với Người. Chết cho nỗi hoảng sợ của mình. Chết đi cho cái tôi đang giam hãm và trói buộc chúng ta. Chết đi cho các nhu cầu của bản thân. Chết đi cho chính mình. Chết đi cho tội lỗi. Chết đi rồi chỗi dậy với Chúa mà đối diện với các sóng gió cuộc đời bằng chính quyền năng của Chúa, Đấng đã ra lịnh cho biển như đã ra lịnh cho các thần dữ rằng: “Hãy im đi! Hãy câm đi!” tức thì biển lặng yên và gió ngừng thổi.

Vì thế, là những tín hữu, những người có niềm tin, chúng ta thực sự sống cuộc đời của mình như có Chúa, khắc sâu các lịnh truyền của Người vào tâm can và đem ra thực hành thì cuộc sống của mình sẽ không còn giống như cũ nữa. Biển cả vẫn gầm thét. Sóng gió cuộc đời vẫn xẩy ra. Nhưng bão tố không còn là mối đe dọa, trái lại nó lại có tác dụng làm bật tung những thứ bị che đậy để con người có thể nhìn thấy rõ nhu cầu của nhau mà thông cảm và giúp đỡ. Chúng ta thật đã thay đổi. Cái cũ đã qua đi để nhường chỗ cho cái mới. Chúng ta rời bỏ chính mình để “Duc In Altum – Ra Khơi” vào vùng nước sâu, nơi dễ bị phong ba bão táp, nhưng lại có nhiều cá. Tại chỗ đó, chúng ta không còn sống cho chính mình mà là trong Chúa, với Chúa chúng ta sống. Sống trong mầu nhiệm hiệp nhất với Chúa và tha nhân để mọi sự trở nên mới hơn. Không còn sợ hãi, không còn âu lo chỉ còn hoan lạc và bình an để cùng nhau “Ra Khơi” thôi.

Như vậy, sứ điệp mà bài Tin Mừng hôm nay giúp chúng ta sống tin tưởng hơn để đối diện với các khó khăn và bão tố trong cuộc sống. Thiên Chúa vẫn còn ở trên con thuyền cuộc đời của chúng ta. Người ở với chúng ta trong mọi cảnh huống. Hãy tin rằng chúng ta được Chúa yêu thuơng. Chúa yêu ta vô bờ bến. Tuy Chúa ngủ, nhưng con tim Chúa vẫn không ngừng tuôn đổ máu huyết để nuôi sống chúng ta. “Đừng nhát đảm! Nhưng hãy tin!”

Thật vậy, con người chỉ thắng được các nỗi sợ hãi nhờ tin vào Ðức Giêsu, Ðấng đã nên một với Thiên Chúa vì Người đã Tin vào quyền năng của Thiên Chúa lúc nào cũng họat động trong Người và với Người. Người đã không ngã gục vì sợ hãi mà đã đi tới cùng cho dù là cái chết, miễn là làm hài lòng Thiên Chúa. Chúng ta sẽ được như thế. Hãy tin và trao tay lái cuộc đời chúng ta cho Người rồi Người sẽ điều khiển và lèo lái con thuyền của chúng ta đến bến bờ bình an. Amen!

Monday, 10 June 2024

LỚN LÊN BỞI CHÚA


Chúng ta bắt đầu bài chia sẻ hôm nay bằng câu chuyện. Nội dung và các tình tiết trong câu chuyện rất thật, thật đến độ có nhiều người tưởng như truyện kể về hoàn cảnh của gia đình mình. Truyện kể như sau.

Có một gia đình kia có 4 người con. Gia đình anh chị mới đến Úc khoảng hơn chục năm. Chân ướt chân ráo tới định cư tại một xã hội hoàn toàn mới lạ với những gì mà họ đã được dậy bảo và trưởng thành ở Việt nam. Tuy bỡ ngỡ nhưng anh chị cố gắng chu tòan bổn phận và trách nhiệm làm cha mẹ trong môi truờng mới.

Khi còn nhỏ, cháu nào cháu ấy thật dễ thương, chăm chỉ học hành, vâng lời anh chị, ngoan ngoãn trong công việc. Đến tuổi dậy thì, các cháu đổ chứng, mỗi đứa một tật khiến cho anh chị lao tâm lao lực, thậm chí chán nản, bị trầm cảm rồi mất lòng trông cậy và chẳng biết bám víu vào ai. Nhưng anh chị vẫn tiếp tục vai trò làm đầy tớ phục vụ nhu cầu các con, làm thầy dậy chỉ bảo đường đi cho các con, làm lang y mỗi khi các cháu ngã bịnh.

Theo tôi, anh chị đã cố gắng hết sức trong việc giáo dục con cái. Tôi thông cảm và rất muốn chia sẻ nỗi khó khăn, niềm lo âu và cơn buồn phiền trong đời sống với họ. Tôi cảm phục lòng can đảm, sự hy sinh, lòng kiên nhẫn nói lên tình yêu của họ dành cho các cháu. Đó chính là công sức mà họ đã đóng góp để cho hạt giống mà Chúa đã gieo, đang gieo và tiếp tục gieo qua cuộc sống của họ và âm thầm mọc lên trong cuộc sống của các cháu. Tất cả được đặt trong niềm hy vọng là các hạt giống đó sẽ sinh hoa kết trái sau này.

Trước hoàn cảnh thật chông gai mà gia đình anh chị, bạn tôi đã và đang đối diện. Anh chị có thể nhận ra mình là kẻ thua cuộc, nhưng anh chị vẫn tin rằng Thiên Chúa yêu thương những người con của anh chị hơn anh chị yêu các cháu. Bởi vì, các cháu trước khi là con của anh chị thì phải là con của Thiên Chúa truớc. Như thế, Ngài có đường lối và cách ứng xử của Ngài. Anh chị tin rằng Ngài không muốn một ai trong chúng ta bị hư đi. Chúng ta là những con người bất tòan mà còn biết hành xử với con cái mình như thế, gieo và tiếp tục gieo hạt giống tin yêu và hy vọng là nó sẽ sinh hoa kết trái; phuơng chi là Thiên Chúa. Người yêu thuơng, tiếp tục ban phát ân huệ, kiên tâm chờ đợi kết quả của ngày mùa, đến mùa thu họach sẽ đuợc bội thu.

Thưa anh chị em,

Tuy truyện kể trên đây không xẩy ra cho mọi gia đình, nhưng tình tiết của câu chuyện không xa lạ với hoàn cảnh sống của gia đình chúng ta. Các bậc cha mẹ dường như đều trải qua những kinh nghiệm giống như thế.

Một cách tương tự, đây cũng là hoàn cảnh của các tín hữu tiên khởi đã phải đối diện. Sau khi Chúa Giê-su về trời, ngự bên hữu Thiên Chúa. Các Tông đồ bắt đầu ra đi rao giảng về Nước Thiên Chúa. Công cuộc rao giảng và gieo trồng Lời Chúa của các môn đệ không được thuận lợi. Các ông bị chống đối, chịu cấm cách, bị bắt bớ, tù đầy thậm chí còn bị giết chết. Trước một thực tế đầy chông gai như thế, anh chị em tiên khởi có thể hỏi nhau rằng làm thế nào Nuớc Thiên Chúa có thể phát triển đây? Câu trả lời được tìm thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.

Dụ ngôn về Nước Thiên Chúa mà chúng ta vừa nghe có thể đem đến cho họ và cả chúng ta một lời giải đáp. Trước hết, chúng ta cần ghi nhận rằng điểm chính của dụ ngôn nằm ở thái độ của người gieo giống hơn là bổn phận mà ông phải chu toàn. Trong bài Tin Mừng, ông được trình bầy như một kẻ lười biếng, chỉ biết gieo mà không nỗ lực canh tác. Sau khi gieo, ông trở về với cuộc sống thường nhật của mình. Tuy, đó là vẻ bề ngoài của ông, nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng: là một nhà trồng cấy chuyên nghiệp, ông có đủ kinh nghiệm để biết rằng thủa đất mà ông vừa gieo hạt giống xuống sẽ bắt đầu một tiến trình khiến cho hạt giống tăng trưởng mà không cần bất kỳ một sự can thiệp nào của ông. Ngoài niềm tin đó, việc kế tiếp mà ông cần làm là quan sát và kiên nhẫn chờ đợi, cho đến khi hạt giống chín thì vác liềm ra gặt mà thu hoa lợi về cho chủ.

Nếu dụ ngôn được hiểu như thế thì chúng ta cũng dễ dàng nhận ra ý của Thánh sử là: Nước Thiên Chúa thuộc về quyền cai quản của Thiên Chúa. Mọi người chúng ta chỉ là những người thợ trong cánh đồng này. Lẽ dĩ nhiên, chúng ta có bổn phận đóng góp và chu toàn bổn phận của những người con, những người phụ giúp; còn việc làm cho Nước ấy tăng trưởng hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa.

Cụ thể hơn, qua mầu nhiệm nhập thể Đức Giê-su đã đảm nhận vai trò đó. Người đến để rao giảng và phát triển Nước Thiên Chúa. Vì thế, Người có bổn phận làm cho hạt giống tăng trưởng. Người mới là người gieo giống chân thật. Còn chúng ta chỉ là những kẻ thừa hành, những người cộng tác.

Hoàn cảnh mà các cộng đoàn tiên khởi đang phải đối diện cũng là số phận mà Đức Giê-su đã trải qua. Người đã thất bại, đã bị khước từ, bị chống đối, loại bỏ khỏi hội đuờng sau cùng bị giết chết. Người xem ra thất bại trước sự cứng tin của người nghe. Tâm hồn họ đã ra chai đá và không mở lòng ra để đón nhận những hạt giống trong Lời rao giảng của Người. Tuy nhiên, không vì thế mà hạt giống không được tăng trưởng. Chúng ta phải tin rằng: Hạt giống được gieo bởi Đức Giê-su. Người biết làm sao để cho hạt giống được tăng trưởng. Và, trong niềm tin, chúng ta chắc chắn rằng không có một sức mạnh nào có thể ngăn cản sự tăng trưởng của hạt giống.

Hạt giống của Chúa chứ không phải lời hay công sức của chúng ta. Vì thế, việc hạt giống nảy mầm, sinh hoa kết trái là của Chúa. Những điều cần làm thì chúng ta vẫn phải làm, vì đó là bổn phận của mình, nguời môn đệ của Chúa. Còn phần còn lại, kết quả của nó, thành công hay thất bại không phải là việc của mình. Kiên nhẫn đợi chờ với tinh thần lạc quan để chờ ngày thu hoạch.

Trong khi chờ đợi, chúng ta hãy hết lòng tin tưởng với tâm hồn khao khát rằng Nuớc Thiên Chúa, cho dù đã được khai mạc bởi Đức Giê-su, nhưng còn sẽ đến để đem mọi sự đến hoàn thành. Và trong ngày đó, lối sống yêu thương và các công sức của chúng ta sẽ trở thành những bông lúa đầy mầu nắng ấm của tình yêu, sẽ triển nở để báo cho biết mùa gặt đã đến. Và lúc đó, chúng ta chỉ biết dâng lời chúc tụng và tôn vinh Chúa, Đấng đem mọi sự đến mức hoàn hảo và sung mãn nhất theo ý của Ngài.

Vì vậy, Lời Chúa trong dụ ngôn về sự tăng trưởng âm thầm của hạt giống giúp cho tôi xác tín hơn rằng: Chúa chúng ta là Đấng thật quảng đại, kiên tâm trong tình yêu và không hề áp đặt, luôn tôn trọng quyền tự do và mức độ đón nhận của con người. Để đáp trả, chúng ta hãy tự do đứng dậy rồi yêu thuơng, tha thứ và kiên tâm chờ đợi cùng nhau sinh hoa kết trái nhé. Amen

 

Wednesday, 5 June 2024

CÓ CHÚA MỌI SỰ SẼ TỐT

 


Anh chị em thân mến,

Trước tiên chúng ta hãy cùng ôn lại một vài hiện tượng đã xuất hiện khi còn trẻ và có thể vẫn còn xẩy ra trong cuộc sống sau này của chúng ta.

Hãy nhìn xem cô cháu gái kia đang tập đi, ngã té liên tục. Có lần cháu chạy quá vội vàng, chẳng để ý gì đến các sự vật chung quanh, vấp té sấp mặt xuống đất rồi hét ầm lên. Nghe cháu hét, bà ngoại vôi vàng chạy đến vỗ về, an ủi, dỗ dành cho cháu bớt khóc. Càng dỗ cháu càng làm nũng và khóc to hơn. Thấy thế, bà mới hỏi ai làm cháu té. Chưa kịp nghe cháu trả lời, bà bèn vỗ tay xuống nền nhà, nơi cháu té và nói tại cái nền nhà này không bằng phẳng, tại cái miếng gạch này hơi trơn khiến cháu của bà té sưng mặt. Thế là cháu bớt khóc.

Lại một lần kia, cháu chạy và xô vào cái bàn. Đau rồi khóc. Lại cũng tại cái bàn kê sai chỗ, cái ghế để không đúng vị trí.

Lớn hơn vài tuổi. Vào một lần kia, anh trai cháu đang vui vẻ với món đồ chơi. Cháu nhào đến dành dật. Kết quả, anh em đánh nhau. Người lớn nhào vào can thiệp. Lại lỗi của anh trai, đã lớn mà không biết nhường nhịn cho em gái.

Đến khi lớn lên thì tại đủ thứ, tại ông, tại bà, tại vợ tại chồng… Đủ muôn ngàn lý do để bào chữa.

Sau khi chết rồi thì người thân bào chữa như: “Lậy Chúa, vì yếu đuối trong thân phận con người cho nên thân nhân của chúng con mới phạm tội…”. Đấy là vì yếu đuối, vì là người cho nên mới phạm vào các tội như thế. Trong khi đó, có ai không biết chúng ta yếu đuối. Chúa còn biết rõ thân phận mỏng dòn, yếu đuối và dễ vở của chúng ta, thế mà  chúng ta cũng cần phải nói ra, sợ Chúa quên và nhất là đó là lý do để bào chữa; rồi Chúa sẽ thông cảm cho mình thôi!

Rõ chán! Lỗi tại mình, mình không dám nhận là chưa yêu Chúa đủ rồi lại đổ thừa và gán cho Người những điều không tích cực.

Gần đây anh chị em nghe nói nhiều về các chuyện liên quan đến cách hành xử tính dục của một số quí vị lãnh đạo trong đạo cũng như ngoài đời. Họ bao gồm đủ mọi giới. Nói chung, họ là những kẻ có quyền, rồi vì thiếu trách nhiệm, bao che cho nhau rồi tìm đủ cách bảo vệ nhau mà không dám nhìn vào hành vi sai lầm của những người lạm dụng gây ra bao tai hại cho kẻ khác… Thế là sự việc lan ra khiến cho nhiều người lại trở thành nạn nhân cho các việc bao che đó.

Nói chung, cho dù cá nhân hay tập thể thì chúng mình vẫn cứ ‘dầm mình trong tội’.

Dạ, thưa quí ông bà và anh chị em. Những điều anh chị em vừa nghe có phải là các sự việc chúng ta đã nghe, đã trải qua và tệ hại hơn là chúng ta tiếp tục làm giống như thế hay không?

Và, qua ngòi bút vô cùng ngoan mục, tác giả sách Sáng Thế đã trình bầy trong bài đọc một hôm nay một câu chuyện bao gồm các chi tiết và lối diễn tả thật gần gũi với cuộc đời của mỗi người. Chúng ta hoàn toàn đồng ý với cách cư xử của Adam và Eva. Chúng ta là những Adam và Eva của mọi thời, luôn muốn ăn trái cấm để thoát ra khỏi mối tương quan với Thiên Chúa và sau cùng là nhận ra mình trần truồng trơ trụi. Đến khi bị chất vấn thì lại chối bỏ trách nhiệm và đổ lỗi cho nhau như tại người đàn bà Chúa ban cho con. Giả như không có bà ấy (lúc này giọng điệu của chúng ta phải là con mẹ ấy) thì con đâu có ăn. Tương quan vợ chồng không còn được đặt trên căn bản của tình yêu nữa, vợ chồng lúc này trở thành gánh nặng cho nhau. Rồi từ đó, các tương quan bị đứt đoạn.

Sau cùng, ông bà không còn ai để đổ lỗi lại đi đổ lỗi cho con rắn, đang từ thân phận là hình ảnh của Thiên Chúa, không dám nhận trách nhiệm và còn đi so sánh mình với thú vật, đổ lỗi cho loài vật không tương xứng với mình. Quả thật là xấu hổ và nực cười. Thật ra, ở đây con rắn là tượng trưng cho quyền lực của sự dữ.

Văn hóa đổ thừa, bán cái trách nhiệm, không dám nhìn nhận sự thật này, như anh chị em chúng ta đã biết thì đó là hậu quả của việc từ chối đón nhận sự săn sóc, quan tâm, bao bọc của Thiên Chúa. Chúng ta sống trong sự tội.

Thưa anh chị em,

Nói đến tội thì chúng ta phải nhìn nhận rằng chúng ta không làm ra tội. Tội có nguồn gốc riêng. Nó đã có trước khi chúng ta hiện hữu. Tội là một thứ quyền lực luôn chống lại Thiên Chúa. Chúng ta là đối tượng cho sự hoành hành đó. Hãy nghe Thánh Phao-lô tâm sự: “Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi. (Rm 7:18b-20)

Tội vẫn ở trong ta và chúng ta còn làm cho tội phình to hơn bằng cách hưởng ứng, cổ võ và thực hiện.

Vậy có cách nào giúp chúng ta đây?

Tôi xin đề nghị để anh chị em cùng suy xét. Việc đầu tiên là hãy nhận ra sự thật. Chúng ta thật yếu đuối, mỏng dòn, dễ vỡ và nhất là không đủ sức chống trọi với quyền năng của sự ác đang ở với chúng ta. Không chạy trốn, không bán cái và đổ thừa trách nhiệm cho người khác. Trái lại, nhìn nhận sự thật và biết rằng Thiên Chúa yêu thương ta vô ngần, vô hạn. Người là Đấng yêu thương và săn sóc cho từng người, không muốn xử dụng hình phạt. Giả như đôi lần chúng ta có nghe đền cụm từ phạt vạ thì cũng là cơ hội để chúng ta kiên nhẫn và nhận ra lối hành xử trong tình yêu để chúng ta tốt hơn. Thử thách và gian truân là những cơ hội để rèn luyện chúng ta. Vì thế, hãy sống nương tựa vào tình thương và sự bao bọc của Thiên Chúa.

Nếu Người muốn phạt chúng ta thì Người đâu cần đi tìm. Người đã đi tìm ‘ngươi ở đâu’ để cứu. Con người không thể tự cứu mình. Ơn cứu độ được ban tặng bởi Đức Giê-su. Người đến trần gian này để cứu nhân loại. Thế mà, trong bài Tin Mừng hôm nay có một số người lại cho rằng Người bị quỷ ám, bị điên! Rõ ràng đây là một sự áp đặt. Bản thân mình là tay sai cho thần ác lại đổ thừa cho Chúa. Hành động của mình là kẻ điên lại gán cho Chúa là người điên. Chúng ta mới là những kẻ điên, điên hết cỡ. Thế mà không chịu uống thuốc. Nên điên càng điên hơn. Ngay cả những người thân thuộc, gần gũi, họ hàng với Chúa cũng thế. Họ cho là Chúa bị loạn trí.

Chỉ có những ai thuộc về gia đình của Người. Đó là những kẻ sinh ra trong lòng tin và có cuộc sống bằng lòng mến. Đó là những người lắng nghe và đem Lời Chúa ra thực hành. Hãy để cho Lời Chúa lưu lại một cách thật dồi dào và phong phú trong cuộc sống của chúng ta. Đó là cách thức để Chúa Giê-su không ngừng lớn lên trong ta và trong mọi người. Và, một khi làm đuợc các điều đó, chúng ta làm chứng cho nhân loại biết chúng ta là thành viên trong gia đình của Thiên Chúa, là những người sẵn sàng lắng nghe và đem Lời Chúa ra thực hành trong cuộc sống.

Như vậy, với Đức Giê-su thì nền văn hoá của đỗ lỗi, bán cái trách nhiệm trong bài đọc một đã bị thay đổi bởi nền văn hoá mới mà Đức Giê-su đem lại, trong đó các thành viên của gia đình mới, gia đình Nuớc Thiên Chúa sẽ sẵn sàng chịu trách nhiệm, dấn thân, xung phong, nhập trận và chọn lựa Chúa là ưu tiên duy nhất cho cuộc đời mình. Chỉ có như thế thì quyền lực của sự dữ mới bị tiêu diệt dần dần để nhường chỗ cho sự hiển trị của Nuớc Thiên Chúa. Amen!

 

 

 

Wednesday, 29 May 2024

TƯỞNG NHỚ ĐỂ SỐNG!

 Anh chị em thân mến,

Hôm nay chúng ta cùng nhau cử hành Lễ Mình Máu Thánh Chúa hay còn gọi là Lễ Thánh Thể. Thánh Thể là một bí tích cao trọng mà Chúa Giê-su đã thiết lập trong bữa Tiệc Ly sau cùng. Trong Bí Tích Thánh Thể, Chúa Giê-su Ki-tô không chỉ ban cho chúng ta chính Mình và Máu của Người, mà còn mời gọi chúng ta sống trong tình yêu và sự hy sinh mà Người đã nêu gương. Trong Bí Tích Thánh Thể, chúng ta thấy rõ tình yêu vô biên của Chúa dành cho chúng ta và toàn thể nhân loại. Người không chỉ nói về tình yêu của Thiên Chúa, mà còn bằng hành động Người đã chứng minh tình yêu đó qua sự hy sinh mạng sống mình trên Thập giá để cứu độ nhân loại.

Khi nói đến điểm này, lòng trí tôi hướng về tình yêu của các người mẹ. Noi gương Chúa, các bà mẹ đã luôn chăm sóc, bảo vệ và hy sinh để đem mọi điều tốt đẹp cho con cái của mình. Và đây là một mẫu gương mà tôi đã ghi lại trong ngày Mother’s Day vừa qua. Xin mời anh chị em cùng nghe lại. 

Vào năm 1995, sau vụ động đất tại Thành Phố Kô-bê, bên Nhật, người ta đào bới và khám phá dưới đống gạch vụn của một tòa nhà đã đổ nát là hai mẹ con. Người mẹ, tuy còn sống nhưng đã bất tỉnh; còn đứa cháu gái đang cố gắng ngậm chặt ngón tay của người mẹ và cố hút nguồn sống bằng máu phát xuất từ thân thể của mẹ cháu.

Sau khi phục hồi sức khỏe cho hai mẹ con. Người ta nghe bà mẹ kể lại rằng. Tuy bị chôn vùi ở dưới đống gạch đổ nát của tòa cao ốc. Nhưng hai mẹ con chúng tôi quả thật đã gặp vận may. Có một cái đà thay vì đổ suống đập vào chúng tôi thì lại bị ngăn lại bởi bức tường vụn và trở thành vật chắn giúp hai mẹ con chúng tôi không bị đè chết. Sau đó, đứa con vài tháng tuổi của chị đói quá khóc thét lên. Bà mẹ không biết phải làm gì! Dòng sữa thì khô quặn vì đã mất mấy ngày họ đâu có gì để ăn và để uống. Bà mẹ mò mẫm trong bóng tối và tay bà đã chạm vào một vật sắc và nhọn. Với bản năng yêu thương của một người mẹ, bà không kịp suy nghĩ, lập tức dùng ngay vật nhọn đó cắt vào ngón tay của mình và đặt vào miệng cháu. Cứ thế mỗi lần con của bà khóc thét lên là một vết cắt của yêu thương được xuất phát từ thân thể của bà. Cứ thế cho đến khi bà ngất đi vì bất tỉnh và không hề biết những chuyện xẩy ra sau này.

Người ta hỏi bà là khi cắt da thịt mình để lấy máu thay sữa cho con, bà không sợ chết sao? Bà trả lời rằng với bản năng của người mẹ, tôi không có thời gian để suy nghĩ. Sự sống còn của con tôi là tất cả những gì mà tôi có thể làm được; cho dù giờ này biết làm thế rồi chết, tôi vẫn làm.

            Câu nói “cho dù giờ này biết làm thế rồi chết, tôi vẫn làm” của người mẹ tại Kô-bê bên Nhật năm 1995 làm tôi nhớ lại lời di chúc của Đức Giê-su đã trối lại rằng: “Hãy làm việc này để nhớ đến Ta.” Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta tưởng nhớ đến Chúa không bằng lời nói, nhưng còn bằng hành động và sau đây là một câu chuyện.

             Có linh mục nọ vốn là giáo sư thần học về bí tích. Một bữa nọ, trong lúc ngài đang dậy về bí tích Thánh Thể ở Đại chủng viện thì được biết ngôi làng mà Ngài hay đến để dâng lễ, đã bị cơn gió lốc xoáy đến độ tàn phá một số nhà của dân nghèo. Trong số những người bị cơn bão tàn phá nhà cửa, có một gia đình kia rất nghèo nàn. Hai cụ tuy đã già mà vẫn chưa có con. Vì thế chẳng có con cháu nào đến giúp sửa chữa cho dễ ở.

Sau bài giảng lễ Chúa nhật hôm đó và các tuần kế tiếp, cha giáo nhắc nhở bà con dự thánh-lễ biết về tình trạng của hai cụ già này.

Mấy tuần sau, cũng trong một Thánh lễ Chúa nhật, cha giáo lại loan báo tuần tới ngài sẽ thôi không dâng lễ cho họ nữa. Bà con rúng động, người này hỏi người nọ: tại sao vậy? Chúng mình đã làm gì? Hay là, cha bị Đức GM đổi đi nơi khác chăng?…. Cha giáo lặng yên, chờ cho tình hình lắng đọng rồi chậm rãi nói: “Cha không bị đổi hay thuyên chuyển đi đâu hết! Cha không đến dâng lễ ở đây nữa vì anh chị em không phải là tín đồ của Chúa?” Cha nói gì vậy? Chúng con đi lễ hàng tuần, bỏ tiền xây nhà thờ và tham gia mọi lần quyên góp. Số người tham dự Thánh lễ và rước lễ hàng tuần gần chật hết nhà thờ; và Chúa nhật nào cũng có người xưng tội… Vậy mà cha lại bảo chúng con không phải là tín hữu…. Đúng vậy, anh chị em không phải là người công giáo. Họ lại lao nhao lên, mỗi người một câu lên tiếng để minh chứng họ là người có đạo…

Cha giáo nhà mình vẫn tiếp tục: “Này nhé, hơn tháng nay, kể từ ngày làng của chúng ta bị cơn lốc xoáy đến tàn phá. Cha đã nói cho anh chị em biết về tình trạng của hai cụ. Hai cụ đã già, lại neo đơn… thế mà có ai đến giúp hai cụ sửa lại căn lều đó đâu!!! Anh em cùng tham dự một bữa tiệc, cùng chia sẻ một tấm bánh, cùng uống chung một chén rượu… Và cha nghe anh chị em thanh-minh và bào chữa rằng chúng ta là tín đồ của Chúa. Vậy mà anh chị em lại khóa cửa lòng trước nhu cầu của người khác.  Anh chị em không sống điều anh chị em tuyên xưng…vậy anh chị em là tín đồ của ai?  Đó là lý do cha sẽ không đến dâng lễ nữa.”

Cả nhà thờ ngồi im lặng, không một tiếng động. Không ai dám nhìn ai…chỉ cúi đầu nhìn xuống đất… Cuối cùng, có một cụ già đứng dậy thưa với cha rằng: “ Cha nói chí lý, chúng con không xứng đáng là tín hữu của Chúa, chúng con chưa sống điều mà chúng con đã lĩnh nhận…. Nhưng thưa cha, nếu cha cũng sống điều mà cha đã nhắc nhở chúng con trong mấy tuần qua thì thật là phải đạo.”

Đến lúc này thì không phải giáo dân cúi đầu xuống, mà là cha giáo. Ngài đứng lặng yên, cúi đầu xuống….Một hồi sau,ngẩng đầu lên Ngài từ từ nói: “Cảm ơn cụ đã can đảm nhắc cho tôi; nào chúng ta cùng đi…”

Thế là thay vì nói lời kết lễ: Lễ xong chúc anh chị em về bình an. Chúa nhật hôm đó cha giáo và giáo dân kéo nhau ra đi thực hiện điều Chúa truyền “các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta.

Đó là chuyện của người khác. Còn chúng ta thì sao? Bao nhiêu Thánh lễ chúng ta đã tham dự, bao nhiêu lần đã đón Chúa vào lòng. Nhưng chúng ta đã sống điều Chúa dậy chưa? làm như Chúa làm chưa? Và đây là một gương sáng nữa, xin kể nốt cho anh chị em nghe.

Có hai người bạn trẻ kia yêu nhau tha thiết. Anh chị đã đính hôn được hơn một năm và trong thời gian chuẩn bị hôn lễ thì chị phát hiện mình mắc phải căn bịnh ung thư. Theo sự chẩn đoán của các bác sĩ chuyên khoa lúc bấy giờ thì chị chỉ còn sống được khoảng một năm nữa mà thôi. Trước tình hình đó, chị đề nghị và khuyên anh nên hủy bỏ hôn lễ. Anh đáp lại rằng: anh đã yêu chị lúc mạnh khỏe thì giờ đây anh cũng sẵn sàng yêu thương chị khi lâm cảnh ốm đau. Và đám cưới của anh chị đã diễn ra như đã được dự trù. Kết quả không chỉ là một năm mà anh chị đã sống bên nhau được mười sáu năm trong cuộc chiến với căn bịnh nan y. Anh chị đã có bốn cháu.

Trong Thánh Lễ cuối đời của chị trong căn phòng tại nhà thương. Tuy thể xác rất hốc hác và gầy còm, nhưng tinh thần của chị thật tỉnh táo. Chị đã cùng gia đình dâng hy lễ cuối cùng, của lễ cuộc đời.

Trong lúc đọc lời truyền phép “…Vì này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con.” Vị Linh Mục, bạn và là người đồng hành với gia đình anh chị đã chia sẻ rằng cuộc sống của chị đã đem lại một ý nghĩa mới về Bí Tích Thánh Thể cho gia đình anh chị và những người thân quen.

Thật vậy, cuộc sống của chị đã được chúc phúc. Chị đã được Chúa thương yêu, dìu dắt và dẫn đưa vào mối tình với chồng và các con của chị. Chính Chúa là tác giả của mối tình đó. Bổn phận của chị là đáp trả tình của Chúa bằng cách hy sinh, bẻ (break) cuộc sống của chị, trao cho chồng và con. Và bằng lời chúc tụng chị đã tán dương Tình Yêu của Chúa trong cuộc sống. Chị càng hy sinh bao nhiêu thì sự cao quí và vẻ đẹp của Thiên Chúa trong cuộc sống của chị càng được bộc lộ bấy nhiêu. Chị có thể làm được các việc đó vì chị sẵn sàng để cho tình Chúa tan chảy trong cuộc sống của chị.

Và chuyện gì phải đến, đã đến. Trước giây phút lâm chung, chị đã phó thác bản thân, gia đình và những người thân quen cho Chúa rồi thanh thản ra đi về ngôi nhà thân yêu mà tại nơi đó chị đã được người Cha thân yêu mở rộng vòng tay hân hoan đón chào.

Anh chị em thân mến,

Phần chúng ta, uớc mong Bí Tích Thánh Thể mà chúng ta cử hành trong các Thánh Lễ sẽ làm sống lại những hy sinh cao cả của Chúa Kitô. Người đã tự nguyện chấp nhận đau khổ và cái chết để mở ra con đường cứu rỗi cho chúng ta. Và từ đó, cuộc sống của chúng ta hòa tan trong tình Chúa và trở thành của ăn hiến tặng cho nhau. Amen!     

Thursday, 23 May 2024

DÙ KHÔNG HIỂU NHƯNG SỐNG VÌ YÊU.


Khi suy tư về tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi, tôi thoạt nhớ đến một câu chuyện. Truyện đó như sau: Vào một ngày kia, trong lúc đi dạo bên bờ biển, Thánh Augustino đã suy nghĩ về tín điều này. Trong lúc đó, có một Thiên Thần hiện đến qua hình dạng của một em bé. Chú nhỏ này, như bao đứa trẻ khác, đang ngồi nghịch cát bên bờ biển. Công việc của em làm là lấy vỏ sò múc nước biển đổ vào lỗ cát do em tự đào bới lên. Đổ đến đâu nước ngấm vào bãi cát rồi trôi ra biển hết. Thấy công việc như ‘nước đổ lá khoai’ của em bé, Người mới lên tiếng ngăn cản và khuyên em đừng làm việc vô ích như thế nữa. Nghe thấy thế, em bé đã trả lời cho Thánh Augustino rằng việc làm của em còn dễ thực hiện hơn điều mà Người đang suy nghĩ.

Vẫn biết câu chuyện nói trên xuất phát từ óc tưởng tượng và mang tính huyền thoại. Nhưng chủ đích của người kể là cho dù con người có uyên bác hay thông minh đến đâu cũng không hiểu hay có thể diễn ta hết về Thiên Chúa. Nhưng chúng ta cảm nghiệm được Thiên Chúa là ai. Sau đây là một câu chuyện khác.

Có ông vua kia đến cuối đời cảm thấy buồn chán. Ông nói: “Suốt đời, ta đã có tất cả. Nhưng vẫn còn một điều ta chưa được thấy, đó là ta chưa thấy Thiên Chúa. Bây giờ nếu ta chỉ được nhìn thấy Thiên Chúa một thoáng thôi thì ta cũng mãn nguyện mà chết”. Nhà vua tham khảo ý kiến những bậc khôn ngoan, hứa cho họ đủ thứ phần thưởng nếu họ giúp ông thực hiện điều mơ ước ấy. Nhưng chẳng ai giúp được!

Thế rồi có một chàng chăn cừu nghe chuyện trên và tìm đến gặp nhà vua. Chàng nói: "Có lẽ thảo dân có thể giúp Người được". Nhà vua rất sung sướng theo người chăn cừu leo lên nhiều ngọn đồi. Khi đến đỉnh một ngọn đồi nọ, người chăn cừu đưa tay chỉ mặt trời và bảo: "Thưa đức vua, hãy xem kìa". Nhà vua ngước mắt nhìn lên nhưng liền nhắm lại ngay vì chói quá. Ông bảo: "Nhà ngươi muốn cho ta mù sao!" Người chăn cừu đáp: "Thưa đức vua, đây chỉ mới là một phần nhỏ của vinh quang Thiên Chúa mà Người còn nhìn không nổi. Thế thì làm sao Người có thể nhìn được Thiên Chúa bằng cặp mắt bất toàn của mình? Người phải tìm cách nhìn Thiên Chúa bằng cặp mắt khác".

Nhà vua rất thích ý tưởng ấy, nói: "Ta cám ơn ngươi đã mở cắp mắt trí khôn của ta. Bây giờ hãy trả lời cho câu hỏi khác của Ta: Thiên Chúa sống ở đâu?" Người chăn cừu lại đưa tay chỉ lên trời: "Xin đức vua hãy nhìn những con chim đang bay kia. Chúng sống trong bầu không khí bao quanh. Chúng ta cũng thế, chúng ta sống trong sự bảo bọc của Thiên Chúa. Xin đức vua đừng tìm kiếm nữa, mà hãy mở rộng mắt ra để nhìn, mở tai ra để nghe. Thế nào cũng thấy được Thiên Chúa. Thiên đàng ở ngay dưới chân chúng ta cũng như ở ngay trên đầu chúng ta". Nhà vua dừng bước, cố gắng nhìn, cố gắng lắng nghe. Thế là một cảm giác bình an lộ rõ trên khuôn mặt buồn thảm của ông.

Người chăn cừu nói tiếp: "Thưa đức Vua, còn một điều nữa". Rồi chàng dẫn nhà vua đến một cái giếng. Nhà vua nhìn xuống mặt nước bằng phẳng, hỏi: "Ai sống dưới đó thế?" Người chăn cừu đáp: "Thiên Chúa". "Ta có thể nhìn thấy Người không?" "Được chứ, Tâu đức vua, xin Người hãy nhìn". Nhà vua chăm chú nhìn xuống giếng, nhưng chỉ thấy gương mặt của mình phản chiếu trên mặt nước. Ông nói: "Ta chỉ thấy mặt Ta thôi". Người chăn cừu giải thích: "Bây giờ thì đức vua đã biết Thiên Chúa sống ở đâu rồi. Thiên Chúa hiện diện và sống trong thân thể của Người".

Nhà vua nhận ra rằng người chăn cừu khôn ngoan và giàu có hơn ông. Ông cám ơn chàng và trở về hoàng cung. Chẳng ai biết ông có nhìn thấy Thiên Chúa không, nhưng ai cũng nói rằng có một điều gì đó đã biến đổi trái tim ông, bởi vì từ đó trở đi ông yêu thuơng và đối xử rất nhân hậu với mọi người, không kể thứ bậc và giai cấp.

Cũng như ông vua trong câu chuyện, chúng ta cũng đuợc mời gọi để làm toả sáng guơng mặt của Thiên Chúa nơi mình và tha nhân.

Anh chị em thân mến,

Trong đạo Công giáo có nhiều mầu nhiệm, cao siêu trên hết vẫn là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Đã là mầu nhiệm thì trí khôn con người khó mà thấu hiểu được. Tuy nhiên, nếu chúng ta khiêm tốn cầu nguyện và nỗ lực tìm hiểu, ta vẫn có thể tiếp thu một phần nào về những bí nhiệm của Thiên Chúa.

Dựa trên kinh nghiệm sống và một cuộc đời chìm đắm trong mối tương quan với Đức Giê-su, Thầy mình, Thánh sử Gio-an đã chia sẻ cho chúng ta một cảm nhận vô cùng sâu sắc về Thiên Chúa. Người chính là tình yêu. Khi nói như thế,  nghĩa là Người không đơn độc một mình. Nếu như Người đơn độc một mình thì Người sẽ yêu một mình Người một cách ích kỷ vô cùng. Nhưng Người là ba: Cha, Con và Thánh Thần. Là ba, nhưng cả ba hoàn toàn yêu thương nhau, hiến tặng sự sống cho nhau, hoàn toàn tương quan, hiệp nhất với nhau: Cha hoàn toàn là của Con, Con hoàn toàn là của Cha và mối tương quan tình yêu và sự sống này giữa Cha và Con là chính Chúa Thánh Thần.

Tình yêu Thiên Chúa không khép kín lại nơi cộng đồng Ba Ngôi, nhưng lan toả trên khắp vũ trụ. Ba ngôi yêu thương nhau và đối tương tình yêu của Ba Ngôi là toàn thể nhân loại. Tôi xác tín rằng tất cả mọi người, dù có cuộc sống ra sao, vẫn có một vị trí thật quan trọng trong trái tim nhân hậu của Thiên Chúa.

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi còn là mầu nhiệm của sự hiệp nhất.

            Khi nói đến điều này, tôi xin đưa ra một hình ảnh và cũng là lời nhắc nhở cho anh chị em đang sống trong bậc gia đình. Anh chị em thật có phúc khi được nếm hưởng một phần nào của mầu nhiệm Tình yêu nơi Thiên Chúa Ba ngôi.

            Khi yêu nhau anh chị mong muốn cho gia đình được hiệp nhất. Ước vọng hiệp nhất và nên một của anh chị sẽ được thực hiện nơi người con mà Thiên Chúa ban cho anh chị. Nó là của chàng và cũng là của nàng. Nó không chỉ là của chúng ta mà là chúng ta, là tình yêu chung mà anh chị có thể thấy được. Tình yêu giữa hai người đã triển nở thành tình yêu chung trong một ngôi vị thứ ba: Tình yêu của họ được trao ban cho nhau và cho những người con.

Hình ảnh gia đình ấy có thể giúp chúng ta tiếp cận phần nào với mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi - gọi là phần nào - bởi vì mọi hình ảnh đều bất toàn và không thể diễn đạt trọn vẹn về sự vô biên của Thiên Chúa. Nhưng chúng ta xác tín rằng Thiên Chúa là tình yêu và yêu thương là bản tính chung của Ba Ngôi. Yêu thương cũng là nền tảng của gia đình.

Vì vậy, cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa Ba ngôi là sức đẩy cho chúng ta yêu thương nhau.

Thưa anh chị em,

Trong Thiên Chúa, khởi điểm của tình yêu là mở ra, thông ban, chia sẻ. Thái độ mở ra, thông ban, chia sẻ nầy đòi hỏi chúng ta phải ra khỏi bản thân và đi đến với người khác. Thái độ nầy đòi hỏi chúng ta từ bỏ não trạng ích kỷ để ra đi khỏi chính mình mà quan tâm đến ích lợi và hạnh phúc của người khác.

Tuy nhiên, chúng ta không chỉ mở ra để tạo nên một thứ “tôi và chúng ta” khép kín. Tinh thần bè phái và phe nhóm lại chẳng có mặt trong cuộc sống của chúng ta đó sao? Nơi Thiên Chúa Ba Ngôi thì không như thế. Tinh yêu không tự khép kín trong gia đình Ba Ngôi, nhưng lan tỏa và chan hoà trong vũ trụ bao la rồi tuôn đổ cho mọi người.

Thật vậy, niềm tin và tình yêu của chúng ta vào Thiên Chúa Ba Ngội thúc bách chúng ta đi tới, phá đổ mọi bức tường ngăn cản sự hiệp nhất để tình yêu hiện diện và lan toả khắp nơi. Vì tình yêu là hơi thở của sự sống.

Tóm lại, Mầu nhiệm mà chúng ta cử hành hôm nay mời gọi chúng ta sống; sống điều mà Thiên Chúa Ba ngôi đã sống là trao ban Tình Yêu cho nhau và cho nhân loại. Và khi đặt mình vào trong vòng tròn Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi là lúc chúng ta thực hiện sứ mạng mà Đức Giê-su truyền ban hôm nay: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Amen!

THẦN KHÍ THIÊN CHÚA: SỨC MẠNH YÊU THƯƠNG


Lâu lắm rồi, tôi được nghe cha Peter Robb, một linh mục Dòng Chúa Cứu Thế đã kể lại một câu chuyện. Truyện này đã xẩy ra tại nơi mà chính phủ chưa đủ khả năng để cung cấp một nền y tế và bảo vệ sức khoẻ cho người dân, như ở Phi Luật Tân và các quốc gia nghèo. Truyện kể như sau:

Có hai mẹ con gốc người dân tộc thiêu số, Đu-Ma-Gat bên Phi luật Tân. Họ nghèo khổ sống với nhau. Đã xẩy ra là con của chị mắc phải một cơn bịnh hiểm nghèo và cần một khoản tiền để chữa trị. Hoàn cảnh của họ, tiền ăn còn chưa đủ lấy đâu mà trả tiền viện phí và thuốc men. Cuối cùng, chị cũng đành bó tay nhìn người con ra đi!

Sau khi lo ma chay cho cháu xong. Trong một lần dọn dẹp nhà cửa, chị tìm thấy một gói giấy nằm trong góc tủ, sát bên bức tường bám đầy bụi bặm. Lôi gói giấy đó ra, chị đã lần mò mở từng lớp rồi từng lớp, cuối cùng chị khám phá ra một xấp tiền, theo sự suy đoán của chị thì đó là số tiền dành dụm của ông bố chồng. Ông đã nhét vào nơi đó rồi với cơn bịnh đãng trí nên không còn nhớ đến nó nữa. Cầm xấp tiền trên tay, chị nghĩ đến chú con trai mình với tâm hồn chua xót, đầy nghẹn ngào cho số phận của cháu! Số phận của những người nghèo là như thế, cuộc đời của họ bị bao phủ bởi đắng cay, bạc phước và bất hạnh.

Câu chuyện nói trên khiến tôi nhớ đến vai trò của Thánh Linh trong cuộc sống mình. Người vẫn có đó, thế mà nhiều lúc tôi cứ nghĩ Người đi vắng. Như người phụ nữ trong câu chuyện, chúng ta có thể sở hữu một năng lực phi thường, có thể giúp mình biến đổi từ trạng thái chết sang sống, thế mà chúng ta nhiều lần đã không nhận ra sự hiện diện đó.

Nhìn lại lịch sử cứu độ, đâu đâu chúng ta cũng thấy bàn tay của Thánh Linh, thần khí và sức sống của Thiên Chúa qua Chúa Thánh Thần. Sơ lược như sau:

Thánh Thần không chỉ là quà tặng cao quí nhất mà Thiên Chúa ban cho chúng ta một lần mà thôi. Ngay từ thủa sơ khai, trong trình thuật tạo dựng, tác giả sách Sáng thế đã mô tả sự hiện diện của thần khí Thiên Chúa bay lượn là đà trên mặt nước. Rồi đến khi tạo dựng con người như hình ảnh của Thiên Chúa; tác giả một lần nữa, bằng một thể văn rất ấn tượng, ẩn chứa một ý nghĩa thật sâu sắc khi mô tả việc Thiên Chúa thổi sinh khí vào pho tượng mà ban cho con người sự sống. Chính Thần Khí, hơi thở của Thiên Chúa là nguồn sự sống của nhân loại.

Thánh Thần hoạt động liên lỉ trong dòng lịch sử của dân Do Thái nói riêng và toàn thể nhân loại nói chung. Ngài hiện diện với mọi dân tộc. Ngài xuất hiện tựa làn gió, thổi sức mạnh và hơi ấm đến mọi người, mọi nơi và mọi chốn. Không một cá nhân hay tổ chức nào có thể cầm giữ và điều khiển được Ngài.

Rồi đến lượt các Tông đồ, Chúa Thánh Thần hoạt động nơi các ngài. Trước đó các ngài đã từng theo Chúa, đã từng nghe bao lời dạy dỗ của Chúa, đã từng chứng kiến bao phép lạ của Chúa. Thế mà chỉ vì sợ hãi nên cho dù sau các lần hiện ra, với lời chúc bình an và qua việc Chúa thổi hơi trên các ông; thế mà các ông vẫn lo sợ, trốn chui trốn nhủi trong nhà. Thậm chí đến ngày Chúa về trời và sai các ông tiếp tục sứ mạng của Chúa, thế mà vẫn còn có các Tông Đồ cho rằng đó là lúc Người khôi phục vuơng quyền Israel. Thì ra, óc não chính trị, tìm kiếm chức quyền là những vật cản khiến các ông không nhận ra chân tướng và sứ vụ của Đức Giê-su.

Thế rồi Chúa Thánh Thần ngự đến và các ông được biến đổi hoàn toàn: nhiệt thành và can đảm rao giảng Tin Mừng. Phêrô đã từng run sợ chối Chúa trước mặt những người đầy tớ, thế mà sau biến cố Thánh Thần ngự xuống, ông đã đứng trước một đám đông rao giảng hùng hồn về sự chết và sống lại của Đức Giê-su, khiến cho mấy ngàn người bị đánh đông và trở lại với niềm tin Phục Sinh.

Như Phêrô, chúng ta đuợc mời gọi đóng góp công sức của mình. Nhưng chính Chúa Thánh Thần mới là nguồn động lực họat động nơi kẻ nói và người nghe; để ai nói sẽ nói Lời Chúa và kẻ nghe cũng sẽ đón nhận bằng một con tim bằng thịt mà tin và trở lại với sự thật là Tình Yêu của Chúa đã thể hiện qua sự chết và Phục sinh của Đức Giê-su.

Một cách cụ thể, trong bài đọc một mà chúng ta vừa nghe hôm nay. Sau khi Chúa Thánh Thần ngự xuống, các Tông Đồ nói đuợc các thứ tiếng mà những người nghe đến từ các nơi đều hiểu các ngài muốn nói gì. Chúng ta có thể giải thích rất đơn giản là các ngài được ơn nói ngoại ngữ. Thật ra, dân chúng tập hợp tại Giê-ru-sa-lem vẫn còn giữ nguyên nền tảng cá biệt của dân tộc họ và ngôn ngữ riêng của họ. Nhưng quyền năng của Chúa Thánh Thần đã hoạt động để các ngài có thể diễn đạt sứ điệp yêu thương của Thiên Chúa cho mọi người.

Như vậy, tuy họ vẫn còn sự khác biệt về văn hoá, ngôn ngữ, chủng tộc hay mầu da; nhưng bằng Tình yêu con người có thể đón nhận và hiểu sứ điệp của Thiên Chúa muốn nói gì qua lời rao giảng của các Tông Đồ. Trong Tình yêu, dù vẫn còn khác nhau, nhưng trong sự khác nhau đó, con người vẫn đồng cảm, thông hiệp và yêu thương nhau hơn. Chỉ có ngôn ngữ của yêu thương mới giúp con người nối kết được với nhau. Tình Yêu là hoa quả mà Chúa Thánh Thần tác động và ban cho con người. Nói khác đi, Chúa Thánh Thần là nguồn suối, hoa quả của yêu thương mà Chúa Cha và Chúa Con trao ban cho những kẻ thuộc về Người.

Sự thán phục của dân chúng từ khắp phương thiên hạ kéo về Giê-ru-sa-lem dành cho các Tông Đồ không phải vì các ngài thông thái hay tài giỏi, can đảm hay mạnh dạn; nhưng vì các ngài đã để cho Thánh Thần ngự xuống trên môi miệng mà ca tụng và loan báo những kỳ công của Thiên Chúa. Như vậy, quả là rõ ràng cho chúng ta nhận thấy rằng Chúa Thánh Thần đã dùng các ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau để truyền đạt sứ điệp của Chúa cho con người. Khác xa với quan niệm cho rằng chỉ có dân tộc này, ngôn ngữ kia, văn hoá nọ mới mang tính ưu vượt và duy nhất để truyền đạt tư tưởng và sứ điệp của Chúa.

Chúa Thánh Thần hoạt động trong mọi dân tộc, như dân thành Ê-phê-sô khi xưa. Họ chưa từng nghe biết về Chúa Thánh Thần, nhưng họ đã tin. Đức Tin này không phải là khám phá của họ, nhưng đó chính là hoa quả của Thần Khí! Ai trong chúng ta dám khẳng định rằng Thánh Thần chưa hoạt động nơi họ. Nếu đã không dám khẳng định thì tin là giải pháp thuận lợi nhất.

Anh chị em thân mến,

Chúa Thánh Thần đã đuợc diễn tả qua các biểu tượng như gió, cuồng phong và lửa. Và như anh chị em đã từng có kinh nghiệm: gió muổn thổi đâu thì thổi, nào ai biết được gió từ đâu đến và sẽ đi về đâu; cuồng phong mà đến thì ai cản được!

Vì thế, nhân dịp mừng Lễ Chúa Thánh Thần ngự xuống hôm nay, xin mời anh chị em cùng tiếp tục:

·       Hãy nói lời yêu thương. Vì một khi chúng ta nói với nhau bằng tiếng nói của yêu thương thì chúng ta sẽ chạm đến những cảm xúc chân thật của con tim; từ đó mọi gắn bó và các dây liên kết của chúng ta sẽ bền chặt hơn bởi Thánh Linh.

·       Hãy tạo mọi cơ hội để tiếng nói của mình xứng đáng truyền đạt sứ điệp yêu thương của Thiên Chúa.

·       Và, đừng dập tắt hay từ khước nhận ra sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, Đấng đang hiện diện và hoạt động nơi con người tại các nền tôn giáo khác, nơi các dân tộc khác, thậm chí ngay cả trong các tổ chức mà nhiều người lầm tưởng là họ đang chống lại Giáo Hội. Có thể, ở một bình diện nào đó, họ không đồng ý với lối hành xử thiếu tính con người, không có dân chủ trong một hình thức cơ chế nào đó của Giáo Hội. Nhưng qua nỗ lực, sự thành tâm và thiện chí xây dựng; chúng ta tin rằng Chúa Thánh Thần vẫn hiện diện trong các nỗ lực mà họ đang làm để giúp chúng ta hành xử và xây dựng một thân thể nhiệm mầu của Đức Kitô theo đúng ý Chúa hơn.

Sau cùng, Thánh Linh, khấn xin ngự đến và giúp chúng con nhận ra các hoạt động của Người không chỉ trong cuộc sống của chúng con mà thôi; nhưng còn mở tung cánh cửa tâm hồn của chúng con, và tác động thật mãnh liệt để chúng con còn nhận ra sự hiện diện và tác động của Thánh Linh nơi mọi người; hầu chúng con đủ can đảm ra đi mà làm chứng cho sự thật, làm chứng cho Tin Mừng như các Tông đồ khi xưa. Amen!