Wednesday, 31 December 2025

AI TÌM AI: TA hay CHÚA

 Click for audio: AI TÌM AI: TA hay CHÚA

Hôm nay, chúng ta mừng Lễ Chúa Hiển Linh, Lễ tưởng niệm và làm sống mầu nhiệm tỏ mình của Chúa cho muôn dân.

Lễ này còn được gọi là Lễ Ba Vua. Tuy nhiên, hầu hết các nhà chuyên môn về Thánh Kinh đều cho rằng chẳng có vua chúa trần gian nào đến bái thờ hài nhi Giêsu trong hang đá Bê-Lem hết, ngoại trừ Vua Hê-rô-đê, một bạo chúa đã tìm cách giết Người. Vậy, ai là những người đã đến từ Phương Đông để tôn thờ Hài Nhi? Họ là các nhà chiêm tinh, chuyên nghiên cứu thiên văn và nhìn ngắm sao trời để đoán ra vận mạng của môt số người nổi tiếng. Tuy hành trình và mục tiêu kiếm tìm của họ đáng cho chúng ta ngưỡng mộ và noi gương. Nhưng việc hệ trọng hơn cả là việc Thiên Chúa hiện diện trong thân phận con người cho muôn dân; chứ không chỉ cho dân Do Thái mà thôi.

Hiển Linh giúp chúng ta nhận ra chiều kích tràn đầy của việc Giáng Sinh. Giáng Sinh dù thế nào vẫn chỉ là cuộc viếng thăm của Thiên Chúa dành cho dân Israel, dân riêng của Ngài. Với Lễ Hiển Linh, mầu nhiệm đó đạt đến mức toàn diện. Thiên Chúa sinh ra làm người và tỏ mình không chỉ cho dân Do Thái; mà còn tỏ mình cho muôn dân muôn nuớc, bao gồm cả chúng ta nữa. Việc tỏ mình là sáng kiến của Thiên Chúa, không ai có thể yêu cầu hay buộc Ngài phải làm chuyện đó. Nhưng, nếu chúng ta không nhận biết, không đón nhận và không loan báo cho nhau thì quả là một điều thiếu sót. Như thế, biến cố này đóng một vai trò thật quan trọng trong hành trình niềm tin và cách sống đạo của chúng ta.

Ngày xưa, có nhiều người đã gặp Đức Giêsu. Họ đã cùng lớn lên với Người tại Na-za-reth. Họ đã dong duổi theo Người trên bước đuờng rao giảng, từ làng này qua làng kia, từ tỉnh này đến thành phố kia. Họ còn đuợc Người nuôi ăn trong cơn đói khát. Họ đã chứng kiến các phép lạ. Cuối cùng thì sao, đâu cũng hoàn đấy? Dân Na-za-reth, dân Ga-li-lê-a hay dân Giê-ru-sa-lem cũng tìm cách bỏ Người.

Nhưng các nhà chiêm tinh hôm nay lại khác. Họ đã không nhận ra sự xuất hiện của Thiên Chúa bằng truyền thống, hay tìm ra Chúa qua mớ giáo lý kinh điển do cha ông truyền lại. Thiên Chúa đã đến trong hoàn cảnh, lối sống và khả năng chuyên môn của họ. Ngài đã xuất hiện ngay trong tầm nhận biết của họ.

Cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và họ cũng giống như việc Chúa kêu gọi các môn đệ của Người. Người đã đến trong lúc Phê-rô và các bạn đồng nghiệp đang chài lưới để kiếm ăn. Người đã đến trong lúc Phaolô thi hành bổn phận chống lại Người. Người gọi Mat-thew khi ông ta đang ngồi thu thuế. Không ai có đặc quyền hay đặc lợi. Sáng kiến là của Thiên Chúa. Ngài đã đến ngay tại nhà, trong hoàn cảnh riêng của mỗi người.

Như các nhà chiêm tinh, chúng ta hãy lên đuờng.

Hành trình tìm kiếm của họ không dễ dàng. Dù có ngôi sao dẫn đuờng, nhưng ngôi sao lại có lúc ẩn lúc hiện. Cũng có lúc các ông bị mất dấu; không phải do các ông đi lạc; nhưng ngôi sao không xuất hiện thì biết lối nào để đi. Trong hoàn cảnh đó, họ không hề thất vọng; tiếp tục tìm kiếm bằng cách dò hỏi những ai đã đuợc tiên báo về sự xuất hiện của con trẻ Giê-su. Đó là các thượng tế và kinh sư của đạo Do Thái, dân riêng của Chúa; nắm giữ trong đầu các lời loan báo của các ngôn sứ về nơi chốn của vị lãnh tụ, đấng chăn dắt dân của Thiên Chúa sẽ ra đời. Các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó biết theo kinh điển mà không hề cất bước đi tìm nên cái biết của họ đã chẳng giúp gì cho họ. Vua Hê-rô-đê cũng biết; nhưng điều mà vua biết không đem vua lại gần Chúa; trái lại cái biết đó lại là nguyên nhân đem đến cho vua nỗi lo sợ. Phát sinh từ nỗi sợ hãi hoang tưởng, sợ mất quyền hành; vua đã tìm cách tiêu diệt bằng cách giết lầm hơn bỏ sót, ông ta đã giết hết những ai là mầm mống đe doạ sẽ lật đổ ngai vàng của ông.

Hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh không phải là mối bận tâm của Thánh Sử. Nếu chỉ có cuộc tìm kiếm của Ba Nhà Chiêm Tinh, thì Hiển Linh chưa trọn vẹn. Điều làm nên mầu nhiệm của ngày lễ hôm nay chính là việc Thiên Chúa đã đi bước trước. Thiên Chúa đã giáng trần. Ngài không đợi con người leo lên tới trời để gặp Ngài, nhưng đã từ trời hạ sinh làm người, không trong vương quyền của thế trần, mà trong thân phận của kẻ nghèo hèn; không trong ánh hào quang của cung điện, mà trong âm thầm của máng cỏ.

Vì thế, ngày lễ Hiển Linh không chỉ là ngày con người tìm thấy Thiên Chúa, mà trước hết là ngày Thiên Chúa tỏ mình và đi tìm con người. Như vậy, Thiên Chúa luôn làm chủ và soi sáng cho những ai tha thiết tìm ơn cứu độ, dù đôi khi họ cảm thấy đường đi không rõ và tương lai lại mịt mù.

Việc hiển linh đã trở nên trọn vẹn khi Đức Giê-su đã cho đi tận cùng cuộc sống của mình. Chính việc cho đi và tự hiến sau cùng của Người lại là cuộc tỏ mình huy hoàng nhất về chân tuớng đích thật của Người qua biến cố Phục Sinh. Và các môn đệ là nhân chứng về cuộc Hiển Linh Phục Sinh ấy. Niềm tin của chúng ta hôm nay cũng dựa vào lời chứng của các tín hữu tiên khởi; đó chính là: Thiên Chúa đã tỏ mình trong thân phận con người của Đức Giêsu, Người đã ở giữa chúng tôi và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người từ Chúa Cha mà đến.

Với trình thuật Hiển Linh, Thiên Chúa tỏ mình cho mọi người biết rằng: với Chúa không ai là người ngoài cuộc hết. Tất cả đều được mời gọi đón nhận ơn cứu độ. Ai ai cũng đựợc diễm phúc làm con của Ngài. Ai ai cũng đuợc mời gọi sống để tỏ bầy sự hiện diện của Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến,

Thiên Chúa đã làm người, đã tỏ chân tướng đích thật của Ngài cho chúng ta nhận biết. Nhưng chúng ta đã làm gì để việc hiển linh của Thiên Chúa trở thành lời chứng sống động trong cuộc sống mình? Cũng có lúc chúng ta cảm thấy Chúa quá gần gũi, sát bên mình và thúc giục chúng ta ra đi để thực hiện các việc cả thể. Với ý ngay lành chúng ta tuởng như là Chúa rất cần chúng ta để làm các việc phi thường… Nhưng rồi đường đời đâu có dễ, Những khó khăn, chống đối hay các nghịch cảnh làm chúng ta muốn buông xuôi, thất vọng và sinh ra chán nản và muốn bỏ cuộc. Nhưng có một điều khiến ta ngạc nhiên và ngạc nhiên luôn mãi là Thiên Chúa không chán, không thất vọng về ta. Ngài dùng đủ mọi cách thức để bộc lộ và hướng dẫn chúng ta: Từ ngôi sao lúc ẩn lúc hiện, đến người không tin như Hê-rô-đê và các bậc vị vọng am tường đạo Chúa. Thiên Chúa vẫn dùng họ, không chừa một ai, để hỗ trợ, động viên, nhắn gửi cho ta một sứ điệp là ta vẫn đáng tin, đừng chán nản, hãy tiếp tục lên đuờng, căng buồm xuôi gió ra khơi.

Như vậy, cuộc sống làm chứng về việc tỏ mình, hiển linh của Thiên Chúa không nằm xa và ở ngoài khả năng của chúng ta. Nó nằm ngay bản thân, trong gia đình, giữa vợ chồng và con cái, giữa kẻ tin và người không tin, giữa những ai đủ can đảm để cho chất ‘người’ lớn hơn và bóp nghẹt chất con (vật) của mình.

Đó chính là:

Những nụ cuời, các câu nói cảm thông mà chúng ta trao gửi chon hau hơn là những lời trách móc, ghen tỵ và oán than nhau.

Những con tim mở rộng để đón tiếp, khoan hồng và dung thứ cho những thiếu sót và bất toàn của nhau.

Các bàn tay nhân ái để chào đón, tiếp nhận hơn là loại bỏ, hất hủi và xua đuổi nhau.

Các công việc tìm kiếm và thực thi lời Chúa như: các lời yêu thương, sự nâng đỡ, hỗ trợ và khích lệ nhau, chứ không chỉ ngồi đó mà kêu nài Lậy Chúa và Lậy Chúa xuông thôi đâu.

Đó là một số việc làm tiêu biểu được đề nghị mà ai trong chúng ta cũng có thể thực hiện.

Sau cùng, chúng ta ý thức rằng: tất cả đều là cơ hội để vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện qua lối sống chứng nhân, tuy tầm thường nhưng lại chứa đựng quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa trong chúng ta.

Cầu xin được như thế. Amen!


Wednesday, 24 December 2025

CHỈ THUỘC VỀ CHÚA MỚI THUỘC VỀ NHAU

 Click for audio CHỈ THUỘC VỀ CHÚA MỚI THUỘC VỀ NHAU

Chúng ta đang sống trong tuần Bát Nhật mừng Lễ Chúa Giáng Sinh, có nghĩa là chúng ta có 8 ngày để chiêm ngắm, suy niệm và khắc ghi vào tâm hồn mầu nhiệm cao cả mà chúng ta đang mừng kính. Mầu nhiệm Thiên Chúa Giáng trần và cư ngụ giữa chúng ta.

Không chỉ là dư âm mà là với niềm vui mừng, hân hoan của ngày Đại lễ, chúng tôi xin gửi đến quí cụ, quí ông bà và anh chị em lời nguyện chúc bình an. Ước mong niềm vui và ân huệ của Đấng Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, được thể hiện và thành toàn trong cuộc sống chứng tá của chúng mình.

Trong những ngày này, chúng ta đã được Hội Thánh nhắc nhở mà nhận ra rằng Con Thiên Chúa, Đức Giê-su không chọn cảnh nhung lụa, giàu sang và đầy uy quyền để giáng trần, ngược lại Người đã đến trong cảnh khó nghèo, đơn sơ, thiếu thốn và mong manh. Người đã đến để chia sẻ kiếp người với chúng ta; Người không chỉ chia sẻ một chút ít; nhưng chia sẻ toàn diện, kể cả thử thách. Tuy nhiên, có một điều khác với chúng ta là chúng ta thất bại trước các thử thách còn Đức Giê-su thì không, Người chiến đấu, chiến thắng và vượt qua.

Đến trong kiếp người, Đức Giê-su cũng cần có một gia đình. Và Lễ Thánh Gia là lễ mừng gia đình của Đức Giê-sU và cũng là lễ của mỗi gia đình chúng ta. Chính vì thế, gia đình còn là một quà tặng quí giá, một hồng ân lớn lao của Thiên Chúa mời gọi chúng ta bước vào, cho dù gia đình ấy có thể không hoàn hảo, không đầy đủ, hay đang gặp nhiều thử thách.

Gia đình, dưới bất cứ hình thức nào, vẫn là món quà đáng quý, là nơi chúng ta được yêu thương, được bảo vệ và được nâng đỡ. Và đây là điều mà Hội Thánh muốn cho chúng ta suy niệm về Thánh Gia Thất vào mùa Giáng Sinh, và cũng để nhắc nhở cho chúng ta biết trân trọng gia đình mình mỗi ngày trong cuộc sống.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Mat-thêu đã kể lại việc Thánh Giu-se đưa vợ mình là bà Ma-ria-a và hài nhi Giê-su trốn cơn lùng bách và ý định giết hại con trẻ của vua Hê-rô-đê. Chủ ý của Hội Thánh khi dùng bài Tin Mừng này trong Lễ Thánh Gia là muốn chúng ta suy niệm một cách rất thực tế về những gì đã xẩy ra trong gia đình của Đức Giê-su để chúng ta noi gương.

Trong những năm gần đây, vai trò của Thánh Giu-su được quan tâm và nhấn mạnh một cách đặc biệt. Cụ thể mỗi lần đọc bài Tin Mừng hôm nay, tôi nghĩ về các khó khăn mà Thánh Giuse đã trải qua khi đưa vợ con lánh nạn bên Ai-cập. Lòng tôi tràn đầy hình ảnh của một người cha tuy yếu đuối nhưng can đảm và thật tuyệt vời. Vì thế, trước đây chúng ta thường xuyên được dậy bảo là chạy đến với Đức Maria và coi Mẹ là người Mẹ yêu thương của mình. Nhưng gần đây tôi cũng vô cùng quý mến Thánh Giuse. Tôi hiểu rằng ngài là hình ảnh tuyệt vời của một người cha trần thế. Ngài cảm thông và tha thứ, cao thượng và khiêm nhường, mạnh mẽ nhưng dịu dàng, và trên hết, là một con người có đức tin bền bỉ và không lay chuyển. Thánh Giuse đã lắng nghe và đã chấp nhận lời giải thích của sứ thần mỗi khi xuất hiện trong các giấc mơ của ngài.

Điều khiến tôi luôn khâm phục là ngay cả trước giấc mơ đầu tiên và lời nhắn nhủ của sứ thần, ngài đã không vội vàng xét đoán phẩm hạnh của Đức Maria, nhưng trái lại, tìm cách bảo vệ và cứu giúp Mẹ. Ngài đã cho thấy mình là một con người đầy nhân hậu và trắc ẩn.

Việc ngài vâng theo những giấc mơ được thuật lại trong bài Tin Mừng hôm nay càng khẳng định đức tin của ngài vào Thiên Chúa và sự trung tín của ngài đối với gia đình. Ngài thực sự là người bảo vệ và làm bất cứ điều gì cần thiết cho gia đình mình và theo cách rất riêng, được các thiên thần hướng dẫn qua những giấc mơ.

Thánh Giuse đã bảo vệ Chúa Giêsu từ trước khi Người được sinh ra và tiếp tục chăm sóc Người suốt thời thơ ấu, và có lẽ cả những năm đầu của tuổi trưởng thành. Thánh nhân là tấm gương cho Chúa Giêsu soi, cho đến khi Đức Giê-su bước vào sứ vụ công khai.

Dù còn nhiều chi tiết về cuộc đời Thánh Giuse không được biết đến, chúng ta vẫn biết rằng ngài là người chồng và người cha tốt lành và trung tín. Quả thật, ngài là một phần không thể thiếu của Thánh Gia thất.

Đức Maria, người Mẹ hoàn hảo, đáng được tôn kính và chiêm ngưỡng của chúng ta. Mẹ đã được Thiên Chúa bảo vệ cho nên, từ lúc sinh ra cho đến giờ lâm tử, đã không mắc tội nguyên tổ. Mẹ là khuôn mẫu tuyệt vời của tình mẫu tử.. Chúng ta luôn cầu nguyện với Mẹ, vì chúng ta biết Mẹ thấu hiểu những thao thức của một người mẹ. Tuy nhiên, tôi cũng biết rằng mình sẽ không bao giờ đạt đến sự trọn lành và hoàn hảo như Mẹ. Trong khi đó, Thánh Giuse mang đến cho chúng ta hình ảnh của một người cha nhân loại, mỏng dòn, yếu đuối, chưa trọn hảo, nhưng chắc chắn là rất tuyệt vời!

Chúng ta có thể học được những gì từ Thánh Gia thất!

Việc đầu tiên là niềm tin mà Thánh Giu-se đã dành cho Mẹ Ma-ri-a. Sau khi được mộng báo về việc mang thai của Ma-ri-a là do quyền năng tác động của Chúa Thánh Thần, Giu-se đã hết mực tin tưởng lời chia sẻ của vợ mình, không chút nghi ngại đã đón vợ về nhà.

Tiếp theo là sự vâng phục của Thánh Giu-se đưa gia đình trốn sang Ai cập. Và sau này cũng theo lịnh của sứ thần mà đem gia đình trở về Na-za-rét. Nói chung là sau bốn lần được mộng báo, Thánh Giu-se đã vâng theo lời sứ thần truyền mà thi hành. Khi thi hành việc này, Thánh Giu-se đã thể hiện trách nhiệm của một người cha, bảo vệ con của ông bà.

Và tất cả các việc mà Thánh Giu-se làm để bảo vệ Đức Giê-su đều xuất hiện trong giai đoạn ấu thơ của Người. Phải chăng với các chi tiết này, Thánh sử đã muốn cho chúng ta hiểu rằng sự xuất hiện của Đức Giê-su mở ra một khúc quanh thật quan trọng trong dòng lịch sử, và tất cả những ai có liên hệ đến cuộc sống của Người đều được quan tâm. Vì thế, vai trò và chức năng của Thánh Giu-se không phải là một con người được đặt ra làm bù nhìn; nhưng Ngài chu toàn trách nhiệm trong cương vị của một người cha của Đức Giê-su và để cho kế hoạch của Thiên Chúa được thực hiện.

Qua các điểm nay chúng ta học được bài học là muốn đón nhận và vâng theo Thánh ý của Thiên Chúa thì các thành viên trong gia đình phải có con tim mở rộng đón nhận ý Chúa và tin tưởng vào nhau.

Sau niềm tín thác vào Chúa và niềm tin nơi nhau là việc khuyến khích và giúp nhau thực hiện ý Chúa. Trong tiệc cưới tại Ca-na, Đức Ma-ri-a đã không ngần ngại nói với những việc giúp việc làm theo ý Đức Giê-su. Mẹ tin con và không tranh công với con.

Trong tất cả các câu chuyện xẩy ra trong các sinh hoạt của gia đình Thánh gia, chúng ta khám phá ra rằng mọi thành viên không bao giờ tranh giành sự chú ý, luôn chấp nhận lui về phía sau để giúp nhau thành toàn. Bài học từ bỏ -kenosis- vì ích lợi của người khác được áp dụng một cách triệt để trong sinh hoạt của Thánh Gia Thất.

Và sau cùng là sự hiện diện thành tín trọn đời với nhau. Một gia đình được phát triển đến mức thành toàn khi mọi người không có ý định loại bỏ nhau. Dù gặp bao nhiêu thử thách, gia đình chỉ còn là gia đình khi mọi người luôn sát cánh và hỗ trợ nhau. Chúng ta thấy rõ điều này trong cách hiện diện của Mẹ Maria. Mẹ đã có mặt ở mọi thời điểm trong cuộc sống của Đức Giê-su, từ khi được sinh ra cho đến lúc Người trút hơi thở để trao ban sự sống mới cho Mẹ và gia đình nhân loại mà người môn đệ Chúa yêu thương là đại diện. Mẹ đã hiện diện trong lúc con được tôn vinh cũng như giây phút bi thương nhất.

Tóm lại, Thánh Gia Thất đã dậy chúng ta một chân lý đó chính là mọi thành viên trong gia đình chỉ thuộc về nhau khi họ thuộc về Chúa và mọi người đều mong ước thi hành ý định của Thiên Chúa. Xin cho mọi người trong gia đình chúng ta biết quên mình, biết từ bỏ ý riêng, tìm kiếm và tuân theo ý Chúa vì ích lợi của người khác mà làm vinh danh Chúa. Amen!


CHÚA ĐÃ ĐẾN, HÃY MỜI NGƯỜI THAM DỰ TIỆC SINH NHẬT.

 Click for audio CHÚA ĐÃ ĐẾN, HÃY MỜI NGƯỜI THAM DỰ TIỆC SINH NHẬT.

Trong niềm vui chung của ngày Đại Lễ, chúng tôi xin gửi đến quí ông bà và anh chị em lời nguyện chúc bình an và yêu thương. Ước mong sứ điệp niềm vui mà sứ thần đã loan báo trong đêm Hồng Phúc sẽ hiện diện và giúp quí vị vượt qua mọi khó khăn trong năm mới 2026 bằng một tâm hồn vui tươi và an bình.

Trong các tuần qua, chúng ta đã chuẩn bị tâm hồn và cuộc sống để xứng đáng cử hành Mầu nhiệm Thiên Chúa Giáng trần. Việc tham dự các nghi lễ phụng vụ để mừng việc Chúa giáng trần thật cần thiết. Nhưng, theo tôi, việc sống mầu nhiệm đó nơi bản thân của mỗi người mới là điều quan trọng. Thiên Chúa không còn hiện diện ở một nơi xa xăm nào đó. Người đã làm người và ở cùng chúng ta. Người cũng chẳng cần nói với chúng ta qua môi miệng của các ngôn sứ nữa. Người đã đến và đang đứng bên cửa để chờ lời mời của chúng ta; ai nghe tiếng và mở cửa tâm hồn đón nhận Người thì Người sẽ đến để dùng bữa với họ.

Trong tâm tình đó, thay vì tìm hiểu ý nghĩa của mầu nhiệm vượt quá mức hiểu biết của con người. Năm nay, xin mời anh chị em nghe tâm sự của một người tên là Giê-su trong tâm thư của Người gửi cho chúng ta như sau:

Anh chị em thân mến,

Cũng như mọi năm, hôm nay là ngày sinh nhật của tôi và như thường lệ, người ta dành cho tôi một ngày. Tôi ít khi tổ chức sinh nhật cho chính tôi. Người ta tổ chức cho tôi. Thật là một niềm vinh dự khi được mọi người nhớ đến và còn tổ chức tiệc sinh nhật cho tôi nữa. Năm nào cũng thế, ít là một lần, người ta nhớ đến tôi, điều đó cũng không tệ vì anh chị em biết, sinh nhật của tôi được mừng từ lâu rồi.

Những năm đầu tiên, xem ra người ta cũng hiểu ý nghĩa của ngày lễ và cũng tỏ lòng biết ơn về những gì tôi đã làm cho họ; nhưng càng ngày, xem ra không ai còn nhớ đến lý do của ngày lễ.

Tôi nhớ rất rõ, cách đây vài năm, tại một gia đình nọ, người ta tổ chức một bữa tiệc lớn mừng sinh nhật tôi. Bàn tiệc đầy thức ăn đồ uống, bánh trái đủ các loại… nào kẹo, nào mứt, nào chocolate. Và này, người ta trang hoàng phòng tiệc thật lộng lẫy, nào cây giáng sinh, nào những quả bóng xinh xắn lủng lẳng trên đó; nào hoa, nào những dây đèn rực rỡ… và ở đó, cũng có rất nhiều hộp quà được gói thật đẹp… Nhưng anh chị em biết không, hôm đó, tôi không được mời.

Tôi là khách danh dự, thế mà, người ta không nhớ để gửi cho tôi một tấm thiệp.

Bữa tiệc dành cho tôi, nhưng khi ngày trọng đại ấy đến, thì tôi phải đứng ngoài. Họ đóng sầm cánh cửa trước mặt tôi… đang khi tôi những ước ao đồng bàn với họ.

Thực ra, điều đó không khiến tôi quá ngạc nhiên, vì trong những năm gần đây, mọi cửa nhà đều đóng lại khi tôi đến. Bởi không được mời, nên tôi đã quyết định lẻn vào mà không gây một tiếng động nào. Tôi nhẹ nhàng đi vào và đứng lớ ngớ trong một góc. Mọi người đều uống, vài người bắt đầu có dấu hiệu say, họ nói năng nghịch ngợm và cái gì cũng có thể khiến họ cười, họ cười mọi chuyện. Họ có một buổi tối thật thú vị.

Đến nửa đêm, mọi người bắt đầu ôm nhau; tôi cũng dang rộng đôi tay đợi một ai đó đến ôm hôn mình, và anh chị em biết, không ai đến hôn tôi cả.

Rồi thì, mọi người bắt đầu trao cho nhau những món quà. Lần lượt, từ món này đến món khác, những gói quà được mở ra và ai ai cũng nô nức muốn biết cái gì bên trong. Khi tất cả quà tặng đã được mở ra, tôi cũng lo lắng không biết liệu mình có nhận được một món nào không. Này anh chị em, anh chị em nghĩ thế nào nếu như vào ngày sinh nhật của anh chị em, khi mọi người trao quà cho nhau đang khi tự bản thân, anh chị em không có lấy một món quà nào cả.

Vậy là tôi hiểu, họ không thích sự có mặt của tôi ở đó, nên cuối cùng, tôi lẳng lặng… ra đi.

Mỗi năm, sự việc càng trở nên tồi tệ hơn. Ai ai cũng chỉ nhớ đến những món quà, những bánh trái, đồ ăn thức uống và không ai còn nhớ đến tôi.

Năm nay, nhân dịp sinh nhật của tôi. Cho dù cuộc sống còn nhiều khó khăn. Thế gian mà tôi yêu mến vẫn còn đối diện với chiến tranh, dịch bệnh và nhiều tai ương khác. Nhưng tôi vẫn muốn anh chị em cho phép tôi được cùng sống với anh chị em, cùng đồng hành với anh chị em và đi vào cuộc đời anh chị em.

Tôi muốn mỗi người trong anh chị em ý thức rằng, đã hơn 2000 năm, tôi đã đến trần gian này để trao tặng cho mỗi người một quà tặng là chính cuộc sống của tôi, từ khi lọt lòng Mẹ cho đến lúc bị treo trên cây Thánh giá, để cứu chuộc anh chị em. Hôm nay, tôi chỉ muốn một điều là anh chị em hãy tin điều đó, hãy ghi khắc điều đó vào lòng mình.

Còn một chuyện nữa, tôi cũng muốn tâm sự với anh chị em, vì không được mời vào dự tiệc, thì tôi phải liệu tổ chức cho mình một bữa tiệc của tôi, một bữa tiệc lớn… không ai có thể tưởng tượng được, một bữa tiệc tráng lệ huy hoàng mà chính tôi định đoạt và sắp đặt tất cả.

Hôm nay, tôi gửi đi rất nhiều thiệp mời và mỗi người trong anh chị em đều đã nhận được một tấm thiệp mời dự tiệc của tôi. Tôi muốn biết, anh chị em có đến tham dự để tôi giữ chỗ bằng cách ghi tên của anh chị em vào sổ các thực khách. Chỉ những ai có tên trong sổ ấy mới được mời vào dự tiệc. Ai không trả lời, coi như là từ chối.

Vậy, anh chị em hãy chuẩn bị, và khi mọi sự đã sẵn sàng, mời anh chị em vào tham dự bữa tiệc lòng mến với tôi.

Hẹn gặp anh chị em trong bữa tiệc do tôi tổ chức,

Hết lòng yêu mến anh chị em,

Tôi, Giêsu, người bạn lòng của anh chị em.


Wednesday, 10 December 2025

CHÚA ĐÃ ĐẾN HAY CÒN PHẢI ĐỢI AI KHÁC?

Click for audio CHÚA ĐÃ ĐẾN HAY CÒN PHẢI ĐỢI AI KHÁC?

Ông bà và anh chị em rất thân mến,

Phụng vụ Chúa Nhật thứ 3 Mùa Vọng mời gọi chúng ta bước vào tâm tình hân hoan: Mừng vui lên, vì Chúa đã đến gần. Tuy nhiên, bài Tin Mừng hôm nay không bắt đầu bằng niềm vui, nhưng bằng một câu hỏi đầy trăn trở của Gioan Tẩy Giả: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?”

 Nỗi trăn trở của Gio-an tẩy giả làm tôi nhớ đến một câu chuyện. Truyện kể rằng:

 Vào Chúa nhật cuối năm phụng vụ, có cha xứ kia long trọng thông báo cho giáo dân biết về các thành quả mà Giáo Xứ đã đạt được. Con số người tham dự các sinh hoạt phụng vụ như tham dự các Thánh Lễ, chia sẻ lời Chúa, tham gia các đoàn thể, phong trào và các sinh hoạt giới trẻ, chầu Thánh Thể tăng nhanh. Ngoài ra, bà con còn hết lòng tham gia các công tác từ thiện như giúp đỡ người nghèo, thăm người đau yếu trong các bịnh viện, nhà dưỡng lão… Nói chung, qua việc làm của anh chị em trong giáo xứ thì vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện cho mọi người nhận biết chúng ta quả thật xứng đáng là đoàn chiên của Người.

 Trong lúc cha xứ đang hân hoan chia sẻ với các tín hữu, bỗng nhiên có một giọng nói rất chậm rãi của một cụ già phát lên từ hàng ghế phía sau của hội trường nhà xứ như sau: “Tạ ơn Chúa, vì các thành quả của chúng ta đã làm để tôn vinh Chúa, thế mà sao chẳng có ma nào trở lại để gia nhập vào Đạo Chúa và học theo lối sống của chúng ta thế này!”

 Lời than van của cụ già trong giáo xứ phản ảnh lời chất vấn của các môn đệ mà Gio-an Tẩy Giả đã phái đến để hỏi về thân thế của Đức Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay. Câu hỏi “Thầy có phải là đấng mà chúng tôi mong đợi?” có thể được đổi thành chúng ta có phải là hiện thân của Đấng Cứu Thế mà thế giới đang mong đợi hay không?

 Thánh Gioan Tẩy Giả, vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu Ước đã mời gọi các tín hữu hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến. Ông còn mạnh mẽ xác nhận mình chỉ là kẻ dọn đường cho Chúa đến. Ông nói: “Đấng đến sau tôi, nhưng quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người.” Thế mà, hôm nay Gio-an ở trong ngục tối đã phải kêu lên: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” Câu hỏi của Gio-an là tiếng kêu tìm kiếm sự xác quyết từ Thiên Chúa. Đây là thắc mắc, sự tìm kiếm của con người trước mầu nhiệm ơn cứu độ.

 Đức Giêsu không trả lời bằng lý thuyết, nhưng bằng chứng từ: “Người mù xem thấy, kẻ què đi được, người phong được sạch, kẻ điếc nghe được, kẻ chết sống lại, người nghèo được nghe Tin Mừng.” Đây là sứ mạng của Đấng Thiên sai, như đã được loan báo bởi ngôn sứ I-sa-i-a mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc một.

 Sau đó, Đức Giê-su còn gián tiếp thách đố Gio-an rằng ông sẽ được chúc phúc, nếu không bị vấp ngã vì các công việc mà Đức Giê-su đã làm. Ở đây, Đức Giê-su muốn nói với Gio-an rằng: qua lời tường trình về các công việc mà Đức Giê-su đã làm, khác với những gì ông biết về Đức Mê-si-a, thì ông có tin Người là Đấng Thiên Sai hay không?

 Chúng ta không biết Gio-an có đón nhận lời chúc phúc của Đức Giê-su dành cho ông hay không mà chỉ biết rằng sau đó Đức Giê-su ca ngợi lối sống chứng nhân của Gio-an. Qua cách nói gián tiếp này chúng ta thấy được vị trí của Gioan trong con mắt của Đức Chúa. Ông đuợc ví như cây sậy phất phơ trước gió, nhưng đã không ngã gục trước quyền lực của những người đến hỏi tội ông. Gio-an cũng không đánh lừa dân chúng. Ngài can đảm làm chứng về sự thật. Và vì sự thật mà Ngài đã bị xử tử, bị giết chết. Đó chính là con đường mà ngôn sứ phải đi: chỉ biết nói sự thật cho dù phải chết.

 Như chúng ta đã biết: Gio-an không phải là ánh sáng mà chỉ là nhân chứng của ánh sáng. Ánh sáng đích thật là Chúa Giêsu. Vì thế khi Đức Kitô bắt đầu sứ vụ công khai thì vai trò của Gio-an bị lu mờ.

 Đây là sự cao trọng trong sứ mạng của Gio-an. Chính vì biết mình là ai, và cần phải làm gì trong chuơng trình của Thiên Chúa, nên Gio-an đã trở thành con người vĩ đại như lời ca tụng của Đức Giêsu: “Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn Gioan tẩy giả. Tuy nhiên kẻ nhỏ nhất trong Nước trời còn cao trọng hơn ông.” Bởi vì, vai trò của Gio-an dù có cao trọng đến đâu thì ông vẫn chỉ là người dọn đường; còn chính Chúa Giê-su và những kẻ thuộc về Người mới thuộc về Nước Trời. Đó là giáo lý mới, tin vui mà Chúa Giê-su đã đem lại. Chính Gio-an cũng phải thay đổi để nhận ra Tin Mừng mà Đức Giê-su đã loan báo.

 Tóm lại, vai trò của Gio-an là giới thiệu và dọn đường cho Đấng Cứu Thế; còn Chúa Giêsu là niềm hy vọng, nguồn sống sung mãn của Thiên Chúa ban cho nhân loại. Như vậy, viêc chúng ta mừng lễ Giáng Sinh không chỉ là việc cử hành một biến cố đã xẩy ra trong quá khứ; mà còn tiếp tục công việc của Thiên Chúa qua Mầu Nhiệm Nhập Thể của Đức Giê-su, Đấng đã đến trong kiếp người để chia sẻ cuộc sống với con người, đặc biệt những người nghèo khổ, bất hạnh mang đầy thương tích, những nạn nhân của bất công, những con người đang khao khát công lý và an bình.

 Nguyện xin ân huệ của Ngôi Hai Thiên Chúa luôn biến đổi cuộc đời chúng ta thành những con đường đem Chúa đến cho người khác. Amen!


Thursday, 4 December 2025

SÁM HỐI ĐỂ SẴN SÀNG

 Click for audio SÁM HỐI ĐỂ SẴN SÀNG

Chúng ta đang sống trong mùa vọng, mùa chuẩn bị tâm hồn mừng Lễ Chúa Giáng Sinh. Đây cũng là thời gian đặc biệt nhắc chúng ta nhớ đến việc Chúa sẽ đến lần thứ hai trong quang lâm để đón chúng ta về nhà Cha. Muốn được như thế, chúng ta phải sẵn sàng và tỉnh thức để nhận ra sự hiện diện của Chúa trong các nghi lễ phụng vụ, qua các dấu chỉ của thời đại và nhất là qua con người, bởi Thiên Chúa đã làm người và cư ngụ giữa chúng ta.

Việc Thiên Chúa viếng thăm để cứu chuộc dân Người là dự án của Thiên Chúa. Đó chính là sứ mạng của Người. Còn việc Thiên Chúa đã thực hiện chương trình cứu độ như thế nào thì hãy nghe Thánh Phao-lô nói rất rõ như sau: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.” (Dt 1:1-2) Có nghĩa là, Thiên Chúa luôn đồng hành với nhân loại. Người hoạt động để thực hiện lời hứa với cha ông chúng ta. Người soi sáng và dùng miệng lưỡi các ngôn sứ để thực hiện sứ mạng và sau cùng Người đã sai Thánh Tử Giê-su đến và ở giữa chúng ta. Nói chung Thiên Chúa toàn tâm toàn ý thực hiện và hoàn tất kế hoạch cứu rỗi nhân loại.

Để cho kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa được thể hiện nơi cuộc sống, mỗi người chúng ta hãy nghe lời cảnh báo của Gio-an Tẩy Giả hôm nay: Hãy dọn đường và sửa lối để đón chào Đức Chúa và hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần. Sau này khi bắt đầu sứ vụ, Đức Giê-su còn loan báo: “Anh em hãy sám hối và Tin vào Tin Mừng.” Như vậy, xem ra việc sám hối tội lỗi và Tin rằng Nước Thiên Chúa hiện diện trong bản thân Đức Giê-su là một lời cảnh báo rất khẩn thiết và quan trọng.

Trước tiên, chúng ta phải thừa nhận và Tin vào tình thương của Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương và làm bạn với những người tội lỗi. Điều này không có nghĩa là Thiên Chúa dung thứ tội lỗi. Tình yêu thương của Thiên Chúa là nguồn động lực giúp chúng ta nhận ra lỗi lầm của con người, và chúng ta cũng không được phép lợi dụng Tình thương của Thiên Chúa rồi cứ nằm lì trong đám bùn của tội lỗi mà không thay đổi. Chúa đã đến để giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Người thấu hiểu sự yếu đuối và sẵn sàng tha thứ cho con người. Để đáp trả, chúng ta phải thành thật nhận ra tội lỗi của mình và trở lại với Người.

Trong cùng một tinh thần đó, Hội Thánh mượn lời kêu gọi của Gio-an Tẩy Giả để kêu gọi chúng ta sám hối. Vậy sám hối là gì?

Sám hối là cơ hội giúp ta đổi mới. Muốn đổi mới, con người cần có can đảm để đối diện với các khuyết điểm của chính mình. Sự can đảm này thật cần thiết, bởi vì theo lẽ thường thì con người thích đi trên lối cũ, sống với những thói quen đã ăn sâu trong cuộc sống, cho nên rất khó thay đổi.

Sám hối là hồng ân, vì tự chính bản thân, ta có thể thấy được gì! Và, chỉ ở trong tình yêu và ánh sáng của Thiên Chúa, qua Đức Giêsu, ta mới thấy các yếu kém của mình để đổi mới. Đó là hồng ân mà Chúa chiếu soi để ta nhận biết mình. Muốn được như thế, chúng ta phải thường xuyên để cho giá trị của Tin Mừng và các tiêu chuẩn của Nước Thiên Chúa chất vấn chúng ta.

Sám hối không chỉ là việc nhận ra mình có tội hay là cảm thấy áy náy, xấu hổ vì đã phạm tội rồi đi xưng tội để được hòa giải cho được sạch tội mà thôi; nhưng là quyết tâm thay đổi lối sống mà tin vào Tin Mừng, nghĩa là tin vào lời giảng dậy, việc làm và lối sống của Đức Giêsu, Đấng đã tiêu diệt quyền lực của sự ác trong ta, để nhường chỗ cho sự hiện hiện của Nuớc Thiên Chúa qua Đức Giêsu, Đấng sẵn sàng chia sẻ cuộc sống của Người với đời sống của ta.

Trong niềm hiệp thông đó, chúng ta diễn tả việc sám hối bằng cách sinh hoa kết quả theo lời yêu cầu của Gio-an hôm nay bằng việc đền bù thiệt hại cho những ai mà chúng ta đã xúc phạm và chia sẻ tiền của cho những người nghèo khổ và khốn khó như gương sáng của ông Da-kêu đã làm thủa xưa.

Như vậy, cuộc sống, việc làm và lời rao giảng của Gio-an Tẩy Giả hôm xưa cũng là của chúng ta hôm nay. Gio-an đã xuất hiện như một ngôn sứ cuối cùng để chuẩn bị con đường cho Đức Me-si-a, Đấng thiên sai ngự đến thế nào thì chúng ta cũng thế. Noi gương Ngài chúng ta được mời gọi ra đi để công bố cho những người chung quanh hãy sống ăn năn, và dọn đuờng chào đón Chúa Cứu Thế và tin theo Người.

Giống như Gio-an Tẩy Giả, chúng ta đến để giới thiệu và chỉ cho người ta thấy con đường của Chúa. Sau khi giới thiệu Chúa cho người khác xong, chúng ta phải biết lui về phía sau để Thiên Chúa đến và thực hiện dự án của Người nơi họ. Đây là điều rất quan trọng nhưng lại khó thực hiện, nhưng qua việc từ bỏ mình như thế, chúng ta làm cho Danh Chúa được cả sáng hơn.

Con đuờng của Chúa mà chúng ta chuẩn bị là con đuờng đức tin, con đuờng của niềm vui; một niềm vui phát xuất từ bên trong, phần sâu thẩm của tâm hồn và chỉ dành cho những ai đã đuợc Chúa chiếm đoạt. Vì một khi chúng ta đã được Chúa chiếm đoạt cũng là lúc chúng ta sẵn sàng mất tất cả để dành phần ích lợi cho anh em.

Tóm lại, trong tinh thần của Mùa Vọng và với gương sáng của Gio-an Tẩy Giả, chúng ta nhớ lại ơn gọi của chính mình. Chúng ta không chỉ ăn năn và sám hối để chuẩn bị tâm hồn Mừng Lễ Giáng Sinh mà thôi đâu, chúng ta còn phải ra đi, không chỉ là tiền thân của Đấng Cứu Thế mà còn là hiện thân của Người, Đấng đã từ bỏ và chấp nhận mất tất cả để đem lại ơn cứu độ cho mọi người, không loại trừ một ai.

Nhiệm vụ ‘dọn đường và giới thiệu Đức Ki-tô cho người khác’ thật nặng nề. Gio-an đã làm được. Đức Giê-su đã mở đường. Tin tưởng vào sự trợ giúp của các ngài, chúng ta sẽ làm được. Vì thế, không chỉ trong Mùa Vọng này, mà trong mọi giây mọi phút của cuộc sống, chúng ta không chỉ dọn đường cho Người đến mà hãy cùng nhau bước đi trên con đường của Người.

Con đuờng yêu thương và đón nhận nhau.

Con đường tự hiến và hy sinh cho nhau.

Con đuờng tha thứ và chấp nhận lỗi lầm của nhau.

Con đuờng của sự thật để nhận ra tất cả là của Người.

Khi cùng dắt nhau đi trên con đuờng của Chúa, tâm hồn chúng ta sẽ rộng mở để đón nhận nhau, nhận ra sự hiện diện của Chúa Cứu Thế nơi tha nhân. Người đã đến giữa chúng ta, trong lòng người và giữa lòng đời. Và nếu chúng ta không mở lòng ra cho Người đến trong cuộc sống thì việc dọn đuờng và chuẩn bị mừng Lễ Giáng Sinh cũng là việc làm chiếu lệ, theo thói quen.

Xin hãy mở mắt chúng con nhận ra Chúa, mở lòng trí chúng con để đón Chúa không chỉ trong Mùa Vọng này mà thôi, nhưng trong mọi khoảnh khắc của cuộc đời và nhất là trong các bữa tiệc Lòng Mến mà chúng con đến để sinh hạ và trao tặng Chúa cho nhau. Amen!


Thursday, 27 November 2025

CHÚNG CON SẴN SÀNG RỒI!

 Click for audio CHÚNG CON SẴN SÀNG RỒI!


Anh chị em thân mến,

Trước hết chúng ta hãy tạ ơn Chúa đã soi sáng, dẫn dắt và nuôi sống chúng ta bằng Lời của Người trong năm 2025 vừa qua, và dâng năm mới, 2026 cho Người.

Chu kỳ phụng vụ năm C đã kết thúc. Hôm nay, Giáo Hội cử hành Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng, bắt đầu cho một năm phụng vụ mới, năm A. Và mỗi khi bước vào Mùa Vọng, chúng ta đều bắt đầu một cuộc hành trình thiêng liêng, vừa trông đợi, vừa chuẩn bị để mừng Lễ Giáng Sinh nói riêng và sẵn sàng cho ngày Chúa đến trong quang lâm nói chung.

Trong đời sống hằng ngày, theo thông lệ, mỗi gia đình đều có rất nhiều việc cần làm để đón mừng lễ Giáng Sinh như trang hoàng cây Noel, treo đèn và trang trí; viết và gửi thiệp hay thiệp điện tử Giáng Sinh; chuẩn bị quà tặng cho người thân và bạn bè thân hữu; lo cho những bữa tiệc mừng nói lên ý nghĩa sum họp trong gia đình và những việc cần thiết khác cho việc mừng lễ. Nói chung, chúng ta rất bận rộn trong việc chuẩn bị đón mừng Lễ Giáng Sinh này.

Thưa anh chị em, bên cạnh những chuẩn bị bên ngoài ấy, còn có một sự chuẩn bị quan trọng hơn, mang chiều kích thiêng liêng sâu xa. Đức Giêsu đã hứa rằng Người sẽ trở lại, và mời gọi chúng ta phải tỉnh thức và sẵn sàng chờ đợi ngày Người quang lâm. Chúng ta biết ngày lễ Giáng Sinh hàng năm là ngày 25 tháng 12, nhưng ngày Chúa trở lại thì không ai biết được, ngay cả Chúa cũng không biết.

Vì thế, việc chuẩn bị bên ngoài cho lễ Giáng Sinh có thể đem lại niềm vui và sự háo hức. Nhưng trên hết, chúng ta được mời gọi chuẩn bị tâm hồn để mừng Lễ Chúa Giáng Sinh, và cũng sẵn sàng cho ngày Người trở lại trong vinh quang.

Đó cũng là tinh thần của Mùa Vọng. Chuẩn bị sẵn sàng để kỷ niệm việc Chúa đến lần thứ nhất trong Lễ Giáng Sinh và cũng chuẩn bị để gặp Chúa trong mọi giây phút của cuộc đời mình nữa; để khi Chúa đến lần thứ hai trong quang lâm, chúng ta đã sẵn sàng.

Trong tinh thần đó, sứ điệp của Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng này nhắc nhở chúng ta hướng về ‘Ngày của Chúa’ đến lần sau cùng. Đây là vấn đề của đức tin. Chúng ta tin Người sẽ đến, còn đến như thế nào thì không ai biết, chỉ mình Thiên Chúa biết mà thôi.

Vì vậy, trong bài Tin Mừng hôm nay, với kiểu nói minh họa, Thánh sử Mát-thêu đã thuật lại trận lụt kinh hoàng xẩy ra dưới thời ông No-ê. Nhưng ở đây có một chi tiết quan trọng mà chúng ta cần lưu tâm, đó là không có sự phán xét về mặt đạo đức để coi trận lụt như là án phạt mà Thiên Chúa dành cho những người sống cùng thời với ông No-ê. Điều mà bản văn muốn nhấn mạnh là: Cuộc sống của con người vẫn tự nhiên, họ vẫn ăn, vẫn uống, vẫn làm lụng vất vả, sinh hoạt như mọi ngày, chẳng có chi tiết nào nói đến cuộc sống đồi trụy hay sa đọa cả, chẳng có một dấu hiệu nào báo về ngày cùng tận cả. Trong bối cảnh bình thường như thế, cuộc chung thẩm sẽ bất ngờ xẩy ra.

Những câu nói kế tiếp trong bài Tin Mừng sẽ làm cho ngày chung thẩm xẩy ra một cách bất ngờ hơn. Bất ngờ đến độ hai người đang làm việc ngoài đồng thế mà một sẽ được cất đi, người kia bị bỏ lại. Việc này cũng xẩy ra cho hai người phụ nữ đang kéo cối xay trong nhà, một bà được đem đi và bà kia bị rớt lại.

Các chi tiết này giúp cho chúng ta nhận ra rằng dù làm việc trong nhà hay ngoài đồng, phán quyết chung thẩm của Thiên Chúa dành cho họ, không lệ thuộc không gian hay thời gian và cũng không dựa trên các hoạt động hay việc làm của họ. Thiên Chúa hoàn toàn tự do làm chủ việc làm của Người. Tuy nhiên, những kẻ được đem đi có thể ám chỉ đến việc họ đã được cứu; bởi vị họ là những người đã tin và can đảm tuyên xưng Đức Chúa là Đấng Cứu Tinh của họ.

Sau đó là hình ảnh kẻ trộm. Không ai muốn kẻ trộm đột nhập vào nhà mình. Kinh nghiệm bị kẻ trộm đột nhập vào nhà vẫn là một trong các kinh nghiệm đáng sợ. Khi còn ở quê nhà. Vào một ngày nọ, tôi đang chăm chú làm bài tập trên gác, bỗng nghe có tiếng động phát ra từ tầng dưới. Thoạt tiên, tôi nghĩ rằng mẹ đi chợ đã về. Tôi vội vàng xuống cầu thang đi thẳng vào nhà bếp, nơi vừa phát ra tiếng động. Mẹ đâu chẳng thấy chỉ thấy một người khách không mời mà đến đang đứng đó.

Nghe thấy tiếng động, ông ta lao thẳng ra ngoài và biến mất. Tôi khám phá ra ô kính ở của sổ nhà bếp đã bị đập vỡ. Tuy người khách lạ đó chưa thu hoạch được gì. Nhưng tôi thì khiếp sợ và không dám ở nhà một mình trong một thời gian khá dài. Với cảm nghiệm cá nhân như thế thì ai dám nghĩ đến việc mong kẻ trộm đến. Vì thế, hình ảnh kẻ trộm được dùng ở đây như một kiểu nói có ý nhấn mạnh đến sứ điệp là hãy sẵn sàng vì Chúa sẽ đến vào lúc chúng ta không ngờ nhất.

Thưa anh chị em,

Đó là lời cảnh báo rất thực tế vì không ai trong chúng ta biết ngày và giờ nào Chúa đến cả. Người sẽ đến bất thình lình. Tại chỗ khác, Đức Giê-su khuyên bảo chúng ta hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn. Bởi vì, nếu không tỉnh thức và cầu nguyện thì lòng chúng ta sẽ trở thành chai đá. Rồi những lo âu thái quá trong cuộc sống khiến cho đời sống của chúng ta bị quay như chong chóng, mất phương hướng rồi quên đi mục tiêu và các ưu tiên trong cuộc sống.

Thái độ sẵn sàng và tỉnh thức là những đức tính cần thiết mà người tín hữu phải luyện tập. Muốn đạt được điều này, chúng ta tỉnh thức bằng cách chu toàn trách nhiệm hiện tại, biết nhận ra những dấu chỉ thời đại, khám phá ra thánh ý Thiên Chúa, kiên tâm phục vụ trong yêu thương, nỗ lực hơn trong các dự án tình thương, cần mẫn hơn trong các công việc bác ái, gắng sức cổ võ cho sự hiệp nhất, và rộng tay đón tiếp cũng như chia sẻ cho những người nghèo đói, hoạn nạn miếng cơm, manh áo và những thứ họ cần.

Đó chính là chương trình, dự án mà chúng ta cần làm trong Mùa Vọng này. Vì đây là thời kỳ hồng ân, là thời điểm để chúng ta xét mình, làm cho cuộc sống bớt bị ràng buộc và trở thành nhẹ nhàng hơn, tập sống buông bỏ không bị dính bén để cho lòng mình được nhẹ nhàng thanh thản chờ đợi Ngày Chúa đến.

Ngày nào cũng là ngày của Chúa. Ngày nào cũng là dịp thuận tiện để Chúa đến. Vì thế, sẵn sàng trong kinh nguyện và việc làm là cách thức chuẩn bị tốt nhất. Qua đó con người gặp Chúa, mà càng gặp lại càng yêu và càng yêu lại càng nhớ và chỉ muốn gặp mãi. Nếu không thực hiện được như thế thì cuộc sống con người giống như cá thiếu nuớc, con người thiếu dưỡng khí.

Như vậy, tỉnh thức và cầu nguyện là khí cụ để con người luôn sẵn sàng gặp Chúa và gặp nhau. Vì thế, hãy sẵn sàng. Đức Chúa đang đứng ngoài cửa, Người gõ và chờ đợi chúng ta mở cửa đón tiếp Người. Người hằng ước ao được dùng bữa tối với chúng ta. Đó là điều Người mong đợi. Vậy còn chần chờ gì nữa, hãy mở cửa lòng để Chúa ngự đến. Nhất là qua các bữa tiệc tạ ơn, bữa ăn lòng mến, những cuộc gặp gỡ thân tình để làm thế nào mà mọi người đều có thể lớn lên khi gặp được con người thật của nhau trong Chúa.

Ngày nay, sống giữa nền văn hóa của sự vô cảm và đối diện với bao lo âu chúng ta nhận ra đây là cơ hội mà chúng ta phải chộp lấy để thi hành bổn phận và trách nhiệm của người môn đệ. Hãy làm sống lại con người thật của mình, để Thiên Chúa hiện diện và sinh ra trong lòng mọi người. Đây là cơ hội, là dịp thuận tiện để chúng ta nghĩ và thực hiện các điều đó! Đúng thật, tất cả đều là cơ hội để chúng ta chuẩn bị cho Ngày gặp Chúa và anh em, cho đến khi Chúa vinh hiển ngự đến lần sau cùng.

Còn hiện nay, trong lúc này, chúng ta hãy sống theo Lời Chúa, luôn thực thi điều Người truyền dạy, chuyên cần yêu mến Thiên Chúa và tha nhân. Đó chính là thái độ sống tỉnh thức mà Chúa mời gọi. Tỉnh thức không phải là lo lắng hay sợ hãi, nhưng là sống mỗi ngày trong yêu thương, hy sinh, quảng đại và trong ơn nghĩa Chúa, để khi Chúa đến chúng con đã sẵn sàng rồi. Amen!


Thursday, 20 November 2025

CHÚA XÓT THƯƠNG LÊN NGÔI VUA TÌNH YÊU

 Click for audio CHÚA XÓT THƯƠNG LÊN NGÔI VUA TÌNH YÊU.

Anh chị em thân mến,

Trong bài tuờng thuật hôm nay, chúng ta nhận thấy Đức Kitô là người thua cuộc; không chỉ như thế mà Nguời còn bị liệt vào hàng tội nhân, xếp hàng chung với những tên tử tội. Không lẽ, Chúa, Vua Tình Yêu của chúng ta “Lên Ngôi” trong hoàn cảnh bi đát như thế hay sao?

Hàng năm, vào ngày 25/4, tại Úc và Tân Tây Lan chúng ta mừng ngày Anzac (Australian and New Zealand Army Corps). Đây không phải là ngày kỷ niệm cuộc thắng trận. Thật ra, trong ngày này chúng ta cùng nhớ đến công ơn, nhất là gương hy sinh của các chiến sĩ đã bỏ mình trong cuộc đổ bộ vào bán đảo Galipoli bên Thổ nhĩ kỳ vào ngày 25/4/1915. Họ là những nguời thua cuộc. Nhưng gương hy sinh của họ lưu truyền muôn đời.

Bên Việt Nam, vào các thế kỷ truớc, chúng ta có hơn 100.000 anh hùng tử đạo, cha ông của chúng ta đã vui lòng thua cuộc trong các trận chiến với thế quyền. Nhưng gương hy sinh, phát sinh từ lòng mến của các Ngài với Chúa, Vua của họ lưu truyền qua muôn thế hệ của dân Việt khắp nơi trên thế giới.

Còn ngày nay, tôi đuợc nghe anh chị em chia sẻ về những nỗi đau khổ, những đêm dài trằn trọc để tìm một phuơng thức tốt giúp cho những người con của mình thoát cảnh lầm lạc. Cuối cùng, dù trải qua trăm cay nghìn đắng… anh chị vẫn là những người thua cuộc. Như một cuộc chơi ‘trốn-tìm’; anh chị em chận đầu này, con cái anh chị em chạy lối kia. Truớc nhưng cảnh ngộ đó, tôi thuờng nghĩ rằng trong bổn phận làm cha, làm mẹ, chẳng một ai trong anh chị em là người thắng cuộc. Vì yêu thuơng con cái mình, anh chị em là những người bại trận.

Các tình huống nói trên đưa chúng ta trở về với bài Tin Mừng hôm nay, trong đó Thánh Lu-ca mô tả về cái chết tủi nhục trên thập giá của Đức Kitô. Truớc mắt nhiều nguời Chúa là kẻ thua cuộc.

Trình thuật này làm chúng ta nhớ lại cuộc chiến đấu liên lỉ của Đức Giê-su và thủ lĩnh quyền lực sự dữ là Satan. Tuy Người đã vuợt thắng đuợc các cơn cám dỗ trong cuộc sống sứ vụ. Nhưng, vẫn chưa hết. Hôm nay, Đức Giê-su còn phải đối diện với những cám dỗ cuối cùng.

Trước hết, các thủ lãnh cám dỗ: “Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi !” Lý luận họ đưa ra thật xác đáng rằng ông đã từng giúp và cứu nhiều người thì giờ đây tại sao lại chịu trói như thế. Hãy cứu lấy mình đi! Nghe chúng nói thì chướng tai và nhìn họ lại thêm gai mắt; thôi thì biểu lộ uy quyền cho chúng biết tay. Nếu Đức Giê-su làm như thế sẽ mắc bẫy của chúng!

Quân lính cũng đưa ra món mồi tuơng tự: “Hãy cứu lấy mình đi! ” Vua mà không có quyền thì nói ai tin. Cứu mình khỏi cảnh ô nhục và cho muôn dân thấy vuơng quyền của Người. Lại một lời mời gọi Chúa đi con đuờng tắt bộc lộ vương quyền, trái ý Chúa Cha nên Người đã không theo.

Rồi đến phiên người bị treo trên thập giá bên cạnh cũng muốn ăn ké bèn chế diễu và thách thức Chúa rằng: “Hãy cứu lấy mình đi và cứu cả chúng tôi nữa! ” Lý do anh đưa ra là nếu Chúa là Đức Ki-tô, một tước hiệu chạm vào căn tính ‘Mesia’ của Người. Đức Kitô là Đấng đuợc xức dầu, tấn phong để thực hiện nhiệm vụ của người tôi tớ, chứ đâu phải là người đến để tìm quyền lực và vinh danh trần thế.

Đức Giê-su đã không chịu lùi bước, Người đã chiến đấu cho dầu phải hy sinh mạng sống cho đến chết. Sự chết mà Chúa hiên ngang đón nhận nói lên tinh thần vâng phục của Người đối với Chúa Cha. Đây cũng là lúc Người làm chứng cho nhân loại biết rằng Người yêu thương và tín nhiệm Cha đến dường nào. Người ta lầm tưởng là Chúa đã thua cuộc; nhưng ngược lại, qua mầu nhiệm Thập Giá, Đức Giê-su đã bộc lộ lòng tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa khi dám hứa ban Nước của Người cho người có lòng hối cải đang chịu đóng đinh chung với Người.

Nói một cách khác, trước mắt họ hình như việc Đức Giê-su bị treo trên Thập Giá chứng tỏ Người đã thua cuộc, thất bại. Nhưng thật ra, qua sự vâng phục và bằng lòng chịu chết của Chúa, Thiên Chúa đã siêu tôn Người. Đức Giê-su đã được Chúa Cha tôn vinh là Vua, là Chúa của muôn dân muôn nuớc. Và qua tấm lòng hiếu kính, vâng phục và yêu thương của Chúa, Người đã sửa lại những lỗi lầm để ban ơn cứu độ, không chỉ cho tên gian phi, mà cho toàn thể nhân loại, trong đó có anh, có chị và mỗi người chúng ta.

Môt cách cụ thể, chúng ta hãy nhìn vào anh gian phi có lòng hối cải. Tôi thấy trong anh có tôi. Anh là người đầu tiên, người đại diện và là mẫu guơng cho tất cả những ai nằm trong ‘vương quốc của vua Giê-su.’ Anh nhìn nhận lỗi phạm của chính mình và cũng nhận ra sự vô tội của Đức Giê-su, rồi cầu xin Người cứu vớt và anh đã được cứu.

Thái độ của anh hòan tòan khác và trái nguợc với những người thủ lãnh, quân lính và phạm nhân bên kia. Và anh đã đuợc cứu. ‘Hôm nay’ không phải ngày mai. Ngay bây giờ, ngay lúc này anh đuợc ở trên thiên đàng với Chúa. Thiên đàng ở đây không phải là nơi chốn, nhưng là tình trạng hiệp nhất hòan hảo giữa Chúa và anh. Anh đã đạt đuợc cảnh giới hiệp thông này qua việc anh nhận ra sự hèn yếu của bản thân mà nuơng tựa trọn vẹn vào Chúa. Trong mối dây hiệp nhất, anh lĩnh nhận ơn tha thứ.

Đây cũng chính là điều mà chúng ta đã đeo đuổi trong suốt cuộc đời. Lòng thuơng xót của Chúa là chốn nuơng thân cho những ai thuộc về Nước Thiên Chúa. Chúa thuơng xót để chúng ta xót thương nhau. Hãy cùng nhau nhìn vào một số hoàn cảnh thực tế vẫn còn xẩy ra sau đây:

Vẫn còn những giọt nước mắt của người mẹ, những đêm trằn trọc của những người cha… đang dẫn họ đến chỗ gần như buông xuôi và thất vọng vì đứa con nghiện ngập hay ăn chơi sa đọa. Họ đang trông chờ lòng thương xót Chúa qua bàn tay của chúng ta để giúp họ phấn chấn và tin tuởng vào Lòng Xót thuơng của Chúa hơn.

Lại có những gia đình đang bất hòa và có nguy cơ dẫn cuộc sống của họ đến chỗ tan vỡ. Vì sao? Thiếu thủy chung, ăn vụng, dối trá hay một trong hai đang chìm đắm trong mê muội. Chỉ có Lòng Chúa thuơng xót mới giúp họ vuợt qua, chiến thắng bản thân để tha thứ cho nhau.

Chúa tha thứ cho người trộm khi ông ta nhận ra sự yếu đuối của bản thân và nuơng tựa vào quyền năng của Chúa thế nào thì chúng ta cũng thế. Hãy trao vào tay Chúa những gánh nặng của cuộc đời. Hãy tín thác vào lòng thương xót Chúa.

Đã bao lần chúng ta cầu cứu ‘xin nhớ đến tôi’ và đuợc Chúa nhận lời; thế mà chúng ta lại ngỏanh mặt làm ngơ, giả câm, giả điếc truớc những lời cầu ‘xin nhớ đến tôi’ của kẻ khác. Vì vậy, tiếp tục làm nhân chứng về Lòng Thương Xót của Chúa mà vua vũ trụ trao ban cho chúng ta. Một cách cụ thể, chúng ta

• Hãy tiếp tục công việc mà Chúa đã trao.

• Hãy là những chứng nhân cho công việc phục vụ.

• Hãy trải tình yêu mà chúng ta nhận đuợc từ Chúa cho những nơi chúng ta sẽ đến, cho những ai đang cần

• Hãy động lòng thương với những ai đang khốn khổ lầm than, vì Chúa đã đến trong cảnh lầm than, nỗi khốn cùng của chúng ta.

• Hãy chia sẻ cơm ăn, áo mặc cho những người thiếu thốn.

• Hãy đón tiếp những ai không có cơ hội tiếp đón chúng ta.

• Hãy cúi mình nhìn ra những vết hằn trên khuôn mặt đầy những vết xẹo của tha nhân.

• Hãy thăm viếng kẻ tù đầy. Họ không chỉ ở trong nhà giam, nhưng ngay trong gia đình, xóm giáo, nhóm.

Ước gì qua lối sống xót thuơng giúp chúng ta nhận ra sự bất tòan của bản thân. Vì chỉ có Chúa mới làm cho con tim ta rung động, đôi mắt ta sáng hơn, đôi tai ta nghe rõ hơn trước những lời van xin của kẻ khác, nhất là những người nghèo. Họ đang chờ lòng xót thương của anh chị em.

Muốn được như vậy, chúng ta cần tựa vào Chúa. Người chính là nguồn năng lực duy nhất giúp chúng ta tiếp tục sống và làm chứng cho thế giới nhận ra Chúa của lòng xót thương, là Vua trên hết các vua, là Chúa trên hết các chúa. Amen!


Wednesday, 12 November 2025

CHẾT VÌ CHÚA ĐỂ SỐNG MUÔN ĐỜI

Click for audio CHẾT VÌ CHÚA ĐỂ SỐNG MUÔN ĐỜI


Chúng ta đang sống những ngày cuối cùng của năm phụng vụ, 2025. Trong những tuần này, Phụng Vụ Lời Chúa giúp chúng ta sống và chuẩn bị cho ngày tận thế, và trước tiên là ngày sau hết của mỗi người.

Trong tinh thần đó, Tin Mừng Chúa Nhật thứ 33 mùa thường niên tiên báo đền thờ Giê-ru-sa-lem bị tàn phá. Biến cố kinh hoàng này đã khiến cho niềm tin của các tín hữu tiên khởi bị lung lay đến tận xương tủy. Họ tự hỏi nhau rằng phải chăng đây là dấu hiệu báo ngày tận thế sắp xảy ra?

Khi Thánh Lu-ca ghi lại lời tiên đoán này của Chúa thì đền thờ đã bị phá hủy. Bên cạnh đó, Chúa còn nói không chỉ có đền thờ bị tàn phá mà sẽ còn nhiều tai ương và hoạn nạn xẩy đến cho thế giới này nữa... Một thế giới vẫn còn nhiều bất ổn, bạo động, chiến tranh và khủng bố; các tai ương như thiên tai, động đất và lũ lụt vẫn xẩy ra.

Thật vậy, những điều ấy đã xẩy ra với chúng ta hôm nay. Thế giới vẫn bất ổn vì chiến tranh và hận thù. Xã hội thay đổi nhanh chóng, giá trị đạo đức bị đảo lộn. Niềm tin của chúng ta bị chao đảo trước các thử thách do nền văn minh tục hóa, hưởng thụ và dửng dưng với Thiên Chúa đem lại

Tuy sống giữa những biến động ấy, hôm nay Chúa vẫn trấn an chúng ta đừng sợ hãi, vì Chúa luôn ở bên chúng ta. Không có gì có thể tách chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

Thật vậy, chúng ta được mời gọi để đối diện và đón nhận mọi biến cố xẩy đến trên thế giới này bằng một niềm hy vọng. Trong niềm cậy trông và tín thác vào Chúa, chúng ta tìm mọi cơ hội để làm chứng cho Chúa giữa lòng thế giới hôm nay. Bởi vì, tất cả mọi biến cố đều nằm trong kế hoạch yêu thương của Người. Còn chúng ta, cần chuẩn bị cho thật tốt, nhất là biết dùng thời gian đang sống để công bố cho mọi người biết về Tin Mừng của Thiên Chúa.

Thưa anh chị em,

Hôm nay, trong tinh thần đó và với niềm hân hoan, chúng ta mừng Lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam, là những người đã sống trọn vẹn ý nghĩa của Lời Chúa hôm nay. Các Ngài là tổ tiên và cha ông của chúng mình. Các ngài đã hy sinh mạng sống để minh chứng đức tin kiên cường của các ngài.

Chúng ta không thể phủ nhận gương can đảm, chấp nhận mọi khổ hình mà cha ông chúng mình đã trải qua. Sử sách đã ghi lại bao nhiêu loại cực hình khác nhau đã đuợc dùng để tra tấn các ngài như: nhẹ thì gông cùm, giam tù, bỏ đói; nặng hơn một chút là cho voi dầy, phơi nắng và ném xuống sông; quyết liệt hơn thì bị chặt đầu, bị thắt cổ hay bị đốt cháy; man rợ và hiểm độc nhất là bị phân thây ra từng mảnh hay là tùng sẻo… Chỉ cần tuởng tượng những cực hình nói trên cũng khiến cho con người ngày nay run sợ hãi hùng.

  Tất cả các cực hình đó không nhắm đến các nỗi thống khổ về phần xác; nhưng tất cả đuợc áp dụng để thử lòng trung tín với Chúa của các ngài. Vì thế, thật là thiếu sót, nếu chúng ta chỉ nhấn mạnh đến những nét hào hùng, những tấm gương can đảm, những cực hình mà cha ông chúng ta đã phải gánh chịu mà quên đi động lực chính đã giúp tổ tiên mình đi đến cùng; đó chính là lòng yêu mến Chúa Giê-su của các ngài. Vì yêu mến Chúa mà cha ông chúng ta đã từ khước tất cả và chấp nhận chết cho tất cả.

Thật vậy, sự hiểu biết giáo lý hay những tín điều về Thiên Chúa của các ngài tuy nông cạn và các ngài cũng không có những suy tư cao siêu về thần học. Nhưng khi trở thành tín hữu, các ngài đã yêu Chúa bằng tất cả con người của các ngài. Đỉnh cao của tình yêu nơi các ngài được thể hiện qua việc chấp nhận cái chết không vì phần thưởng đã dành sẵn cho những ai trung tín với Chúa mà thôi; nhưng qua hành vi tự hiến, các ngài đã noi gương Chúa Giê-su, Đấng đã hiến thân để bày tỏ lòng mến tuyệt vời của Thiên Chúa cho nhân lọai.

Tiến ra pháp truờng bằng niềm tin và lòng mến cho nên tâm hồn cha ông của chúng ta rất thư thái và bình an, miệng các ngài vang lên những lời tha thứ và trên môi là nụ cuời hân hoan của niềm vui sắp đuợc đoàn tụ với Chúa Giêsu, Đấng mà các ngài cả đời yêu mến và trông đợi.

Hôm nay dù cuộc sống chịu ảnh hưởng bởi một nền văn minh đã bị tục hóa, chúng ta cũng được mời gọi sống từ bỏ hàng ngày, từ bỏ từ từ cho đến trọn vẹn để sống với lòng mến thiết tha cho đến giây phút cuối cùng.

Khi nói đến lối sống từ bỏ trong cuộc sống hàng ngày, tôi nhớ lại gương sáng của các bậc làm cha làm mẹ. Một trong các mẫu gương đó như sau. Để hoàn thành ơn gọi cao quí mà Chúa đã trao ban, các bậc làm cha làm mẹ đã phải trải qua những đêm dài trằn trọc, vượt qua các thử thách để tìm ra các phuơng thức khả dĩ giúp cho những người con khỏi rơi vào cảnh lầm lạc, có thể dẫn các cháu đến ngõ cụt của cuộc đời. Cuối cùng, dù trải qua trăm cay nghìn đắng… cha mẹ vẫn là những người thua cuộc.

Như tham dự một cuộc chơi ‘trốn-tìm’: anh chị chận đầu này, con cái anh chị chạy lối kia. Truớc những cảnh ngộ đó, tôi thuờng nghĩ rằng trong bổn phận làm cha, làm mẹ, chẳng một ai trong anh chị em là người thắng cuộc. Vì yêu thuơng con cái, anh chị em là những người bại trận, phải từ bỏ ý riêng, vui lòng thua cuộc vì hy sinh và yêu mến các cháu.

Đó là tâm huyết và tôn chỉ của những người con Chúa. Đó là gương sáng của các Thánh Tử Đạo, cha ông chúng ta, hơn 100.000 người đã anh dũng, hy sinh chết vì đạo, chết vì niềm tin kiên cường, chết để bộc lộ lòng mến thiết tha. Các ngài đã vui lòng thua cuộc trong trận chiến với thế quyền. Nhưng gương hy sinh, phát sinh từ lòng mến của các Ngài với Chúa, vẫn lưu truyền trong cuộc sống của dân Việt khắp nơi trên thế giới.

Hôm nay, hòa chung với niềm hãnh diện là con cháu của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta hãy noi gương các Ngài, biết chọn lối sống hy sinh, chết đi cho ý riêng và tuân phục ý Chúa, Đấng đã hy sinh để nhắc nhở chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta dường bao. Phần chúng ta, hãy bước theo dấu chân của các Thánh Tử Đạo, cha ông mà làm chứng cho thế giới nhận ra tình yêu của Thiên Chúa đang chảy trong máu thịt của mình.

Và, sau cùng, chúng ta cùng nguyện xin:

Lạy Chúa Giêsu,

Dầu đang sống giữa một thế giới đầy bất ổn,

với nhiều biến động và đổi thay như thế giới hôm nay.

Xin cho chúng con luôn noi gương cha ông của chúng con, các Thánh Tử Đạo Việt Nam,

sống trung thành, can đảm, kiên vững trong niềm tin, và

cho chúng con miệng lưỡi khôn ngoan, con tim an định,

nhất là luôn được sức mạnh của Thánh Thần,

để dù trong bất cứ hoàn cảnh nào,

vẫn luôn làm chứng cho Chúa bằng đời sống yêu thương và trung tín. Amen.


Wednesday, 5 November 2025

THÂN XÁC TA LÀ NƠI CHÚA NGỰ!

 Click for audio THÂN XÁC TA LÀ NƠI CHÚA NGỰ

Sau khi Chúa Giê-su lên trời, Giáo hội tiên khởi trải qua một thời kỳ thật nghiệt ngã và khó khăn. Giáo Hội bị cấm cách, bị bách hại. Mọi sinh hoạt của Giáo Hội sơ khai buộc và lén lút cử hành tại các nhà riêng, trong các hang toại đạo, trong các hầm mộ hay trên các ngôi mộ của các Thánh Tử Đạo. Cho đến khi Hoàng đế Constantinô cho phép các tín hữu tự do sống đạo. Và để đáp ứng nhu cầu và sự phát triển của Hội Thánh, Hoàng đế đã nhượng cho Giáo hội một khu đất để xây nhà thờ. Và vào năm 324 thánh Giáo hoàng Silvestro cử hành lễ cung hiến đền thờ mang tước hiệu kính Chúa Cứu thế. Đó là Thánh Đường Lateranô, đầu tiên của Giáo Hội Công Giáo, mà chúng ta mừng lễ cung hiến hôm nay.

Trong khi mừng lễ cung hiến đền thờ hôm nay, chúng ta không chỉ tưởng nhớ đến một Thánh Đường uy nghi, cổ kính, đồ sộ và tọa lạc ở một nơi rất xa, xa đến độ nhiều tín hữu chưa có cơ hội đặt chân đến. Nhưng, đây là nhà thờ chính tòa của Đức Giám Mục Rô-ma, nghĩa là thuộc quyền coi sóc của Đức Giáo Hoàng cho nên Đền thờ Lateranô này còn được gọi là nhà thờ me của tất cả các đền thờ ở Rôma và trên toàn thế giới.

Vì thế, việc mừng lễ hôm nay nói lên sự hiệp nhất và thánh thiện của toàn thể Hội Thánh, được xây trên nền tảng vững chắc là Đức Ki-tô, và hiệp nhất dưới quyền kế vị Thánh Phêrô là Đức Giáo Hoàng đương thời, Leo XIV.

Vì tầm quan trọng của ngôi Thánh Đường này với sinh hoạt của Hội Thánh cho nên chúng ta hãy dành vài phút để cho Lời Chúa của Chúa Nhật tuần này giải thích cho việc chúng ta cử hành hôm nay.

Các bài đọc hôm nay mời gọi chúng ta có cái nhìn vượt lên trên những công trình vật chất – dù có quan trọng hay tráng lệ đến đâu – để suy niệm về ơn gọi của chúng ta được trở thành đền thờ thánh thiện của Thiên Chúa.

Trong bài đọc I, ngôn sứ Êdêkien nhìn thấy nước chảy ra từ đền thờ và dòng nước ấy tuôn chảy và làm cho muôn vật được sống. Hình ảnh đó mang một ý nghĩa thật thâm sâu. Nó nói cho chúng ta nhận biết và tin rằng Đền Thờ là nguồn mạch sự sống.

Trong bài đọc thứ hai, thánh Phaolô còn đi xa hơn nữa. Ngài nói rằng chính chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa. Để trở nên đền thờ của Người, chúng ta phải đứng vững trên nền tảng duy nhất, đó là Đức Giêsu Kitô.

Vì thế, khi chúng ta góp phần xây dựng Hội Thánh bằng cách chia sẻ đức tin và dẫn người khác đến với Thiên Chúa, chúng ta phải bảo đảm rằng chúng ta đang đưa họ đến và vào đền thờ được xây trên nền tảng là Đức Kitô, chứ không phải trên “công trình” do ta tự dựng nên.

Thánh Phaolô còn thẳng thắn nói rằng nhà thờ này, cũng như mọi nơi thờ phượng, là thánh thiêng vì có Đức Chúa Thánh Thần lưu ngự tại đó. Bởi thế, nếu ai phá hủy đền thờ của Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ hủy diệt người ấy.

Tiếp tục lối suy nghĩ ấy. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu đánh đuổi quân mua bán, đổi tiền, lật đổ bàn ghế của những kẻ bán bồ câu ra khỏi Đền thờ Giê-ru-sa-lem.

Việc Đức Giê-su làm ngày hôm nay không chỉ đơn giản là việc xua đuổi mấy con buôn; nhưng Người muốn thay đổi một quan điểm, lật nhào một hệ thống tôn giáo đã mất gốc và đem đến một luồng gió mới, phục hồi lại bản chất đích thực của việc thờ phượng, tái tạo một lối sống đạo, trong đó Thiên Chúa là gốc và cùng đích của mọi sinh hoạt. Người phán “các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại”. Người nói như thế để ám chỉ đến Đền Thờ mới là Thân Thể Người.

Đền thờ tuy cần thiết cho tôn giáo, nhưng nếu đền thờ không còn mang ý nghĩa là tụ điểm yêu thương, không còn là nơi để con người thờ phượng Chúa và chia sẻ tình huynh đệ, không còn dòng suối ban sự sống thì cho dù đền thờ có nguy nga, tráng lệ và bền vững đến đâu cũng chẳng còn ích lợi gì cho lối sống đạo của chúng ta nữa.

Ngoài ra, nếu chúng ta quá lệ thuộc vào các hình thức tế tự mà quên đi tình yêu, lòng thương xót và ơn cứu độ của Thiên Chúa trong Đức Giê-su, thì lối sống đạo hình thức đó còn đem lại giá trị và hậu quả gì nữa đây! Vì thế, theo tinh thần của Đức Giê-su thì tôn giáo hay đạo không chủ yếu lệ thuộc vào các việc tế tự tập trung trong tay của giai cấp lãnh đạo đền thờ mà thôi.

Theo tinh thần của Chúa thì đạo chính là con đuờng, là lối sống đuợc xây dựng trên các mối tương quan giữa những kẻ tin với nhau. Hy lễ tuy cần thiết, nhưng nếu các điều đó không được phát sinh bởi tình yêu, lòng thương xót và ơn cứu độ thì các nghi thức tế lễ cũng chỉ có tính chất trình diễn, nặng về mặt hình thức và chúng ta vẫn bị luẩn quẩn trong các nghi thức chết và không có sức sống.

Thật vậy, lối sống của Chúa là lối sống mở ra để đón nhận mọi người. Người yêu thương đón nhận mọi người, không phân biệt một ai, nam hay nữ, giầu hay nghèo, da trắng hay da mầu.

Như vậy, trong các sinh hoạt của Hội Thánh, Thân thể của Đức Ki-tô và cũng là đền thờ đích thật của Thiên Chúa, nơi không có sự loại trừ, chỉ có yêu thương và tha thứ. Tại nơi đó, con người không còn bị giới hạn hay bị trói buộc bởi hệ thống giáo điều, cơ cấu khi đến với nhau. Hãy buông bỏ thể chế, buông bỏ guồng máy điều khiển làm cho con người xa cách nhau.

Thay vào đó, chúng ta hãy nhìn sâu vào trong tâm khảm và cõi lòng của nhau để nhận ra rằng chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa. Chúng ta là anh chị em. Chúng ta là đền thờ nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa, và tại nơi đây, ngay trong giây phút này, chúng ta sống vì Chúa và vì nhau.

Hãy học lối sống chia sẻ và ban phát của Đức Giê-su. Người đã sống cho và sống với người khác; đặc biệt là những ai bị bỏ rơi, những ai bị liệt vào hạng tội lỗi. Tất cả đều được mời gọi đồng bàn với Người; và khi đồng bàn với nhau để cử hành bữa tiệc Thánh Thể của Chúa Ki-tô là lúc Người ban cho chúng ta sức mạnh đổi mới, mời gọi chúng ta chia sẻ con đường và lối sống của Người. Và một khi, chúng ta học được lối sống của Người là lúc chúng ta hãnh diện làm chứng rằng chính thật chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa vậy.

Và trong khi cử hành Lễ cung hiến Thánh Đường Laterano ở Rôma, Mẹ Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa không chỉ ngự trong nhà thờ mà Người muốn ở lại trong thân xác ta nữa. Và được soi chiếu bởi Lời Chúa, chúng ta hãy cung kính và dâng hiến thân thể của Đức Ki-tô trong chính thân xác của mỗi người, bởi vì tại nơi đó Chúa đã ngự trị.

Sau cùng, xin Đức Kitô, Đền Thờ thật của Thiên Chúa, luôn ngự trong lòng chúng ta, tuôn chảy dòng nước sự sống và niềm vui cho toàn thế giới. Và mỗi lần đến nhà thờ, chúng ta được mời gọi trở nên nhà tạm sống động của Chúa giữa lòng đời. Amen!


Thursday, 30 October 2025

SỰ CHẾT MỞ RA SỰ SỐNG VĨNH CỬU

Click for audio SỰ CHẾT MỞ RA SỰ SỐNG 


Cuộc sống là một món quà từ Thiên Chúa và không có gì Thiên Chúa tạo thành hay ban tặng mà bị lãng phí. Vì thế, con người cần tương tác, nối kết, hiệp thông và cầu nguyện cho nhau, và lời cầu nguyện, sự hiệp thông giữa các tín hữu không dừng lại ở sự chết.

Khi tưởng nhớ và cầu nguyện cho nhau là lúc chúng ta dâng lên Chúa những tâm tình tạ ơn vì lượng ân sủng mà Người đã ban cho chúng ta, khi còn sống, cũng như sau khi đã qua đời. Đồng thời, việc cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời còn là cơ hội để chúng ta nhìn lại hành trình sống đạo của chính mình mà chuẩn bị lối sống chờ ngày Đức Kitô đến đón về nhà Cha.

Chính vì thế, tôi nghĩ rằng việc xin lễ cầu nguyện cho các người đã chết là lúc chúng ta cầu nguyện cho chính chúng ta được sống sao cho xứng đáng với những hồng ân đã được ban tặng, và cầu xin Chúa giúp chúng ta được trung tín như họ đã tín trung. Việc trung tín là hồng ân của Thiên Chúa, còn bổn phận của chúng ta là đáp trả để lượng từ bi và lòng thương xót của Thiên Chúa có cơ hội phát triển làm cho những hồng ân đó được sung mãn hơn.

Thật vậy, chúng ta được sinh ra để trở thành những vị Thánh. Chúng ta được kêu gọi nên Thánh. Tuy nhiên, con đường nên Thánh không phải là việc làm trong một ngày hay một khoảng thời gian nào đó, nhựng đôi khi chúng ta phải mất cả một đới mới có thể đạt được mục đích này.

Khi còn sống, chúng ta phải va chạm, đối diện với các thử thách, đòi hỏi sự cố gắng để vượt qua các khó khăn…. Tất cả có thể làm cho chúng ta bị tổn thương. Và như thế thì sau khi hoàn tất cuộc hành trình vất vả, gian nan, chúng ta cần được tắm rửa để gội sạch những bụi bặm, cần được thanh luyện để nên hoàn hảo xứng đáng với tiêu chuẩn của Chúa hơn.

Việc thanh luyện này diễn tả tình trạng sống của con người - khi còn sống cũng như sau khi chết – hơn là ám chỉ đến nơi chốn như cụm từ ‘luyện ngục’ mà chúng ta thường được nghe. Vì chúng ta tin rằng sự chết dẫn con người bước vào hành trình mới, rộng lớn và bao la hơn hành trình trên dương thế. Qua sự chết, con người chuyển sang vũ trụ khác, ở nơi đó không còn đau khổ, không còn hận thù ...; nhưng chỉ có bình an, hoan lạc và niềm vui, tất cả đều ở trong tình trạng vĩnh cửu; và cũng chính lúc đó con người được thu hút vào vũ trụ tràn đầy tình thương của Thiên Chúa, như Thánh Phao-lô từng nói: “Bây giờ (khi còn sống) chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau (qua sự chết) sẽ được giáp mặt. Bây giờ tôi chỉ biết có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi. Hiện nay đức tin, đức cậy và đức mến cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến. (1 Cor. 13:12-13)

Lòng mến, tình yêu thương là nền tảng của mọi mối tương quan giữa Chúa với ta, giữa chúng ta với nhau. Và trong thân phận làm con Thiên Chúa, chúng ta tiếp tục xây dựng tương quan tình yêu đó với nhau khi còn sống cũng như sau khi đã qua đời. Và nhờ vào sức mạnh của tình yêu này, chúng ta xác tín rằng cho dù thân nhân của chúng ta đã lìa cõi thế về mặt thể lý; nhưng sự hiện diện của họ tồn tại vĩnh viễn trong lòng yêu thương và sự tưởng nhớ của chúng ta.

Thưa anh chị em,

Như anh chị em đều biết trong sách Sáng Thế, tác giả đã nói mọi sự Thiên Chúa tạo dựng đều tốt, nhưng chưa hoàn hảo. Tất cả những lỗi lầm và sự bất toàn mà chúng ta mang theo cần được hoàn thiện bởi Con Thiên Chúa. Chúng ta cần được thanh tẩy và xứng đáng đứng trước mặt Chúa. Chúa biến điều tốt thành hoàn hảo.

Tất cả những điều nói ở trên có thể đã được giảng giải trong các đám tang của người thân yêu của mình, họ không bao giờ ra đi mà họ vẫn sống với chúng ta. Dù một ngày, một tháng, sáu tháng, một năm, 10 hay thậm chí 50 năm… họ vẫn sống mãi trong tâm trí và trái tim của chúng ta. Họ không bao giờ chết, họ vẫn ở với chúng ta. Bởi vì, họ đã chạm vào chúng ta, hình thành nên chúng ta và thay đổi chúng ta. Và chúng ta cũng thế, chạy đến họ để than thở, cầu xin và kêu cứu…..

Họ không chết. Cái chết không thể chia cắt chúng ta. Mối quan hệ của chúng ta và họ không bị phá vỡ bởi cái chết. Chúng ta nhớ đến họ và họ vẫn nhớ đến chúng ta khi họ đang ở gần Chúa trong cuộc sống vĩnh cửu.

Tuy nhiên, trong thực tế, chúng ta phải nhớ rằng nỗi buồn và sự mất mát là một phần của cuộc hành trình của chúng ta và chúng ở đó để nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện của họ và tình yêu của họ trong cuộc sống của chúng ta. Trong khi thương tiếc, chúng ta tin chắc rằng những người thân yêu của chúng ta đang tận hưởng sự bình an, thoải mái và niềm vui của cuộc sống vĩnh hằng.

Vì vậy, ngày tưởng nhớ các linh hồn là ngày của chúng ta. Ngày mà chúng ta nhớ lại nhiều tâm tư mà họ để lại. Ngày này chạm đến con tim của chúng ta. Ngày để lại sự hụt hẫng và đầy cảm xúc lẫn lộn. Đó là ngày để chúng ta tưởng nhớ, nhưng sự tưởng nhớ của chúng ta được hòa trộn với niềm vui mừng vì ông bà, cha mẹ và những người thân của chúng ta đã đến bến bờ vĩnh cửu. Còn chúng ta nhìn lại cuộc sống của họ để nhớ về sự tồn tại của chính mình. Chúng ta vẫn ruổi theo để mà tiến bước hầu đạt đến điều mà chúng ta ước mong, đó là vinh dự làm Con Chúa của chúng ta.

Trong tháng 11 nói riêng và trong cuộc sống nói chung, chúng ta hãy kết nối lại với những người thân yêu, những người đã về với Chúa. Khi còn sống, họ đã cho chúng ta sự sống, nguồn vui, sức mạnh và những gì tạo nên chúng ta như hôm nay thì giờ đây, trong nhà Cha, họ sẽ tiếp tục trao ban cho chúng ta các điều cả thể như thế

Chúng ta hãy tưởng nhớ đến họ, không chỉ hôm nay mà mãi mãi.

Xin cho các linh hồn được nghỉ yên muôn đời và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn ấy. Amen!


Wednesday, 22 October 2025

TẠ ƠN CHÚA VÌ CON LÀ KẺ TỘI LỖI.

 Click for audio TẠ ƠN CHÚA VÌ CON LÀ KẺ TỘI LỖI

Noi gương bà góa trong bài Tin Mừng tuần trước, chúng ta hãy cầu nguyện liên tục, không được ngừng. Tuần này, bài Tin Mừng mô tả việc hai người Pha-ri-sêu và thu thuế lên đền thờ cầu nguyện. Qua đó, Đức Giê-su không chỉ dậy bảo chúng ta có tinh thần khiêm tốn khi cầu nguyện, mà còn mời gọi chúng ta hãy xem xét lại thái độ và lối sống của mình trước mặt Chúa nữa.

Người Pha-ri-sêu được mô tả thật sống động. Ông đứng thẳng người bộc lộ dáng vẻ tự tin, thì thầm với Thiên Chúa. Chúng ta phải thú nhận rằng những việc ông làm, nào là không trộm cắp, không có hành vi bất chính, không ngoại tình, còn tuân thủ việc đóng thuế thập phân cho đền thờ nữa là những việc tốt và rất đáng khích lệ và ông ta đã hành động theo đúng luật Chúa. Ông ta làm được nhiều việc hơn chúng ta. Thật cảm phục cho các tín hữu dám công khai nói như người Pha-ri-sêu hôm nay.

Ông đã tạ ơn Chúa; nhưng cách ông tạ ơn dường như để khoe khoang chứ không phải để tôn thờ Thiên Chúa. Sau đó, đã sai ông lại tiếp tục sai khi vịn vào thành tích rồi hợm mình để chê bai người khác. Ông làm như đã trở thành con người hoàn hảo bởi các việc ông làm.

Chúng ta tưởng rằng chỉ mấy ông Pha-ri-sêu thời Đức Giê-su mới hành xử như thế. Thật ra trong mọi thời đại và dù bất kỳ sống trong môi trường nào thì lối sống như ộng Pha-ri-sêu vẫn còn hiện diện và được khuyến khích trong các cơ cấu, ngay cả các tổ chức công giáo. Họ là những người tự cho mình là đạo đức, dựa vào công nghiệp và những đóng góp rồi coi kẻ khác không ra gì.

Thật ra, ai trong chúng ta cũng đều biết rằng chúng ta có làm được các việc như thế cũng là hống ân của Chúa ban cho. Tất cả đều là hồng ân, là quà tặng của Chúa trao ban để chúng ta chia sẻ cho người khác. Đó là bổn phận, nếu không hành động thì chúng ta là người có lỗi, lấy gì mà vinh vang.

Nếu ai trong chúng ta có muốn so sánh thì hãy lấy tiêu chuẩn của Tin Mừng ra mà so sánh. Tất cả chúng ta, dù là ai hay dù đang nắm giữ tác vụ nào của Hội Thánh, tất cả đều là tội nhân, là những con người khuyết hẳn vinh quang và sự Thánh Thiện của Chúa nơi mình.

Vì thế, hãy học vẻ đẹp của người thu thuế. Ông biết các công việc của ông, như cộng tác với chính quyền, thu thuế và làm giàu trên xương máu của nhân dân khiến cho ông tuy giầu có nhưng lại bị dân chúng ghét bỏ. Ông nhận ra một sự thật là cho dù liêm khiết và thành thật đến đâu thì ông cũng là người có tội với dân tộc và với dân chúng. Chính vì thế, ông chẳng có gì để hãnh diện hay trình bầy thành tích trước mặt Chúa. Ông đứng tự đàng xa, không dám ngước mắt nhìn ai, nhìn vào cõi lòng, hẳn nhiên khi nhìn vào cõi lòng ông thấy sự uy nghiêm và thánh thiện của Chúa, nên ông đấm ngực mà thân thưa cùng Chúa rằng: “Lậy Thiên Chúa, xin thương xót, con là kẻ tội lỗi.”

Giống như anh con thứ trong dụ ngôn Tình Phụ Tử, người cha đã không cho phép anh kể hết các tội của mình, không cho phép anh đánh mất mối tương quan khi anh dự định nói rằng mình không xứng đáng là con của ông. Ông đã cắt đứt việc anh con thứ kể lể về tội của anh thế nào thì ở đây cũng thế. Chúng ta không thấy người thu thuế liệt kê các tội của anh. Với thái độ nhìn rõ sự thật và vị trí trong thân phận của một kẻ có tội, anh đã được Thiên Chúa thương và làm cho anh trở nên công chính. Nói khác đi, anh ra về và được khỏi tội.

Thưa anh chị em,

Nơi câu đầu của dụ ngôn, Thánh Lu-ca đã nói mục đich của dụ ngôn này là bài học mà Đức Giê-su muốn trao ban cho một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê kẻ khác. Chúng ta có nằm trong đối tượng mà Đức Giê-su dậy bảo hôm nay hay không?

Tôi thấy cách hành xử của hai người: Pha-ri-sêu và thu thuế, đều được lập lại trong cuộc sống hằng ngày của tôi. Sống trong một môi trường coi trọng thành tích, chúng ta nói cho nhau nghe các thành tựu, liệt kê một mớ bảng tạ ơn hay trọng thưởng. Chúng ta muốn nói cho người khác biết là chúng ta đang làm rất tốt; rồi từ đó chúng ta cũng nghĩ rằng Chúa đang mong đợi các điều tương tự từ nơi chúng ta, Chúa sẽ có ấn tượng tốt qua các thành công của chúng ta. Bị ảnh hưởng bới các yếu tố đó nên ông Pha-ri-sêu của mọi thời đại đã làm giống như người Pha-ri-sêu trong bài Tin Mừng. Cho dù ông mở đầu bằng lời tạ ơn, nhưng tâm tình tạ ơn của ông đâu chẳng thấy mà chỉ thấy ông khoe thành tích, kể lể công nghiệp hàm ý rằng những gì mà ông đang thụ hưởng là một sự đáp trả mà Chúa phải ban qua các việc ông đã làm. Ông không còn nhận ra những gì mà ông có được là hồng ân từ Chúa thì làm sao ông có thể tạ ơn được. 

 Chúng ta không cần tạo một ấn tượng tốt nơi Thiên Chúa. Chúa biết rõ chúng ta là ai, và Người còn biết tận tường chúng ta muốn gì. Vì thế, việc nhận ra vị trí và thân phận của chính mình là điều tiên quyết mà chúng ta cần có khi đến với Ngài. Thiên Chúa làm gì còn chỗ đứng nơi những kẻ chỉ biết đến mình, coi mình là trung tâm. Trong khi đó, có một sự thật mà chúng ta hay quên đó là thân phận tội lỗi của mình. Và chính vì thế nên chúng ta luôn cần đến Chúa.

Muốn được như thế, chúng ta cùng nghĩ rằng:

·       Bản thân và tất cả những gì chúng ta có được đều thuộc về Thiên Chúa. Đừng nghĩ rằng mình xứng đáng và chiếm hữu nó; trái lại hãy xử dụng mà chia sẻ cho nhau. Như vậy, những gì mà chúng ta có thể làm được cũng là hồng ân của Chúa; chúng ta đâu còn có gì để báo cáo thành tích mà vinh vang.

·       Tất cả mọi người, dù già hay trẻ, cao hay thấp, sang hay hèn, cao trọng hay thứ dân, đều được mời gọi để trở nên công chính và thánh thiện. Mức độ thánh thiện không tùy thuộc vào công trạng của con người nhưng tùy thuộc vào mối tương quan giữa Chúa và ta. Khởi điểm của việc thiết lập mối tương quan đó là nhận ra thân phận tội lỗi của mình mà bám víu vào lòng Thương xót của Thiên Chúa. Không vịn vào công trạng mà dựa vào quyền năng của Thiên Chúa bằng một tâm tình phó thác trọn vẹn vì biết rằng Thiên Chúa luôn yêu thương mình.

Đó chính là khởi điểm của cuộc sống mới.  Cuộc sống không bị mặc cảm tội lỗi dầy vò; nhưng qua đó chúng ta nhận ra Tình Yêu của Chúa cao cả dường bao. Vì Ngài là tình yêu, và Tình yêu chính là bản chất và sức sống của Thiên Chúa. Amen!

 

 

 

 

 

 

Wednesday, 15 October 2025

GƯƠNG SÁNG CỦA BÀ GÓA


Click for audio GƯƠNG SÁNG CỦA BÀ GÓA
 

Trọng tâm của bài Tin Mừng hôm nay là cầu nguyện, đó là lẽ sống của người môn đệ. Cầu nguyện không chỉ là đọc kinh, mà là kết hợp tâm hồn với Thiên Chúa, gắn bó và đặt trọn vẹn lòng tin nơi Người.  Vì thế, trong câu mở đầu của bài Tin Mừng, Chúa dậy chúng ta phải siêng năng cầu nguyện. Cầu nguyện với lòng tha thiết và liên tục, không được nản chí. Sau đó, Người đã minh họa lời giảng dậy bằng dụ ngôn ông quan tòa bất lương gặp bà góa quấy rầy.

Trước tiên là việc xuất hiện của ông quan tòa. Các chi tiết mô tả về tính nết của ông quan tòa như: bất lương, không sợ trời, chẳng nể đất và cũng chẳng sợ ai được nhấn mạnh nhằm chuẩn bị cho chúng ta nhìn thấy trước khó khăn mà bà góa sẽ phải đối diện.

Sau đó, một bà góa như tất cả mọi bà góa trong xã hội Do Thái được trình làng. Hoàn cảnh của các bà góa thời Đức Giê-su không được bảo vệ và không có nhiều quyền lợi như các bà góa trong xã hội hiện đại. Họ là những người cô thân cô thế, bị thiệt thòi mọi sự, không ai binh vực. Nhưng lòng kiên tâm của bà được đề cao. Đó là điểm chính yếu của dụ ngôn. Bà cứ kiên trì kêu cầu mãi. Hết ngày này đến hôm khác, bà cứ chờ chực ở cửa quan để đòi công đạo, đòi được minh xét vì bà nghĩ rằng phần lỗi về đối phương, họ đã làm hại đến bà.  

Cuối cùng, vị quan tòa vô tâm và chẳng hề biết sợ ai của chúng ta cũng phải đứng ra xét xử bịnh vực quyền lợi cho bà. Thật lý thú khi chúng ta nghe được lối suy nghỉ của ông khi xét xử, ông ta chẳng vì công lý hay bị lương tâm thúc đẩy mà binh vực cho quyền lợi của bà mà chỉ vì sợ bị bà quấy rầy khiến cho ông bị nhức đầu long óc mà xử cho xong.

Sau khi kể xong câu chuyện, Đức Giê-su mới kết luận: “Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao?” Như vậy, câu đầu tiên và câu cuối cùng của bài Tin Mừng cho chúng ta thấy ý tưởng chính là cần phải cầu nguyện luôn, đừng nản chí.

Vẫn biết là như thế; nhưng sự hiểu biết của chúng ta về cầu nguyện có đem lại lợi ích gì hay không? Có nhiều người nói về cầu nguyện rất hay, rất thu hút và làm vừa lòng mọi người mà không thực tâm cầu nguyện thì cho dù bài nói có sâu sắc đến đâu cũng không có sức mạnh để truyền lửa cho người nghe.

Hãy nhìn xem gương của các Tông Đồ. Sau khi chứng kiến giây phút cầu nguyện vô cùng sốt sắng và thân mật giữa Đức Giê-su và Cha Người, cho nên các ông đã xin Chúa dậy cho ho phương thức cầu nguyện; và Đức Giê-su thay vì dậy cho các ông cách thức cầu nguyện thì Người đã chia sẻ ngay những tâm tình mà Người vừa tâm sự với Cha của Người cho các Tông đồ; từ đó chúng ta có Kinh Lậy Cha.

Vì thế, cầu nguyện là việc phải làm, không chỉ một lần mà làm liên tục. Trong niềm tin và phó thác chúng ta dâng lên Chúa tất cả, không phải cứ mỗi lần chạy đến với và bên Chúa lại là xin ơn.

Ý tưởng nêu trên được minh họa qua truyện kể sau.

Có một gia đình kia không giống như các gia đình khác. Ông chồng của căn nhà này là người cầm lõi, tay hòm chìa khóa thay vì nằm trong tay bà vợ như mọi gia đình khác thì lại nằm trong tay ông. Được một điều là ông rất đại lượng, không chi ly và ít khi chất vấn vợ con về việc chi tiêu.

Thế mà, đã có một lần ông cảm thấy nhức đầu long óc khi những người con của ông, hết cô này đến chú kia, lần lượt đến xin ông điều này, đứa khác lại xin ông cho tiền mua điều nọ. Đứa nào cũng cần. Cái gì các cháu đưa ra cũng đều đúng… Thế mới làm ông khổ. Từ trong nỗi khổ đó ông mới nghiệm ra một điều là con cái của ông dù lớn về phần xác, nhưng chưa một cháu nào trưởng thành và biết suy tính cho cuộc sống của chúng cả. Lúc nào hết xin lại đến cầu, cứ như vậy thì làm thế nào!

Từ hoàn cảnh thực tế mà nhiều gia đình vướng phải anh chị em thử hình dung ra cảnh Chúa phải nghe chúng ta, bao nhiêu tỷ người, lải nhải. Hơn nữa nhiều lúc chúng ta xin điều mà chúng ta không biết mình xin gì nữa.

            Vẫn biết khi đau thì xin khỏi bịnh… Nhưng, tại sao không xin phó thác và can đảm để đối diện với căn bịnh. Đó là chưa kể đến việc nếu bịnh nào Chúa cũng chữa khỏi thì cần gì mấy ông bác sĩ và cũng chẳng cần ngân sách để xây thêm nhà thương và các viện nghiên cứu nữa.

            Rồi trong cảnh nghèo, túng thiếu thì xin no đủ… Nhưng, tại sao không xin chấp nhận và cầu nguyện cho mấy ông nhà giầu biết noi gương Chúa mà sống đại lượng.

Làm thế nào để lời cầu xin của chúng ta được Chúa ban trong khi chúng ta lại sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến nhu cầu, dù thiết yếu, nhưng vẫn là xin cho mình.

Nói chung, dù xin ơn là điều chính đáng và cần thiết. Nhưng chúng ta dễ rơi vào vị trí của những người chỉ biết ỷ lại, chờ đợi sự bố thì của kẻ khác; chưa kể đến các ơn mà chúng ta xin dường như chỉ vì nhu cầu của bản thân…. Tại sao không xin ý Chúa….

Chúa dậy chúng ta phải lo và quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Lo bằng tâm (có nghĩa là cầu nguyện), quan tâm bằng hành động (viêc làm).

Để kết thúc, xin anh chị em cùng nghe phần chia sẻ của một tác giả vô danh như sau:

·       Tôi đã xin Chúa cất đi tính kiêu căng và Chúa trả lời: “Không”. Người nói rằng không phải Người sẽ cất đi tính xấu đó, mà chính tôi mới là người cố gắng chiến đấu để vượt thắng nó.

·       Tôi đã xin Chúa ban cho tôi lòng kiên nhẫn và Chúa đã trả lời: “Không”. Người nói rằng kiên nhẫn là hoa trái của thử thách. Người không ban cho tôi trái ấy mà để tôi tự tìm lấy.

·       Tôi đã xin Chúa ban cho tôi được hạnh phúc và Chúa đã trả lời: “Không”. Người nói rằng Người ban ân phúc cho tôi, còn hạnh phúc hay không là tùy vào cách thức tôi đón nhận và hành động.

·       Tôi đã xin Chúa gia tăng tinh thần cho tôi và Chúa đã trả lời: “Không”. Người nói rằng tôi phải học để trưởng thành và lớn lên, nhưng Người sẽ mài dũa và cắt tỉa để tôi sinh thêm nhiều hoa trái.

·       Tôi đã xin Chúa đừng để tôi đau khổ và Người đã trả lời: “Không”. Người nói rằng đau khổ là một phần của đời sống và giúp tôi đến gần Người.

·       Tôi đã hỏi: “Liệu Người có yêu tôi không” và Người đã trả lời: “Có”. Người nói rằng Tình Yêu là bản chất và lẽ sống của Người. Chính Đức Giê-su, người Con mà Người yêu nhất đã chết để bộc lộ Tình Yêu đó cho tôi.

·       Sau cùng, tôi đã xin Chúa giúp tôi yêu mến tha nhân như Người yêu thương tôi và Chúa nói: “Cuối cùng con đã xin đúng điều Chúa mong đợi”.

Hy vọng, tâm sự nguyện xin nói trên cũng là tâm tư của chúng ta.

Nguyện xin Chúa giúp chúng ta tín thác vào Chúa trong việc cầu nguyện để khi Người đến vẫn còn thấy lòng tin trên trái đất này. Amen.