Thursday, 30 October 2025

SỰ CHẾT MỞ RA SỰ SỐNG VĨNH CỬU

Click for audio SỰ CHẾT MỞ RA SỰ SỐNG 


Cuộc sống là một món quà từ Thiên Chúa và không có gì Thiên Chúa tạo thành hay ban tặng mà bị lãng phí. Vì thế, con người cần tương tác, nối kết, hiệp thông và cầu nguyện cho nhau, và lời cầu nguyện, sự hiệp thông giữa các tín hữu không dừng lại ở sự chết.

Khi tưởng nhớ và cầu nguyện cho nhau là lúc chúng ta dâng lên Chúa những tâm tình tạ ơn vì lượng ân sủng mà Người đã ban cho chúng ta, khi còn sống, cũng như sau khi đã qua đời. Đồng thời, việc cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời còn là cơ hội để chúng ta nhìn lại hành trình sống đạo của chính mình mà chuẩn bị lối sống chờ ngày Đức Kitô đến đón về nhà Cha.

Chính vì thế, tôi nghĩ rằng việc xin lễ cầu nguyện cho các người đã chết là lúc chúng ta cầu nguyện cho chính chúng ta được sống sao cho xứng đáng với những hồng ân đã được ban tặng, và cầu xin Chúa giúp chúng ta được trung tín như họ đã tín trung. Việc trung tín là hồng ân của Thiên Chúa, còn bổn phận của chúng ta là đáp trả để lượng từ bi và lòng thương xót của Thiên Chúa có cơ hội phát triển làm cho những hồng ân đó được sung mãn hơn.

Thật vậy, chúng ta được sinh ra để trở thành những vị Thánh. Chúng ta được kêu gọi nên Thánh. Tuy nhiên, con đường nên Thánh không phải là việc làm trong một ngày hay một khoảng thời gian nào đó, nhựng đôi khi chúng ta phải mất cả một đới mới có thể đạt được mục đích này.

Khi còn sống, chúng ta phải va chạm, đối diện với các thử thách, đòi hỏi sự cố gắng để vượt qua các khó khăn…. Tất cả có thể làm cho chúng ta bị tổn thương. Và như thế thì sau khi hoàn tất cuộc hành trình vất vả, gian nan, chúng ta cần được tắm rửa để gội sạch những bụi bặm, cần được thanh luyện để nên hoàn hảo xứng đáng với tiêu chuẩn của Chúa hơn.

Việc thanh luyện này diễn tả tình trạng sống của con người - khi còn sống cũng như sau khi chết – hơn là ám chỉ đến nơi chốn như cụm từ ‘luyện ngục’ mà chúng ta thường được nghe. Vì chúng ta tin rằng sự chết dẫn con người bước vào hành trình mới, rộng lớn và bao la hơn hành trình trên dương thế. Qua sự chết, con người chuyển sang vũ trụ khác, ở nơi đó không còn đau khổ, không còn hận thù ...; nhưng chỉ có bình an, hoan lạc và niềm vui, tất cả đều ở trong tình trạng vĩnh cửu; và cũng chính lúc đó con người được thu hút vào vũ trụ tràn đầy tình thương của Thiên Chúa, như Thánh Phao-lô từng nói: “Bây giờ (khi còn sống) chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau (qua sự chết) sẽ được giáp mặt. Bây giờ tôi chỉ biết có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi. Hiện nay đức tin, đức cậy và đức mến cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến. (1 Cor. 13:12-13)

Lòng mến, tình yêu thương là nền tảng của mọi mối tương quan giữa Chúa với ta, giữa chúng ta với nhau. Và trong thân phận làm con Thiên Chúa, chúng ta tiếp tục xây dựng tương quan tình yêu đó với nhau khi còn sống cũng như sau khi đã qua đời. Và nhờ vào sức mạnh của tình yêu này, chúng ta xác tín rằng cho dù thân nhân của chúng ta đã lìa cõi thế về mặt thể lý; nhưng sự hiện diện của họ tồn tại vĩnh viễn trong lòng yêu thương và sự tưởng nhớ của chúng ta.

Thưa anh chị em,

Như anh chị em đều biết trong sách Sáng Thế, tác giả đã nói mọi sự Thiên Chúa tạo dựng đều tốt, nhưng chưa hoàn hảo. Tất cả những lỗi lầm và sự bất toàn mà chúng ta mang theo cần được hoàn thiện bởi Con Thiên Chúa. Chúng ta cần được thanh tẩy và xứng đáng đứng trước mặt Chúa. Chúa biến điều tốt thành hoàn hảo.

Tất cả những điều nói ở trên có thể đã được giảng giải trong các đám tang của người thân yêu của mình, họ không bao giờ ra đi mà họ vẫn sống với chúng ta. Dù một ngày, một tháng, sáu tháng, một năm, 10 hay thậm chí 50 năm… họ vẫn sống mãi trong tâm trí và trái tim của chúng ta. Họ không bao giờ chết, họ vẫn ở với chúng ta. Bởi vì, họ đã chạm vào chúng ta, hình thành nên chúng ta và thay đổi chúng ta. Và chúng ta cũng thế, chạy đến họ để than thở, cầu xin và kêu cứu…..

Họ không chết. Cái chết không thể chia cắt chúng ta. Mối quan hệ của chúng ta và họ không bị phá vỡ bởi cái chết. Chúng ta nhớ đến họ và họ vẫn nhớ đến chúng ta khi họ đang ở gần Chúa trong cuộc sống vĩnh cửu.

Tuy nhiên, trong thực tế, chúng ta phải nhớ rằng nỗi buồn và sự mất mát là một phần của cuộc hành trình của chúng ta và chúng ở đó để nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện của họ và tình yêu của họ trong cuộc sống của chúng ta. Trong khi thương tiếc, chúng ta tin chắc rằng những người thân yêu của chúng ta đang tận hưởng sự bình an, thoải mái và niềm vui của cuộc sống vĩnh hằng.

Vì vậy, ngày tưởng nhớ các linh hồn là ngày của chúng ta. Ngày mà chúng ta nhớ lại nhiều tâm tư mà họ để lại. Ngày này chạm đến con tim của chúng ta. Ngày để lại sự hụt hẫng và đầy cảm xúc lẫn lộn. Đó là ngày để chúng ta tưởng nhớ, nhưng sự tưởng nhớ của chúng ta được hòa trộn với niềm vui mừng vì ông bà, cha mẹ và những người thân của chúng ta đã đến bến bờ vĩnh cửu. Còn chúng ta nhìn lại cuộc sống của họ để nhớ về sự tồn tại của chính mình. Chúng ta vẫn ruổi theo để mà tiến bước hầu đạt đến điều mà chúng ta ước mong, đó là vinh dự làm Con Chúa của chúng ta.

Trong tháng 11 nói riêng và trong cuộc sống nói chung, chúng ta hãy kết nối lại với những người thân yêu, những người đã về với Chúa. Khi còn sống, họ đã cho chúng ta sự sống, nguồn vui, sức mạnh và những gì tạo nên chúng ta như hôm nay thì giờ đây, trong nhà Cha, họ sẽ tiếp tục trao ban cho chúng ta các điều cả thể như thế

Chúng ta hãy tưởng nhớ đến họ, không chỉ hôm nay mà mãi mãi.

Xin cho các linh hồn được nghỉ yên muôn đời và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn ấy. Amen!


Wednesday, 22 October 2025

TẠ ƠN CHÚA VÌ CON LÀ KẺ TỘI LỖI.

 Click for audio TẠ ƠN CHÚA VÌ CON LÀ KẺ TỘI LỖI

Noi gương bà góa trong bài Tin Mừng tuần trước, chúng ta hãy cầu nguyện liên tục, không được ngừng. Tuần này, bài Tin Mừng mô tả việc hai người Pha-ri-sêu và thu thuế lên đền thờ cầu nguyện. Qua đó, Đức Giê-su không chỉ dậy bảo chúng ta có tinh thần khiêm tốn khi cầu nguyện, mà còn mời gọi chúng ta hãy xem xét lại thái độ và lối sống của mình trước mặt Chúa nữa.

Người Pha-ri-sêu được mô tả thật sống động. Ông đứng thẳng người bộc lộ dáng vẻ tự tin, thì thầm với Thiên Chúa. Chúng ta phải thú nhận rằng những việc ông làm, nào là không trộm cắp, không có hành vi bất chính, không ngoại tình, còn tuân thủ việc đóng thuế thập phân cho đền thờ nữa là những việc tốt và rất đáng khích lệ và ông ta đã hành động theo đúng luật Chúa. Ông ta làm được nhiều việc hơn chúng ta. Thật cảm phục cho các tín hữu dám công khai nói như người Pha-ri-sêu hôm nay.

Ông đã tạ ơn Chúa; nhưng cách ông tạ ơn dường như để khoe khoang chứ không phải để tôn thờ Thiên Chúa. Sau đó, đã sai ông lại tiếp tục sai khi vịn vào thành tích rồi hợm mình để chê bai người khác. Ông làm như đã trở thành con người hoàn hảo bởi các việc ông làm.

Chúng ta tưởng rằng chỉ mấy ông Pha-ri-sêu thời Đức Giê-su mới hành xử như thế. Thật ra trong mọi thời đại và dù bất kỳ sống trong môi trường nào thì lối sống như ộng Pha-ri-sêu vẫn còn hiện diện và được khuyến khích trong các cơ cấu, ngay cả các tổ chức công giáo. Họ là những người tự cho mình là đạo đức, dựa vào công nghiệp và những đóng góp rồi coi kẻ khác không ra gì.

Thật ra, ai trong chúng ta cũng đều biết rằng chúng ta có làm được các việc như thế cũng là hống ân của Chúa ban cho. Tất cả đều là hồng ân, là quà tặng của Chúa trao ban để chúng ta chia sẻ cho người khác. Đó là bổn phận, nếu không hành động thì chúng ta là người có lỗi, lấy gì mà vinh vang.

Nếu ai trong chúng ta có muốn so sánh thì hãy lấy tiêu chuẩn của Tin Mừng ra mà so sánh. Tất cả chúng ta, dù là ai hay dù đang nắm giữ tác vụ nào của Hội Thánh, tất cả đều là tội nhân, là những con người khuyết hẳn vinh quang và sự Thánh Thiện của Chúa nơi mình.

Vì thế, hãy học vẻ đẹp của người thu thuế. Ông biết các công việc của ông, như cộng tác với chính quyền, thu thuế và làm giàu trên xương máu của nhân dân khiến cho ông tuy giầu có nhưng lại bị dân chúng ghét bỏ. Ông nhận ra một sự thật là cho dù liêm khiết và thành thật đến đâu thì ông cũng là người có tội với dân tộc và với dân chúng. Chính vì thế, ông chẳng có gì để hãnh diện hay trình bầy thành tích trước mặt Chúa. Ông đứng tự đàng xa, không dám ngước mắt nhìn ai, nhìn vào cõi lòng, hẳn nhiên khi nhìn vào cõi lòng ông thấy sự uy nghiêm và thánh thiện của Chúa, nên ông đấm ngực mà thân thưa cùng Chúa rằng: “Lậy Thiên Chúa, xin thương xót, con là kẻ tội lỗi.”

Giống như anh con thứ trong dụ ngôn Tình Phụ Tử, người cha đã không cho phép anh kể hết các tội của mình, không cho phép anh đánh mất mối tương quan khi anh dự định nói rằng mình không xứng đáng là con của ông. Ông đã cắt đứt việc anh con thứ kể lể về tội của anh thế nào thì ở đây cũng thế. Chúng ta không thấy người thu thuế liệt kê các tội của anh. Với thái độ nhìn rõ sự thật và vị trí trong thân phận của một kẻ có tội, anh đã được Thiên Chúa thương và làm cho anh trở nên công chính. Nói khác đi, anh ra về và được khỏi tội.

Thưa anh chị em,

Nơi câu đầu của dụ ngôn, Thánh Lu-ca đã nói mục đich của dụ ngôn này là bài học mà Đức Giê-su muốn trao ban cho một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê kẻ khác. Chúng ta có nằm trong đối tượng mà Đức Giê-su dậy bảo hôm nay hay không?

Tôi thấy cách hành xử của hai người: Pha-ri-sêu và thu thuế, đều được lập lại trong cuộc sống hằng ngày của tôi. Sống trong một môi trường coi trọng thành tích, chúng ta nói cho nhau nghe các thành tựu, liệt kê một mớ bảng tạ ơn hay trọng thưởng. Chúng ta muốn nói cho người khác biết là chúng ta đang làm rất tốt; rồi từ đó chúng ta cũng nghĩ rằng Chúa đang mong đợi các điều tương tự từ nơi chúng ta, Chúa sẽ có ấn tượng tốt qua các thành công của chúng ta. Bị ảnh hưởng bới các yếu tố đó nên ông Pha-ri-sêu của mọi thời đại đã làm giống như người Pha-ri-sêu trong bài Tin Mừng. Cho dù ông mở đầu bằng lời tạ ơn, nhưng tâm tình tạ ơn của ông đâu chẳng thấy mà chỉ thấy ông khoe thành tích, kể lể công nghiệp hàm ý rằng những gì mà ông đang thụ hưởng là một sự đáp trả mà Chúa phải ban qua các việc ông đã làm. Ông không còn nhận ra những gì mà ông có được là hồng ân từ Chúa thì làm sao ông có thể tạ ơn được. 

 Chúng ta không cần tạo một ấn tượng tốt nơi Thiên Chúa. Chúa biết rõ chúng ta là ai, và Người còn biết tận tường chúng ta muốn gì. Vì thế, việc nhận ra vị trí và thân phận của chính mình là điều tiên quyết mà chúng ta cần có khi đến với Ngài. Thiên Chúa làm gì còn chỗ đứng nơi những kẻ chỉ biết đến mình, coi mình là trung tâm. Trong khi đó, có một sự thật mà chúng ta hay quên đó là thân phận tội lỗi của mình. Và chính vì thế nên chúng ta luôn cần đến Chúa.

Muốn được như thế, chúng ta cùng nghĩ rằng:

·       Bản thân và tất cả những gì chúng ta có được đều thuộc về Thiên Chúa. Đừng nghĩ rằng mình xứng đáng và chiếm hữu nó; trái lại hãy xử dụng mà chia sẻ cho nhau. Như vậy, những gì mà chúng ta có thể làm được cũng là hồng ân của Chúa; chúng ta đâu còn có gì để báo cáo thành tích mà vinh vang.

·       Tất cả mọi người, dù già hay trẻ, cao hay thấp, sang hay hèn, cao trọng hay thứ dân, đều được mời gọi để trở nên công chính và thánh thiện. Mức độ thánh thiện không tùy thuộc vào công trạng của con người nhưng tùy thuộc vào mối tương quan giữa Chúa và ta. Khởi điểm của việc thiết lập mối tương quan đó là nhận ra thân phận tội lỗi của mình mà bám víu vào lòng Thương xót của Thiên Chúa. Không vịn vào công trạng mà dựa vào quyền năng của Thiên Chúa bằng một tâm tình phó thác trọn vẹn vì biết rằng Thiên Chúa luôn yêu thương mình.

Đó chính là khởi điểm của cuộc sống mới.  Cuộc sống không bị mặc cảm tội lỗi dầy vò; nhưng qua đó chúng ta nhận ra Tình Yêu của Chúa cao cả dường bao. Vì Ngài là tình yêu, và Tình yêu chính là bản chất và sức sống của Thiên Chúa. Amen!

 

 

 

 

 

 

Wednesday, 15 October 2025

GƯƠNG SÁNG CỦA BÀ GÓA


Click for audio GƯƠNG SÁNG CỦA BÀ GÓA
 

Trọng tâm của bài Tin Mừng hôm nay là cầu nguyện, đó là lẽ sống của người môn đệ. Cầu nguyện không chỉ là đọc kinh, mà là kết hợp tâm hồn với Thiên Chúa, gắn bó và đặt trọn vẹn lòng tin nơi Người.  Vì thế, trong câu mở đầu của bài Tin Mừng, Chúa dậy chúng ta phải siêng năng cầu nguyện. Cầu nguyện với lòng tha thiết và liên tục, không được nản chí. Sau đó, Người đã minh họa lời giảng dậy bằng dụ ngôn ông quan tòa bất lương gặp bà góa quấy rầy.

Trước tiên là việc xuất hiện của ông quan tòa. Các chi tiết mô tả về tính nết của ông quan tòa như: bất lương, không sợ trời, chẳng nể đất và cũng chẳng sợ ai được nhấn mạnh nhằm chuẩn bị cho chúng ta nhìn thấy trước khó khăn mà bà góa sẽ phải đối diện.

Sau đó, một bà góa như tất cả mọi bà góa trong xã hội Do Thái được trình làng. Hoàn cảnh của các bà góa thời Đức Giê-su không được bảo vệ và không có nhiều quyền lợi như các bà góa trong xã hội hiện đại. Họ là những người cô thân cô thế, bị thiệt thòi mọi sự, không ai binh vực. Nhưng lòng kiên tâm của bà được đề cao. Đó là điểm chính yếu của dụ ngôn. Bà cứ kiên trì kêu cầu mãi. Hết ngày này đến hôm khác, bà cứ chờ chực ở cửa quan để đòi công đạo, đòi được minh xét vì bà nghĩ rằng phần lỗi về đối phương, họ đã làm hại đến bà.  

Cuối cùng, vị quan tòa vô tâm và chẳng hề biết sợ ai của chúng ta cũng phải đứng ra xét xử bịnh vực quyền lợi cho bà. Thật lý thú khi chúng ta nghe được lối suy nghỉ của ông khi xét xử, ông ta chẳng vì công lý hay bị lương tâm thúc đẩy mà binh vực cho quyền lợi của bà mà chỉ vì sợ bị bà quấy rầy khiến cho ông bị nhức đầu long óc mà xử cho xong.

Sau khi kể xong câu chuyện, Đức Giê-su mới kết luận: “Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao?” Như vậy, câu đầu tiên và câu cuối cùng của bài Tin Mừng cho chúng ta thấy ý tưởng chính là cần phải cầu nguyện luôn, đừng nản chí.

Vẫn biết là như thế; nhưng sự hiểu biết của chúng ta về cầu nguyện có đem lại lợi ích gì hay không? Có nhiều người nói về cầu nguyện rất hay, rất thu hút và làm vừa lòng mọi người mà không thực tâm cầu nguyện thì cho dù bài nói có sâu sắc đến đâu cũng không có sức mạnh để truyền lửa cho người nghe.

Hãy nhìn xem gương của các Tông Đồ. Sau khi chứng kiến giây phút cầu nguyện vô cùng sốt sắng và thân mật giữa Đức Giê-su và Cha Người, cho nên các ông đã xin Chúa dậy cho ho phương thức cầu nguyện; và Đức Giê-su thay vì dậy cho các ông cách thức cầu nguyện thì Người đã chia sẻ ngay những tâm tình mà Người vừa tâm sự với Cha của Người cho các Tông đồ; từ đó chúng ta có Kinh Lậy Cha.

Vì thế, cầu nguyện là việc phải làm, không chỉ một lần mà làm liên tục. Trong niềm tin và phó thác chúng ta dâng lên Chúa tất cả, không phải cứ mỗi lần chạy đến với và bên Chúa lại là xin ơn.

Ý tưởng nêu trên được minh họa qua truyện kể sau.

Có một gia đình kia không giống như các gia đình khác. Ông chồng của căn nhà này là người cầm lõi, tay hòm chìa khóa thay vì nằm trong tay bà vợ như mọi gia đình khác thì lại nằm trong tay ông. Được một điều là ông rất đại lượng, không chi ly và ít khi chất vấn vợ con về việc chi tiêu.

Thế mà, đã có một lần ông cảm thấy nhức đầu long óc khi những người con của ông, hết cô này đến chú kia, lần lượt đến xin ông điều này, đứa khác lại xin ông cho tiền mua điều nọ. Đứa nào cũng cần. Cái gì các cháu đưa ra cũng đều đúng… Thế mới làm ông khổ. Từ trong nỗi khổ đó ông mới nghiệm ra một điều là con cái của ông dù lớn về phần xác, nhưng chưa một cháu nào trưởng thành và biết suy tính cho cuộc sống của chúng cả. Lúc nào hết xin lại đến cầu, cứ như vậy thì làm thế nào!

Từ hoàn cảnh thực tế mà nhiều gia đình vướng phải anh chị em thử hình dung ra cảnh Chúa phải nghe chúng ta, bao nhiêu tỷ người, lải nhải. Hơn nữa nhiều lúc chúng ta xin điều mà chúng ta không biết mình xin gì nữa.

            Vẫn biết khi đau thì xin khỏi bịnh… Nhưng, tại sao không xin phó thác và can đảm để đối diện với căn bịnh. Đó là chưa kể đến việc nếu bịnh nào Chúa cũng chữa khỏi thì cần gì mấy ông bác sĩ và cũng chẳng cần ngân sách để xây thêm nhà thương và các viện nghiên cứu nữa.

            Rồi trong cảnh nghèo, túng thiếu thì xin no đủ… Nhưng, tại sao không xin chấp nhận và cầu nguyện cho mấy ông nhà giầu biết noi gương Chúa mà sống đại lượng.

Làm thế nào để lời cầu xin của chúng ta được Chúa ban trong khi chúng ta lại sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến nhu cầu, dù thiết yếu, nhưng vẫn là xin cho mình.

Nói chung, dù xin ơn là điều chính đáng và cần thiết. Nhưng chúng ta dễ rơi vào vị trí của những người chỉ biết ỷ lại, chờ đợi sự bố thì của kẻ khác; chưa kể đến các ơn mà chúng ta xin dường như chỉ vì nhu cầu của bản thân…. Tại sao không xin ý Chúa….

Chúa dậy chúng ta phải lo và quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Lo bằng tâm (có nghĩa là cầu nguyện), quan tâm bằng hành động (viêc làm).

Để kết thúc, xin anh chị em cùng nghe phần chia sẻ của một tác giả vô danh như sau:

·       Tôi đã xin Chúa cất đi tính kiêu căng và Chúa trả lời: “Không”. Người nói rằng không phải Người sẽ cất đi tính xấu đó, mà chính tôi mới là người cố gắng chiến đấu để vượt thắng nó.

·       Tôi đã xin Chúa ban cho tôi lòng kiên nhẫn và Chúa đã trả lời: “Không”. Người nói rằng kiên nhẫn là hoa trái của thử thách. Người không ban cho tôi trái ấy mà để tôi tự tìm lấy.

·       Tôi đã xin Chúa ban cho tôi được hạnh phúc và Chúa đã trả lời: “Không”. Người nói rằng Người ban ân phúc cho tôi, còn hạnh phúc hay không là tùy vào cách thức tôi đón nhận và hành động.

·       Tôi đã xin Chúa gia tăng tinh thần cho tôi và Chúa đã trả lời: “Không”. Người nói rằng tôi phải học để trưởng thành và lớn lên, nhưng Người sẽ mài dũa và cắt tỉa để tôi sinh thêm nhiều hoa trái.

·       Tôi đã xin Chúa đừng để tôi đau khổ và Người đã trả lời: “Không”. Người nói rằng đau khổ là một phần của đời sống và giúp tôi đến gần Người.

·       Tôi đã hỏi: “Liệu Người có yêu tôi không” và Người đã trả lời: “Có”. Người nói rằng Tình Yêu là bản chất và lẽ sống của Người. Chính Đức Giê-su, người Con mà Người yêu nhất đã chết để bộc lộ Tình Yêu đó cho tôi.

·       Sau cùng, tôi đã xin Chúa giúp tôi yêu mến tha nhân như Người yêu thương tôi và Chúa nói: “Cuối cùng con đã xin đúng điều Chúa mong đợi”.

Hy vọng, tâm sự nguyện xin nói trên cũng là tâm tư của chúng ta.

Nguyện xin Chúa giúp chúng ta tín thác vào Chúa trong việc cầu nguyện để khi Người đến vẫn còn thấy lòng tin trên trái đất này. Amen.

 

Thursday, 9 October 2025

ĐỘI ƠN LÀ LẼ SỐNG

 


Bài Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay kể lại việc Đức Giê-su chữa lành cho mười người phung cùi. Trước tiên là việc chữa cho họ khỏi bịnh. Nhưng điều quan trọng và mang một ý nghĩa sâu xa hơn, đó là thái độ hay phản ứng của họ trước ân huệ của Thiên Chúa. Cả mười người được chữa lành, thế mà chỉ có một người được biến đổi. Vì sao, bởi vì ông ta biết quay lại, biết nhận ra người vừa ban ơn cho nên ông phải cảm ơn. Qua việc trở lại để cảm ơn, ông đã bắt đầu một mối tương quan mới và chân thật với Đức Giê-su. Còn chin người kia vẫn làm tôi cho lề luật.

Truyện kể như thế này: Trên đường đi Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su băng qua biên giới giữa Sa-ma-ri và Ga-li-lê,  Người tiến vào một ngôi làng thì mười người phung cùi đã ở đó. Họ đã nghe danh tiếng của Người. Hẳn nhiên, có vài người Do Thái trong nhóm nên họ không dám bước qua ranh giới của lề luật mà chỉ đứng ở đàng xa mà kêu gào xin Đức Giê-su thương tình cứu giúp.

Đức Giêsu không chữa trị cho họ ngay lập tức mà bảo họ đi và trình diện với các tư tế. Theo luật dậy thì chỉ có các tư tế mới đủ thẩm quyền xác nhận ai sạch ai dơ trước khi người bị phong cùi được phép trở lại tham dự sinh hoạt với cộng đoàn như mọi người.

Mười người phung cùi vâng lời Đức Giê-su đi trình diện các tư tế và đang trên đường đi thì họ thấy có những sự kiện khác lạ đang xẩy ra trong cơ thể của họ. Tất cả đều thấy sự tăng trưởng xảy ra: những ngón tay của họ mở rộng thành bàn tay bình thường. Các vết mụn trên mặt họ liền lại… Khi các điều này xảy ra, cả mười người đã biết là họ được chữa lành; thế mà chỉ có một người trong nhóm họ quay ngược lại với Đức Giêsu, để cảm ơn Người; còn chín người kia, hẳn nhiên, vẫn đang trên đường đến gặp các tư tế theo lịnh truyền của Đức Chúa.

Điều làm cho Đức Giê-su và mọi người ngạc nhiên là người quay trở lại gặp để nói lời cảm ơn với Đức Giê-su là người Sa-ma-ri-a. Ông bị người Do Thái xem như kẻ thù, giống ngoại bang, thế mà lại trở thành kiểu mẫu của lòng biết ơn và đức tin.

Có một chi tiết mà chúng ta nên ghi nhận ở đây, đó là trong cơn hoạn nạn thì mười người phong cùi có nhau. Họ không bị gốc gác dân tộc, tôn giáo và niềm tin chia cách. Họ có chung một căn bịnh nên gắn bó để bảo vệ và nâng đỡ nhau. Bản sắc chung của những người bị khinh chê, ruồng bỏ đã đẩy họ trở thành những người thân của nhau. Thế mà, sau khi được chữa khỏi, được tự do, họ lập tức bị ngăn cách. Nhưng, chỉ còn một người xứ Sa-ma-ri-a, vẫn còn bị coi là giống ngoại bang, đã trở lại và tiền về phía Đức Giê-su.

Đứng trước phản ứng của chín người kia, những ai khó tính sẽ cảm thấy bị tổn thương và đau lòng vì sự vô ơn của họ. Thật ra, họ đâu có làm điều gì sai, họ vẫn vâng lời Chúa, đang trên đường đến gặp các vị tư tế để xin giấy xác nhận trở về với các sinh hoạt thường nhật như mọi người. Tuy nhiên, vì bám vào lề luật như một bảo đảm cho cuộc sống nên họ đã mất đi cơ hội đón nhận sự thay đổi, điều mới mẻ mà Đức Giê-su vừa thực hiện. Tuy họ không sai nhưng cơ hội để được đổi mới đã vuột khỏi tầm tay của họ. Thật đáng tiếc!

Còn chúng ta thì sao? Vẫn sống và chu toàn mọi khoản luật như là nguồn sức mạnh cứu thoát chúng ta hay sẵn sàng nhận biết ơn Chúa với lòng cảm tạ mà  tôn vinh và thờ lậy Ngài. Không ai có thể trả lời câu hỏi này thay cho chúng ta.

Đối với Thiên Chúa, điều làm cho con người có giá trị là thái độ và cách ứng xử của chúng ta trước lượng ân sủng vô biên của Thiên Chúa đổ trên chúng ta. Chúng ta đã làm gì với các hồng ân cao cả như thế.

Thánh Gioan cho biết: “Tự nguồn sung mãn của Chúa, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.” Ngài ban cho mỗi người những ơn họ cần, tùy thuộc vào khả năng đón nhận của từng người, nhưng cùng mục đích là để họ sống tốt đẹp và thánh thiện hơn.

Trong cuộc sống, đã có bao nhiêu dấu chỉ nói lên sự can thiệp và thông ơn của Thiên Chúa.

Nếu không có ơn Chúa thì làm sao vợ chồng có thể yêu thương, kính trọng và luôn làm gương sáng cho con cái được?

Nếu Chúa không hoạt động thì làm sao ông cha này bà phước kia hay thầy dòng nọ có thể quên ‘cái tôi’ của bản thân mà hết lòng phục vụ dân Chúa?

Kể sao cho hết những ơn lành Chúa ban cho như ơn khôn ngoan, sự hiểu biết, cơ hội phục vụ, sức khỏe tráng kiện, đầu óc minh mẫn, con tim trong sáng, đồng cảm để tha thứ cho nhau, và ngay cả các đau khổ cũng là cơ hội để giúp mình nhận ra sự bất toàn và mỏng dòn của thân phận con người mà nương tựa vào Chúa hơn…, tất cả đều là ơn của Chúa.

Điều quan trọng là mắt chúng ta có mở rộng đủ để nhận ra ơn Chúa hay là lại nghĩ rằng đó là những gì mình xứng đáng được, và nếu như thế thì hình như chúng ta đã coi Chúa như là người đầy tớ thay vì Đấng ban ơn rồi!

Đứng trước những ơn lành Chúa ban, chúng ta hay dùng các từ như tạ ơn, cảm ơn, ghi ơn, nhớ ơn, biết ơn…, để diễn tả thái độ của chúng ta, nhưng có lẽ một từ mộc mạc và đầy ý nghĩa nhất mà lâu nay chúng ta quên không dùng đó là ĐỘI ƠN: Ơn Chúa nhiều quá, nặng quá, đến độ ta không cầm, không thể mang, không cách nào khoác vào được, mà phải đội trên đầu, diễn tả sự kính trọng đối với Chúa, với ơn Chúa.

Đội trên đầu thì phải sấp mình, quì gối xuống mà tôn vinh Đấng ban ơn. Đội trên đầu là hành động nói lên tấm lòng thần phục và gắn bó của chúng ta đối với  Chúa. Đội ơn trên đầu không vì những ơn huệ mới được ban, cho bằng khám phá ra tình yêu của Thiên Chúa vẫn bao bọc lấy mình.

Vì thế, xin Chúa cho chúng ta có lối sống như người Sa-ma-ri-a trong bài Tin Mừng hôm nay để chúng ta nhận biết các ơn lành của Chúa, biết quay lại, biết đội ơn và sống mỗi ngày như bài ca tạ ơn mà dâng lên và tôn vinh Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương và cứu chữa chúng ta. Amen.

Friday, 3 October 2025

NGOÀI CHÚA RA CHÚNG CON THẬT VÔ DỤNG!

 


Với bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Lu-ca đã đưa chúng ta trở lại cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem của Đức Giê-su. Người biết ngày hoàn tất sứ vụ đang đến gần, nên từ giờ phút này trở đi, Người dành nhiều thời gian để hướng dẫn các môn đệ.

Đức Giê-su biết các môn đệ vốn mỏng dòn và yếu đuối, còn gặp nhiều khó khăn, thường xuyên bị vấp ngã và vi phạm các lỗi lầm. Nhưng cũng không vì thế mà các môn đệ có thể làm cớ vấp phạm cho những kẻ bé mọn, Người nói rằng chẳng thà người đó bị đá cột và xô xuống biển thì hơn. Lời Chúa phán xem ra khá gay gắt, nhưng Người không có ý khuyến khích chúng ta có những hành vi bạo động đối với những ai làm gương xấu cho kẻ khác. Thật ra, Đức Giê-su muốn nhắc nhở chúng ta nhớ đến bổn phận của mình. Đó là: hãy cẩn thận trong lời nói và hành động. Đừng làm cho người khác bị lầm đường lạc lối, bị vấp ngã hay lòng tin bị lung lay.

Đức Giê-su không dừng lại ở lời cảnh báo nghiêm khắc đó. Người tiếp tục khuyên các môn đệ phải tha thứ cho nhau, không chỉ bẩy lần mà là bẩy mươi lần bẩy. Con số bẩy mươi lần bẩy không ám chỉ đến số lượng, nhưng có nghĩa là tha liên tục, tha không giới hạn, tha không mệt mỏi. Hành động tha thứ này nói lên tình yêu mà chúng ta dành cho nhau. Mọi hình thức đổ vỡ chỉ xẩy ra ở nơi không có sự tha thứ.

Làm thế nào có thể đạt được các yêu cầu này. Hãy nhìn vào môi trường chung quanh, chỗ nào cũng hỗ trợ cho nền văn hóa đề cao chủ nghĩa cá nhân, lấy ‘cái tôi’ làm trung tâm. Suy nghĩ và cách sống này thấm nhuần và ảnh hưởng trong đời sống của các tín hữu. Phải chăng chúng ta cũng giống như một nắm cát rời rạc được bốc và đặt để bên nhau vào các sinh hoạt xẩy ra trong nhà thờ vào các dịp cuối tuần, rồi sau đó ra về và không còn có quan hệ hay tương tác nào với nhau. Ai sống mặc ai!

Không phải thế, chúng ta được mời gọi và sống bên nhau như một gia đình. Chúng ta là phần tử của một thân thể, nối kết và được nuôi dưỡng bởi một dòng máu của Đức Ki-tô. Chúng ta được mời gọi chia sẻ cho nhau, chăm sóc lẫn nhau, tha thứ và cùng nhau xây dựng gia đình đức tin.

Đó là tâm trạng và cảm nhận của các môn đệ khi họ nghe Chúa ban các chỉ dẫn về việc làm gương sáng và tha thứ cho nhau. Họ biết rằng muốn thi hành chỉ thị của Chúa một cách triệt để thì họ phải tin vào Chúa, gắn bó tuyệt đối vào quyền năng của Thiên Chúa. Vì thế, các Tông Đồ đã xin Chúa thêm lòng tin cho họ. Và, đó cũng là lời van xin của chúng ta.

Như các môn đệ, đã nhiều lúc chúng ta đối diện với các khó khăn, những trở ngại vượt quá sức mình. Tôi muốn thay đổi nhưng dường như cảm thấy bất lực trong việc sửa chữa vì vậy tôi, không chỉ một lần mà rất nhiều lần, đã cầu xin: Chúa ơi, con cần Người, xin hãy thêm sức mạnh và lòng tin cho chúng con.

Ngay lúc đó, Lời Chúa phán hôm nay vọng trong tai tôi: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em.” Lòng tin ở đây là sự phó thác và vâng lời mệnh lệnh mà Chúa muốn. Nó ẩn chứa tấm lòng cậy trông và tín thác vào Chúa là mình sẽ thực hiện các việc làm gương sáng, mình sẽ quan tâm và chấp nhận kể cả lỗi lầm của kẻ khác và sẵn sàng tha thứ cho họ nữa. Lòng tin như thế bao hàm việc làm, không chỉ để lòng tin của mình trưởng thành hơn, mà còn trở thành gương sáng cho người khác nữa.

Như vậy lòng tin không xuất phát tự mình, nhưng được ban tặng từ Chúa cho nên lòng tin phải được bám rễ vào Đức Giê-su và Hội Thánh Người. Lòng tin cần được chứng minh bằng việc làm. Cho dù, khoa học ngày nay có thể nhổ bật rễ của cây dâu lên và đem đến một nơi khác để trồng, nhưng đó không phải là điều làm chúng ta quan tâm. Điều quan trọng mà chúng ta cần thực hiện là dưới sức mạnh của lòng tin vào Chúa, chúng ta sẽ quan tâm, yêu thương, chăm sóc và giúp đức tin của chúng ta trưởng thành và lớn mạnh để có thể làm được những điều cao cả và lớn lao hơn.

Lòng tin mà chúng ta xin hôm nay cũng không phải là quà tặng được trao ban trong một lúc mà thôi. Sự trưởng thành và lớn mạnh của lòng tin thì giống như việc lớn lên của hạt giống. Nó phát triển theo các diễn biến xẩy ra trong các năm tháng của đời người, qua việc sinh lợi bằng các việc làm. Chúng ta cần được lớn lên mỗi ngày. Nhưng giữa những thực tế của cuộc đời, biết bao bóng tối có thể bủa vây chúng ta. Chính vì thế chúng ta luôn phải cầu xin Chúa ban thêm lòng tin cho chúng ta. Xin Người ban thêm đức tin để chúng ta biết đón nhận Người trong mọi người anh em, nhất là nơi những người thấp hèn, những người bất hạnh, và ngay cả nơi những người thù ghét chúng ta.

Chúng ta tin vào tình yêu Chúa Kitô, tin vào bản thân Người. Đức tin của chúng ta cần phải trổ sinh hoa trái bằng việc làm để mọi người có thể hiểu được thế nào là tình yêu mà chúng ta tin, thế nào là ơn tha thứ mà chúng ta đã lĩnh nhận và trao ban cho nhau, và trên hết mọi sự là người ta có thể nhận ra khuôn mặt của Đấng Cứu Thế mà chúng ta đang tôn thờ.

Không ai nhìn thấy lòng tin, phải chăng vì nó nhỏ như hạt cải, nhưng nó có thể chuyển núi dời non. Lòng tin có thể làm bật gốc rễ của: “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy.” (Ga-lát 5:20-21) và thay vào đó là những việc làm vĩ đại, như thánh Phao-lô đã viết trong thư gửi cho tín hữu ở Ga-lát, đó chính là: “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ.” (Ga-lát 5: 23)

Đó là việc làm của lòng tin. Chúng ta tin rằng chỉ có trong Thần Khí và sức mạnh của Chúa chúng ta mới thực hiện được các điều mà Thánh Phao-lô khuyên dậy nói trên. Chúng ta không hãnh diện hay đi tìm lời khen thưởng cho các công việc của mình, bởi vì không phải tự sức riêng mà mình đạt được. Tất cả đều là hồng ân của Chúa.

Thiên Chúa không mắc nợ ai điều gì, ngoại trừ lòng thương mến, vì đó là căn tính của Người. Giống như Người, chúng ta cố gắng yêu và tha thứ cho nhau trong Chúa, chứ không phải yêu để trả nợ, cho dù đó là món nợ ân tình. Và sau khi thi hành xong bổn phận của người môn đệ, chúng ta có thể hãnh diện mà tuyên xưng rằng: những gì chúng con đã làm đều là những điều Chúa muốn, vì ngoài Chúa ra chúng con thật vô dụng. Amen!