Wednesday, 16 November 2022

CHÚA KI-TÔ: VUA VŨ TRỤ, ĐẤNG XÓT THƯƠNG MUÔN LOÀI


Trong Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ, chúng ta hướng về ngày cùng tận của thế giới, ngày mà chúng ta trông đợi Đức Giê-su uy nghi vinh hiển đến trong tư thế của một ông vua, không theo nghĩa thế trần. Đức Ki-tô sẽ đến như một vị vua đầy lòng nhân ái, quan tâm, lo lắng, chăm sóc và hy sinh cho toàn dân thuộc về Nước của Người, không loại trừ một ai. Đó chính là đích điểm nói lên tình yêu, lòng thương xót của Người dành cho thế gian này. Và, để diễn tả ý tưởng này, phụng vụ của Hội Thánh, trong bài Tin Mừng hôm nay, đã mô tả những việc xẩy ra trong giây phút cuối đời của Chúa Giê-su khi Người bị treo trên Thập giá. Giây phút này được coi như cao điểm của những thử thách mà Đức Giê-su đã chiến đấu để hoàn tất vai trò và nhiệm vụ mà Chúa Cha đã trao phó. Những gì xẩy ra hôm nay được coi như thử thách hay cám dỗ cuối cùng mà Đức Giê-su cần phải đối diện. Trận chiến kéo Đức Giê-su ra khỏi thập giá được lập đi lập lại bởi những người đang hiện diện dưới chân của cây thập giá. Còn dân chúng thì đứng từ đàng xa mà nhìn.

Trước hết, các thủ lãnh cám dỗ Chúa: “hãy xuống khỏi thập giá đi!” Lý luận họ đưa ra thật xác đáng rằng nếu Đức Chúa đã từng giúp và cứu nhiều người thì giờ đây tại sao lại chịu trói như thế. Và nếu quyền năng của Thiên Chúa ở với Đức Chúa thì đây là giây phút bộc lộ cho mọi người biết thì hãy tự cứu mình đi. Nghe chúng nói thì chướng tai và nhìn họ lại thêm gai mắt; thôi thì biểu lộ uy quyền cho chúng biết tay. Nếu Đức Giê-su làm như thế sẽ mắc bẫy của chúng!

Quân lính cũng đưa ra món mồi tuơng tự: “Hãy xuống khỏi thập giá”. Vua mà không có quyền thì nói ai tin. Cứu mình khỏi cảnh ô nhục và cho muôn dân thấy vương quyền của Người. Lại một lời mời gọi đi con đuờng tắt dẫn vào ngõ cụt, trái ý Chúa Cha nên Người đã không theo.

Rồi đến người tử tội cũng muốn ăn ké; nhưng cám dỗ mà anh ta đưa ra chạm vào căn tính ‘Mesia’ của Người. Đức Kitô đuợc xức dầu, tấn phong để thực hiện nhiệm vụ của người tôi tớ, chứ đâu phải đến để tìm quyền lực và vinh danh hư ảo.

Đức Giê-su đã không chịu lùi bước, Người đã chiến đấu. Tuy vậy, truớc mắt họ thì hình như Đức Giê-su là nguời thua cuộc, thất bại. Nhưng, qua sự vâng phục thẩm sâu của Đức Giê-su như thế cho nên Thiên Chúa đã siêu tôn Người. Đức Giê-su đã đuợc Chúa Cha tôn vinh là Vua, là Chúa của muôn dân muôn nuớc. Qua tấm lòng hiếu kính và vâng phục, Người đã sửa lại những sai trật của con người từ nguyên thủy để ban cho tất cả nguồn ơn cứu độ.

Còn chúng ta thì sao?

Hãy ghé mắt nhìn vào tội nhân thứ hai. Tôi thấy trong anh có tôi. Anh là đại diện và là mẫu guơng cho các người thuộc về ‘nuớc’ của Đức Giê-su. Anh nhìn nhận lỗi phạm của chính mình và cũng nhận ra sự vô tội của Đức Giê-su, rồi cầu xin Người cứu vớt. Thái độ của anh hòan tòan khác và trái nguợc với những người thủ lãnh, quân lính và phạm nhân bên kia. Và anh đã đuợc cứu.

‘Hôm nay’ không phải ngày mai. Ngay bây giờ, ngay lúc này anh đuợc ở trên thiên đàng với Chúa. Thiên đàng ở đây không phải là nơi chốn, nhưng là tình trạng hiệp nhất hòan hảo giữa Chúa và anh. Anh đã đạt được sự hiệp thông trọn vẹn này qua việc nhận ra sự hèn yếu của bản thân mà nuơng tựa hoàn toàn vào Chúa. Trong mối dây hiệp nhất, anh được ơn tha thứ.

Đây cũng chính là điều mà chúng ta theo đuổi trong suốt cuộc đời. Lòng thuơng xót của Chúa là chốn nuơng thân cho những ai thuộc về Nước Thiên Chúa. Chúa thương xót để chúng ta xót thương nhau.

Sau đây là vài truyện ngắn nói lên một vài gương sáng để chúng ta cùng suy cùng gẫm:

Truyện thứ nhất xẩy ra vào một đêm khuya lạnh giá tại thành phố Dublin, bên Ái Nhĩ Lan. Có cô y tá đang vội vã chạy trên đường hầu bắt kịp chuyến xe buýt cuối cùng để về nhà, thì trước mắt cô là một cảnh tượng rất đáng thương tâm. Một người đàn ông trẻ tuổi nằm trên vỉa hè. Anh ta dường như là người say rượu hay mới bị ai đánh đang cần sự trợ giúp. Tuy đang vội, nhưng lòng trắc ẩn và lương tâm của một y tá đánh thức cô. Cô dừng lại để tìm cách giúp đỡ anh. Nhưng, khi cô vừa cúi mình xuống thì anh ta nhẩy chồm lên, chộp lấy chiếc xách tay của cô. Hai bên giằng co nhau. Cô không chịu buông tay và anh ta cũng không bỏ cuộc. Trong lúc dành giật, thì bỗng nhiên vào một khoảnh khắc nào đó, ánh mắt của họ gặp nhau và chàng thanh niên giả vờ bị thương mới buông tay ra và kêu lên ‘Ồ, chị là cô y tá Murphy,’ và họ bắt đầu trò chuyện.

Số là vào một thời gian trước đây, cậu thanh niên đó đã nằm trong nhà thương với một cái chân bị gãy, và cô y tá Murphy là người đã tận tình săn sóc và đối xử rất tốt với anh.

Trong khi nói chuyện, anh hỏi cô đi đâu? Cô y tá tốt bụng nói cho anh biết là cô đang trên đường đến trạm xe buýt để đón xe về nhà. Nghe đến đó, anh cùng với cô đi bộ đến trạm xe buýt, xin lỗi cô về những gì đã xảy ra và chào tạm biệt cô.

Truyện thứ hai được kể lại bởi mẹ Thánh Teresa thành Calcuta, bên Ấn độ. Vào một ngày kia, từ trong một cống rãnh đầy mùi hôi thối tại Calcuta, Mẹ đã nhặt được một người đàn ông và đưa ông về nhà dành cho những người đang hấp hối. Trước khi chết, anh thưa với mẹ rằng "Thưa sơ, khi còn sống con đã sống như một con vật nhưng khi chết con lại được yêu thương, chăm sóc và chết như một thiên thần." Mẹ vô cùng cảm kích khi nghe những lời như thế. Ông đã chết mà không oán trách hay nguyền rủa ai. Mẹ cảm thấy thật vinh dự khi có cơ hội giúp ông sống những giờ phút cuối đời với cảm giác được yêu thương và trân trọng như một thiên thần.

Lòng nhân ái và sự săn sóc đặc biệt của Mẹ Teresa, các nữ tu trong Dòng của Mẹ và chị y tá mang tên Murphy đã đánh động lòng tốt, sự thiện hảo của nhiều người, trong đó có một người sẵn sàng phạm tội ác. Anh đã được cảm hóa, không cướp giật vì qua việc làm nhân ái của cô y tá Murphy đã đánh thức bản tính thiện lương và lòng tốt mà Thiên Chúa, Đấng tạo hóa đã ban cho anh. Tất cả mọi vật Thiên Chúa tạo dựng đều tốt.

Ước gì qua lối sống xót thuơng mà chúng ta đặt tha nhân làm đối tượng sẽ giúp chúng ta nhận ra sự bất tòan của bản thân mà nương tựa vào Chúa. Vì trong khoảnh khắc như thế, Chúa làm cho con tim ta rung động, mắt ta sáng hơn, đôi tai ta nghe rõ hơn nhưng lời van xin của kẻ khác, nhất là những người nghèo. Họ đang chờ lòng xót thương của anh chị em.

Hãy nuơng tựa vào Chúa. Người chính là nguồn năng lực duy nhất giúp chúng ta tiếp tục sống và làm chứng cho thế giới nhận ra Chúa là Vua yêu thương, là Chúa của lòng thương xót. Amen!

 

Wednesday, 9 November 2022

SẴN SÀNG CHO CHÚA

 

Bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ 33 mùa thường niên là một phần của diễn từ mà chúng ta hay gọi là diễn từ quang lâm. Khi nghe trích đoạn Tin Mừng này các tín hữu đầu tiên đã chứng kiến cảnh đền thờ Giê-ru-sa-lem bị tàn phá. Quả thật, biến cố kinh hoàng này đã khiến cho niềm tin của các tín hữu tiên khởi bị lung lay đến tận xương tủy. Họ tự hỏi nhau rằng phải chăng đây là dấu hiệu báo ngày tận thế sắp xảy ra?

Chúng ta phải đọc diễn từ quang lâm mà Thánh Lu-ca trình bầy ở đây như là một lời nhắc nhở rằng việc đền thờ Giê-ru-sa-lem bị tàn phá được Đức Giê-su dự đoán đã xẩy ra. Đó không phải là dấu hiệu tiên báo điều gì sẽ xẩy ra cho bằng bàn tay của con người phá hủy nó. Chúng ta hãy nhớ rằng Đức Giê-su rao giảng và thiết lập Nước Thiên Chúa. Việc hình thành và phát triển Nước Thiên Chúa không bị lệ thuộc bởi việc xây dựng các cơ sở vật chất do bàn tay con người đóng góp.

Bên cạnh đó, Người còn nói cho những kẻ theo Người biết rằng không chỉ có đền thờ đã bị tàn phá mà sẽ còn nhiều tai ương và hoạn nạn xẩy đến cho thế giới này nữa... Một thế giới vẫn còn nhiều bất ổn, bạo động, chiến tranh và khủng bố; các tai ương như thiên tai, động đất và lũ lụt vẫn xẩy ra.

Cho dù tất cả các biến cố như động đất, ôn dịch, đói kém hay các hiện tượng kinh hoàng khác ập xuống trên mặt đất cũng không làm con người phải hoảng sợ. Đức Giê-su đã quả quyết rằng những sự việc đó sẽ xẩy ra trước, nhưng đó cũng không phải là các điềm báo nói về ngày tận thế đâu. Việc Chúa đến trễ hay đến sớm không phải là việc mà chúng ta cần quan tâm hay lo lắng.

Ngoài ra, các người theo Chúa còn bị bách hại, bị ngược đãi và bị giam cầm, thậm chí còn bị những người thân trong gia đình bắt nộp. Nhưng, tất cả các điều đó không làm cho chúng ta phải hoang mang hay lo sợ; trái lại chúng ta hãy xử dụng hoàn cảnh ngặt nghèo như là những cơ hội để loan báo Tin Mừng cho những ai đang có lối sống thù địch với Tin Mừng. Sống trong tư thế của kẻ đã sẵn sàng hoạt động để loan báo Tin Mừng là thái độ sống tích cực của người tín hữu đã sẵn sàng đón chào Chúa.

Thật ra, chúng ta được mời gọi để đón nhận mọi biến cố xẩy đến trên thế giới này bằng một niềm hy vọng. Chúng ta được mời gọi trung kiên với Chúa và tìm mọi cơ hội để làm chứng cho niềm tin giữa lòng thế giới mà chúng ta đang sống. Tất cả mọi biến cố đều nằm trong kế hoạch yêu thương của Người. Đức Giê-su muốn chúng ta có nhiều thời gian để chuẩn bị cho thật tốt, nhất là biết dùng thời gian đang sống để công bố cho mọi người biết về Tin Mừng của Thiên Chúa.

Đối với chúng ta là những tín hữu, chúng ta cũng được mời gọi hành xử tự do với vốn liếng đã được trao ban để làm chứng cho Tin Mừng trong lòng xã hội và môi trường sống của chúng ta. Sự tự do này đòi hỏi chúng ta phải liều lĩnh và chấp nhận mọi thua thiệt để trung tín với những đòi hỏi triệt để của Tin Mừng. Liều lĩnh trong niềm tin vào Thiên Chúa là một trong những đức tính cần thiết mà chúng ta cần có. Liều lĩnh để làm chứng về tình yêu của Thiên Chúa là một ơn gọi vô cùng cao quí mà Chúa đã mời gọi. Đây còn là một đòi hỏi vô cùng cần thiết cho thế giới bị tục hoá mà chúng ta đang sống hôm nay.

Thưa anh chị em,

Hôm nay, trong tinh thần đó, với niềm hân hoan, chúng ta mừng Lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Cha ông chúng mình đã hy sinh mạng sống để minh chứng đức tin kiên cường của các ngài. Chúng ta không thể phủ nhận gương can đảm, chấp nhận mọi khổ hình mà cha ông chúng mình đã trải qua. Sử sách đã ghi lại bao nhiêu loại cực hình khác nhau đã đuợc dùng để tra tấn các ngài như: nhẹ thì gông cùm, giam tù, bỏ đói; nặng hơn một chút là cho voi dầy, phơi nắng và ném xuống sông; quyết liệt hơn thì bị chặt đầu, bị thắt cổ hay bị đốt cháy; man rợ và hiểm độc nhất là bị phân thây ra từng mảnh hay là tùng sẻo… Chỉ cần tuởng tượng những cực hình nói trên cũng khiến cho con người ngày nay run sợ hãi hùng.

 Tất cả các cực hình đó không nhắm đến các nỗi thống khổ về phần xác; nhưng tất cả đuợc áp dụng để thử lòng trung tín với Chúa của các ngài. Vì thế, thật là thiếu sót, nếu chúng ta chỉ nhấn mạnh đến những nét hào hùng, những tấm gương can đảm, những cực hình mà cha ông chúng ta đã phải gánh chịu mà quên đi động lực chính đã giúp tổ tiên mình đi đến cùng; đó chính là lòng yêu mến Chúa Giê-su của các ngài. Vì yêu mến Chúa mà cha ông chúng ta đã từ khước tất cả và chấp nhận chết cho tất cả.

Thật vậy, sự hiểu biết giáo lý hay những tín điều về Thiên Chúa của các ngài tuy nông cạn và các ngài cũng không có những suy tư cao siêu về thần học. Nhưng khi trở thành tín hữu, các ngài đã yêu Chúa bằng tất cả con người của các ngài. Đỉnh cao của tình yêu nơi các ngài được thể hiện qua việc chấp nhận cái chết không vì phần thưởng đã dành sẵn cho những ai trung tín với Chúa mà thôi; nhưng qua hành vi tự hiến, các ngài đã noi gương Chúa Giê-su, Đấng đã hiến thân để bày tỏ lòng mến tuyệt vời của Thiên Chúa cho nhân lọai.

Tiến ra pháp truờng bằng niềm tin và lòng mến cho nên tâm hồn cha ông của chúng ta rất thư thái và bình an, miệng các ngài vang lên những lời tha thứ và trên môi là nụ cuời hân hoan của niềm vui sắp đuợc đoàn tụ với Chúa Giêsu, Đấng mà các ngài cả đời yêu mến và trông đợi.

Hôm nay dù cuộc sống chịu ảnh hưởng bởi một nền văn minh đã bị tục hóa, chúng ta cũng được mời gọi sống từ bỏ hàng ngày, từ bỏ từ từ cho đến trọn vẹn để sống với lòng mến thiết tha cho đến giây phút cuối cùng.

Khi nói đến lối sống từ bỏ trong cuộc sống hàng ngày, tôi nhớ lại gương sáng của các bậc làm cha làm mẹ. Một trong các mẫu gương đó như sau. Để hoàn thành ơn gọi cao quí mà Chúa đã trao ban, các bậc làm cha làm mẹ đã phải trải qua những đêm dài trằn trọc, vượt qua các thử thách để tìm ra các phuơng thức khả dĩ giúp cho những người con khỏi rơi vào cảnh lầm lạc, có thể dẫn các cháu đến ngõ cụt của cuộc đời. Cuối cùng, dù trải qua trăm cay nghìn đắng… cha mẹ vẫn là những người thua cuộc.

Như tham dự một cuộc chơi ‘trốn-tìm’: anh chị chận đầu này, con cái anh chị chạy lối kia. Truớc những cảnh ngộ đó, tôi thuờng nghĩ rằng trong bổn phận làm cha, làm mẹ, chẳng một ai trong anh chị em là người thắng cuộc. Vì yêu thuơng con cái, anh chị em là những người bại trận, phải từ bỏ ý riêng, vui lòng thua cuộc vì hy sinh và yêu mến các cháu.  

Đó là tâm huyết và tôn chỉ của những người con Chúa. Đó là gương sáng của các Thánh Tử Đạo, cha ông chúng ta, hơn 100.000 người đã anh dũng, hy sinh chết vì đạo, chết vì niềm tin kiên cường, chết để bộc lộ lòng mến thiết tha. Các ngài đã vui lòng thua cuộc trong trận chiến với thế quyền. Nhưng gương hy sinh, phát sinh từ lòng mến của các Ngài với Chúa, vẫn lưu truyền trong cuộc sống của dân Việt khắp nơi trên thế giới.

Hôm nay, hòa chung với niềm hãnh diện là con cháu của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta hãy noi gương các Ngài, biết chọn lối sống hy sinh, chết đi cho ý riêng và tuân phục ý Chúa, Đấng đã hy sinh để nhắc nhở chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta dường bao. Phần chúng ta, hãy bước theo dấu chân của các Thánh Tử Đạo, cha ông mà làm chứng cho thế giới nhận ra tình yêu của Thiên Chúa đang chảy trong huyết quản mình. Amen!

 

 

Wednesday, 2 November 2022

TẤT CẢ ĐANG SỐNG

 

Truyện kể rằng có linh mục kia đang trông coi một giáo xứ miền quê. Vào một buổi chiều nọ, ông chủ tịch hội đồng giáo xứ vào gặp ngài. Hai cha con ngồi nói chuyện dưới mái hiên nhà xứ. Bỗng nhiên, với vẻ trang trọng ông thưa với cha rằng: “Thưa cha, trong suốt 30 năm qua, không ngày nào mà vợ chồng con không cãi nhau.” Nghe đến đó, cha lùi lại phía sau, nhìn thẳng vào mắt ông trùm, với vẻ ngạc nhiên và hỏi: “Mỗi ngày sao?” “Thưa cha, mỗi ngày” ông đáp. Vậy hôm nay thì sao? Ông trùm trả lời: “Dạ thưa cha, sáng nay cũng thế, cô ta quàng tay sang phía con, tung mền và lôi con bò dậy rồi lớn tiếng quát “ông không dậy ra khỏi giường mà lo việc, cứ nằm đó mà nướng.” Thế là lời qua tiếng lại, cuối cùng con vẫn là người chịu thua và im đi cho yên chuyện.

Trong cuộc sống lứa đôi, vợ chồng thường xuyên gặp phải hoàn cảnh thực tế nói trên. Không tranh luận, không cãi vã, không có lời qua tiếng lại thì không phải là sinh hoạt vợ chồng, thế mà vợ chồng vẫn trung thành sống bên nhau. Cuối cùng cả vợ lẫn chồng đều nhận ra một thực tế mà cha ông chúng ta đã trải nghiệm, đó là: “Càng yêu nhau lắm, càng cắn nhau đau.”

Anh chị em thân mến,

Những cuộc cãi vã thường xuyên xẩy ra trong đời sống vợ chồng thế nào thì mấy ông lãnh đạo thời Đức Giê-su cũng thế. Mỗi khi họ gặp nhau thì đề tài kẻ chết sống lại và sự sống đời sau lại được họ mang ra để tranh luận. Phe nào cũng muốn phần thắng thuộc về họ. Những người thuộc nhóm Pha-ri-sêu tin có sự sống lại, còn  những ai thuộc nhóm Xa-đốc thì lại không tin. Không phe nào chịu thua! Họ không có điểm chung, cho nên mọi cuộc tranh luận đều đi vào ngõ bí và không có lối thoát!

Hôm nay, những người thuộc nhóm Xa-đốc muôn gài bẫy Chúa bèn đưa ra câu chuyện về một người đàn bà đã trải qua bẩy đời chồng mà chồng của bà lại là anh em trai với nhau trong một gia đình. Theo quan niệm của họ thì chết là hết và bà chẳng thuộc về ai hết. Còn nếu ai tin rằng sự sống đời sau tiếp nối sự sống hiện tại, thì sau khi chết bà này sẽ là vợ của ai? Vì bà đã là vợ của cả bẩy anh em!

Điểm then chốt mà họ đưa ra ở đây không phải để tìm hiểu giáo lý, nhưng để bắt bí Đức Giê-su. Nếu Người cũng chủ trương có sự sống đời sau thì Người phải đối diện với một tình huống thật khó xử. Đức Giê-su lại một lần nữa bị đặt vào hoàn cảnh dường như không lối thoát. Người sẽ hành xử ra sao trong lúc đối tượng chỉ là những người chống đối và gây khó khăn cho Người?

Dù biết được thâm ý của họ như thế nhưng Đức Giê-su vẫn kiên nhẫn trong cách hành xử để đáp trả vấn nạn mà họ nêu ra. Lời đáp trả của Người về sự sống lại có thể tóm tắt như sau:

·        Điểm quan trọng trước hết là có sự khác biệt giữa sự sống đời này và sự sống đời sau. Cuộc sống với Thiên Chúa trong thời sau khi chết thì khác hẳn với sự sống hiện tại. Khác như thế nào không được nói rõ, nhưng hẳn nhiên không phải là một sự tiếp nối của cuộc sống hiện tại.

·        Điều thứ hai là không có việc lấy vợ gả chồng trong thời đại đó.

·        Điểm thứ ba là họ không thể chết nữa vì trong Chúa họ đang sống đời đời.

·        Sau cùng, những ai đã được cứu độ thì sẽ có lối sống giống như các thiên thần, chầu chực và ca tụng Thiên Chúa.

Sau đó, Đức Giê-su còn trích dẫn lời tuyên xưng của Mô-sê, khi ông gọi Đức Chúa hiện vẫn là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp. Người còn khẳng định rằng Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết mà là người sống, vì đối với Thiên Chúa, tất cả vẫn đang sống.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta cũng thế, câu hỏi về sự sống đời sau không phải để thảo luận, bàn cãi hay tranh luận. Đó là vấn đề của đức tin và cũng là một điều bí ẩn. Nó hàm chứa một niềm hy vọng, một thách đố, một kiếm tìm và một lòng tin tưởng đầy hứa hẹn ở tương lai. Khi sinh ra, chúng ta đã bước vào cuộc hành trình của sự sống vĩnh cửu. Lời hứa của cuộc sống đời sau đó giúp chúng ta đối diện với các khó khăn cũng như nghịch cảnh của cuộc sống này như những con người không để cho sự chết đánh gục. Tuy nhiên, trước các nghịch cảnh trong cuộc sống, chúng ta sẽ buồn phiền, thậm chí thất vọng, nhưng không tuyệt vọng bởi vì chúng ta tin rằng cuộc sống mới sẽ đến. Chúng ta tin rằng có một thực tại tuyệt vời hơn đang chờ đợi chúng ta ở tương lai.

Chúng ta yên tâm về Thiên Đàng, chính nhờ niềm tin này mà chúng ta sẽ sống khác với những ai chỉ thấy thiên đàng tại thế. Chúng ta sẽ sống vì Chúa. Chúng ta sẽ đáp lại tình thương của Người bằng toàn bộ cuộc sống này. Nói khác đi, cuộc sống vĩnh cửu không phải là quà tặng ban cho tôi khi tôi đã về già; nhưng nó đã được khởi động trong ngày tôi lĩnh nhận bí tích Thánh Tẩy để làm Con Chúa của tôi.

Thật đúng như lời Đức Giê-su đã khẳng định Người là Thiên Chúa của kẻ sống. Đối với Người thì tất cả đều đang sống. Hy vọng Lời Chúa nói hôm nay đem đến cho chúng ta sự bình an, niềm vui và hy vọng ngay bây giờ và mãi mãi sau này nữa.

Trong niềm tin và hy vọng vào cuộc sống đời sau đã được hứa ban, nhất là trong tháng các linh hồn năm nay, chúng ta xác tín về số phận của những người thân. Họ đã bước qua ngưỡng cửa, mà chúng ta gọi là sự chết để bước vào nước hằng sống. Quí ngài đang sống gần Chúa hơn chúng ta, các ngài đang nghỉ yên để thụ hưởng tình yêu và sự hiệp thông - cho dù chưa trọn vẹn – với Chúa.

Niềm xác tín như thế được đặt trên căn bản của niềm tin vào Thiên Chúa là Đấng giầu lòng xót thương, chậm bất bình và không kể tội của con mình. Hãy xem cách mà Thiên Chúa đã hành xử với Da-kêu và người con thứ. Cả hai người khi trở về nhà có người nào bị hạch tội hay phải nhắc lại quá khứ của mình hay chăng, ngược lại họ còn được trọng thưởng và mở tiệc mừng ăn khao.

Quả thật, nếu chúng ta tin rằng Thiên Chúa đã săn sóc chúng ta khi còn sống, thì chắc chắn Ngài còn săn sóc và thương yêu chúng ta nhiều hơn nữa khi chúng ta bước về nhà Cha. Trong nhà Cha, con người chuyển sang vũ trụ khác, một trạng thái sống không còn đau khổ, không còn hận thù, nhưng chỉ có bình an, hoan lạc và niềm vui. Sau khi chết, con người được thu hút vào vũ trụ tràn đầy tình thương của Thiên Chúa, và họ biết rõ rằng Thiên Chúa biết và yêu thương họ.

Thưa anh chị em, như vậy việc cầu nguyện cho những người quá cố có cần thiết hay không?

Dạ thưa, cần và rất khẩn thiết. Tuy nhiên chúng ta không đến ngôi mộ để tìm và cầu cho người chết. Họ đang sống. Vì thế, việc cầu nguyện của chúng ta không nhằm mục tiêu đánh thức Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn thương yêu và lo lắng cho mọi người, Người không muốn cho bất cứ ai bị hư đi. Như vậy, việc cầu nguyện và tưởng nhớ đến những người thân hay mọi người đã lìa cõi thế của chúng ta nói lên sự yêu thương, nhớ nhung của chúng ta với các ngài.

Qua việc cầu nguyện, chúng ta minh chứng rằng thân nhân của chúng ta không chết. Sự chết không làm đứt đoạn hay tiêu hủy mọi mối dây tương quan mà chúng ta đã thiết lập và xây dựng. Bởi vì, các mối tương quan đó được đặt trên nền tảng của sự yêu thương trong Chúa. Chính vì sức mạnh của tình yêu giúp chúng ta xác tín rằng cho dù thân nhân của chúng ta đã lìa cõi thế về mặt thể lý, nhưng sự hiện diện của họ tồn tại vĩnh viễn trong lòng yêu thương và sự tưởng nhớ của chúng ta.

Vì, Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống. Đối với Người thì tất cả đều đang sống, không còn ai chết nữa. Đây là niềm hy vọng mà chúng ta dùng để an ủi, nâng đỡ và cầu nguyện cho nhau. Amen!

 

Wednesday, 26 October 2022

GẶP CHÚA ĐỂ ĐƯỢC BIẾN ĐỔI


Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cuộc biến đổi của ông Da-kêu, trưởng ban thu thuế. Câu chuyện này nối tiếp với bài Phúc âm tuần trước. Trong đó, thánh sử đã trình bầy về cử chỉ và hành động của hai người, Pha-ri-siêu và thu thuế, trong đền thờ; còn hôm nay là cuộc gặp gỡ của Đức Giê-su và ông Da-kêu, trưởng ban thu thuế.

Trong xã hội Do Thái dưới thời Đức Giê-su thì những người thu thuế được coi là những nhận vật nguy hiểm và bị dân chúng thù ghét. Họ là những người cộng tác với đế quốc Rô-ma, một thể chế đang thống trị và đàn áp dân Do Thái lúc bấy giờ. Họ có một đội ngũ tay sai, điềm chỉ viên, chuyên săn tin và báo cáo cho họ biết ai đã thu hoạch được một vụ mùa bội thu hay ai đã kiếm được một khoản lợi nhuận qua việc trao đổi và buôn bán trên thị trường. Sau đó, những người thu thuế sẽ xuất hiện để đòi chia lợi nhuận dựa trên tỷ lệ phần trăm.

Thậm chí, chính quyền Rô-ma còn cho phép họ đánh thuế bằng hiện vật từ những người nghèo, không có tiền đóng thuế. Có nghĩa là, họ có quyền bắt giữ con cái của các gia đình thiếu thuế làm nô lệ cho họ.

Với phương thức như thế, những người thu thuế dù liêm khiết và thành thật đến mức độ nào cũng trở nên giàu có và bị dân chúng thù ghét. Cụm từ địa chủ hay cường hào ác bá, sống trên xương máu của nhân dân cũng chưa đủ nghĩa để nói lên công việc của những người thu thuế.

Những người Do Thái không chỉ thù ghét họ mà còn tránh né và không bao giờ tiếp xúc nói chi đến việc đưa ra lời mời gợi ý giúp họ thay đổi. Và cũng chỉ vì bị cô lập và bị đối xử tách biệt như thế cho nên những người thu thuế chỉ biết dùng đủ mọi cách thức để tiếp tục làm giầu và vui thích với ý nghĩ của những kẻ có quyền lực bằng sự giầu có mà họ đã tích lũy được.

Trong Tin Mừng theo Thánh Lu-ca, chúng ta khám phá rằng không chỉ một lần mà rất nhiều lần các nhân viên thu thuế đã xuất hiện để nghe Thánh Gioan tiền hô và Đức Giê-su rao giảng. Và trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta nhận ra bản chất và sức mạnh của Đức Giê-su mang đến. Người cảm nhận và kinh nghiệm rằng tình yêu của Thiên Chúa không loại trừ một ai và được thể hiện tại bất cứ nơi nào.

Người lại một lần nữa hoán đổi ngôi vị, từ khách ra chủ. Da-kêu có thể vì tò mò nên ông đã chủ động trong việc tìm kiếm để xem Đức Giê-su mà người ta đang bàn tán là ai. Nhưng khi nhìn thấy ông đang ngồi ở trên cây thì Đức Giê-su đã đi bước trước, không bộc lộ một cử chỉ nào để đáp lại Da-kêu, mà Người đã chủ động tự mời mình đến lưu ngụ tại nhà Da-kêu và Da- kêu đã được biến đổi sau khi nhận lời mời của Người.

Cuộc biến đổi trước tiên đã được mô tả thật rõ ràng qua cử chỉ và việc làm của ông. Ông vội vàng tụt xuống, vui mừng đón tiếp Chúa đến nhà ông. Trong khi đó, đám đông lại bị sốc vì hành động của Đức Giê-su. Người không đứng về phía nhân dân nữa mà lại làm bạn với bọn hút máu mủ của dân chúng. Nhưng điều mà Đức Giê-su quan tâm hôm nay là Da-kêu, một con người bị ruồng bỏ hơn là việc luật lệ hay truyền thống bị xúc phạm. Công việc thu thuế của Da-kêu tuy xấu thật; nhưng con người của Da-kêu, cũng như mọi người chưa hẳn là xấu. Sự thiện hảo và lòng tốt vẫn còn trong ông, nó chưa hẳn bị tê liệt hoàn toàn, cần được hâm nóng và làm cho chỗi dậy.

Khi bước chân vào nhà Da-kêu, Đức Giê-su đã trả lại cho ông phẩm giá của một con người có thể bị đánh mất vì chức nghiệp. Người phục hồi hình ảnh tốt trong ông, Người kéo ông ra khỏi môi trường đã giam cầm ông. Nguyên tắc căn bản mà Đức Giê-su thường xuyên áp dụng, đặc biệt cho hoàn cảnh của Da-kêu hôm nay là giúp ông nhận ra sự quảng đại của Thiên Chúa, Đấng hòa hợp với lòng tốt đang tiềm ẩn trong ông. Da-kêu sẽ không thể thay đổi nếu ông không nhận ra bản tính lương thiện vẫn hiện diện trong ông. Ông đã được hâm nóng và đốt cháy bởi ngọn lửa yêu thương, lòng nhiệt thành và tâm hồn quảng đại của Đức Giê-su.

Có một điểm quan trọng mà chúng ta cần lưu ý ở đây mà áp dụng, đó là phải chú ý đến cách mà Đức Giê-su đã làm. Người không đưa ra yêu cầu hay một việc đền tội nào cho Da-kêu cả. Người tạo cơ hội và không gian để Da-kêu tự do chọn lựa cách thức mà ông muốn chuyển hướng cuộc sống của ông.

Thật không may, phản ứng của chúng ta lại giống như đám đông cùng thời với Đức Giê-su. Chúng ta có thói quen chôn và giam giữ người khác chung với những sai lầm trong quá khứ của họ. Chúng ta lại thường xuyên học theo lối lên án và kết tội người khác hơn là tạo cơ hội giúp cho họ khẳng định các mặt tích cực trong cuộc sống của họ. Tầm nhìn của Đức Giê-su thì rộng và xa hơn những gì mà chúng ta có thể nhìn thấy. Người không nhìn Da-kêu là kẻ tội lỗi, mà luôn coi ông là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham, cũng được thừa hưởng một nguồn ơn cứu thoát.

            Như vậy, qua cuộc gặp gỡ của Đức Giê-su với ông Da-kêu, Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta nhận ra một chân lý lạ lùng này, đó là Người đến để mời gọi con người đặt lại đúng chỗ những gì đã bị mất hay đã hư đi. Da-kêu đã được gặp Chúa và cuộc gặp gỡ này đã đổi mới cuộc đời ông. Trong hành trình đổi mới này, Da-kêu trước tiên đã công khai sửa chữa những việc làm sai trái của ông. Thay vì chạy theo tiền bạc, danh vọng, chức vụ rồi chỉ lo đến mình… bây giờ ông theo Chúa và lo cho người khác, nhất là người nghèo rồi đền bù các thiệt hại do ông gây ra.

Liệu chúng ta đã thực sự gặp Chúa để được đổi mới hay chưa?

Dù cuộc đời chúng ta vẫn gắn liền với sự mỏng dòn, yếu đuối của thân phận làm người và thuờng xuyên phạm tội; nhưng đó cũng chỉ là điều để chúng ta biết rằng chúng ta vẫn là con người, vẫn đang đi trên đuờng, nhắm đích mà tiến buớc. Chúng ta chưa hoàn hảo. Nhưng đừng thất vọng. Chúa vẫn đang ngước mắt tìm và nhìn thấu ta. Còn ta thì hãy buớc ra khỏi chính mình (leo lên cây) để nhìn sự thiện hảo của Thiên Chúa nơi mình; hành động với lòng yêu mến chân thành mà Chúa đã đặt trong mình; rồi mở rộng vòng tay ôm ấp và chào đón nhau trong Chúa. Amen!

Wednesday, 19 October 2022

CON XIN TẠ ƠN VÌ CON LÀ KẺ TỘI LỖI!


Đức Giê-su trong bài Tin Mừng tuần trước đã khuyên chúng ta hãy siêng năng cầu nguyện. Cầu nguyện liên lỷ. Cầu nguyện không ngừng. Bởi vì, không cầu nguyện con người sẽ mất chỗ dựa, mất đi nguồn sống.

Tiếp tục xoay quanh chủ đề cầu nguyện, bài Tin Mừng hôm nay mô tả việc hai người lên đền thờ cầu nguyện: Một ông Pha-ri-sêu, tự nhận mình là người công chính. Còn ông bên kia là tay thu thuế, cường hào ác bá, bóc lộc dân chúng bằng nghể thâu thuế; và bị coi là phường tội lỗi!

Người Pha-ri-sêu được mô tả thật sống động. Ông đứng thẳng người bộc lộ dáng vẻ tự tin, thì thầm với Thiên Chúa. Chúng ta phải thú nhận rằng những việc ông làm, nào là không trộm cắp, không có hành vi bất chính, không ngoại tình, còn tuân thủ việc đóng thuế thập phân cho đền thờ là những việc tốt và rất đáng khích lệ và ông ta đã hành động theo đúng luật Chúa. Ông ta làm được nhiều việc hơn chúng ta. Thật cảm phục cho các tín hữu dám công khai nói như người Pha-ri-sêu hôm nay.

Ông đã tạ ơn Chúa; nhưng cách ông tạ ơn dường như để khoe khoang chứ không để tỏ bầy cử chỉ tôn thờ Thiên Chúa. Sau đó, đã sai ông lại tiếp tục sai khi vịn vào thành tích rồi hợm mình để chê bai người khác. Ông làm như đã trở thành con người hoàn hảo bởi các việc ông làm.

Chúng ta tưởng rằng chỉ mấy ông Pha-ri-sêu thời Đức Giê-su mới hành xử như thế. Thật ra trong mọi thời đại và dù bất kỳ sống trong môi trường nào thì lối sống như ộng Pha-ri-sêu vẫn còn hiện diện và được khuyến khích trong các cơ cấu, ngay cả các tổ chức công giáo. Họ là những người tự cho mình là đạo đức, dựa vào công nghiệp và những đóng góp rồi coi kẻ khác không ra gì.

Thật ra, ai trong chúng ta cũng đều biết rằng chúng ta có làm được các việc như thế cũng là hống ân của Chúa ban cho. Tất cả đều là hồng ân, là quà tặng của Chúa trao ban để chúng ta chia sẻ cho người khác. Đó là bổn phận, nếu không hành động thì chúng ta là người có lỗi, lấy gì mà vinh vang.

Nếu ai trong chúng ta có muốn so sánh thì hãy lấy tiêu chuẩn của Tin Mừng ra mà so sánh. Tất cả chúng ta, dù là ai hay dù đang nắm giữ tác vụ nào của Hội Thánh, tất cả đều là tội nhân, là những con người khuyết hẳn vinh quang và sự Thánh Thiện của Chúa nơi mình.

Vì thế, hãy học vẻ đẹp của người thu thuế. Ông biết các công việc của ông, như cộng tác với chính quyền, thu thuế và làm giàu trên xương máu của nhân dân khiến cho ông tuy giầu có nhưng lại bị dân chúng ghét bỏ. Ông nhận ra một sự thật là cho dù liêm khiết và thành thật đến đâu thì ông cũng là người có tội với dân tộc và với dân chúng. Chính vì thế, ông chẳng có gì để hãnh diện hay trình bầy thành tích trước mặt Chúa. Ông đứng tự đàng xa, không dám ngước mắt nhìn ai, nhìn vào cõi lòng, hẳn nhiên khi nhìn vào cõi lòng ông thấy sự uy nghiêm và thánh thiện của Chúa, nên ông đấm ngực mà thân thưa cùng Chúa rằng: “Lậy Thiên Chúa, xin thương xót, con là kẻ tội lỗi.”

Giống như anh con thứ trong dụ ngôn Tình Phụ Tử, người cha đã không cho phép anh kể hết các tội của mình, không cho phép anh đánh mất mối tương quan khi anh dự định nói rằng mình không xứng đáng là con của ông. Ông đã cắt đứt việc anh con thứ kể lể về tội của anh thế nào thì ở đây cũng thế. Chúng ta không thấy người thu thuế liệt kê các tội của anh. Với thái độ nhìn rõ sự thật và vị trí trong thân phận của một kẻ có tội, anh đã được Thiên Chúa thương và làm cho anh trở nên công chính. Nói khác đi, anh ra về và được khỏi tội.

Thưa anh chị em,

Nơi câu đầu của dụ ngôn, Thánh Lu-ca đã nói mục đich của dụ ngôn này là bài học mà Đức Giê-su muốn trao ban cho một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê kẻ khác. Chúng ta có nằm trong đối tượng mà Đức Giê-su dậy bảo hôm nay hay không?

Tôi thấy cách hành xử của hai người: Pha-ri-sêu và thu thuế, đều được tôi lập lại trong cuộc sống hằng ngày. Sống trong một môi trường coi trọng thành tích, chúng ta nói cho nhau nghe các thành tựu, liệt kê một mớ bảng tạ ơn hay trọng thưởng. Chúng ta muốn nói cho người khác biết là chúng ta đang làm rất tốt; rồi từ đó chúng ta cũng nghĩ rằng Chúa đang mong đợi các điều tương tự từ nơi chúng ta, Chúa sẽ có ấn tượng tốt qua các thành công của chúng ta. Bị ảnh hưởng bới các yếu tố đó nên ông Pha-ri-sêu của mọi thời đại đã làm giống như người Pha-ri-sêu trong bài Tin Mừng. Cho dù ông mở đầu bằng lời tạ ơn, nhưng tâm tình tạ ơn của ông đâu chẳng thấy mà chỉ thấy ông khoe thành tích, kể công nghiệp hàm ý rằng những gì mà ông đang thụ hưởng là một sự đáp trả mà Chúa phải ban qua các việc ông đã làm. Ông không còn nhận ra những gì mà ông có được là hồng ân từ Chúa thì làm sao ông có thể tạ ơn được. 

 Chúng ta không cần tạo một ấn tượng tốt nơi Thiên Chúa. Chúa biết rõ chúng ta là ai, và Người còn biết tận tường chúng ta muốn gì. Vì thế, việc nhận ra vị trí và thân phận của chính mình là điều tiên quyết mà chúng ta cần có khi đến với Ngài. Thiên Chúa làm gì còn chỗ đứng nơi những kẻ chỉ biết đến mình. Sự thật giúp chúng ta nhận ra rằng mình là người có tội và chính vì thế chúng ta cần Chúa.

Muốn được như thế, chúng ta cùng nghĩ rằng:

·        Bản thân và tất cả những gì chúng ta có được đều thuộc về Thiên Chúa. Đừng nghĩ rằng mình xứng đáng và chiếm hữu nó; trái lại hãy xử dụng mà chia sẻ cho nhau. Như vậy, những gì mà chúng ta có thể làm được cũng là hồng ân của Chúa; chúng ta đâu còn có gì để báo cáo thành tích mà vinh vang.

·        Tất cả mọi người, dù già hay trẻ, cao hay thấp, sang hay hèn, cao trọng hay thứ dân, đều được mời gọi để trở nên công chính và thánh thiện. Mức độ thánh thiện không tùy thuộc vào công trạng của con người nhưng tùy thuộc vào mối tương quan giữa Chúa và ta. Khởi điểm của việc thiết lập mối tương quan đó là nhận ra sự thật than phận tội lỗi của mình mà bám víu vào lòng Thương xót của Thiên Chúa. Không vịn vào công trạng mà là một tâm tình phó thác trọn vẹn vào Đấng luôn yêu thương mình.

·        Sau cùng, giống như người thu thuế, chúng ta hãy can đảm chấp nhận thân phận tội lỗi của mình, đến với Chúa để xin được tha thứ và tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương và muốn cho mọi người được cứu thoát. Đó chính là khởi điểm của cuộc sống mới.  Cuộc sống không bị mặc cảm tội lỗi dầy vò; nhưng qua đó mà chúng ta nhận ra Tình Yêu của Chúa cao cả dường bao. Vì Ngài là tình yêu, và Tình yêu chính là bản chất và sức sống của Thiên Chúa. Amen!

 

 

 

 

 

 

Wednesday, 12 October 2022

GƯƠNG SÁNG CỦA BÀ GÓA


Dụ ngôn trong phần phụng vụ Lời Chúa của Chúa nhật tuần này và tuần sau liên kết với nhau trong một chủ đề, đó là cầu nguyện. Cầu nguyện là đề tài quan trọng trong Tin Mừng theo Thánh Luca. Thánh sử đã cố gắng đặt tất cả các biến cố quan trọng xẩy ra trong sứ vụ của Đức Giê-su trong bối cảnh của việc cầu nguyện.

Nhìn vào cách thức và lời giảng dậy về cầu nguyện của Đức Giê-su, chúng ta nhận ra rằng cầu nguyện là hành động được bộc lộ của lòng tin, đó không chỉ là việc phát sinh từ lòng đạo đức hay cơ hội để chúng ta trình bầy các nhu cầu của con người lên Chúa. Thật vậy, lòng tin của chúng ta cần được biểu lộ bằng việc làm và các việc làm đó phải được phát sinh từ mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Và mối quan hệ này phải có tính bền vững như điều Đức Giê-su nói với các môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay. Nếu những ai theo Chúa mà không ngày đêm kêu cứu Chúa, thì thực tế họ không có lòng tin nơi Người. Nói khác đi, cầu nguyện phải đi đôi với việc làm. Đó là lối sống của những ai tin vào Thiên Chúa.

Vì thế, trong câu mở đầu của bài Tin Mừng chúng ta đã nhận ra bài học và ý muốn của Đức Giê-su. Người dậy chúng ta phải siêng năng cầu nguyện. Cầu nguyện với lòng tha thiết và liên lỷ, không được nản chí. Sau đó, Người đã minh họa lời giảng dậy bằng dụ ngôn ông quan tòa bất lương gặp bà góa quấy rầy.

Trước tiên là việc xuất hiện của ông quan tòa. Các chi tiết mô tả về tính nết của ông quan tòa như: bất lương, không sợ trời, chẳng nể đất và cũng chẳng sợ ai được nhấn mạnh nhằm chuẩn bị cho chúng ta nhìn thấy trước khó khăn mà bà góa sẽ phải đối diện. Một ông quan tòa với cá tính như thế thì còn quan tâm và để ý đến lời van xin của ai nữa. Số phận của bà góa thật không may khi việc kiện tụng của bà lại được ông quan tòa ‘không có lòng thương xót’ định đoạt. Việc trình bầy ông quan tòa như thế chuẩn bị cho chúng ta nhìn ra số phận hẩm hiu của bà góa.

Sau đó, một bà góa như tất cả mọi bà góa trong xã hội Do Thái được trình làng. Hoàn cảnh của các bà góa thời Đức Giê-su không được bảo vệ và không có nhiều quyền lợi như các bà góa trong xã hội hiện đại. Họ là những người cô thân cô thế, bị thiệt thòi mọi sự, không ai binh vực. Nhưng lòng kiên tâm của bà được đề cao. Đó là điểm chính yếu của dụ ngôn. Bà cứ kiên trì kêu cầu mãi. Hết ngày này đến hôm khác, bà cứ chờ chực ở cửa quan để đòi công đạo, đòi được minh xét vì bà nghĩ rằng phần lỗi về đối phương, họ đã làm hại đến bà.  

Cuối cùng, vị quan tòa vô tâm và chẳng hề biết sợ ai của chúng ta cũng phải đứng ra xét xử bịnh vực quyền lợi cho bà. Thật lý thú khi chúng ta nghe được lối suy nghỉ của ông khi xét xử, ông ta chẳng vì công lý hay bị lương tâm thúc đẩy mà binh vực cho quyền lợi của bà mà chỉ vì sợ bị bà quấy rầy khiến cho ông bị nhức đầu long óc mà xử cho xong. Từ trong lối suy nghĩ của ông, chúng ta thấy ông quan tòa trước sau vẫn là ông quan tòa, không có một chút thay đổi. Ông ta vẫn ích kỷ và vì quyền lợi của bản thân mà xử quách cho xong để khỏi bị quấy rầy.

Sau khi kể truyện xong, Đức Giê-su mới kết luận: “Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao?” Như vậy, câu đầu tiên và câu cuối cùng của bài Tin Mừng cho chúng ta thấy ý tưởng chính là cần phải cầu nguyện luôn, đừng nản chí.

Cầu nguyện cần đi đôi với việc làm, không chỉ một lần là đủ mà cần sự liên lỷ và bền đỗ. Trong niềm tin và phó thác chúng ta dâng lên Chúa tất cả, không phải cứ mỗi lần chạy đến với Chúa lại là xin ơn.

Ý tưởng nêu trên được minh họa qua truyện kể sau.

Có một gia đình kia không giống như các gia đình khác. Ông chồng của căn nhà này là người cầm lõi, tay hòm chìa khóa thay vì nằm trong tay bà vợ như mọi gia đình khác thì lại nằm trong tay ông. Được một điều là ông rất đại lượng, không chi ly và ít khi chất vấn vợ con về việc này. Thế mà, đã có một lần ông cảm thấy nhức đầu long óc khi những người con của ông, hết cô này đến chú kia, lần lượt đến xin ông điều này, đứa khác lại xin ông cho tiền mua điều nọ. Đứa nào cũng cần. Cái gì các cháu đưa ra cũng đều đúng… Thế mới làm ông khổ. Từ trong nỗi khổ đó ông mới nghiệm ra một điều là con cái của ông dù lớn về phần xác, nhưng chưa một cháu nào trưởng thành và biết suy tính cho cuộc sống của chúng cả. Lúc nào hết xin lại đến cầu, cứ như vậy thì làm thế nào!

Từ hoàn cảnh thực tế mà nhiều gia đình vướng phải anh chị em thử hình dung ra cảnh Chúa phải nghe chúng ta, bao nhiêu tỷ người, lải nhải. Hơn nữa nhiều lúc chúng ta xin điều mà chúng ta không biết mình xin gì nữa.

            Vẫn biết khi đau thì xin khỏi bịnh… Nhưng, tại sao không xin phó thác và can đảm để đối diện với căn bịnh. Đó là chưa kể đến việc nếu bịnh nào Chúa cũng chữa khỏi thì cần gì mấy ông bác sĩ và cũng chẳng cần ngân sách để xây thêm nhà thương và các viện nghiên cứu nữa.

            Rồi trong cảnh nghèo, túng thiếu thì xin no đủ… Nhưng, tại sao không xin chấp nhận và cầu nguyện cho mấy ông nhà giầu biết noi gương Chúa mà sống đại lượng.

Làm thế nào để lời cầu xin của chúng ta được Chúa ban trong khi chúng ta lại sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến nhu cầu, dù thiết yếu, nhưng vẫn là xin cho mình.

Nói chung, dù xin ơn là điều chính đáng và cần thiết. Nhưng chúng ta dễ rơi vào vị trí của những người chỉ biết ỷ lại, chờ đợi sự bố thí của kẻ khác; chưa kể đến các ơn mà chúng ta xin dường như chỉ vì nhu cầu của bản thân…. Tại sao không xin ý Chúa….

Chúa dậy chúng ta phải lo và quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Lo bằng tâm (có nghĩa là cầu nguyện), quan tâm bằng hành động (viêc làm).

Để kết thúc, xin anh chị em cùng nghe phần chia sẻ của Đức cố Hồng Y Sin, Tổng giám mục Ma-ni-la, Phi Luật Tân. Trong một bài giảng, Ngài đã kết thúc bằng việc trích dẫn một vài ý trong bài thơ của một tác giả vô danh như sau:

·        Tôi đã xin Chúa cất đi tính kiêu căng và Chúa trả lời: “Không”. Ngài nói rằng không phải Ngài sẽ cất đi tính xấu đó, mà chính tôi mới là người cố gắng chiến đấu để vượt thắng nó.

·        Tôi đã xin Chúa ban cho tôi lòng kiên nhẫn và Chúa đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng kiên nhẫn là hoa trái của thử thách. Ngài không ban cho tôi trái ấy mà để tôi tự tìm lấy.

·        Tôi đã xin Chúa ban cho tôi được hạnh phúc và Chúa đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng Ngài ban ân phúc cho tôi, còn hạnh phúc hay không là tùy vào cách thức tôi đón nhận và hành động.

·        Tôi đã xin Chúa gia tăng tinh thần cho tôi và Chúa đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng tôi phải học để trưởng thành và lớn lên, nhưng Ngài sẽ mài dũa và cắt tỉa để tôi sinh thêm nhiều hoa trái.

·        Tôi đã xin Chúa đừng để tôi đau khổ và Ngài đã trả lời: “Không”. Ngài nói rằng đau khổ là một phần của đời sống và giúp tôi đến gần Ngài.

·        Tôi đã hỏi: “Liệu Ngài có yêu tôi không” và Ngài đã trả lời: “Có”. Ngài nói rằng Tình Yêu là bản chất và lẽ sống của Ngài. Chính Đức Giê-su, người Con mà Ngài yêu nhất đã chết để bộc lộ Tình Yêu đó cho tôi.

·        Sau cùng, tôi đã xin Chúa giúp tôi yêu mến tha nhân như Ngài yêu thương tôi và Chúa nói: “Cuối cùng con đã xin đúng điều Chúa mong đợi”.

Hy vọng, tâm tình và nguyện xin nói trên cũng là tâm tư của chúng ta.

Nguyện xin Chúa ban thêm lòng tin để chúng ta luôn kiên tâm cầu nguyện cho đến khi Người đến vẫn còn thấy lòng tin trên trái đất này. Amen!

Tuesday, 4 October 2022

SỐNG LÀ ĐỘI ƠN và ĐỘI ƠN LÀ SỐNG


Bắt đầu bằng một truyện kể. Số là sau biến cố xẩy ra tại Việt Nam vào tháng 4 năm 1975, người dân miền Nam Việt Nam sống trong hoang mang và lo sợ. Tất cả đều mới. Người lãnh đạo, kẻ thừa hành  và dân chúng đã mò mẫm tìm hướng đi. Nhân lực, tài lực và hầu như tất cả mọi nguồn để xây dựng đất nước đã đổ vào chiến tranh hết. Nay, trước tình hình thực tế, các nguồn viện trợ bị cắt giảm. Chính sách và đường lối điều hành thử đi nghiệm lại sao cho phù hợp với tình hình thực tế khiến mọi người đã nghèo, lại nghèo hơn, nhà nhà đều đói. Trong giai đoạn này, những ai gặp khó khăn về tinh thần cũng như vật chất thường hay chạy đến các cơ sở bác ái, tiêu biểu là chùa chiền và nhà thờ, để cầu may. Chúng ta nói cầu may là bởi vì các vị trụ trì tại các nơi đó cũng chưa chắc có đủ phần ăn hơn dân thường.

Vào một buổi chiều, trước cửa phòng khách của một tu viện xuất hiện một cô gái trẻ. Chị đến xin gặp linh mục bề trên. Sau hồi chuông báo, vị linh mục đó bước ra cửa nhà khách, rảo mắt nhìn chung quanh để tìm xem ai là người muốn gặp ngài. Trước mặt ngài là một cô gái. Sau những lời chào hỏi, chị kể lại các việc cha đã giúp chị vào mấy năm trước mà cha không còn nhớ. Nói xong chị gửi lại số tiền mà cha đã cho chị mượn. Với lòng biết ơn, chị nói: “Cảm ơn cha đã tin con. Chính nhờ vào niềm tin của cha đã khởi động niềm tin trong con. Và giờ đây, với lòng biết ơn con xin hoàn trả lại số tiền mà cha đã cho con mượn năm nào. Thật là quí hóa, bởi vì nếu không có sự giúp đỡ của cha, đời con rồi không biết sẽ trôi dạt đến bến bờ nào đây!” Câu chuyện nói trên có thể minh họa cho nội dung của bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe.

Trình thuật Tin mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giê-su chữa lành cho mười người bị bịnh phong cùi, thế mà chỉ có một người bộc lộ lòng biết ơn, quay trở lại và tôn vinh Thiên Chúa, còn chín người kia tiếp tục đi trình diện với các tư tế.

Có một chi tiết mà chúng ta nên ghi nhận ở đây, đó là trong cơn hoạn nạn thì mười người phong cùi có nhau. Họ không bị gốc gác dân tộc, tôn giáo và niềm tin chia cách. Họ có chung một căn bịnh nên gắn bó để bảo vệ và nâng đỡ nhau. Bản sắc chung của những người bị khinh chê, ruồng bỏ đã đẩy họ trở thành những người thân của nhau. Thế mà, sau khi được chữa khỏi, được tự do, họ lập tức bị ngăn cách. Nhưng, chỉ còn một người xứ Sa-ma-ri-a, vẫn còn bị coi là giống dân ngoại, đã trở lại gặp Đức Giê-su, Đấng vừa ban on cho ông được khỏi bịnh.

Đứng trước phản ứng của chín người kia, những ai khó tính sẽ cảm thấy bị tổn thương và đau lòng vì sự vô ơn của họ. Thật ra, họ đâu có làm điều gì sai, họ vẫn vâng lời Chúa, đang trên đường đến gặp các vị tư tế để xin giấy xác nhận trở về với các sinh hoạt thường nhật như mọi người. Tuy nhiên, vì bám vào lề luật như một bảo đảm cho cuộc sống nên họ đã mất đi cơ hội đón nhận sự thay đổi, điều mới mẻ mà Đức Giê-su vừa thực hiện. Tuy họ không sai nhưng cơ hội để được đổi mới đã vuột khỏi tầm tay của họ. Thật đáng tiếc!

Chúng ta thì sao? Vẫn sống và chu toàn mọi khoản luật như là nguồn sức mạnh cứu thoát chúng ta hay sẵn sàng nhận biết ơn Chúa với lòng cảm tạ mà  tôn vinh và thờ lậy Ngài. Không ai trả lời vấn nạn này thay cho chúng ta.

Đối với Thiên Chúa, điều làm cho con người có giá trị là thái độ và cách ứng xử của chúng ta trước lượng ân sủng vô biên của Thiên Chúa đổ trên chúng ta. Chúng ta đã làm gì với các hồng ân cao cả như thế. Thánh Gioan cho biết: “Tự nguồn sung mãn của Chúa, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.” Ngài ban cho mỗi người những ơn họ cần, tùy thuộc vào khả năng đón nhận của từng người, nhưng cùng mục đích là để họ sống tốt đẹp và thánh thiện hơn. Có nhiều ơn rất tự nhiên, tự nhiên đến độ chúng ta quên luôn người đã tạo ra các ơn huệ đó.

Thí dụ không khí và hơi thở. Trong thời gian chống trả với nạn đại dịch Covid vừa qua, khi chứng kiến các bịnh nhân bị nhiễm Covid, hơi thở mệt nhọc vì thiếu dưỡng khí, tôi mới nhớ lại nguồn năng lực này. Nếu không có dưỡng khí, mấy ai trong chúng ta còn sống được. Hàng triệu người đã chết vì Covid, thế mà chúng ta vẫn còn sống. Không là hồng ân được ban tặng thì là điều gì nữa đây, thế mà chúng ta vẫn sống như người vô ơn!

Trong cuộc sống, đã có bao nhiêu dấu chỉ nói lên sự can thiệp và thông ơn của Thiên Chúa. Nếu không có ơn Chúa thì làm sao vợ chồng có thể yêu thương, kính trọng và luôn làm gương sáng cho con cái được? Nếu Chúa không hoạt động thì làm sao ông cha này bà phước kia hay thầy dòng nọ có thể quên ‘cái tôi’ của bản thân mà hết lòng phục vụ dân Chúa? Kể sao cho hết những ơn lành Chúa ban cho như ơn khôn ngoan, sự hiểu biết, cơ hội phục vụ, sức khỏe tráng kiện, đầu óc minh mẫn, con tim trong sáng, đồng cảm để tha thứ cho nhau, và ngay cả các đau khổ cũng là cơ hội để giúp mình nhận ra sự bất toàn và mỏng dòn của thân phận con người mà nương tựa vào Chúa hơn…, tất cả đều là ơn của Chúa. Điều quan trọng là mắt chúng ta có mở rộng đủ để nhận ra ơn Chúa hay là lại nghĩ rằng đó là những gì mình xứng đáng được, và nếu như thế thì hình như chúng ta đã coi Chúa như là người đầy tớ thay vì Đấng ban ơn rồi!

Đứng trước những ơn lành Chúa ban, chúng ta hay dùng các từ như tạ ơn, cảm ơn, ghi ơn, nhớ ơn, biết ơn…, để diễn tả thái độ của chúng ta, nhưng có lẽ một từ mộc mạc và đầy ý nghĩa nhất mà lâu nay chúng ta quên không dùng đó là ĐỘI ƠN: Ơn Chúa nhiều quá, nặng quá, đến độ ta không cầm, không thể mang, không cách nào khoác vào được, mà phải đội trên đầu, diễn tả sự kính trọng đối với Chúa, với ơn Chúa. Đội trên đầu thì phải sấp mình, quì gối xuống mà tôn vinh Đấng ban ơn. Đó chính là mẫu mực và cách hành xử của người Sa-ma-ri-a làm hôm nay.

Bằng cử chỉ trở lại để đội ơn Chúa đã làm cho người Sa-ma-ri-a được chữa lành hoàn toàn, về phần xác anh được khỏi bịnh phung và phần hồn anh được đổi mới để nhận biết Chúa là gia nghiệp và là sức sống của anh. Thật vậy, điều Chúa phán “Đứng dậy về đi! Lòng tin của con đã cứu chữa con” đã ứng nghiệm trong cuộc sống của anh ngay trong giây phút anh gặp Chúa.

Xin cho cuộc sống của chúng con là một chuỗi ngày đội ơn Chúa, Đấng thường xuyên săn sóc, bảo vệ và ban ơn chữa lành cho chúng ta về phần hồn cũng như phần xác. Amen!