Wednesday, 15 February 2023

HÃY YÊU NHƯ CHÚA ĐÃ YÊU!


Tuần này, chúng ta tiếp tục lắng nghe giáo huấn của Đức Giê-su trong bài giảng trên núi với hai phân đoạn thật khó để áp dụng vào cuộc sống. Làm sao chúng ta có thể đưa má bên trái cho người ta vả, trong khi má bên phải còn bị đau bởi cú tát trước. Tha thứ cho những ai gây ra các điều tác hại đã khó, phương chi còn phải yêu những kẻ ngược đãi mình là điều khó gấp bội. Thế mà đó lại là những huấn lịnh mà Đức Giê-su muốn chúng ta thực hành hôm nay.

Nếu chúng ta không yêu thương kẻ thù hay không yêu những kẻ làm hại chúng ta thì chúng ta cũng giống như những kẻ không có niềm tin. Điều mà Chúa Giê-su muốn chúng ta thực hiện hôm nay là phải sống khác họ, nghĩa là họ có quyền ghét chúng ta. Nhưng, phần chúng ta là công dân của Nước Thiên Chúa, con cái của Cha trên trời, chúng ta không được phép ghét họ. Sự thù ghét là mầm móng của nhiều sự ác có thể xẩy ra sau này. Nó có thể hủy diệt cả người ghét lẫn người bị ghét. Nó có thể được ví như mầm móng của các tế bào ung thư, sinh sôi nẩy nở và phá hủy các cơ năng khác trong cơ thể mình. Bởi thế cho nên, Chúa mới khuyên chúng ta phải sống yêu thương

Thật vậy, chúng ta nên yêu kẻ thù của mình vì tình yêu có sức mạnh cứu rỗi. Đó là nguồn năng lực biến đổi thế giới, trong đó có bạn và tôi. Đây là ý nghĩa của sự phục sinh mà Đức Giê-su đem lại. Có nghĩa là Người đã chết cho ý riêng để đầu phục ý muốn của Thiên Chúa là bày tỏ lòng thương xót của Thiên Chúa và cầu xin Cha tha thứ cho những ai đã kết án Người.

Tuy nhiên, đây quả là một việc khó khăn để hoàn thiện như Đức Giê-su đã yêu cầu. Việc nên hoàn thiện mà Đức Chúa yêu cầu hôm nay không dựa vào việc chu toàn lề luật mà là sống theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa giới thiệu; đó là nên hoàn thiện theo gương của Cha trên trời.

Nói như thế, chúng ta có thể khẳng định rằng, cho đến cuối đời, người tín hữu vẫn còn bị chất vấn để thay đổi, để làm mới cuộc sống mình sao cho phù hợp với các yêu cầu của Đức Giê-su trong bài giảng trên núi. Có nghĩa là trong mọi giây mọi phút của cuộc sống chúng ta được mời gọi hoàn thành một cách hoàn hảo những yêu sách của Tin Mừng, đó là thực hiện giới răn yêu thương một cách trọn vẹn nhất. Nói khác đi chúng ta được gọi, được chọn để yêu tất cả mọi người, không loại trừ một ai, nhất là những kẻ bách hại và làm nhiều điều tổn hại đến chúng ta.

Muốn thực hiện được các điều này, chúng ta phải ý thức rằng tình yêu là động lực thúc đẩy mọi hành vi của con người. Và tất cả mọi người đều là người thân của ta. Việc nhìn nhận này không lệ thuộc vào mối quan hệ mà người đó dành cho chúng ta, cho dù người đó không ưa hay không cùng phe nhóm, thậm chí họ là kẻ thù của chúng ta thì theo Lời Chúa dậy hôm nay, chúng ta cũng phải yêu họ. Không có họ, tính cộng đoàn, mối dây hiệp thông hình như không được trọn vẹn. Sự hoàn hảo chỉ tìm thấy trong tình yêu của chúng ta dành cho mọi người, không có sự khác biệt; tất cả đều là anh chị em với nhau.

Trên thực tế, cuộc sống của chúng ta rất tệ trong lãnh vực này. Chúng ta có khuynh hướng chỉ yêu những người có chung một cái nhìn, một lối suy nghĩ và một cách thức hành động giống như mình; ngoài ra đều là khách lạ và có thể là kẻ thù nữa. Ở đây, Đức Giê-su đòi hỏi chúng ta bỏ luôn quyền được tự vệ, từ chối mọi cách đối kháng, cũng chẳng kháng cự và thậm chí còn đồng ý đi xa hơn mức độ giới hạn mà đối phương đề ra nữa. Làm sao chúng ta có thể thực hiện được các điều này!

Thưa anh chị em,

Một điều mà chúng ta cần nhìn ra là khả năng thực hiện điều Đức Giê-su dậy bảo hôm nay hoàn toàn tùy thuộc vào sự kết hiệp giữa ta và Chúa, có nghĩa là Chúa làm trong ta thì ta mới nên hoàn thiện được. Đức Giê-su đã không ban cho chúng ta một mớ lý thuyết suông hay một cẩm nang, cho dù đó là ‘khuôn vàng thước ngọc’ chỉ đạo cuộc sống của môn đệ. Nhưng chính Đức Giê-su đã thể hiện trong cuộc sống và sứ vụ của Người các huấn lịnh trong Bài Giảng trên Núi này.

Thật vậy, đời sống người tín hữu là sự tham dự vào sứ mạng và con người của Đức Giê-su. Chính Thần khí và sức sống của Đức Ki-tô hoạt động và thúc đẩy để chúng ta sống đúng tinh thần của Chúa hơn. Nơi Đức Giê-su mọi mầm mống gây ra chia rẽ được liên kết lại với nhau. Mọi thù hận được hòa giải trong bản thân Người. Chỉ trong Chúa, con người mới tìm được sức mạnh để tha cho nhau, không còn coi nhau như kẻ thù và sự tha thứ sẽ đạt đến mức trọn hảo như lòng Chúa mong muốn.

Nói đến đây, tôi nhớ một mẩu chuyện ngắn xẩy ra tại thành phố Munich bên Đức năm nào. Số là trong một buổi gặp gỡ khoáng đại, chị Corrie Ten Boom được mời để chia sẻ về sức mạnh của niềm tin trong thời gian chị bị giam cầm trong trại tâp trung do các nhân viên mật vụ của Đức Quốc Xã trông coi. Ngày qua ngày, sống trong cảnh thập tử nhất sinh, chị chỉ còn biết dựa vào Chúa là đấng ban cho chị sức mạnh để vượt qua các ngày khổ nạn này.

Trong lúc đang hăng say làm chứng, mắt chị ngừng lại trước một cử tọa viên đang ngồi ngay trước mắt chị. Chị không tin vào đôi mắt mình. Toàn thân chị bất động. Chị lấy khăn lau mắt và nhận ra người đang ngồi trước mặt chị là viên sĩ quan mật vụ, người đã từng hành hạ chị và các bạn trong thời gian đó.

Trước phản ứng của chị, ông cựu sĩ quan đứng dậy và tiến đến trước mặt chị và nói: “Thưa cô, tôi rất biết ơn những lời chia sẻ và cuộc sống chứng tá của cô. Tôi tin  rằng Chúa Ki-tô đã rửa sách mọi tội lỗi của tôi.” Sau đó ông đưa đôi bàn tay ra để nhận sự tha thứ của chị.

Nghe tới đó, chị Corrie tiếp tục đứng bất động, mắt chăm chú nhìn vào đôi tay đang dang rộng của người đã từng hành hạ mình. Cuối cùng, chị cầu nguyện: “Lạy Chúa Giê-su, con không thể tha thứ cho anh ta. Xin Chúa, hãy cho con sự tha thứ của Người.” Khi thì thầm nói những lời đó, chị cảm thấy có một sức mạnh đẩy đôi tay của chị về phía trước, và rất tự nhiên chị đã vươn ra nắm lấy đôi tay của ông sĩ quan mật vụ này. Chị viết, “điều tuyệt vời nhất đã xảy ra. Từ trên đôi vai, dọc theo cánh tay và qua bàn tay, dường như có một dòng điện truyền từ tôi sang ông ấy. Ngay lúc đó, trong trái tim tôi nảy sinh một tình yêu dành cho ông này khiến cả tôi cũng bị choáng ngợp và không còn có phản ứng nào khác hơn là trao cho ông sự tha thứ và yêu thương từ Chúa.

Những gì xẩy ra cho chị Corrie Ten Boom nói cho chúng ta biết rằng: tất cả chúng ta đều là chi thể trong một thân thể duy nhất là Đức Ki-tô. Và chỉ có trong Người, với Người, các lịnh truyền trong bài Tin Mừng hôm nay mới được thi hành một cách triệt để và đạt đến ý nghĩa trọn lành của nó. Amen!

Wednesday, 8 February 2023

CÕI LÒNG CHỈ ĐẠO LỀ LUẬT


Đức Giê-su đã mở đầu bài giảng trên núi bằng việc loan báo các mối Phúc dành cho các môn đệ, những người đã chọn Nước Trời làm gia nghiệp. Dù cho hoàn cảnh có khó khăn đến đâu, thậm chí cần phải đánh đổi cả mạng sống thì vai trò nhân chứng về Nước Thiên Chúa vẫn dành cho họ là những kẻ đã được Thiên Chúa chúc phúc. Họ được chúc phúc không phải vì được trao ban cho một cuộc sống sung túc và đầy thuận lợi cho bằng đang thi hành sứ mạng là muối cho đời và làm ánh sáng cho nhân loại. Và, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su tiếp tục quảng diễn các việc làm cụ thể mà người môn đệ, công dân của Nước Trời cần thi hành.

Trước hết, chúng ta phải nhìn nhận rằng những lịnh truyền của Đức Giê-su hôm nay giúp chúng ta thiết lập và xây dựng mối dây tương quan giữa người và người theo đúng tinh thần của Chúa hơn. Người không đến để bãi bỏ lề luật và sự hướng dẫn của các ngôn sứ; nhưng Người hoàn thành và kiện toàn nó. Điều mà Đức Giê-su quan tâm ở đây không phải là sống rập khuôn theo các tập tục hay các khoản luật đã bị áp dụng cứng ngắc, đôi khi mất đi mối tương quan giữa người với người. Đức Giêsu quan tâm đến sự thay đổi trái tim, thay đổi lối sống để cho cuộc sống của mình luôn xoay quanh tâm điểm chính là Thiên Chúa. Lối sống này đem lại cho con người sự công chính không dựa trên lề luật, nhưng được xuất phát từ mối quan hệ giữa Thiên Chúa và ta. Từ đó, Đức Giê-su yêu cầu sự công chính của các môn đệ phải vượt trên sự công chính của những người thuộc nhóm Biệt Phái và các ông kinh sư thì mới vào được Nước Trời. Một cách cụ thể, Đức Giê-su yêu cầu các ông phải kiện toàn các điều như: đừng giận ghét, chớ ngoại tình, đừng ly dị và đừng thề thốt.

Đừng giận ghét: Trong cuộc sống, chúng ta không được phép giết người, mà ngay cả việc giận dữ, nóng giận cũng không được chấp nhận. Dường như các hành vi giết người được xuất phát bởi sự tức giận, như những câu chuyện mà các cô các cậu trẻ tuổi thố lộ trên các báo chí và các trang mạng xã hội. Điều này làm tôi nhớ lại kinh nghiệm mà tôi đã ghi nhận được trong khi làm việc tại các trại giam tại tiểu bang Victoria. Thoạt tiên, tôi vô cùng ngỡ ngàng trước vẻ lịch sự, hòa nhã, khiêm tốn của một số tù nhân đã phạm tội giết người. Tôi không thể hiểu tại sao họ có thể giết người được. Sau này, qua nhiều lần tiếp xúc, tôi mới nhận ra được một điều là hình như họ không kiểm soát và kềm chế được cơn nóng giận. Và tất cả các việc làm xẩy ra trong lúc tức giận đều đem lại những kết quả không lường trước được. Cha ông chúng ta đã có câu nói “giận hóa mất khôn!”

Để giúp chúng ta đối phó và diệt trừ tận căn mối nguy hiểm này, Đức Giê-su thúc dục chúng ta cần phải có biện pháp dứt khoát để đối phó với việc giận dữ. Bởi vì nó sẽ trở lại và gây nhiều hậu quả tai hại hơn. Người còn mời gọi chúng ta không chỉ đối diện với việc chúng ta giận ai mà là ai giận chúng ta thì chúng ta cũng cần đi bước trước đến để làm hòa với họ rồi sau đó tiếp tục tế lễ. Thật ra, chúng ta không thể giải thích và áp dụng điều Đức Giê-su nói ở đây theo nghĩa đen. Ai có thể để lễ vật tại đền thờ rồi đi mấy ngày đường trở về làm hòa với anh em, rồi trở lại để dâng của lễ. Bởi vì, đến khi trở lại thì của lễ có còn nguyên vẹn hay là đã bị hư thối mất rồi!

Phải quan tâm đến việc hòa giải và thay đổi cách sống rồi mới nói đến việc tế lễ. Tính cộng đoàn, tình anh em cùng một Cha trên trời được thiết lập và củng cố bằng đời sống. Như vậy, mối quan hệ hiệp nhất, yêu thương và tha thứ giữa người và người là điều mà Đức Giê-su muốn cho các công dân của Nước Thiên Chúa áp dụng trong cuộc sống. Đây là hành động của những con người đã được đổi mới và chỉ có ai được Chúa chúc phúc mới có thể làm được yêu cầu này. Yêu thương nhau là giới lịnh căn bản của người môn đệ, công dân của Nước Trời.

Chớ ngoại tình: Tương tự như vậy, khi nói đến ngoại tình, chúng ta phải đối phó với bất cứ điều gì khơi dậy lòng ham muốn, hành vi chiếm đoạt để thỏa mãn nhu cầu cá nhân hơn là việc tôn trọng và yêu thương mà chúng ta dành cho nhau. Xã hội hôm nay cho chúng ta đầy đủ dữ kiện, với những mẩu chuyện đang hiện ra nhan nhản trong các trang mạng làm chúng ta lo sợ; lại chưa kể đến sự tiến bộ vượt bực, ngoài tầm kiểm soát do các máy ‘điện thoại thông minh-smartphones’ đem đến. Người ta dùng nó để ‘chài mồi-grooming’. Hầu như nếu thiếu cảnh giác thì chúng ta sẽ dễ dàng đi lạc lối.

Giống như cách giải quyết mỗi khi nổi cơn giận dữ, ở đây Đức Giê-su truyền chúng ta cần đối diện với hiểm nguy này và có thái độ dứt khoát. Anh chị em hãy nhớ lại kiểu trình bầy của tác giả sách Sáng Thế khi trình bầy tiến trình dụ dỗ, sự tác động và ảnh hưởng trên E-và: Trước tiên nhìn thì khoái, sau đó thèm thuồng và nghĩ đến nó cảm thấy tưng tưng, bèn hái xuống và rủ chồng cùng ăn. Trình tự đó cũng được ám chỉ ở đây, nhìn người nữ với tâm hồn trong sạch và tôn trọng thì không sao, nhưng nhìn với vẻ thèm thuồng, chảy rãi ra là dấu hiệu không tốt cần phải đối phó và được điều trị đúng cách. Bởi vì từ cái nhìn như thế dẫn đến hành động chẳng xa bao nhiêu. Vì thế, Đức Giê-su yêu cầu khi Người dùng ngôn ngữ móc nó ra, chặt nó xuống hay cắt nó đi. Tất cả kiểu dùng chỉ nói đến yêu cầu dứt khoát mà Đức Giê-su muốn người môn đệ phải thi hành.

Tuy nhiên chúng ta cũng không nên phân tích quá tỉ mỉ để tìm ra điều gì được phép làm, điều nào không được phép hay cái gì nặng cái gì nhẹ. Cuối cùng chúng ta sẽ trở thành những con người sống vị luật, làm theo luật. Vấn đề quan trọng mà Đức Giê-su muốn cho các môn đệ của Người phải có, đó là sự thay đổi của con tim, hướng về Chúa để thanh luyện lối suy nghĩ, sửa lại cách nhìn, điều chỉnh ý hướng và ước muốn sao cho mọi sự được trong sạch như Lời chúc phúc của Đức Giê-su: “Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch.”

Đừng ly dị và đừng thề thốt: Về vấn đề ly dị, Đức Giê-su không truyền dậy một ngoại lệ. Một cuộc hôn nhân bất hợp pháp, dù chiếu theo luật, vẫn không được coi là cuộc hôn nhân thì đâu cần nói đến việc ly dị. Khi nhắc lại khoản luật này, Đức Giê-su không nói về tính hợp pháp của hôn nhân cho bằng đưa con người đi về ý định ban đầu của Thiên Chúa, nơi đó nói đến việc kết hợp, cam kết và gắn bó trọn đời bên nhau trong cuộc sống vợ chồng. Chung thủy vừa là mục tiêu, vừa là nền tảng của hôn nhân. Vì thế, chúng ta hãy nối điều dậy bảo đừng ly dị này với việc đừng thề thốt sẽ tìm ra ý muốn của Đức Giê-su, Người muốn các môn đệ, nam và nữ, đàn ông cũng như đàn bà, phải sống chính trực, trung thành với lời thề hứa. Họ không cần thề hứa rằng đang nói sự thật vì cuộc sống của họ là bằng chứng của sự thật mà họ không cần phải hứa nữa. Họ nên tôn trọng và cam kết sống chung thủy với người khác một cách bình đẳng. Họ không được phép coi người nữ là sở hữu, rồi muốn bỏ hay giữ tùy theo ý muốn của họ. Tất cả đều là con cái của Cha trên trời, là môn đệ của Đức Ki-tô và là công dân của Nước Thiên Chúa.

Tóm lại, trong các phân đoạn của bài giảng trên núi hôm nay, Đức Giê-su truyền ban các giáo huấn, tuy mới mẻ, nhưng Đức Giê-su không có ý chống lại các tập tục đã được gầy dựng bởi truyền thống tiền nhân và các lời dậy bảo của các ngôn sứ. Người cũng không đến để phá hủy hệ thống luật lệ; trái lại kiện toàn và đưa chúng trở về với ý nghĩa nguyên thủy; có nghĩa là đem các khoản luật trở về với ý định ban đầu của Thiên Chúa. Tất cả các lề luật và việc thi hành phải được xuất phát từ trong tâm hồn của người môn đệ. Cõi lòng là nơi quyết định cho các hành vi tôn giáo và con người được mời gọi cố gắng hoàn thiện theo mẫu mực của Đấng mà chúng ta yêu mến.

Trong tình yêu thì không còn khoản luật nào trở thành gánh nặng nữa. Và dựa trên kinh nghiệm và cách thế chúng ta đối xử với nhau thì có ai lại đi so bì và tính toán thua thiệt với người mình yêu bao giờ. Đó cũng là điều cần được áp dụng trong cuộc sống của các kẻ tin. Ước mong mối dây liên kết giữa ta với người được mãi bền chặt và thăng hoa trong mối tương giao với Thiên Chúa, Cha chúng ta, Đấng hoàn thiện và muốn cho mọi người được trọn lành như Người. Amen!

Wednesday, 1 February 2023

MUỐI VÀ ÁNH SÁNG ĐỂ LÀM GÌ?


Trong các câu cuối của phần loan báo Tám mối Phúc, Đức Giê-su đặc biệt nhấn mạnh đến hoàn cảnh của các tín hữu thời tiên khởi. Họ đang bị cấm cách, bắt bớ, xỉ nhục và vu khống. Vì thế trong cộng đoàn đã có những kẻ tháo lui và trốn chạy. Còn những ai trung thành, Đức Giê-su trấn an và nhắc cho họ biết rằng hoàn cảnh họ đang trải qua là một ân phúc mà không mấy ai có diễm phúc trải qua.

Anh chị em thân mến,

Nhìn lại lịch sử của Hội Thánh, chúng ta nhận ra một điều là Hội Thánh được sinh sôi nẩy nở và sinh nhiều hoa lợi trong các hoàn cảnh cấm cách và bị bắt bớ. Và những ai bền chí và trung kiên nên nhớ rằng họ đang làm chứng trong sứ mạng là muối cho đời và ánh sáng cho người khác.

Muối và ánh sáng là hai hình ảnh mà Đức Giê-su dùng để nói lên ước vọng của Người dành cho các môn đệ. Muối và ánh sáng không tự nó tồn tại. Cả hai vật dụng này được tạo thành và được dùng theo ý muốn của người đã tạo ra chúng. Có lẽ ngày nay chúng ta coi thường muối và ánh sáng. Tuy nhiên, những sống trước khi ông Ê-đi-son phát minh ra ánh sáng của dòng điện thì họ mới biết ánh sáng quí trọng dường bao.

Trong trình thuật tạo dựng, việc đầu tiên của Thiên Chúa làm là tạo ra ánh sáng. Ánh sáng thật quan trọng đối với Người. Đức Giê-su đã nhiều lần tỏ bầy rằng chính Người là ánh sáng. Và trong bài Tin Mừng hôm nay Đức Giê-su truyền ban nhiệm vụ và vinh dự cao cả đó cho các môn đệ khi phán dậy rằng: “Chính anh (chị) em là ánh sáng cho trần gian.”

Đây là một lịnh truyền thật trọng đại, chúng ta chỉ có thể thực hiện được bổn phận này khi tiếp nhận nguồn ánh sáng từ Đấng đã tạo ra ánh sáng. Tự bản thân chúng ta không tạo ra ánh sáng. Ánh sáng phát sinh từ Chúa và được chiếu giải qua việc làm của chúng ta để ca ngợi và tôn vinh Thiên Chúa, Đấng ngự trên trời.

Chúa nói rất rõ rằng ánh sáng của chúng ta phải được chiếu giải. Người nhấn mạnh đến lịnh truyền bằng động từ ‘PHẢI’, chứ không phải là việc làm theo hứng, thích thì làm còn không thích thì thôi. Nhiệm vụ này được trao ban cho những kẻ mới đón nhận các mối phúc làm gia nghiệp thì PHẢI có bổn phận san sẻ vinh dự cao quí này cho nhân loại.

Đức Giê-su tiếp tục lịnh truyền bằng cách dùng hình ảnh rất quen thuộc mà dân chúng thường áp dụng trong cuộc sống ngày thường. Thời của Đức Giê-su làm gì có điện. Thay vào đó, họ đốt đèn để phát ra ánh sáng. Dựa trên kinh nghiệm của cuộc sống, Đức Giê-su khẳng định không ai đốt đèn cho có ánh sáng, rồi sau đó để đèn (dầu) dưới cái thùng rồi úp lại, như thế ánh sáng của đèn làm sao chiếu tỏa cho mọi nơi trong nhà, chưa kể đèn có thể bị tắt vì thiếu không khí!

Qua việc xử dụng hình ảnh với lời khuyến cáo như thế, Đức Giê-su muốn nhắc nhở rằng ánh sáng đã được đốt lên, trao ban và hiện diện trong cuộc sống của người môn đệ. Nhưng chính cách sống của chúng ta làm cho phạm vi mà ánh sáng có thể chiếu tỏa bị thu gọn lại, như việc để đèn dưới đáy thùng vậy.

Còn về muối thì sao?

Muối được đánh giá cao trong thế giới ngày xưa. Tôi được nghe kể lại, đã có thời người ta coi muối như hàng hiếm, hàng quốc cấm. Vì thế, có nhiều người đi bán muối, ai lọt thì giầu còn ai bị bắt thì bị xử tử; từ đó mới có cụm từ ‘đi bán muối’ để ám chỉ những người quá cố.

Muối được sử dụng như một loại gia vị, chất bảo quản, chất khử trùng và được xem như là một thành phần của lễ vật trong các nghi thức tiến dâng; ngoài ra muối còn được dùng như là một đơn vị trao đổi.

Những người sống cùng thời với Đức Giê-su đã coi muối là vật quí hiếm và rất thông dụng trong cuộc sống. Họ còn dùng muối để hòa trộn với phân bón làm cho thủa đất tốt hơn, sinh nhiều hoa lợi hơn. Cho đến nay, muối được dùng để ướp làm cho thực phẩm khỏi bị ôi, giữ cho thức ăn tươi lâu hơn. Muối còn được dùng làm giảm cơn đau răng, đau cổ họng, v.v…

Tuy nhiên, vị mặn nằm ngay trong muối. Muối không có độ nhạt. Đã ngậm muối thì chúng ta sẽ cảm thấy vị mặn trong miệng. Tôi chưa bao giờ nghe ai nói đến vị nhạt của muối bao giờ. Nhưng nếu chúng ta dùng quá liều lượng sẽ ảnh hưởng đến thực phẩm và sức khỏe. Ngày nay, bác sĩ thường khuyên những bịnh nhân bị bịnh cao huyết áp hãy ăn nhạt hơn, vì độ mặn có thể làm tăng huyết áp.

Khi dùng hình ảnh muối để ám chỉ đến thân phận của người môn đệ, Đức Giê-su nhắc chúng ta nhớ bổn phận của mình là thêm mùi vị cho đời thêm mặn nồng hơn. Nói khác đi, chúng ta là những dụng cụ, các chất xúc tác mà Thiên Chúa dùng để làm cho hương vị của đời sống nhân loại thêm mặn mà và nồng ấm hơn.

Một cách cụ thể, chúng ta được mời gọi đem niềm vui và sự an hòa đến cho những ai đang sống trong sầu khổ, đem bình an đến cho những người có cuộc sống đang bị xáo trộn, đem lại ý nghĩa tích cực cho những ai đang chán nản và bi quan. Nói tóm lại, sự hiện diện của chúng ta sẽ mang lại điều tốt nhất cho xã hội mà chúng ta đang sống trong mọi tình huống.

Để kết thúc phần suy niệm của bài Tin Mừng nói về muối và ánh sáng mà người môn đệ của Đức Ki-tô cần đem đến cho thế giới hôm nay, chúng ta cùng nghe một trong muôn ngàn truyện tích về đời sống gương sáng của Mẹ Thánh Tê-rê-sa thành Calcutta và các nữ tu của mẹ đang miệt mài đem đến cho thế giới buồn tẻ ngày nay những mặn nồng của tình người môn đệ. Truyện kể như sau:

Vào một ngày kia, có một người đàn ông trung niên đến thăm nhà của Mẹ Thánh Tê-rê-sa dựng nên cho những người nghèo và những người sắp chết ở Calcutta. Ông ta vào nhà và chứng kiến cảnh các nữ tu đang chăm sóc cho một số người sắp chết, mà các sơ mang về từ các vỉa hè và lề đường. Trong số đó, có một người đàn ông được khiêng về từ máng xối, thân mình của ông ta đầy lở loét. Các nữ tu không hề để ý đến sự hiện diện của người khách lạ đang chăm chú theo dõi các việc làm của họ. Ông khách nhà ta chăm chú nhìn cử chỉ của một sơ trong nhóm các sơ đang phục vụ trong căn nhà đó. Ông thấy sự dịu dàng của chị nữ tu này khi săn sóc cho bịnh nhân. Ông nhìn ra nụ cười của sơ khi rửa và băng bó các vết thương hôi thối trên thân xác của người đàn ông đang hấp hối đó. Ông ta không bỏ qua một chi tiết hay một hành động nào của vị nữ tu đó. Tất cả đều phát xuất từ con tim của một con người chỉ biết quan tâm và sống cho người khác.

Sau khi chứng kiến các việc làm của các sơ, ông quay sang Mẹ Thánh Tê-re-sa và thưa rằng: Thưa Mẹ, khi đến thăm Mẹ, tôi hoàn tòan không tin vào Thiên Chúa, trái tim của con chứa đầy thù hận. Nhưng bây giờ tôi đã thấy và tôi đã tin. Ông đã thấy tình yêu của Thiên Chúa được chiếu sáng qua các cử chỉ vô cùng trìu mến và mặn nồng mà các nữ tư của Me Thánh đã làm. Thưa Mẹ, giờ này con tin!

Giống như vậy, chúng ta hãy để cho ánh sáng của Chúa chiếu tỏa trong các việc làm của chúng ta, để mỗi người, mỗi việc làm của chúng ta trở thành muối và là chất xúc tác làm cho đời thêm vị nồng thắm của tình Chúa hơn. Amen!

 

 

PHÚC CHO AI NGHÈO KHỔ MÀ BIẾT DỰA VÀO CHÚA


Các mối phúc thật trong bài Tin Mừng hôm nay là sứ điệp mà chúng ta đã lắng nghe trong Thánh Lễ Giao Thừa tuần vừa qua. Phúc lành của Thiên Chúa tuôn đổ liên tục trong cuộc sống lẽ nào chúng ta không đón nhận!

Trình thuật này được ban ra trong bối cảnh và lối sống của các cộng đoàn sơ khai, đặc biệt cộng đoàn do Thánh Mát-thêu coi sóc, và dĩ nhiên cũng được áp dụng cho hoàn cảnh của chúng ta nữa.

Như anh chị em đã biết, vào các thế kỷ đầu tiên, đời sống và các sinh hoạt tôn giáo của các tín hữu trong giai đoạn này gặp rất nhiều khó khăn. Họ bị khước từ, bắt bớ, giam cầm và rất nhiều người trong nhóm họ đã trải qua một cuộc sống rất cơ cực, nghèo đói, bị ngược đãi thậm chí còn bị giết chết. Trong bối cảnh đó, các tín hữu tiên khởi được nâng đỡ bởi các lời chúc phúc của Chúa. Họ cảm nhận rằng cho dù những gì họ đang phải đối diện là những điều khó chấp nhận, nhưng cuộc sống như thế lại đem đến cho hạnh phúc đích thật và lâu bền.  

Hoàn cảnh sống của chúng ta tuy đã khá hơn xưa, cuộc sống không còn bị chèn ép hay bị giết vì danh Đức Ki-tô một cách công khai nữa; nhưng con người ngày nay lại đi tìm và xây dựng hạnh phúc cho cuộc sống của mình khác xa với những yêu sách của Tin Mừng. Và cũng chính vì lối tìm hạnh phúc của chúng ta khác với hạnh phúc Nước Trời nên chúng ta khó chấp nhận giáo huấn và những lời chúc phúc của Đức Giê-su và mỗi khi nghe liền cảm thấy bị chói tai.

Anh chị em thân mến,

Thật ra ai cũng biết rằng nghèo và khổ, đói và khát thường đi đôi với nhau. Sống trong cảnh nghèo, chúng ta mới thấy được các nỗi khó khăn. Và thật tâm mà nói thì không ai trong chúng ta cứ muốn sống mãi trong hoàn cảnh cơ cực như thế. Họ cần vươn lên, cố gắng vượt qua mọi gian nan để tìm cơ hội phát triển và khẳng định chính bản thân. Nhưng làm thế nào để vươn lên là cách ứng xử và lựa chọn của từng người.

Có người chọn các phương tiện bất chính, trái với lương tâm, thiếu đạo đức, thiếu công bằng … nói chung là họ sẵn sàng làm mọi sự để thoát khỏi cảnh nghèo. Và khi thoát khỏi cảnh cơ cực về mặt vật chất họ lại rơi vào một vũng lầy của tham lam, tư lợi và cuộc sống cũng chẳng được hạnh phúc. Đó không phải là cách lựa chọn đúng đắn.

Trái lại, nếu chúng ta biết chấp nhận cảnh nghèo, sống ngay thẳng và lương thiện rồi tìm cách vươn lên bằng các cố gắng của bản thân để bước đi từ những bước nhỏ nhất thì cho dù chúng ta không thành công, vẫn có thể thành nhân và được mọi người quí mến.

Hạnh phúc là ở đó, không tùy thuộc vào cảnh sống nhưng bằng chính thái độ trong các hoàn cảnh của cuộc sống khiến cho các phúc lành của Thiên Chúa được biểu lộ trong cách sống của mình.

Nói như thế, chúng ta không coi thường người nghèo và ca tụng những người có của; bởi vì giàu có cũng không là điều tất nhiên đem lại hạnh phúc cho con người. Tiền của có thể mua cho họ đủ thứ, nhưng họ khó mua được hạnh phúc đích thật. Dựa vào một số thống kê mà chúng ta biết được con số những người giàu đi tìm cái chết để giải thoát những nỗi cô đơn, trạng thái trầm cảm đông hơn bọn dân nghèo mà biết chấp nhận. Đối với ai giầu có thì hạnh phúc đích thật vẫn còn xa tầm với.

Vấn đề hạnh phúc chủ yếu ở tâm hồn; hạnh phúc không hoàn toàn lệ thuộc vào vật chất hay của cải mà người đó làm ra. Như vậy, mối phúc thứ nhất có thể nói là mối phúc căn bản, bao gồm các mối phúc khác là “Phúc cho ai có tâm hồn hay tinh thần nghèo khó”.

Nhìn lại lịch sử cứu độ, chúng ta nhận thấy ‘người nghèo’ được Thiên Chúa quan tâm nhiều hơn. Vì trong cảnh nghèo, con người có thể dễ làm bạn với Thiên Chúa hơn. Theo truyền thống của Thánh Kinh thì những “người nghèo của Thiên Chúa” không phải là người có đời sống vật chất khó khăn túng quẫn, mà là kẻ trước hết hoàn toàn tin tưởng phó thác cậy trông nơi Chúa, lấy Chúa làm gia nghiệp, và luôn luôn sống trong tình liên đới với anh em đồng loại.

Hơn thế nữa, căn cứ vào những lời giảng dậy của Đức Giêsu, chúng ta nhận ra rằng hoàn cảnh của “người nghèo của Thiên Chúa” là một cơ hội giúp họ nhận ra họ mới thật là người có phúc, là người may mắn, vì chính Thiên Chúa sẽ là hạnh phúc của họ.

Nói chung, các mối phúc thật xét về mặt nội dung thì cũng chỉ là mối phúc duy nhất: “Phúc cho những người sống tinh thần nghèo khó”. Và, chỉ có những người nào sống nghèo mới cảm nhận được sự cần thiết phải nương tựa vào Chúa như thế nào.

Thưa anh chị em,

Vì chúng ta, Đức Giê-su đã trở thành người nghèo nhất. Trong cảnh nghèo tột cùng đó, Người đã để cho quyền năng, sức mạnh và sự giầu có của Thiên Chúa được tỏ hiện. Như vậy, sau cùng các mối phúc hôm nay đều quy về một mối: Phúc cho ai có lối sống như Đức Giêsu.

Thật ra, phúc lành của Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người, không phân biệt và cũng không loại trừ một ai. Tuy nhiên, với những ai đang sống cảnh nghèo đói và bị ngược đãi thì họ dễ dàng nhận ra lời chúc phúc của Thiên Chúa dành cho mình hơn. Nhờ nhận ra niềm hạnh phúc đó họ mới cảm nhận được sự an ủi để buớc đi tiếp.

Ước mong chúng ta có thể tuyên xưng hay nói với nhau rằng: những điều chúc phúc của Đức Giê-su trong các mối phúc thật mà tai chúng ta vừa nghe đã được ứng nghiệm một cách thật hữu hiệu trong cuộc sống nghèo nhưng biết lệ thuộc vào Thiên Chúa của chúng ta. Amen!

 

 

 

 

 

Wednesday, 18 January 2023

HẠNH PHÚC ƠI, BẠN Ở ĐÂU?

 

Cuối tuần này, những người tín hữu Việt Nam cùng nhau đón mừng năm mới âm lịch: Xuân Quý Mão. Một năm cũ Nhâm Dần đã qua đi với bao tai ương, thử thách pha trộn với muôn ngàn hồng ân. Chúng ta còn hiện diện bên nhau là hồng ân cao cả nhất mà chúng ta nên trân trọng trong giây phút này. Vì thế, trong niềm hân hoan đón mừng năm mới Quý Mão, chúng ta dâng lên Thiên Chúa tâm tình tạ ơn và niềm phó thác, xin vâng.

Ngoài ra cho dù vui xuân, chúng ta không quên nghĩa vụ của mình. Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ ba, mùa thường niên hôm nay, Mẹ Hội Thánh nhắc nhở con cái mình hãy nhớ đến ơn gọi của chính mình. Chúa đã kêu gọi các môn đệ tham dự vào công cuộc truyền giáo trong sứ mạng của người môn đệ thế nào thì hôm nay khi nghe lời mời gọi của Chúa, chúng ta hãy nhớ đến nhiệm vụ Chúa dành cho chúng ta là những môn đệ được Chúa gọi và chọn. Với nghĩa vụ của người được chọn, việc đầu tiên chúng ta cần làm là buông bỏ con người cũ để được Chúa biến đổi thành người mới, như Lời Chúa phán hôm nay: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”

Hãy sám hối không chỉ để sửa một sai lỗi nào đó mà là thay đối cách sống, đổi mới cách nhìn để đón nhận Nước Trời làm gia nghiệp, sống và tuân phục bản hiến chương mà Đức Giê-su công bố trong các mối phúc thật mà chúng ta được nghe trong giây phút linh thiêng và trang trọng giữa năm cũ và mới, giữa phút giây chuyển tiếp, giao lưu giữa hồng ân của năm cũ và ân huệ trong năm mới này. Giao Thừa là thế!

Và, trong giây phút thánh thiêng đêm nay, còn gì ích lợi hơn bằng việc dâng lên Thiên Chúa tâm tình tạ ơn và các lời nguyện xin bằng niềm phó thác. Hai ý nguyện này tưởng chừng như là hai, nhưng thật ra được nối kết với nhau như một: trong Chúa chúng ta đi tìm một ý lực sống cho năm mới này.

Trước hết, chúng ta không chỉ tạ ơn về những hồng ân mà Thiên Chúa, đấng làm chủ đất trời đã ban cho chúng ta trong năm qua. Nhưng ngay cả những thất bại, những bất hạnh, đắng cay đã xẩy ra trong năm cũ cũng là những cơ hội giúp ta gạn lọc và chọn lựa những gì thích hợp với cuộc sống hơn. Nói tóm lại, khi vui cũng như lúc buồn, khi hạnh phúc cũng như lúc đau khổ đều là những cơ hội để chúng ta tạ ơn, vì tất cả đều là hồng ân!

Sau đó, với tâm tình tạ ơn này chúng ta quên đi những khắc khoải, ưu tư, phiền muộn của năm cũ, để bắt đầu năm mới bằng niềm phó thác cho Chúa Xuân những nguyện ước của chúng ta để cầu xin Thiên Chúa ban phúc lành cho ông bà, cha mẹ, anh em họ hàng và bạn bè thân hữu được tràn đầy hạnh phúc, làm ăn phát tài và nhất là được ơn lắng nghe và làm theo Ý Chúa.

Anh chị em thân mến,

Việc cầu mong cho nhau được hạnh phúc là điều thiện hảo, tốt lành. Đó là lối cư xử của những người con cái của Cha trên trời. Thiên Chúa đã chúc lành cho chúng ta, còn chúng ta không mau mau ra đi mà chúc tuổi nhau. Tuy nhiên, thật đáng buồn vì việc chúc phúc này đôi khi đã được thực hiện như là một thói quen, kiểu xã giao ‘ông cho đi bà cho lại’. Và như thế thì việc chúng ta làm cũng chẳng có gì mới lạ. Miệng thì nói lời chúc phúc nhưng mấy ai trong chúng ta vui với hạnh phúc của người khác! Và chưa vui với niềm vui và hạnh phúc của tha nhân thì nói chi đến việc đem hạnh phúc đến cho họ.

Biết như thế, nên ngay ngày đầu năm, Mẹ Giáo hội, trong bài đọc một đã dâng lên lời cầu: Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành và gìn giữ anh chị em. Được Thiên Chúa chúc phúc là điều tốt, nhưng vẫn chưa đủ. Chúng ta còn được mời gọi để đem lời chúc phúc đó cho tha nhân. Muốn được như thế, chúng ta cần ôn lại bài học về ‘Tám mối phúc thật’ mà Chúa dậy chúng ta trong bài Tin Mừng của Thánh lễ đêm Giao Thừa hàng năm. Đó không chỉ là những huấn lịnh hay lời mời gọi của Chúa Giêsu. Nhưng đó là lối sống mà Chúa muốn chúng ta chọn để sống trong năm nay.

Các mối phúc của Chúa không phải là điều dễ chấp nhận. Thật chuớng tai và thua thiệt. Tôi xin chia sẻ cho anh em vài kinh nghiệm sống đã được thu lượm:

Ai cũng mong giầu có thì Chúa lại phán: “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó.” Nghèo khó để biết mình và biết được những gì chúng ta đang có là ân huệ của Chúa. Biết để tập sống giầu bằng cách chia sẻ cho nhau mà ca ngợi Chúa.

Vì không chịu nổi việc cấm cách, bị theo dõi, bắt bớ; nên tôi mới liều chết để sang đây. Thế mà Chúa lại nói: “Phúc cho các con khi bị bắt bớ”. Việc đón nhận niềm hạnh phúc khi bị bắt bớ vì Danh Chúa là một ân huệ thật đặc biệt, không phải ai ai cũng được diễm phúc chết vì đạo đâu. Ngay cả các bậc vị vọng đang sống trong môi trường bị cấm đạo cũng có mấy ai nhận được ơn này.

Ngày hôm nay người ta bắt và cấm đạo một cách tinh vi hơn. Một trong những phương thức có thể đang được áp dụng là ‘vỗ cho béo, nuôi cho rửng mỡ’ để các ngôn sứ ngủ quên trên nhung lụa và quên đi vai trò ngôn sứ. Nói như thế thì thử thách này cũng xuất hiện tại các nước bên trời Tây này!

Sống hiền từ là chấp nhận phần thua về mình. Thoạt đầu chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu vì người ta sẽ lấn tới, nhưng lâu dần chính sự hiền từ đó sẽ làm cho người ta thay đổi thái độ và đem lại hiệu quả lâu bền. Chúa đã hiền từ và tha thứ cho chúng ta thì việc đối xử nhân hậu với nhau cũng là phúc lành của Chúa thôi, có phải là của chúng ta đâu!

Tất cả những mối phúc trong ‘Tám mối phúc thật’ là những gì Chúa đã sống. Chúa Giêsu, không trình bầy một lý thuyết về hạnh phúc, mà muốn chia sẻ cho chúng ta chính kinh nghiệm sống của Ngài. Nói chung, tám mối phúc thật xét theo nội dung cũng chỉ là mối phúc duy nhất: Phúc cho ai có lối sống như Chúa Giêsu.

Trong tâm tình đó, Mẹ Hội Thánh ưu tư và ước muốn cho con cái mình được hạnh phúc. Và hạnh phúc đích thật chỉ có thể có được khi chúng ta biết rập khuân theo lối sống của Chúa, theo các tiêu chuẩn của Nước Trời. Vì thế, trong Chúa chúng ta đến với nhau, để mỗi giây mỗi phút chúng ta là nguồn hạnh phúc cho nhau. Để rồi, cho dù mùa xuân của trời đất có qua đi nhưng mùa xuân trong lòng anh chị em vẫn triển nở không ngừng. 

Sau cùng, nhân dịp Xuân về, thay cho lời chúc tuổi, chúng tôi trân trọng gửi đến anh chị em lời nguyện mà tôi không còn nhớ xuất xứ ở đâu nữa. Việc quên xuất xứ này không đáng khích lệ; nhưng tôi hy vọng rằng lời nguyện của tác giả vô danh này sẽ biến đổi chúng ta. Vì thế, chúng ta cùng dâng lên Chúa các lời nguyện này:

“Lậy Chúa, đã bao năm con nài xin sức khoẻ, để con có sức mà làm những việc vĩ đại và hoành tráng; Ngài lại cho đau yếu, để con biết mình yếu đuối.

Con cầu khấn giàu có, để con hạnh phúc; Ngài lại ban nghèo khó, để con khôn ngoan chọn lựa sự giầu có của Thiên Chúa.

Con cầu xin thế lực, để được người đời tôn vinh; Ngài lại cho yếu hèn, để con biết cậy nhờ Chúa.

Con van nài mọi sự, để con sống hưởng thụ; Ngài lại cho sự sống, để con vui hưởng mọi sự.

Con chẳng được ban những điều con nài xin; nhưng lại được tất cả những gì con đang mong chờ.

Và bất kể đời con ra sao; những ước nguyện thầm kín của con Ngài vẫn ban.

Như vậy, con đã được chúc phúc và đời sống con thật phong phú giữa muôn người.”

 

Chúng con xin dâng lời tạ ơn vì Thiên Chúa hằng quan tâm đến chúng con, ngay cả trước khi chúng con khấn xin.

Nguyện xin Thiên Chúa thánh hóa, gìn giữ bản thân chúng ta được vẹn toàn và không có gì đáng trách trong mọi ngày của cuộc sống, nhất là trong năm mới này. Amen!

 

Wednesday, 11 January 2023

CHỨNG THẬT HAY CHỨNG GIAN!


Ngày nay, song song với các phát minh trong các lãnh vực khoa học thì môn công nghệ thông tin có những tiến bộ vượt bực. Mọi tin tức được phát sóng và truyền đi mau hơn khiến chúng ta có ý nghĩ là thế giới bị thu gọn lại. Việc xẩy ra ở tận phương trời nào cũng được tường trình như là các sự kiện xẩy ra trước mắt mình. Đó là công việc của các phóng viên và ký giả mà chúng ta gọi họ là những ‘nhân chứng sống – eyewitness.’ Tuy nhiên, cũng bởi tài năng mà các nhà chuyên môn có thể ‘chỉnh - sửa’ và cho chúng ta nhìn và nghe những gì họ muốn. Nói chung, con người vẫn dành phần kiểm soát thông tin được truyền đi vì lợi ích của mình.

Trong sinh hoạt nhà đạo, môn công nghệ thông tin này cũng được tận dụng. Các nhà giảng thuyết nổi tiếng có tài hùng biện, lập luận vững chắc để thuyết phục người nghe, thêm vào đó là sự hiện diện của các nhân chứng để củng cố cho nội dung các lời giảng dậy của họ. Tuy nhiên, cách xử dụng nhân chúng cũng gây ra nhiều tranh luận. Có những người được dùng làm nhân chứng cò mồi! Trong khi đó chúng ta biêt rằng người làm nhân chứng phải là người giảng thuyết thì chứng từ của họ mới mang tính chân thật và có hiệu quả lâu dài. Chúng ta đừng bao giờ dùng Lời Chúa hay giải thích giáo huấn của Hội Thánh để hỗ trợ cho lập luận và ý tưởng của mình.

Anh chị em than mến,

Bài Phúc Âm hôm nay ghi lại cuộc đối thoại giữa các vị tư tế và các thầy thông luật. Họ đến chất vấn về nguồn gốc và việc làm của Gio-an. Họ hỏi ông có phải là Đức Ki-tô, ngôn sứ Ê-li-a hay một ngôn sứ nào đó hay không? Trước khi nghe câu trả lời của Gio-an, chúng ta hãy dành đôi phút tìm hiểu về nguồn gốc, vị thế và danh tiếng của Gio-an.

Dựa trên các bản văn đã ghi lại trong các sách Tin Mừng, chúng ta được biết Gio-an xuất thân từ một gia đình vọng tộc và danh giá. Ông Da-ca-ri-a, cha của Gio-an thuộc dòng tộc tư tế A-a-ron. Nhưng Gio-an có đuợc dậy dỗ và lớn lên trong khung cảnh của đền thờ hay không thì không ai hay biết. Chúng ta chỉ biết rằng Gio-an càng lớn càng thêm mạnh mẽ. Và, ngay từ thủa ấu thơ, Gio-an đã sống trong hoang địa cho đến ngày ông ra mắt toàn dân Ít-ra-en.

Tại hoang địa, Gio-an đã có kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa. Và chính trong hoang địa mà Gio-an đã khám phá ra ơn gọi, sứ mạng mà Thiên Chúa muốn ông thi hành. Qua Gio-an chúng ta nhận thấy bài học của Chúa, có nghĩa là chỉ có những lúc chúng ta đối diện với sự thật của đời mình, trút bỏ hoàn toàn các mặt nạ, trút bỏ kiêu ngạo, lo lắng, phân tán đi vào cõi sa mạc của chính mình để lắng nghe Lời Chúa thì chúng ta mới có thể gặp gỡ Thiên Chúa, có cơ hội khám phá ra Thánh Ý của Ngài, như trường hợp của Gio-an Tẩy Giả.

Trước khi kêu gọi dân chúng dọn sẵn con đường cho Chúa đến, sửa lối cho thẳng để Người đi thế nào thì bản thân Gio-an cần có cảm nghiệm về việc chuẩn bị, thống hối và dọn đuờng cho Chúa nơi chính mình trước. Như thế, chúng ta nhận ra rằng: thời gian sống trong hoang địa thật quan trọng đối với sứ vụ và sứ điệp của ông. Đây là một hành trình cần phải có để ông chuẩn bị hoàn thành tốt sứ vụ làm người tiền hô, đi trước để dọn đường cho sự xuất hiện của Đức Ki-tô, Đấng sẽ đến để cứu chuộc dân Người.

Ngay tại bờ sông Gio-đan, Thánh nhân đã được nhiều người biết đến. Lối sống và lời rao giảng của Gio-an thu đã hút họ, và người ta đã lầm tưởng và coi ông như Đấng Thiên Sai, nhưng Gio-an chỉ nghĩ đến sứ mạng mà Thiên Chúa đã trao ban cho là giới thiệu về Đức Giêsu cho nhân loại.

Vì thế, trong bài Tin Mừng hôm nay, Gio-an đã vô cùng can đảm khi nhìn nhận sự thật và công khai trả lời cho những người đến chất vấn ông biết rằng, ông không phải là Đức Ki-tô, cũng không phải là Ê-li-a hay một vị ngôn sứ nào đó. Ông chỉ là người dọn đường, tiếng hô trong hoang địa.

Ông đã không tự làm chứng về mình. Chứng từ của ông qui về Đức Giê-su. Lời chứng này nói lên điều Gio-an đã thấy. Cái thấy của ông hôm nay là hồng ân được ban tặng từ Chúa Cha, và soi sáng bởi Chúa Thánh Linh, nên Gio-an đã nói “Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.” Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.” (Gio-an 1:33-34)

Trước đó, Gio-an đã làm chứng và giới thiệu Đức Giê-su là Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian. Khi nghe đến các tước hiệu hay danh xưng này, chúng ta nghĩ và hiểu ngay căn tính của con người mà Gio-an muốn giới thiệu. Đó chính là Đức Giê-su, Con Chiên vẹn toàn đã hy sinh cuộc sống của Người để cứu độ và ban cho chúng ta ơn tha tội. Nhưng những người cùng thời với Đức Giê-su, ngay cả Gio-an vẫn còn mù mờ về chân tướng của Đức Giê-su.

Thật vậy, khi ở trong tù, các môn đệ của Gio-an đã báo cho ông biết về những việc mà Đức Giê-su đã làm khiến ông phải sai họ đến hỏi Chúa rằng: Thầy có phải là Đấng mà chúng tôi đang mong đợi hay chúng tôi còn phải chờ Đấng khác. Có lẽ trong hoàn cảnh đang bị tù đầy như thế, Gio-an đã nghĩ rằng nếu Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, người được Thiên Chúa tuyển chọn thì Chúa phải vào để cứu ông ra khỏi tù và kết tội vua Herode về tội lỗi mà nhà vua đã phạm. Trái lại, Đức Giê-su dường như không chỉ im lặng trước bạo quyền, không binh vực ông mà còn làm bạn với những người tội lỗi nữa.

Đức Giê-su đã không trả lời trực tiếp câu hỏi của Gio-an, Người nhẹ nhàng nói cho các môn đệ của Gio-an làm nhân chứng về các điều mà họ đã thấy và đã nghe, đó chính là người mù được sáng mắt và nhìn thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết được sống lại và những người nghèo được nghe Tin Mừng. Sau đó, Đức Giê-su còn nhắc khéo cho Gio-an biết rằng ông thật là có phúc, nếu không bị vấp ngã vì các công việc mà Đức Giê-su đã làm. Ở đây, Đức Giê-su muốn nói với Gio-an rằng: qua lời tường trình về các công việc Đức Giê-su đã làm mà các ngôn sứ đã loan báo thì ông có tin Người là Đấng Thiên Sai hay không?

Chúng ta không hề hay biết Gio-an có đón nhận lời chúc phúc của Đức Giê-su hay không? Qua cách nói gián tiếp để ca tụng lối sống chứng nhân của Gio-an, chúng ta thấy được Đức Chúa đã coi trọng Gioan đến dường nào! Ông đuợc ví như cây sậy tuy phất phơ và ngả nghiêng trước gió, nhưng đã không bị lôi cuốn và gục ngã trước quyền lực. Gio-an tôn trọng sự thật nên đã không vì hư danh mà đánh lừa dân chúng. Ngài can đảm làm chứng về sự thật. Và vì sự thật mà Ngài phải giữ đứng vị trí của mình, là tiền hô, người dọn đường cho Đức Chúa. Và đã là người dọn đường thì Gio-an phải biết đứng bên lề đường, nhường lối đi cho người được Thiên Chúa tuyển chọn bước vào. Đó là sự thật mà không mấy ai trong chúng ta đủ can đảm đón nhận.

Thật vậy, lối cư xử của Gio-an hoàn toàn ngược lại với lối sống của một số người trong chúng ta hôm nay. Chúng ta muốn thể hiện chính mình, muốn được tuyên dương công trạng, thích phô trương thành tích, muốn được triệu người ‘like’. Vì thế, chúng ta phải sống ảo. Thật và giả lẫn lộn cho đến một ngày mình cũng không còn biết mình là ai nữa! Sự thật dần dần biến mất để nhường chỗ cho giả dối. Sống giả mà được nhiều người ‘like’ thì vẫn thích hơn là sống thật mà bị ghét là quan niệm sống và giao tiếp của nhiều người hôm nay. Đứng trước các hiện tượng xem ra có vẻ bi quan như thế, chúng ta nên ngồi lại mà chỉnh sửa sao cho đúng với căn tính của người tín hữu.

Gương chứng nhân và chứng từ của Gio-an trong bài Tin Mừng hôm nay là lời mời gọi mà Chúa muốn nhắc nhở chúng ta. Chúng ta xác tín rằng tín hữu không chỉ là một tước hiệu, nhưng đó là đặc ân của Thiên Chúa dành cho những người được Thiên Chúa tuyển chọn. Tín hữu là những người bước theo chân Đức Ki-tô để thực hiện và chia sẻ nhiệm vụ của ‘Chiên Thiên Chúa’, sẵn sàng gánh và hứng chịu những khổ đau của tha nhân.

Như Gio-an, chúng ta tôn trọng sự thật, không sống vì hư danh, không làm để khoe khoang mà sẽ làm mọi sự để thể hiện tình yêu và gương hy sinh của Đức Giê-su trong bổn phận của một nhân chứng, có nghĩa là làm chứng về tình yêu của Chúa qua lối sống hy sinh cho nhau, giống như Đức Giê-su vậy. Amen!

Wednesday, 4 January 2023

HAI CUỘC TÌM KIẾM, AI TÌM AI?


Anh chị em thân mến,

Trình thuật Tin Mừng trong ngày Lễ Chúa Hiển Linh hôm nay mô tả hai cuộc tìm kiếm:

Trước tiên là con đường tìm kiếm Chúa của các nhà chiêm tinh. Họ chuyên nghiên cứu thiên văn và nhìn ngắm sao trời để đoán ra vận mạng con người, cách riêng một số người nổi tiếng. Vào một đêm kia, trong khi nhìn trời ngắm sao, họ bỗng nhận ra có một vì sao lạ xuất hiện bên phương Đông. Ngôi sao này rực chiếu hào quang, tỏa chiếu ánh sáng hơn các vì sao mà họ đã từng ngắm. Theo kinh nghiệm và dựa vào khả năng chuyên môn. Họ biết đây là vì sao chiếu mệnh của một vĩ nhân vừa được sinh ra cho thế giới này. Lập tức, các nhà chiêm tinh tuy ở các nơi khác nhau, họ cũng không có phương tiện truyền thông như điện thoại hay hệ thống mạng để báo cho nhau biết khám phá này. Họ không ai bảo ai, lập tức lên đường tìm kiếm.

Hành trình tìm kiếm của họ không dễ dàng. Dù có ngôi sao dẫn đuờng, nhưng ngôi sao lúc ẩn lúc hiện. Cũng có lúc các ông bị mất dấu; không phải do các ông đi lạc; nhưng ngôi sao không xuất hiện thì biết lối nào để đi. Trong hoàn cảnh đó, họ không hề thất vọng, tiếp tục tìm kiếm bằng cách đến hỏi vua Hê-rô-đê về vị quân vương mới được sinh ra ở nơi nào? Nghe tin ấy, Hê-rô-đê một mặt tìm kiếm mặt khác tìm cách thủ tiêu người có thể tranh quyền đoạt vị với ông ta sau này? Vua hỏi các thượng tế và kinh sư để tìm câu trả lời và báo cho ba nhà chiêm tinh biết về nơi chốn đấng chăn dắt dân của Thiên Chúa sẽ ra đời.

Các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó biết Chúa theo kinh điển mà không hề cất bước đi tìm nên cái biết của họ đã chẳng giúp gì cho họ. Vua Hê-rô-đê cũng biết; nhưng điều mà vua biết không đem vua lại gần Chúa; trái lại cái biết đó lại là nguyên nhân đem đến cho vua nỗi lo sợ. Phát sinh từ nỗi sợ hãi hoang tưởng, sợ mất quyền hành, ông ta đã giết hết những ai là mầm mống đe doạ sẽ lật đổ ngai vàng của ông.

Sau cùng, ngôi sao lại xuất hiện dẫn các nhà chiêm tinh đi đến nơi mà họ muốn đến. Thấy hài nhi được quấn tã nằm trong máng cỏ. Họ đã sụp lậy và dâng tặng những bảo vật quí giá nhất rồi sợ vua Hê-rô-đê giết, họ đã theo đường khác mà về nhà. Thật tiếc cho họ vì họ đã hoàn tất một cuộc hành trình, đã vất vả tìm kiếm, đã đi đến đích nhưng cuối cùng lại trở về nơi xưa chốn cũ. Họ vẫn chỉ là những nhà chiêm tinh. Họ chưa phải là môn đệ của Chúa!

Thật ra, hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh tuy đáng quí trọng, nhưng đây không phải là mối bận tâm của Thánh Sử. Điều mà Thánh sử muốn nhấn mạnh là sự xuất hiện của Đức Giê-su trong chương trình yêu thương và tìm kiếm con người trở về nẻo chính đường ngay của Thiên Chúa. Chương trình này đã được khởi sự ngay sau khi con người sa ngã. Người tìm đủ mọi cách để tỏ bầy tình yêu và lòng thương xót để mời gọi con người trở về. Và hôm nay, sau khi Giáng trần, Thiên Chúa muốn tỏ bầy cho nhân loại biết về chân tướng của hài nhi. Do đó, việc Chúa hiển linh là một sáng kiến phát sinh từ kho tàng ân huệ của Thiên Chúa. Ngôi sao cũng là một cách thức để dẫn đưa ba nhà chiêm tinh; thậm chí, Chúa có thể dùng cả những kẻ gian ác như Vua Hê-rô-đê như là cách thức soi sáng, cung cấp thông tin giúp họ khỏi lạc hướng. Như vậy, Thiên Chúa luôn tìm kiếm bằng cách soi sáng cho những ai tha thiết tìm ơn cứu độ, dù đôi khi họ cảm thấy ánh sáng lúc ẩn lúc hiện, đường đi không rõ và tương lai lại mịt mù.

Việc hiển linh đã trở nên trọn vẹn khi Đức Giê-su đã cho đi tận cùng cuộc sống của mình. Chính việc cho đi và tự hiến sau cùng của Người lại là cuộc tỏ mình huy hoàng nhất về chân tuớng đích thật của Người qua biến cố Phục Sinh. Vào ngày đó, Đức Giêsu bộc lộ trọn vẹn thần tính của Thiên Chúa nơi Người. Và chính nhờ ơn Phục Sinh mà chúng ta nhận ra thần tính của Đức Chúa. Các môn đệ là nhân chứng về cuộc Hiển Linh Phục Sinh. Niềm tin của chúng ta hôm nay cũng dựa vào lời chứng của các tín hữu tiên khởi; đó chính là: Thiên Chúa đã tỏ mình trong thân phận con người của Đức Giêsu, Người đã ở giữa chúng tôi và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người từ Chúa Cha mà đến.

Anh chị em thân mến,

Như vậy với trình thuật Hiển Linh, Thiên Chúa tỏ mình cho mọi người biết rằng: với Chúa không ai là người ngoài cuộc, tất cả đều được mời gọi đón nhận ơn cứu độ. Ai ai cũng đựợc diễm phúc làm con của Ngài. Ai ai cũng đuợc mời gọi sống để tỏ bầy sự hiện diện của Thiên Chúa.

Thiên Chúa đã làm người, đã tỏ chân tướng đích thật của Ngài cho chúng ta nhận biết. Nhưng chúng ta đã làm gì để việc hiển linh của Thiên Chúa trở thành lời chứng sống động trong cuộc sống mình? Cũng có lúc chúng ta cảm thấy Chúa quá gần gũi, sát bên mình và thúc giục chúng ta ra đi để thực hiện các việc cả thể. Với ý ngay lành chúng ta tuởng như là Chúa rất cần chúng ta để làm các việc phi thường… Nhưng rồi sứ mạng đâu dễ dàng, trải qua những giây phút chán nản và thất vọng khiến chúng ta muốn bỏ cuộc. Nhưng có một điều khiến ta ngạc nhiên và ngạc nhiên luôn mãi là Thiên Chúa không chán, không thất vọng về ta. Ngài dùng đủ mọi cách thức để bộc lộ và hướng dẫn chúng ta: Từ ngôi sao lúc ẩn lúc hiện, đến người không tin như Hê-rô-đê và các bậc vị vọng am tường đạo Chúa. Thiên Chúa vẫn dùng họ, không chừa một ai, để hỗ trợ, động viên, nhắn gửi cho ta một sứ điệp là ta vẫn đáng tin, đừng chán nản, hãy tiếp tục lên đuờng, căng buồm xuôi gió ra khơi.

Sáng kiến là của Thiên Chúa. Ngài đã đến ngay tại nhà, trong hoàn cảnh riêng của mỗi người. Như các nhà chiêm tinh, chúng ta hãy lên đuờng. Con đuờng làm chứng về việc tỏ mình, hiển linh của Thiên Chúa không nằm xa và ở ngoài khả năng của chúng ta. Nó nằm ngay ở bản thân, trong gia đình, giữa vợ chồng và con cái, giữa kẻ tin và người không tin, giữa những ai đủ can đảm để cho chất ‘người’ lớn hơn và bóp nghẹt chất con (vật) của mình. Để thể hiện lòng quyết tâm này, chúng ta hãy:

-          Trao cho nhau nụ cuời, các câu nói cảm thông hơn là trách móc, ghen tỵ và oán than nhau.

-          Đến với nhau bằng con tim mở rộng để khoan hồng và dung thứ cho những thiếu sót và bất toàn của nhau.

-          Mở rộng đôi tay để đón tiếp hơn là loại bỏ, hất hủi và xua đuổi nhau.

Nói chung, chúng ta làm cho Chúa được hiển linh bằng cách tìm kiếm và thực thi Lời Chúa – lời yêu thương, nâng đỡ, hỗ trợ và khích lệ nhau, hơn là chỉ biết ngồi đó mà kêu nài Lậy Chúa và Lậy Chúa xuông thôi đâu.

Đó là một số đề nghị rất đơn sơ mà ai trong chúng ta cũng có thể thực hiện. Tất cả đều là cơ hội để vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện qua lối sống chứng nhân, tuy tầm thường nhưng lại chứa đựng quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa nơi mình. Cầu xin được như thế. Amen!