Wednesday, 18 September 2024

SỨ MẠNG CỦA MÔN ĐỆ LÀ PHỤC VỤ


Kính thưa quí cụ, quí ông bà và anh chị em,

Thomas Merton, nhà thần học chuyên về tu đức và đời sống thiêng liêng rất nổi tiếng người Mỹ, đã nói một câu thật chí lý như sau: “Không ai là một hòn đảo.” Có nghĩa là chúng ta chỉ thật sự sống như một con người khi sống nối kết với người khác. Người khác đó không ai khác hơn là những người ta gặp hàng ngày, thậm chí có thể là những người không cùng ‘phe’ mình. Nói chung, người khác mà chúng ta đề cập ở đây là tất cả mọi người trong cộng đòan.

Còn gì hạnh phúc hơn khi chúng ta được sống trong một cộng đòan, nhỏ bé như gia đình hoặc rộng lớn như Giáo hội, mà trong đó mọi thành viên đều sống cho nhau, vì nhau và thương yêu nhau. Muốn được như thế thì mọi thành viên trong cộng đòan cần có trách nhiệm xây dựng và hoàn thành mục tiêu sống và nghĩ đến nhu cầu của nhau. Trái lại, nếu các thành viên trong cộng đoàn chỉ nghĩ và sống cho quyền lợi riêng, thì chúng ta không cần đi tìm ‘hỏa ngục’ đâu xa nữa; nó hiện diện ngay trong môi trường và lối sống ích kỷ mà chúng ta đang dành cho nhau đó. Và hậu qủa của lối sống ích kỷ là những va chạm, bất hòa và đổ vỡ. Một thực tế đáng buồn là chúng ta quá dễ dàng hòa hợp với lối sống đó. Và như cơn bịnh ung thư, nó cứ thế lan rộng và ăn dần vào từng bộ phận và giết dần giết mòn các chức năng khác của thân thể.

Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng chia rẽ trong cộng đoàn, nhưng một trong những nguyên nhân gây ra chia rẽ trong cộng đoàn lại xẩy ra bởi lòng ước muốn của những người lãnh đạo. Như các Tông đồ, các nhà lãnh đạo cũng bị cám dỗ về quyền lực.

Hẳn anh chị em vẫn còn nhớ lời cầu xin của Gia-cô bê và Gio-an. Các ông chỉ xin Chúa cho ngồi hai bên Chúa mà thôi. Điều đó có nghĩa là nếu Chúa là chủ tể (Tổng Thống) thì một ông là Thủ Tướng và ông kia là Tổng trưởng quốc phòng. Còn vị trí nào cao hơn điều mà các ông xin. Các tông đồ kia cũng có tham vọng như thế, nhưng không ‘nhanh miệng’ bằng hai anh em ông Gio-an, vì thế đâm ra tức tối (Mk: 10:41).

Nói tóm lại, nhìn lại các chứng cứ và các hiện tượng đã xẩy ra trong quá khứ, chúng ta nhận ra rằng quyền bính để thống trị, quyền lực để áp bức thường là những nguyên nhân khiến cộng đòan - nhỏ bé như gia đình, hay rộng như Giáo hội - bị chia rẽ và phân tán. Ai trong chúng ta cũng có trải nghiệm này.

Anh chị em thân mến,

Gia đình ít khi bị đổ vỡ vì con cái. Các cháu có thể là nguyên nhân gây ra sự bất đồng trong việc giáo dục. Nhưng nguyên nhân chính yếu thường xẩy ra bởi cha mẹ. Thay vì dùng khả năng, ân phúc để xây dựng và phục vụ lẫn nhau, nương tựa và cùng giúp nhau chu toàn nghĩa vụ được trao ban; trái lại chúng ta lạm dụng uy quyền để áp bức và thống trị nhau. Thậm chí có những tình huống bạo lực xẩy ra trong gia đình. Chỉ vì không ai chịu thua ai. Ai cũng dành phần thắng, phần nhất về cho mình. Trong khi dùng quyền bính để sai bảo người khác, chúng ta đã quên đi một điều là ai nói mà chẳng đuợc, ai cũng bảo vệ lập trường và lý luận của mình. Lắng nghe nhau mới là điều khó mà chúng ta cần học.

Nói tới đây, tôi nhớ lại những lời khuyên của các bậc trưởng thượng, trải qua bao thử thách trong cuộc sống chung. Các ngài đã chia sẻ cho chúng ta kinh nghiệm trong việc xây dựng gia đình của họ như sau. Họ nói rằng, thua là nghệ thuật sống chung trong gia đình. Khi bạn thua là lúc bạn thắng. Thắng chính mình để sống cho nguời khác hầu đem lại bầu khí an vui và hạnh phúc cho gia đình.

Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể nào loại bỏ các khuynh hướng xấu đang lan tràn và ảnh hưởng cuộc sống của chúng ta, đó là lối sống thống trị, ăn trên ngồi trốc. Trước hoàn cảnh đó, đặc biệt để giải quyết các tranh cãi của các Tông đồ hôm nay, Đức Giê-su đã đưa ra một giải pháp luôn luôn mới lạ và vô cùng hiệu quả nếu chúng ta biết áp dụng, và đây cũng là một thách đố cho Giáo Hội trong mọi thời đại.

Trong quá khứ quyền bính của các vị lãnh đạo Giáo Hội được công nhận về mặt thế quyền nữa. Thần quyền và thế quyền hòa trộn với nhau. Các nhà lãnh đạo trong Giáo Hội quá nhiều quyền bính và được tôn vinh quá mức. Vinh quang mà họ thụ hưởng phản ảnh quyền lực của thế gian hơn là cách thức mà Chúa Giê-su dậy bảo trong bài Tin Mừng hôm nay: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người.” Không chỉ có thế, sau đó Người đem một em nhỏ đến và đặt cháu đứng giữa các môn đệ, rồi ôm lấy cháu rồi nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy.”

Như anh chị em đã biết, vào thời Đức Giê-su, thân phận của người phụ nữ và trẻ con không được tôn trọng và quí mến. Đối với họ thì hai hạng người này bị coi là thành phần không có chỗ đứng trong xã hội. Theo luật thì các cháu phải chờ đến lúc lên mười hai tuổi mới đuợc tham dự các nghi thức phụng vụ tại Đền Thờ.

Đối với Đức Giê-su thì khác, khi đem em nhỏ đến và đặt giữa các ông là lúc Người muốn căn dặn các ông và chúng ta rằng: em nhỏ này là hình ảnh tượng trưng cho những người thấp cổ bé miệng, nghèo hèn, bị coi thường và không có tiếng nói về mặt đạo cũng như mặt đời. Như vậy, qua cử chỉ đón tiếp thật ân cần mà Đức Giê-su dành cho em bé hôm nay, Người muốn dậy các ông bài học quan tâm và đón tiếp nhau.

Không ai trong chúng ta là người giầu có hết. Trước mặt Thiên Chúa, tất cả chúng ta đều là người nghèo. Chúng ta chẳng có gì trao cho nhau cả. Tất cả đều lệ thuộc vào Thiên Chúa, Đấng trao vào tay chúng ta những món quà cho người khác. Vì thế, khi chúng ta đón tiếp người nghèo, người tất bạt, người đói khát, trần truồng, bịnh hoạn, những người không có địa vị như trẻ em thì đó không phải là một hành vi bố thí, thương xót về thân phận của họ bị coi thường, cho bằng nhận ra sự hiện diện của Đức Chúa nơi những người đó. Chúa hiện diện trong con người và cuộc sống của họ, cho nên khi chúng ta đón tiếp, yêu thương và giúp đỡ những người như thế là giúp đỡ và yêu thương chính Chúa.

Lời khuyên của Chúa được kèm theo việc làm của Người. Cử chỉ của Đức Giêsu khi ôm em nhỏ vào lòng là lúc Người biểu lộ lòng quí mến, yêu thương và tiếp nhận. Tiếp nhận một em nhỏ như thế chắc chắn không phải để em nhỏ phục dịch mình, nhưng là cơ hội mà Người muốn dậy cho các môn đệ bài học phục vụ. Hãy nhớ lại Lời Người đã nói “ai phục vụ ta thì hãy theo Ta”. Chúng ta đã là môn đệ của Người, vì thế chúng ta không còn chọn lựa nào khác hơn là phục vụ. Đó chính là lẽ sống và niềm vui của người môn đệ.

Như vậy, điều Chúa khuyên: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải là người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” quá rõ ràng. Có nghĩa là ai muốn làm lớn, theo tinh thần của Đức Ki-tô, phải là người phục vụ trước. Phục vụ là chìa khóa, là nguyên tắc của quyền lãnh đạo. Uy quyền có được trao ban cũng là do Thiên Chúa. Địa vị, quyền cao chức trọng cốt để phục vụ mọi người, chứ không phải để thống trị, như Chúa phán: "Ta đến để phục vụ, chứ không phải để được hầu hạ." Chúa đã đảo ngược cách hiểu thông thường về sự vĩ đại, vị trí của người làm lớn. Trong Nước Trời, người lớn nhất không phải là người có quyền lực, địa vị cao, mà là người hạ mình, phục vụ người khác.

Như vậy, qua trình thuật Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta đảo ngược những giá trị mà thế gian thường đề cao, thay vào đó là tấm lòng phục vụ và quan tâm đến những người yếu thế trong xã hội. Bởi vì, chỉ có Chúa mới là ông chủ, còn tất cả chúng ta chỉ là những người thừa hành và phục vụ lẫn nhau. Nói cách khác, cuộc sống của những kẻ có niềm tin vào Chúa Ki-tô phục sinh là cuộc sống phục vụ, sẵn sàng hiến mạng mình vì ích lợi của người khác. Amen!

Monday, 9 September 2024

THẦY LÀ AI?


Trong bài Tin Mừng, Chúa hỏi các môn đệ: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?” cũng là câu hỏi mà Chúa đặt ra cho tôi hôm nay. Tôi xin thú nhận rằng tôi vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Chúa là ai trong cuộc sống? Lắm lúc tôi thấy Chúa thật gần gũi, thật dễ thương và dường như Chúa đã làm chủ đời tôi rồi. Nhưng, lúc khác tôi lại chẳng thấy Chúa đâu cả. Người hiện diện mà tôi chưa được thấy nên Người vẫn xa vắng. Tuy nhiên, tôi không dám bỏ cuộc, vẫn cố gắng tìm kiếm với niềm hy vọng một ngày nào đó tôi sẽ biết Người như Người đã biết tôi.

Sau khi đã trải qua hơn hai phần ba hành trình của đời người, với mọi nỗ lực và cố gắng, đối diện và nhiều lần ngã gục trước các thử thách… tôi nhận ra rằng mình chưa làm được gì để chứng minh Chúa là chủ tôi… Vẫn như ngày đầu tiên… Tâm nguyện vẫn còn… Nhưng sức lực yếu dần, đèn trong nguời cũng sắp cạn hết dầu … Tôi vẫn loay hoay đi tìm câu trả lời cho câu hỏi ‘Thầy là ai?’

Ở đây cũng vậy! Số là sau phần tuyên tín của Phê-rô là lúc Đức Giêsu bộc lộ con đuờng mà Con Thiên Chúa phải đi thì ông lại ngăn cản Người. Lòng của Phêrô thật tốt, ông lo lắng và không muốn Thầy bị đau khổ. Nhưng ông đâu biết rằng ý tưởng và suy nghĩ của ông hòan tòan sai với ý định của Thiên Chúa, cho nên đã bị Chúa khiển trách "Xa-tan! lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người." Không chỉ có thế, trên đường thương khó Phêrô đã chối Thầy đến ba lần… Tuy nhiên, Phêrô cũng là người đã bộc lộ tình yêu và lòng mến dành cho Thầy…

Thánh nhân cũng có nhiều tài năng để trở thành một môn đồ tốt. Ngài thẳng thắn, tự tin, chăm chỉ, không che đậy, không tính tóan hơn thiệt giống như các bạn của ông tìm cách để tìm kiếm địa vị cao hơn…  và nhất là lúc nào cũng muốn và trở thành một người bạn thiết nghĩa với Thầy mình. Chính vì thế mà Chúa tín nhiệm ông. Nói khác đi, vì nhận ra mình là người còn đầy khiếm khuyết và tội lỗi nên Phê-rô quyết tâm lệ thuộc vào Chúa. Đối với Phê-rô, Chúa làm chủ đời ông.

Thưa anh chị em, còn anh chị em nói Thầy là ai?

Chúng ta có thể tìm thấy muôn vàn câu trả lời dựa trên sách vở và kiến thức về Đức Giêsu; nhưng tất cả những câu trả lời đó sẽ đem lại gì cho chúng ta! Hãy tìm câu trả lời bằng chính lối sống mình.

Có thật chúng ta tin nhận Người là Đức Ki-tô, là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế, là Đấng được Thiên Chúa sai đến để cứu độ và mở lối chỉ đuờng cho chúng ta về với Cha hay không? Và, nếu chúng ta đã hãnh diện tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa thì trong cuộc sống chúng ta đã đầu phục vị Chúa đó hay là vẫn dùng Người như là khí cụ để phục vụ tham vọng của mình?  Niềm tin và cuộc sống của những ai tin vào Chúa phải đồng nhất nên một. Không thể nào miệng tuyên xưng một đường, rồi chọn lối sống theo ngã khác. Chúng ta cứ làm như đời và đạo vẫn là hai mặt tách biệt của cuộc sống, không gắn bó và ăn nhập gì với nhau.

Vậy, Đức Giêsu là ai?

Tìm ra câu trả lời cho câu hỏi này không phải là việc dễ dàng. Có thể, trong suốt cuộc sống chúng ta cũng chỉ thấy mờ mờ mà thôi. Câu chuyện sau, xẩy ra mọi nơi, có thể giúp chúng ta phần nào. Truyện kể như sau:

Trong một lớp giáo lý, dựa vào bài Tin Mừng hôm nay, ma-sơ hỏi các em: Còn các con nói Đức Giêsu là ai? Cả lớp nhao nhao, có cháu nói Nguời là Thiên Chúa, cháu khác lại nói là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa… v.v. Gom chung lại thì các cháu nói đúng như văn bản trong Kinh Tin Kính mà chúng ta tuyên xưng với nhau trong các Thánh Lễ Chúa Nhật.

Trong khi đó, ma-sơ để ý thấy một bé trai ngồi ở góc lớp, im lặng, mắt nhìn ra cửa sổ, đăm đăm như có chuyện gì khó giải quyết. Sơ đến gần, chăm chú nhìn cháu rồi một lần nữa rồi nhắc lại câu hỏi. Cháu thẫn thờ trả lời: Thưa sơ, con không biết! Con chỉ biết là hiện nay em con đang bị ốm, trong nhà không có tiền mua thuốc. Ba con là một quân nhân, hiện đóng quân ở một vùng rất xa. Mẹ đang chạy ngược chạy xuôi ngoài chợ… Nếu Đức Giêsu là Chúa thì sao Người không săn sóc cho em con! Mọi người đều ngạc nhiên trước câu trả lời của bạn mình. Chẳng ai biết làm gì! Sau cùng, bà sơ lấy ra một túi nhỏ, tự mình bỏ vào đó vài đồng cắc và chuyền túi đó cho cả lớp, rồi trao cho em.

Qua hành động và chứng từ như thế, chúng ta sẽ làm chứng Đức Giêsu là ai, không chỉ bằng lời nói, cho dù đó là bản kinh Tin Kính, lời tuyên xưng của Hội Thánh; nhưng đó chính là những trải nghiệm của cuộc sống. Người đến để mời gọi chúng ta hy sinh, quan tâm, yêu thuơng và thỏa mãn các nhu cầu của nhau.

Nói đến hy sinh là phải nhớ đến từ bỏ. Đây không phải là việc làm dễ dàng. Từ bỏ một nết xấu, thói quen đã khó. Thế mà, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su mời gọi chúng ta từ bỏ mình, vác Thánh giá rồi đi theo Người, có nghĩa là khi chọn đi trên con đường của Chúa là lúc chúng ta bị thế gian loại bỏ.

Ai trong chúng ta có thể làm đuợc điều đó! Chúa mới là cội nguồn của sự việc. Chúa làm trong chúng ta. Chúa không làm thay vì Người đã ban và muốn dùng chúng ta như những khí cụ để thể hiện uy quyền của Người. Đúng thế, người tín hữu, dù được gọi sống trong bậc nào, âm thầm nhỏ bé như hạt cải văng vãi ở một góc nào trong xứ đạo hay đứng đầu một địa phận hoặc ở một vị thế cao hơn thế nữa, v.v… Cuộc sống của người môn đệ phải là mục tiêu cho những người chung quanh đặt vấn đề và họ phải tìm kiếm câu trả lời. Có nghĩa là, cuộc sống của chúng ta, bao gồm từ lời nói đến việc làm, sẽ là một câu hỏi cho những người chung quanh. Họ phải tìm hiểu xem chân tướng của chúng ta là ai? Thế gian sẽ không biết Chúa, nhưng qua cuộc sống của chúng ta thế gian sẽ có câu trả lời Chúa là ai?

Chúa là Đấng cứu chuộc. Người đã ban ơn cứu độ cho chúng ta. Người đã hoàn tất ý định và chương trình của Cha, phần còn lại là của chúng ta. Hãy đón nhận Chúa và ơn cứu độ của Người vào trong cuộc sống để ơn cứu độ trở thành hiện thực. Và đây là chứng từ. Hy vọng bạn và tôi sẽ là những nhân vật trong câu chuyện sau:

 Truyện kể về một người thanh niên có cuộc sống phóng đãng, đã phung phí tài sản của gia đình vào rượu chè, ma túy, phụ nữ, cờ bạc và lãng phí cuộc đời mình. Các nhân viên cảnh sát trong vùng đều biết mặt anh ta. Mọi người trong xóm đều nghe và biết về những hành vi đồi trụy của anh. Thậm chí, cha anh cũng không muốn nhìn nhận anh. Chán nản vì bị xua đuổi nên anh chọn cuộc sống ly hương và hứa sẽ không bao giờ quay trở lại chốn cũ.

Ngày này qua tháng nọ. Thời gian cứ trôi và không ngừng để chờ đợi anh. Mọi người trong xóm ngõ, ngay cả cha anh cũng quên sự hiện diện của anh trên cõi đời này. Duy nhất chỉ còn một người không bao giờ quên anh, đó là mẹ anh. Tính từ ngày anh ra đi đến nay đã tròn hai năm, mẹ anh sống trong buồn chán và nhớ thương cho nên đã ảnh hưởng đến sức khỏe của bà. Bà vốn là một phụ nữ yếu đuối, lại thêm buồn chán cho nên càng ngày càng tiều tụy cho đến một ngày kia khi thấy sức khỏe yếu dần bà mới ngỏ ý với chồng là muốn gặp cậu con đang trôi dạt ngoài chợ đời lần sau cùng trước khi bà chết. Chồng bà miễn cưỡng nhận lời. Tuy không biết anh đang ở nơi nào, nhưng họ cố gắng nhờ các phương tiện truyền thông đại chúng kêu gào và nói lên ý nguyện của người mẹ. Bằng cách này và cách khác, người cha cuối cùng cũng nhắn được mẫu tin báo cho anh biết về tình trạng và ước mơ của mẹ anh.

Nhận được tin, cậu vội vàng về nhà và ngay lập tức chạy vội vào phòng ngủ của mẹ và bàng hoàng khi thấy hình ảnh và dáng vóc tiều tụy của mẹ. Anh không cầm được nước mắt, nhào vào ôm choàng lấy mẹ, nức nở nghẹn ngào, vừa khóc vừa nói: “Thưa mẹ, con thật đáng chết, vì con mà mẹ phải đau khổ đến dường này, chẳng còn dáng người nữa, thà mẹ đừng sinh ra con thì hơn.” Chờ cho anh nói xong, bà mới nhấc đầu anh dậy, ôn tồn và nói: “Mẹ không hề giận hờn con, mẹ cũng có lỗi vì để con sống đầu đường xó chợ. Mẹ chưa bao giờ trách con. Mẹ luôn tha thứ cho con. Mẹ yêu thương con vô ngần và mẹ biết rằng Chúa còn yêu thương, săn sóc và giữ gìn con giúp mẹ nữa.”

Nghe đến đó, mắt anh bừng sáng lên nhìn mẹ không chớp mắt. Nhìn vào cặp mắt sáng long lanh đang chăm chú nhìn bà, người mẹ nhớ câu Chúa nói “Ta là sự sáng thế gian!” Sự sáng của Chúa chiếu soi từ đôi mắt anh và bà nhận ra có một sự thay đổi trong con người anh. Bà tin rằng, những gì bà cầu xin hay khấn nguyện cho anh, nay đã được Chúa nhận lời.

Ngay lúc đó, ba của anh bước vào phòng. Bà nhìn ông và nói: “Xin ông hay đón nhận và giúp con thay đổi. Em không còn sống được bao lâu nữa. Hãy giúp em làm cho con sống tốt hơn.” Ông bất đắc dĩ nhận lời vợ để bà yên tâm ra đi, nhưng trong thâm tâm ông biết rằng cậu con trời đánh của ông sẽ chẳng bao giờ giữ lời hứa, vì cậu đã hứa bao nhiêu lần trước đây mà nó có thay đổi đâu. Nhìn thấy thái độ của ông, bà đoán biết ý nghĩ của ông, nên âm thầm nói tiếp: “Trước đây con của chúng ta đã từng hứa, và nó đã từng thất hứa. Nhưng hôm nay, con đã gặp Chúa cho nên con chúng ta sẽ thay đổi. Anh hãy giúp em nhé.”

Nói xong bà cầm tay cậu con trai đặt vào lòng bàn tay của chồng bà và nhắm mắt lìa đời. Hai người đàn ông nắm chặt tay nhau và được gắn bó bởi tình yêu của họ dành cho người phụ nữ, người vợ và người mẹ này. Trong cái chết của bà, họ đã được Thiên Chúa hòa giải từ ngày đó.

Đó là truyện kể minh họa về sự tác động của Chúa nơi những kẻ tin.

Thật ra, Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta đã giao hòa thế gian với Người và mọi người với nhau. Thánh sử Gio-an đã loan báo rằng không ai có thể gặp gỡ Con của Ngài nếu Thiên Chúa không lôi kéo họ. Thật vậy, chúng ta được qui tụ lại với nhau trong Chúa Ki-tô, Đấng Cứu Độ trần gian để trở thành anh chị em, cùng một chi thể với Đức Ki-tô là đầu của chúng ta.

Bởi thế, khi tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa, là đầu của thân thể, là Đức Ki-tô là lúc chúng ta đầu phục vị Chúa Tể, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ, được giao hòa với Chúa và trở thành anh chị em với nhau. Cầu xin Chúa ban cho chúng ta biết dùng cả cuộc sống nhân chứng của mình để đáp trả lời chất vấn của Đức Giê-su: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?” Amen!

Wednesday, 4 September 2024

‘ÉP-PHA-THA’ HÃY MỞ RA!

 

Khoa học ngày nay đã sáng chế ra một loại ngôn ngữ bằng dấu chỉ (sign language) để giúp những người bị tật nguyền như câm và điếc có thể giao tiếp với người khác. Nhưng những người sống cùng thời với Đức Giê-su thì không được như vậy. Vì điếc nên họ không thể nghe và mức độ cảm thông với người khác cũng bị suy giảm. Vì bị câm nên họ không thể nói, vì thế việc làm cho người khác hiểu đuợc tâm tư và nguyện vọng của họ cũng gặp nhiều khó khăn. Tình trạng này kéo dài từ ngày nay sang ngày khác, nên sinh ra khó khăn trong việc giao tiếp. Cuối cùng, cuộc sống của những người bị câm và điếc càng ngày càng bị cô lập và xa cách với cộng đoàn. Chúa đã không nhìn họ như thế. Nơi Người có sự đổi mới. Chúng ta hãy tìm hiểu.

Trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, Thánh Mác-cô kể lại việc Đức Giê-su đã chữa cho một người vừa bị câm lại bị điếc được khỏi bịnh. Đức Giêsu không chỉ phục hồi tình trạng tật nguyền cho ông mà còn ra tay phá bỏ bức tường ngăn cách giữa ông và cộng đoàn. Từ đó, ông ta nghe được, nói được và cảm thông được với người khác, và ngược lại, người khác cũng dễ dàng nghe, hiểu và thông cảm với ông ta hơn.

Như vậy, việc chữa lành hôm nay không chỉ dừng lại việc chữa bịnh về mặt thể lý, nhưng còn nói lên việc Thiên Chúa tín trung, giữ lời hứa và tái tạo thế giới mới, một thế giới mà trong đó người ta sẽ không còn thấy bất cứ một nỗi lầm than nào; sẽ không còn tật nguyền nhưng đầy sự sống; sẽ không còn đói khát, âu lo và chiến tranh nhưng là hòa bình. Thế giới sẽ tràn đầy niềm vui và hoan lạc. Đó là một thế giới tuyệt vời mà chính Thiên Chúa đã khai mạc trong Đức Giê-su. Trong ngày đó, những ai tưởng như mình đã chết, đã đui mù, đã câm điếc, què quặt và những tật nguyền giống như thế… sẽ được chữa lành. Tất cả sẽ vùng lên, hân hoan, vui mừng reo hò vì Đấng cứu độ đã đến và giải thoát họ khỏi tất cả những tật nguyền và hoạn nạn nói trên.

Kính thưa anh chị em,

Khi Tin Mừng Mác-cô ghi lại cho chúng ta những điều kỳ diệu của Đức Giê-su như việc làm cho người câm nói đuợc, người mù trông thấy và người điếc nghe được thì có nghĩa là lúc mà những gì đã được loan báo về Nước Thiên Chúa bởi các ngôn sứ, đặc biệt ngôn sứ I-sa-ia nay đã được thực hiện. Đức Giê-su, một con người bằng xương bằng thịt đang hiện diện trước mặt ta. Người không chỉ đứng đó mà nhìn ngắm rồi phán dậy. Người hiện diện một cách thật tích cực. Người hiện diện bằng hành động. Những tật nguyền đã làm cho con người sống trong đau khổ nay được tháo bỏ. Những hàng rào quan niệm khiến cho con người bị cô lập và mất đi mối hiệp thông như nói không ra tiếng, nghe không thấy âm sắc… tất cả đuợc cởi bỏ.

Hôm nay, Đức Giê-su đến để khai mạc thời đại mới. Tuy, bổn phận của chúng ta là Tin vào những gì mà Đức Giêsu đã làm. Nhưng, vấn đề không phải là tìm cách làm cho mình có những quyền phép lạ lùng nhưng phải tin rằng những gì mà Đức Giê-su đã thực hành vẫn được thể hiện qua cuộc sống của chúng mình.

Đó là hồng ân. Chúng ta không chỉ là những người thừa hưởng gia nghiệp mà còn có bổn phận làm cho gia nghiệp mà chúng ta đã lĩnh nhận càng ngày càng phát triển rộng lớn hơn. Có nghĩa là, chúng ta cũng đuợc mời gọi, trong cuộc sống, trở thành những người biết san sẻ hồng ân và niềm vui khi được cứu độ cho người khác nữa.

Đó là ân phúc thật trọng đại, vì biết rằng mình đã thuộc về Thiên Chúa. Nhưng làm thế nào, chúng ta làm cho người khác nhận ra rằng chúng ta thuộc về Chúa. Có nghĩa là chúng ta cần có chứng từ trong cuộc sống. Nói khác đi, những ai đã thuộc về Thiên Chúa thì đều cảm nhận được niềm vui của Thiên Chúa, Đấng giải thoát, nâng đỡ và tháo gỡ những gông cuồng, đau khổ đang đầy đọa cuộc sống ta. Cho nên, trong niềm vui mừng và hân hoan đó, chúng ta không được phép khư khư giữ cho riêng mình mà còn phải biết nghĩ đến người khác, quan tâm cho những ai đang sống với các nỗi khổ đau, đang chịu thiệt thòi mà họ phải gánh chịu; rồi như Đức Giê-su, chúng ta sẵn sàng sống và chia sẻ cho họ nguồn ơn cứu độ mà chính bản thân mình đã đươc lĩnh nhận.

Chúa đã làm xong phần của Người, còn chúng ta, phải làm gì để xứng đáng với vinh dự là môn đệ của Đức Giê-su, Đấng đã mở tai cho người điếc, mở luỡi cho người câm, giải oan cho người bị áp bức và loan báo năm hồng ân của Thiên Chúa cho muôn dân? Vấn nạn này chất vấn và theo chúng ta cả đời và với tư cách của tín hữu, chúng ta không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước các đau khổ của những con người mà Chúa đã đến để làm bạn với họ.

Tóm lại, Đức Giêsu đã đến để đưa quyền năng của Thiên Chúa vào thế giới này hầu tái tạo trời mới đất mới và trao ban sự sống mới cho muôn dân thế nào thì chúng ta cũng cần thể hiện như thế. Có nghĩa là cuộc sống của chúng ta cần được mở rộng và mở lớn hơn.

‘Mở’ ra cho Chúa và Lời của Người soi sáng tâm hồn vì đó là nơi kín ẩn mà Thiên Chúa muốn ngự trị.

‘Mở’ tung những ‘mặt nạ’ để khuôn mặt thật của Chúa được tỏa sáng.

‘Mở’ ra cho bản thân và người khác nhìn thấy Chúa nơi phần sâu thẳm nhất của đời mình.

‘Mở’ để nhìn, để nghe, để cảm thông, để buớc đến, để an ủi, để vỗ về và để san sẻ tình thương cho bao nhiêu người đang chờ đợi bàn tay và con tim của chúng ta….

Cuối cùng là ‘Ép-pha-tha – hãy mở ra’ để Chúa làm chủ mọi sự trong và ngoài của chúng ta. Amen.

Wednesday, 28 August 2024

LỀ LUẬT HAY TÂM HỒN?

 

Anh chị em thân mến,

Vào thời Chúa Giê-su, dân Do Thái, ngoài việc tuân giữ các huấn lịnh của Thiên Chúa ban cho qua Mai-sen và các tiên tri, họ còn tuân giữ các qui định của cha ông truyền lại và coi đó như là những khoản luật của Thiên Chúa. Các qui định được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, và được coi như là các tập tục của tiền nhân. Đây là những kiểu mẫu sống hơn là luật lệ. Sau một thời gian dài áp dụng, dân Do Thái bằng lòng với những qui định này. Họ áp dụng chúng vào đời sống vì thấy chúng thích hợp. Người ta xếp chúng vào loại truyền khẩu và được gọi là “truyền thống của tiền nhân.”

Việc tuân giữ các lịnh truyền và những qui định của tiền nhân tuy tốt đẹp nhưng khi áp dụng, họ lại quá chú trọng đến những nghi thức bên ngoài và có lòng kiêu hãnh về các việc làm đó. Từ đó ý nghĩa tôn giáo của các qui định bị mất dần đi. Họ cho rằng việc thực hành và tuân giữ những qui định này là công sức của họ, dần dần được xem là các việc đạo đức, là hành vi của những người biết phụng sự Chúa. Họ đã quên rằng sự thánh thiện phải được xuất phát từ Thiên Chúa chứ không lệ thuộc các việc làm của chúng ta.

            Một cách cụ thể, chúng ta xem qua tập tục rửa tay trước khi dùng bữa được đề cập trong bài Tin Mừng hôm nay. Trước tiên, đó là các khoản luật dành cho hàng ngũ tư tế. Mọi tư tế đều phải rửa tay trước khi bước vào nơi cực thánh trong đền thờ. Mục đích của việc làm này này là tẩy rửa đi tất cả những gì là ô uế về mặt tôn giáo để các tư tế xứng đáng cử hành nghi lễ thờ phượng Chúa hơn. Dần dần, dân chúng cũng bắt chước các tư tế rửa tay trước khi cầu nguyện. Và bằng những suy nghĩ tương tự như thế, họ cũng rửa tay trước khi dùng bữa nữa.

Hôm nay, những người Pharisiêu và các thầy thông luật chất vấn Chúa Giêsu về việc các môn đệ của Người không rửa tay trước khi ăn. Chúa Giêsu đã phê phán họ rằng họ chỉ quan tâm đến việc tuân thủ các truyền thống bên ngoài mà quên đi tinh thần của lề luật. Người trích dẫn lời của ngôn sứ I-sa-i-a, rằng dân này tôn kính Thiên Chúa bằng môi miệng, nhưng lòng họ thì xa rời Chúa hàng dặm để nhắc nhở họ.

Sau đó, Chúa giảng dạy cho đám đông rằng không có gì từ bên ngoài vào trong con người mà có thể làm cho người đó ra ô uế, mà chính những gì từ bên trong, từ lòng người phát ra, mới làm cho người ta ra ô uế. Điều này ám chỉ rằng tội lỗi và sự ô uế không phải do những hành động bên ngoài mà là từ tâm hồn và ý nghĩ xấu xa từ tron tâm hồn và ý nghĩ của họ. Theo tinh thần của Chúa thì tất cả mọi sự đều phải được xuất phát từ tấm lòng, từ trái tim bằng không thì chỉ là các hình thức đạo đức không có chiều sâu, thậm chí có thể coi là hình thức của những người đạo đức giả. Theo Người, mọi sự thay đổi phải đuợc bắt nguồn từ trong tâm hồn thì mới có hiệu quả lâu dài. Tương tự như thế, các việc làm đuợc gọi là thánh thiện đều không lệ thuộc vào các hành vi bên ngoài, nhưng phải xuất phát từ tâm hồn con người.

Như vậy, ở đây, Đức Giê-su đã giúp chúng ta có một cái nhìn khác về sự thánh thiện. Chỉ có Thiên Chúa duy nhất là Đấng Thánh, và không một tạo vật nào đuợc gọi là thánh nếu không có quan hệ với Ngài. Con người chỉ đuợc nên thánh qua việc tiếp xúc, tương giao, gặp gỡ và nối kết với Thiên Chúa. Chỉ có trong Ngài và với Ngài, con người mới đạt đến sự thánh thiện mà thôi.

Anh chị em thân mến,

Nhìn vào cuộc sống của Đức Giê-su chúng ta nhận thấy Người chính là mẫu mực của mối tương giao, nối kết mật thiết của Cha và Con. Một sự hiệp nhất nên một. Cha ở trong Con và Con ở trong Cha. Vì thế, bản chất thánh thiện nơi con người Đức Giê-su phát sinh từ Thiên Chúa, không lệ thuộc vào nghi thức bên ngoài như những người Pha-ri-siêu lầm tưởng. Do đó, Đức Giê-su không bao giờ bị ô uế khi đụng chạm vào những người, mà lề luật đã xếp họ vào lớp người ‘ô uế, tội lỗi’. Trái lại, họ lại được thay đổi từ sự thánh thiện cuả Thiên Chúa thoát ra từ con người của Đức Giê-su. Qua việc tiếp xúc này, nhân phẩm họ đuợc phục hồi và con người họ được tái tạo nên một con người mới trong Chúa. Sự thánh thiện của con người không hệ luỵ bởi việc làm của chúng ta cho bằng đó là việc nối dài bản chất thánh của Thiên Chúa nơi mình, qua Đức Giê-su.

Vì vậy, trong phần kết luận của trình thuật hôm nay, Đức Giê-su nhấn mạnh đến việc làm của trái tim. Sự thánh thiện của con người phát xuất từ trái tim của người đó, chứ không lệ thuộc vào những lề thói hay cách cư xử hình thức bên ngoài của họ. Trái tim là nơi để con người có thể tiếp xúc một cách sâu thẳm với Thiên Chúa. Đó chính là cung lòng để Thiên Chúa ngự trị.

Đừng đánh giá nhau qua dáng vẻ bên ngoài nhưng hãy trao cho nhau tấm lòng, ban cho nhau quả tim yêu thương, nhân hậu và biết rung động trước các nhu cầu của nhau. Muốn đạt được điều này, tất cả chúng ta cần xây dựng và duy trì mối tương giao với Đức Giê-su mỗi ngày mỗi bền chặt và gắn bó hơn. Bởi vì, chỉ ở trong trái tim nhân hậu và yêu thương của Đức Giê-su, chúng ta mới tìm ra mẫu mực cho mọi tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Bởi vì, Thiên Chúa là tình yêu. Cho nên, ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy. Vì mọi việc làm chỉ là cách thức biểu hiện bên ngoài, điều quan trọng nhất là trái tim của chúng ta hướng về Thiên Chúa và diễn tả cho tha nhân như thế nào? Vì thế, xin cho chúng con đến với nhau bằng con người có trái tim của Chúa. Amen!

Wednesday, 21 August 2024

BỎ THẦY CON BIẾT THEO AI!

 

Anh chị em thân mến,

Cách hành xử trong cuộc sống giúp chúng ta nhận ra vị trí của chính mình. Tôi còn nhớ một hiện tượng, một thói quen mà người ‘có đạo’ hay thực hiện. Trong thời gian ở trại tỵ nạn Ga-lang, Indo năm nào. Mỗi khi có tầu vượt biên từ Việt Nam đến đảo bình an, thì thùng tiền xin tạ ơn Chúa và Đức Mẹ đầy hơn. Rồi mỗi khi có phái đoàn đến phỏng vấn nhận người đi định cư tại các nước thứ ba, thì thùng tiền xin khấn tăng vọt, cho đến khi phái đoàn ra về thì lại đến thùng tạ ơn làm ăn khấm khá hơn. Cứ xin khấn rồi lại tạ ơn, tạ ơn xong rồi lại xin tiếp. Lối sống đạo theo vòng xin xỏ rồi lại tạ ơn cứ thế tiếp tục xoay.

Lối sống như thế nói lên mối tương quan giữa mình và Chúa. Có những lúc chúng ta xác tín về việc theo Chúa của mình, nhất là khi gặp được nhiều thuận lợi trong cuộc sống. Tuy nhiên, lại có nhiều khoảnh khắc, nhất là khi phải đối diện với các thử thách vượt quá sức đón nhận khiến chúng ta cảm thấy chán nản, thậm chí có những người lâm vào tình trạng tuyệt vọng và muốn bỏ cuộc.

Vì thế, phụng vụ Lời Chúa trong Chúa nhật hôm nay, đặc biệt nội dung của trình thuật Tin Mừng giúp cho chúng ta có cơ hội xét mình và nhận ra chúng ta có phải là các tín hữu theo Chúa và làm theo y Chúa hay vẫn chỉ là tín hữu có tiếng mà không có miếng. Nào mời anh chị em cùng suy tư.

Anh chị em thân mến,

Trình thuật Tin Mừng hôm nay là cao điểm của một cuộc đối kháng mang tính quyết liệt giữa Đức Giê-su và các môn đệ. Họ là những người đã chứng kiến dấu lạ hoá bánh ra nhiều và đuợc nghe lời giải thích của Chúa về dấu lạ đó. Tuy nhiên, Chúa càng cố gắng làm sáng tỏ sứ điệp bao nhiêu thì lại nhận được sự chống đối không thiếu phần dứt khoát của một nhóm môn đệ bấy nhiêu. Kết quả là có rất nhiều môn đệ đã rút lui và không tiếp tục đi theo Người nữa.

Còn nhóm muời hai, tuy còn ở lại nhưng các ông vẫn chưa toàn tâm, toàn lực theo Chúa. Cụ thể, tại vườn cây dầu và trong hành trình Thương Khó sau này, Phê-rô là người đầu tiên đã chối Chúa. Như vậy, chúng ta thấy tuy cách chọn lựa của nhóm muời hai có phần khá hơn các môn đệ kia, nhưng điều mà Phê-rô đại diện cho nhóm mười hai tuyên cáo hôm nay “bỏ Thầy, chúng con biết theo ai” cũng chỉ là những lời nói suông, dựa trên môi miệng. Vẫn biết là như thế, nhưng đặc tính không tháo lui, tiếp tục dấn buớc bằng tất cả nỗ lực và khả năng của mình khiến cho nhóm muời hai gần với chúng ta hơn.

Thật vậy, việc chúng ta đến với Chúa, đi theo Chúa trước tiên không phát xuất từ mình. Đó là lời mời gọi, hành động lôi kéo từ Thiên Chúa. Không ai trong chúng ta có thể nối kết, gặp gỡ rồi tin vào Đức Giê-su nếu Chúa Cha không lôi kéo người ấy. Lời mời gọi, hành động lôi kéo đã xuất phát từ Thiên Chúa, bổn phận của chúng ta là thả lỏng, không gồng lên để cuỡng lại và sẵn sàng tự nguyện rồi buông quyền kiểm soát bản thân của chúng ta để theo Chúa. Đây là một sự chọn lựa khôn ngoan của người tín hữu khi họ nhận ra tất cả những gì mình có đều là hồng ân của Chúa, bổn phận còn lại là thi hành việc làm của chủ mình.

Nói thì dễ nhưng thực hành thật khó!

Làm thế nào chúng ta vẫn giữ được tâm hồn thanh thản, không tự mãn trước các việc làm đạo đức của mình. Hình ảnh người biệt phái tự mãn hiên ngang đứng trên bục bàn thờ, rồi mang công trạng ra để khoe trước mặt Chúa. Cuối cùng ra về tay không. Thái độ tự mãn dựa vào công trạng của ông khiến chúng ta nhận ra rằng các việc lành phúc đức đôi khi có thể là những vật cản để mình nhận ra tất cả chỉ là ân huệ của Thiên Chúa muốn qua mình trao ban cho người khác mà thôi. Và nếu là như vậy thì có gì mà khoe khoang.

Còn thái độ của người thu thuế, khúm núm đứng tự đàng xa, sau những hàng ghế cuối của đền thờ; ông đấm ngực nhận mình là kẻ tội lỗi rồi ca tụng những kỳ công mà Chúa thực hiện. Ông là hình ảnh của một kẻ tin, biết trao quyền làm chủ những việc mà mình đã làm được vào tay của Thiên Chúa. Ông ra về và trở thành người công chính vì niềm tin và thái độ khiêm cung của ông. Cách ứng xử khiêm tốn trước mặt Thiên Chúa, trước tha nhân và trước cả lòng mình của ông giúp chúng ta nhận ra mình chỉ là đầy tớ bình thường, thậm chí còn vô dụng của Thiên Chúa. Tất cả luôn là hồng ân, là cơ hội giúp chúng ta nhận ra rằng tất cả những gì mà chúng ta làm được hoàn toàn phát sinh từ nguồn suối yêu thương của Thiên Chúa, Đấng làm chủ chương trình và đời sống của mỗi người chúng ta.

Như vậy, buông lỏng sức mạnh kềm chế bản thân mình là buớc tiên quyết để bộc lộ và trao phó lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về mình. Đây chính là thái độ niềm tin của người tín hữu. Tuy nhiên, anh chị em hãy nhớ rằng, chính Chúa Cha mới là đấng che chở, bảo vệ và lôi kéo chúng ta đến để đặt trọn niềm tin vào Đức Giê-su, Con của Ngài.

Và, muốn có được niềm tín thác này, chúng ta phải bước ra khỏi chính mình, dấn thân và trở thành của ăn mà Đức Kitô muốn chúng ta san sẻ cho người khác. Niềm tin của người môn đệ không chỉ được nuôi duỡng bởi các bí tích, nhưng được dưỡng nuôi bởi Người làm nên các bí tích đó. Tất cả các nhiệm tích của Hội Thánh đều dẫn chúng ta về với nguồn của bí tích là Đức Giê-su, Nguồn mọi ân phúc và là Tin Vui cho các kẻ tin. Nói khác đi, để sống đúng chân tướng của người tin vào Đức Giê-su, thì việc cử hành và lĩnh nhận các bí tích chưa đủ, nhưng truớc hết chúng ta phải trung thành với Con Người của Đức Giê-su Kitô và sống tình huynh đệ với người khác.

Vậy, việc đòi buộc các môn đệ trung tín với Đức Giê-su lệ thuộc vào việc chuyên cần nghe lời giáo huấn của Người, có nghĩa là Tin vào Lời Người phán hôm nay rằng “ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời” đồng nghĩa với việc tin vào Đức Giê-su là Đấng nuôi sống chúng ta. Hơn thế nữa, các môn đệ còn đòi buộc buớc theo Người, đi con đuờng Người đã đi và tin rằng đó cũng là con đuờng dẫn chúng ta đến sự sống đời đời.

Thật vậy, chính Người là Bánh trường sinh, là nguồn động lực giúp chúng ta sống và đến với nhau. Muốn đến với nhau thì chúng ta cần đến với Chúa truớc. Đến với Chúa, gặp gỡ Chúa rồi tin vào Chúa là việc làm của người tin hữu.

Vì thế, thưa anh chị em,

Tin rằng Chúa ở trong ta. Tin rằng việc đón nhận Mình Máu Thánh Chúa không làm cho mình thánh thiện hơn, mà là trở nên giống Chúa hơn, nên một với Chúa hơn. Có nghĩa là khi đón nhận Mình Máu Thánh Chúa trong bí tích Thánh Thể là lúc chúng ta cũng chịu lấy thần khí và sự sống của Người; đó cũng là thời khắc để Chúa trở thành sự sống và thần khí của đời ta.

Như thế, cuộc sống của chúng ta trở thành hiến lễ. Hiến lễ cũng trở thành cuộc sống. Hiến lễ và cuộc sống là một trong Đức Giê-su thế nào thì đối với chúng ta cũng như vậy. Chúng ta không thể tách cuộc sống của người môn đệ ra khỏi hành vi hiến tế của Chúa được. Đây là một cuộc gặp gỡ thật trọn vẹn nói lên sự hiện diện đích thật của Đức Kitô với Hội Thánh của Người để ban sự sống cho nhân loại.

Thật vậy, nếu không có Đức Giê-su thì cuộc gặp gỡ, mối dây hiệp thông dù mang tính hy tế cũng chỉ là các nghi thức. Và nếu chỉ là các nghi thức thì còn có ích gì! Có Đức Giê-su là có sự sống, và nếu bỏ Đức Giê-su, Thầy yêu dấu ra thì cuộc sống của chúng ta còn có ý nghĩa gì; lúc đó chúng ta còn biết đi theo ai nữa đây! Chỉ có Đức Giê-su Ki-tô vừa là Tin Vui vừa là Đấng trao ban sự sống cho chúng ta mà thôi. Đó là mầu nhiệm của niềm tin.

Chúng ta hãy hân hoan tuyên xưng niềm tin ấy trong Chúa Giê-su Thánh Thể, Người chính là Bánh trường sinh nuôi dưỡng muôn người qua muôn thế hệ. Bỏ Thầy rồi chúng con biết theo ai đây! Thầy chính là sự sống của chúng con. Không có Thánh Thể Chúa thì không có cuộc sống môn đệ. Xin cho cuộc sống của chúng con luôn gắn bó với Chúa và tha nhân. Amen!

Wednesday, 14 August 2024

THẾ NÀO LÀ Ở TRONG CHÚA?

 

Anh chị em thân mến,

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Gioan tiếp tục bàn về ý nghĩa của ‘Bánh trường sinh’, dẫn đưa chúng ta đi vào chiều sâu của phần suy tư mà Ngài và cộng đoàn của Ngài đã trải nghiệm về bí tích Thánh Thể.

Anh chị em tín hữu thuộc các giáo đoàn tiên khởi đã không chỉ tưởng nhớ đến Đức Giê-su, Đấng đã chết để làm chứng cho Tình yêu cứu độ của Thiên Chúa cho nhận loại, mà còn làm chứng rằng Đức Giêsu là Bánh Hằng Sống từ trời xuống và đang hiện diện với họ. Vì thế, trong phần kết luận của diễn từ, Thánh Gio-an tông đồ muốn nhấn mạnh đến tính hiện thực của bí tích Thánh Thể. Điều này đã được nói đến trong phần trên của bài diễn từ, còn ở đây được nói đến trực tiếp. Những điều Đức Giêsu nói trong diễn từ là một cách nói khác với các cử chỉ, ngôn ngữ của Chúa trong bữa Tiệc Ly. Chính vì thế, tác giả Tin Mừng thứ tư không thuật lại việc Đức Giêsu lập bí tích Thánh Thể trong bữa Tiệc Ly. Tác giả chỉ đưa ra những suy niệm rất phong phú trong bài diễn từ để giải thích dấu lạ hoá bánh ra nhiều. Chúng ta cùng nhau bước vào chiều sâu và hiệu quả của bí tích Thánh Thể đem lại.

Bí tích Thánh Thể là một mầu nhiệm không phát sinh từ nỗ lực tìm kiếm của con người; nhưng đó là việc Chúa đã cử hành như đã đuợc các sách Tin Mừng ghi lại, cụ thể trong trình thuật của Tin Mừng theo Thánh Mác-cô như sau: “Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: "Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy." Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người.”

Tất cả các hành động “cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao ban” của Đức Giê-su trong bữa tiệc vượt qua đã đuợc thể hiện trọn vẹn trong sự chết, cao điểm của mầu nhiệm hiến dâng mà Đức Giê-su đã thực hiện. Thân xác Người là tấm bánh mà Người đã bẻ ra và trao ban để nuôi sống muôn người. Cuộc sống và sứ vụ của Người là bài ca chúc tụng Thiên Chúa.

Đức Giêsu đã không trao cho chúng ta một kế hoạch, một chương trình để biến đổi xã hội. Người đã không đến để lãnh đạo một cuộc cách mạng chống lại sự chiếm đóng của đế quốc Rô-Ma. Thậm chí, Người cũng không phá hủy và quét sạch chế độ nô lệ mặc dù Người có ý làm như thế. Điều tiên quyết mà Người đã làm là ban chính mình để bộc lộ Tình Yêu khi Người dâng hiến bản thân cho Cha và Thánh Thần. Có nghĩa là Đức Giê-su đã trao ban cho chúng ta quyền thừa hưởng gia nghiệp của Nước Chúa, tạo cho chúng ta một cuộc sống nhằm giải thoát chúng ta khỏi quyền lực và ảnh hưởng của sự ác khiến cho chúng ta không còn phải chết nữa.

Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta tin rằng có một mối dây liên kết được thiết lập giữa chúng ta và Đức Kitô Phục Sinh. Người đã được sinh ra như chúng ta, trưởng thành và lớn lên theo năm tháng như chúng ta, và cuối cùng Người đã chết, nhưng không như chúng ta, Người đã Phục Sinh. Giờ đây, trong bí tích Thánh Thể, chúng ta làm chứng về sự Phục sinh của Người, Đấng đang sống và nuôi dưỡng để chúng ta đủ sức đi chung một con đường về nhà với Người.

Đức Kitô Phục sinh hiện diện với chúng ta trong Thánh Thể là sự hiện diện đích thật. Thân xác Phục sinh là một thân xác hoàn hảo mà Thiên Chúa đã trao ban lại cho Chúa sau cuộc hiến dâng trên Thập Giá của Người. Bằng vào thân xác đã được Phục Sinh, Đức Giê-su bây giờ có thể có mặt trong bí tích cho bất kỳ người nào khi Thánh Thể được cử hành. Đây không phải là hiện diện vật chất. Nhưng Chúa Giê-su đến với chúng ta bằng sự hiện diện bí tích của mầu nhiệm Thánh Thể, không chỉ đơn giản là một sự hiện diện bên chúng ta mà Người còn đem chúng ta đến tình trạng hoàn hảo ở trong Người nữa.

Trong bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu đến với chúng ta để chúng ta có thể ăn Mình và Máu Người. Đây chính là của ăn trường tồn và vĩnh cửu biến đổi thân xác chết dở của chúng ta thành thân xác vinh hiển của Đức Chúa. Lúc đó chúng ta làm cho Lời Chúa được ứng nghiệm, đó là: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy."

Tuy được ở trong Chúa là điều cần thiết, nhưng không quan trọng bằng việc Chúa ở trong ta. Có nghĩa là chúng ta tập sống từ bỏ để cuộc sống của mình nên giống Chúa. Người đã sống nhờ Cha. Người đã trở thành của lễ hiến dâng đẹp lòng Thiên Chúa và đã trở nên nguồn ơn cứu độ nuôi dưỡng thế gian và những kẻ thuộc về Người thế nào thì trong phận vụ của người môn đệ, chúng ta cũng đuợc hối thúc, để ngày qua ngày, với bí tích Thánh Thể chúng ta sống trong mối dây hiệp thông với Đức Ki-tô để trở thành của lễ hoàn hảo cho Thiên Chúa trong niềm vui phục vụ và trở thành của ăn cho nhau.

Tóm lại, rao giảng Nước Trời và phục vu tha nhân là nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng của người môn đệ. Nhưng, để chu toàn đuợc nhiệm vụ cao cả và quan trọng đó, chúng ta cần đuợc nuôi dưỡng bởi sức sống là Thánh Thể Chúa. Chính bí tích Thánh Thể là nguồn sức mạnh giúp chúng ta làm đuợc những việc mà thế gian không làm được. Thế gian có thể tạo ra những anh hùng nhưng không tạo thành người môn đệ. Người ta có thể hiến dâng vì lý tưởng. Nhưng người môn đệ hiến dâng mình vì Yêu. Nguồn ơn sức mạnh đó chỉ có trong Thánh Thể Chúa. Chúng ta chỉ có thể quên mình để phục vụ người khác hết lòng nếu chúng ta được nuôi dưỡng bởi Tình Yêu của Đấng đã hiến dâng và sẵn sàng chết vì yêu.

Như vậy, chạy đến với bí tích Thánh Thể để nên một với Chúa là nền tảng và mục tiêu trong cuộc sống của người môn đệ. Không có Thánh Thể Chúa, không có người môn đệ đích thật. Có nghĩa là, cho dù người môn đệ có làm đuợc bao việc cao cả đến đâu mà không phát sinh từ Thánh Thể Chúa thì giống như người khờ dại xây nhà trên cát. Ơn khôn ngoan đuợc trao ban để chúng ta chọn lựa sự sống và sự sống đó phát xuất từ Mình và Máu Thánh Chúa. Từ đó chúng ta mới có thể sống và đạt được nguyện ước là trong Chúa, chúng ta sống và trở thành của ăn nuôi dưỡng nhau. Amen!

Wednesday, 7 August 2024

NGUỒN SỐNG CHÍNH LÀ CHÚA.

 Anh chị em thân mến,

Thái độ buồn chán gần như tuyệt vọng của ngôn sứ Elia trong bài đọc một hôm nay khiến tôi nhớ lại cách ứng xử của một số người đã đối diện với các căn bịnh nan y. Họ đã trải qua những tháng ngày đau khổ trên giuờng bịnh. Có những lúc không chịu nổi, chán nản và tuyệt vọng cho nên họ đã thốt lên ‘sao Chúa không cất con về cho rồi, cứ để con phải đau khổ mãi thế này!’ Như Elia, đó chính là phản ứng mang tính rất con người của chúng ta. Nhưng thái độ của Elia không làm cho Thiên Chúa thay đổi ý định.

Trong phần tiếp theo, tác giả đã thuật lại việc Thiên Chúa sai sứ giả mang bánh cho ông ăn và nuớc cho ông uống; không phải một lần mà là hai lần. Sau khi được bổ dưỡng, ngôn sứ tiếp tục lên đuờng và hoàn tất cuộc hành trình, đến núi của Thiên Chúa. Như vậy, qua câu chuyện, chúng ta mới thấy lòng quan tâm, săn sóc của Thiên Chúa dành cho Elia và cả chúng ta nữa. Ngài luôn hiện diện để trợ lực và thêm sức giúp chúng ta vuợt qua các gian nan và thử thách để hoàn tất cuộc lữ hành.

Thiên Chúa sai sứ giả của Ngài mang bánh và nuớc đến cho ngôn sứ Elia cho nên ông mới hoàn tất cuộc hành trình. Còn chúng ta thì sao? Có được hưởng đặc ân như ngôn sứ đã được qua bàn tay của các thiên sứ hay không? Câu chuyện minh họa sau đây có thể đem đến cho anh chị em lời giải thích.

Xẩy ra là, dân chúng tại một khu làng kia đã phải chịu một trận lụt thật kinh hoàng. Cũng may là tất cả mọi người dân trong làng đều đuợc di tản đến khu an toàn, ngoại trừ một chàng thanh niên kia đã chọn không di tản vì tin vào việc Chúa sẽ đến giải cứu anh. Việc đầu tiên anh làm là trèo lên tầng thứ nhất của căn nhà để tránh ngập lụt.

Bỗng nhiên, có một người đàn ông chèo ca-nô đi ngang và hỏi anh có cần được giúp đỡ để đến khu an toàn không? Anh trả lời không vì anh tin rằng Chúa sẽ cứu anh.

Mực nuớc cứ tăng dần. Anh bó buộc phải trèo lên tầng hai. Lại có một chiếc thuyền máy đi ngang qua, viên tài công dừng lại và hỏi anh có cần được giúp đỡ hay không? Anh cũng từ chối và tin rằng Chúa sẽ cứu anh.

Mực nuớc tiếp tục dâng cao. Đến lúc này anh phải trèo lên mái nhà để tránh nạn. Bỗng nhiên, có một chiếc trực thăng bay ngang qua. Ông phi công mới hỏi anh có cần đuợc giúp đỡ để đến khu an toàn không? Lại một lần nữa anh trả lời không vì tin rằng Chúa sẽ cứu anh. Anh kiên quyết ngồi đó chờ Chúa.

Cuối cùng Chúa đến thật. Anh bị chết đuối và đưa về diện kiến Chúa. Trong giây phút đó, anh đã thân thưa với Chúa rằng: “Con đã hết lòng tin tưởng vào Ngài, tại sao lại để con bị chết đuối.” Chúa từ tốn trả lời anh: “Con ơi, Cha, không chỉ một lần mà là ba lần, đã sai ba sứ giả của Ta đến cứu con mà con có nghe đâu. Con từ chối sự giúp đỡ của Ta mà.”

Qua câu chuyện minh họa nói trên, chúng ta nhận ra mình cũng là sứ giả của Thiên Chúa. Thế mà, chúng ta có nhận ra vai trò sứ giả mà Thiên Chúa dùng để giúp nhau hay lại đi tìm các phương thế phi thường khác để nhận ra sự can thiệp của Thiên Chúa dành cho mình?

Như vậy, vai trò của thiên sứ trong bài đọc một đuợc hiểu như là sứ giả thực hiện lịnh truyền của Thiên Chúa. Và, chính Thiên Chúa mới là Đấng thêm sức bổ duỡng cho ngôn sứ chỗi dậy và đi tiếp. Thiên Chúa đã không nhận lời cầu xin của Elia, nhưng Ngài hiện diện trong lúc mà ngôn sứ cần đến Ngài nhất.

Trong tinh thần đó, qua bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta tiếp tục lắng nghe, đón nhận và đào sâu sự quan tâm và săn sóc của Thiên Chúa qua diễn từ bánh hằng sống của Đức Giê-su. Người chính là bánh trường sinh, bánh hằng sống từ trời xuống nuôi duỡng và ban thêm sức mạnh cho chúng ta đủ sức đến và cùng dắt tay nhau đi về nhà Cha. Nhưng để Đức Giêsu là sự sống đích thật cho chính mình, chúng ta đuợc mời gọi đến với Đức-Giê-su, một con người thật đã hiện diện giữa thế gian, và chúng ta tin rằng giờ đây Người còn hiện diện trong bí tích Thánh Thể.

Bắt đầu phân đoạn Tin Mừng hôm nay là sự chống đối của người Do Thái khi nghe Đức Giê-su công bố Người từ trời xuống. Chúng ta có thể thông cảm khi họ có cái nhìn định kiến về Đức Giê-su. Vì thành kiến nên họ không nhận ra quyền năng của Thiên Chúa hoạt động trong các kinh nghiệm rất đời thường mà họ đã có với Người. Mắt họ dán vào những dấu lạ bên ngoài mà quên đi một dấu lạ phi thường, đó là uy quyền của Thiên Chúa thường xuyên hiện diện và hoạt động trong các sự kiện bình thường nhất giữa chúng ta. Những gì mà chúng ta loại bỏ thì Thiên Chúa làm nên đá tảng để xây dựng cơ ngơi, nhà của Ngài.

Trước thái độ hoài nghi, vịn vào lý lẽ rồi từ khước đón nhận Đức Giê-su của người Do Thái, Đức Giê-su tiếp tục tỏ bầy cho họ biết rằng không ai có thể đến với Người trừ phi Chúa Cha là Đấng đã SAI Người, không LÔI KÉO kẻ ấy, và Đức Giê-su sẽ cho người ấy SỐNG LẠI trong ngày sau hết. Như vậy, việc chúng ta đến được với Chúa là một hồng ân.

Anh chị em thân mến,

Thật vậy. Hôm nay, Đức Giê-su đã tỏ bầy cho chúng ta một điều thật quan trọng. Việc chúng ta có thể đến được với Chúa có thể phát sinh từ niềm tin trong việc đáp trả lời mời gọi của Người; nhưng thật ra đó chỉ là điều thứ yếu. Thiên Chúa đã đi bước trước, đã hoạt động bằng cách ‘lôi kéo’ chúng ta đến với Ngài. Dĩ nhiên, Thiên Chúa không ép buộc chúng ta phải tin theo Ngài. Vì yêu thương Thiên Chúa tôn trọng quyền tự do mà Ngài đã ban tặng cho chúng ta. Nhưng không vì thái độ bất trung của chúng ta làm cho Ngài bỏ cuộc. Ngài luôn làm chủ công trình của Ngài là lôi kéo chúng ta về với nguồn ơn cứu độ đã xuất hiện nơi con người Đức Giê-su là Đấng được SAI đến từ Thiên Chúa.

Tìm đến với Đức Giê-su là tìm gặp được Thiên Chúa. Đến với Chúa không là hậu quả của sự số gắng tìm kiếm phát sinh từ con người. Nhưng đến với Chúa có nghĩa là đón nhận con người của Chúa. Thân thể Đức Ki-tô trở nên của ăn, Máu Người trở nên của uống nuôi sống chúng ta như Lời Chúa nói: “Ai đến với Người sẽ không hề đói. Ai tin vào Người sẽ không hề khát bao giờ”.

Đức Giê-su, hôm nay, cho chúng ta thấy Người là của ăn nuôi dưỡng và ai ăn bánh này sẽ được Chúa cho sống lại trong ngày sau hết. Ngày sau hết không phải là ngày trên quê trời; nhưng được bắt đầu trong mọi thời khắc của cuộc sống mình. Thời điểm nào cũng có thể là giờ phút sau hết của chúng ta. Vì thế, đến với Đức Giê-su như là của ăn đích thật ngay trong giây phút hiện tại là một bảo đảm cho chúng ta đuợc sống lại trong ngày sau hết.

Như vậy, một khi chúng ta được Thiên Chúa lôi kéo là lúc chúng ta chấp nhận từ bỏ quyền làm chủ bản thân để Thiên Chúa là Thiên Chúa thật, là Đấng ban sự sống, như Lời Người phán dậy “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” Anh chị em có tin điều đó không?

Dạ vâng, con tin Chúa là sự sống của chúng con. Amen!