Thursday, 27 August 2020

HY SINH DẪN ĐẾN HẠNH PHÚC

 


Kính thưa anh chị em,

Tôi có người bạn rất thân. Chúng tôi thường nói chuyện, tâm sự, chia sẻ cho nhau về nhiều lãnh vực trong cuộc sống, đời cũng như đạo. Qua những buổi nói chuyện với anh, tôi rút ra được nhiều bài học thật ích lợi cho cuộc sống mình hơn. Anh còn mở mắt cho tôi nhận ra những điều mà bản thân tôi chưa nhận ra. Quả thật, anh xứng đáng là một vị thầy, người hướng dẫn hơn là một người bạn.

Tôi còn nhớ, sau mỗi buổi nói chuyện, anh thường đùa và hỏi tôi rằng: “Cậu có biết tại sao tôi lại có nhiều trải nghiệm trong cuộc sống một cách khôn ngoan như thế không?” Ngạc nhiên trước câu hỏi của anh, tò mò tôi muốn biết thì lần nào cũng vậy, anh đều có câu trả lời giống nhau, đúng hơn là một cụm từ ngắn gọn, đó là “đau khổ”. Anh giải thích rằng hầu hết mọi sự anh học được trong cuộc sống đều học được qua đau khổ. Tôi ngạc nhiên khi nghe anh trả lời như thế, nhưng sau nhiều lần nghe một câu trả lời giống nhau, tôi mới nghiệm ra rằng anh nói thật. Đó là sứ điệp mà Đức Giê-su muốn gửi đến cho chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay.

Trong bài Tin Mừng tuần trước, chúng ta đã được nghe tuyên tín của Phê-rô. Đức Giê-su khen ông là người có phúc vì đã đón nhận mạc khải từ Thiên Chúa để nhận biết căn tính của Đức Giê-su. Theo sau, đó là việc Đức Giêsu bổ nhiệm và trao năng quyền cho Phêrô. Thế mà, trong bài Tin Mừng hôm nay, sau khi được Chúa cho biết là Người phải đi lên Giêrusalem để chịu đau khổ và bị giết thì Phêrô lại ngăn cản. Lòng của Phêrô thật tốt, ông lo lắng và không muốn Thầy bị đau khổ. Ông nghĩ rằng Thầy là Chúa, và ông vừa được Thầy tấn phong để làm ‘đá tảng’ thay mặt Thầy; thế mà Thầy mình bị đau khổ, rồi bị giết chết thì ông và nhóm mười hai biết nương tựa vào ai đây! Nghe đến đâu lòng ông xốn xang đến đó. Vì thế, ông đã lên tiếng ngăn cản ý định của Thầy. Nhưng ông đâu biết rằng ý tưởng và suy nghĩ của ông hòan tòan sai với ý định của Thiên Chúa, cho nên đã bị Chúa khiển trách “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”

Nói khác đi, Phê-rô đang cố gắng bảo vệ luận án của ông. Ông muốn Đức Giê-su trở thành một phần trong lối suy nghĩ của ông hơn là ông là một phần trong dự án của Người. Thật ra, Phê-rô cũng không đáng trách cứ. Ông mới được Đức Giê-su cho phép đi trên biển, mới chứng kiến việc Đức Giê-su làm cho bánh hóa nhiều để nuôi dân, mới hơn nữa là việc ông chứng kiến việc Đức Giê-su chữa cho cô con gái của người đàn bà Ca-na-an khỏi bị quỷ ám. Đức Giê-su mà ông biết là một con người đầy quyền năng như thế thì làm sao ông có thể chấp nhận cảnh Đức Giê-su chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các kinh sư và các thương tế gây ra; rồi lại còn bị giết chết nữa. Điều này không thể nào xẩy ra với Người được.  

Điều này có thể xẩy đến cho chúng ta. Chúng ta tin và theo Chúa theo nhu cầu và lợi ích riêng của chính mình. Đã có đôi lúc chúng ta muốn Đức Giê-su hỗ trợ cho các việc làm, các dự án của chúng ta hơn là hy sinh để tuân theo ý Người. Phê-rô trả lời đúng khi tuyên xưng Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa; nhưng ông ta lại hiểu sai về sứ mạng của Đấng Mê-si-a. Chúng ta không chỉ một lần mà nhiều lần đã có những sai lầm như thế!

Kính thưa anh chị em,

Chúng ta không thể nào hiểu được điều mình tuyên xưng “Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên  Chúa hằng sống, cho đến khi chúng ta từ bỏ chính mình, đồng lòng vác Thập Giá và đi theo Người. Thập giá có thể không nằm trong dự án hay trên con đường tìm kiếm hạnh phúc của mình. Thập giá như lời mời gọi chúng ta thay đổi hướng đi sao cho phù hợp với ý định của Thiên Chúa hơn. Chúa không ban cho chúng ta cây Thập Giá để chúng ta phải gánh chịu. Những gánh nặng, khó khăn, mất mát, khổ đau, thất vọng mà chúng ta gặp hằng ngày có thể là các hoàn cảnh của cuộc sống. Những người không hề biết thập giá là gì cũng đang phải đối diện với các hoàn cảnh nói trên. Tuy nhiên, đối với các tín hữu thì thập giá không bao giờ là những lời an ủi hay động viên chúng ta tiếp tục sống đau khổ. Thật ra, qua thập giá cuộc sống của chúng ta được biến đổi và thăng hoa hơn.

Từ chối con đường Thập Giá mà Đức Giê-su loan báo hôm nay giống như lời thỉnh cầu xin Chúa hãy để con yên, đừng động đến con, đừng yêu cầu con thay đổi. Các điều này có ý nghĩa là chúng ta vui vẻ chấp nhận cuộc sống hiện tại, cho dù bị tục hóa. Nhưng Chúa muốn chúng ta nhiều hơn thế. Con đường tìm kiếm hạnh phúc cho dù gian nan đến đâu mà không có Chúa đồng hành thì có ích gì!

Từ bỏ không phải là bỏ mặc và coi thường mạng sống mình, hay là việc áp dụng lối sống khổ chế, ghét mình, coi thường thân xác mình như một số người có quan niệm đó là nguồn gốc của sự tội… nên cần phải đánh như kiểu đánh tội ở thủa xưa… Từ bỏ là hy sinh và hy sinh không phải là việc dễ làm. Hy sinh đòi buộc chúng ta phải từ bỏ, mất mát. Và một khi mất đi những gì thuộc về mình lại là lúc chúng ta tìm lại được nó trong nguồn hạnh phúc của sự cho đi. Điều duy nhất làm cho hy sinh có giá trị vững bền và giúp mình sống thoải mái khi cho đi, đó chính là tình yêu.  Thật ra, từ bỏ chính mình vì yêu. Yêu Chúa không chỉ bằng lời nói hay hành động nhất thời; nó đòi hỏi chúng ta phải trung thành theo Chúa đến tận cùng của con đuờng Thập giá. Như vậy, khi chúng ta từ bỏ chính mình, vác thập giá và theo chân Chúa là lúc chúng ta sẵn sàng trao quyền làm chủ, quyền lãnh đạo, trao tay lái cuộc đời của chúng ta cho Chúa.

Sau cùng, qua bài học của Chúa dành cho Phêrô hôm nay, chúng ta, khi tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Kitô, là Con Thiên Chúa là lúc chúng ta đặt cuộc sống mình dưới quyền chỉ huy, quyền lãnh đạo vào bàn tay của vị Chúa đó. Có nghĩa là lúc đó chúng ta không còn sống cho mình nữa, chấp nhận lối sống từ bỏ. Bỏ mình, vui lòng đón nhận đau khổ, vác Thập giá để theo Thầy… Tất cả những điều đó không còn là các điều kiện mà Chúa đòi hỏi các môn đệ; nhưng thật ra chính các yếu tố đó cấu tạo nên cuộc sống của môn đệ. Và một khi chúng ta không thực hành việc bỏ mình, tránh né đau khổ và không sẵn sàng vác Thập giá thì chúng ta không còn là môn đệ chân chính của Chúa nữa. Vì thế, hãy luôn nhớ con đường mà Chúa dọn cho chúng ta hôm nay. Hiệp nhất và nên một với Đấng mà chúng ta tuyên xưng để từ bỏ và vác thập giá theo chân Người luôn mãi. Cầu cho mọi người tìm được nguồn vui và hạnh phúc trên con đường từ bỏ, hy sinh và trao ban cho nhau như Chúa đã dâng hiến chính mình cho nhân loại. Amen!

Tuesday, 18 August 2020

CÒN BẠN, BẠN NÓI ĐỨC GIÊ-SU LÀ AI?

 


Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã hỏi các môn đệ hai lần. Lần thứ nhất mang tính thăm dò dư luận, Đức Giê-su hỏi các ông đã nghe người ta nói Con Người là ai? Con Người ở đây ám chỉ đến tước hiệu và sứ mạng của Đấng Mesia, Đấng được Thiên Chúa sai đến. Sau đó, Đức Giê-su trực tiếp hỏi các môn đệ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”

Nhận định của dư luận hay dân chúng về Đức Giê-su khác nhau. Người thì bảo Đức Giê-su là Gio-an Tẩy Giả, kẻ khác lại nói Người là ông Ê-li-a hay Giê-rê-mi-a hay một vị ngôn sứ nào đó. Ngày hôm nay chúng ta cũng có thể tìm thấy những câu trả lời về căn tính của Đức Giê-su như sau: Đức Giê-su là Thiên Chúa, Người là Chúa, Người là Con Thiên Chúa, Người là lẽ sống cuộc đời tôi, Người là Thầy, là Đường dẫn tôi đến sự sống, v.v…

Câu trả lời nào cũng đúng. Vào một thời điểm nào đó trong cuộc sống, chúng ta vô cùng cảm kích khi tìm được câu trả lời của câu hỏi “Đức Giê-su là ai?” qua Giáo Hội, qua sự giảng dậy của các linh mục, thầy cô, bạn hữu, từ nhóm cầu nguyện hay từ trong các sinh hoạt mục vụ mà chúng ta tham gia, v.v… Nhưng, có bao giờ chúng ta dám đặt vấn đề rằng những câu trả lời mà chúng ta tìm được có đem lại ích lợi gì cho cuộc sống của chúng ta chưa? Dường như, Đức Giê-su không muốn nghe chúng ta thuyết trình hay bảo vệ một tiểu luận thần học về câu hỏi Đức Giê-su là ai, cho bằng hãy làm chứng cho người khác biết rằng Chúa là ai trong cuộc sống, phụng vụ cũng như ngày thường, của mình.

Đây không phải là câu hỏi dễ dàng. Không ai có thể trả lời câu hỏi “Đức Giê-su là ai?” thay cho người khác. Mỗi người phải có câu trả lời cho riêng mình. Cuộc sống của chúng ta là bối cảnh cho câu trả lời mà Đức Giê-su nêu ra hôm nay. Sau đây là vài gợi ý:

Chúng ta nói Đức Giê-su là ai sau cái chết của George Floyd và nạn kỳ thị chủng tộc càng ngày càng gia tăng trên thế giới. Người binh vực sắc dân nào: da trắng hay da mầu?

Chúng ta bảo Đức Giê-su là ai khi chứng kiến cảnh thảm sát tại Beirut, bên Li băng vừa qua?

Chúng ta nói Đức Giê-su là ai khi cả thế giới đang bị đe dọa bởi nạn đại dịch do Covid-19 gây ra? Đức Giê-su là ai và ở đâu mà lại để cho đại dịch cướp đi sinh mạng bao kẻ vô tội như thế!

Chúng ta nói Đức Giê-su là ai và đang ở đâu khi những người tỵ nạn vẫn bị từ chối, khi tiếng kêu của những nạn nhân bị đàn áp vì bạo lực trong gia đình và xã hội vẫn chưa được ai quan tâm và binh vực.

Chúng ta nói Đức Giê-su là ai khi người thân của chúng ta qua đời, còn chúng ta phải từ biệt qua tấm kiếng cách ly? Người là ai khi cuộc sống của chúng ta đang đối diện với bão tố, bị màn đêm bao phủ, không tìm được lối thoát!

Chúng ta có thể có muôn vàn câu trả lời dựa trên sách vở và kiến thức về Đức Giêsu, nhưng tất cả những câu trả lời đó sẽ đem lại gì cho chúng ta? Hãy nhìn lại cuộc sống của mình.

Kính thưa anh chị em,

Đức Giêsu là ai? Tìm ra câu trả lời cho câu hỏi này không phải là việc dễ dàng. Hiểu theo một nghĩa nào đó, chúng ta không thể nào có được câu trả lời rõ ràng một lần và mãi mãi. Chúng ta luôn bị chất vấn bởi câu hỏi “Đức Giê-su là ai?”Có thể, trong suốt cuộc sống, chúng ta cũng chỉ thấy mờ mờ mà thôi. Chúng ta không tìm ra câu trả lời bằng lý trí, nhưng bằng trái tim.

Con người không tìm kiếm để biết về Chúa, nhưng để biết Chúa, biết một cách thâm sâu và trọn vẹn. Điều biết này dắt đưa chúng ta đi vào mối quan hệ mật thiết với Chúa hơn. Và chính trong mối quan hệ sâu xa với Chúa mà chúng ta nhìn ra mình rõ hơn. Và một khi nhận ra căn tính đích thực của mình, là lúc chúng ta càng biết Đức Giê-su trọn vẹn hơn. Con tim của ta đã bị Đức Giê-su chiếm đoạt thế nào thì cuộc sống sẽ làm nhân chứng cho Đức Ki-tô như thế.

Để minh họa cho suy niệm nói trên, chúng ta cùng theo dõi câu chuyện sau.

Trong một lớp giáo lý, dựa vào bài Tin Mừng hôm nay, ma-sơ mới hỏi các em: Còn các con nói Đức Giêsu là ai? Cả lớp nhao nhao, có cháu nói Nguời là Thiên Chúa, cháu khác lại nói là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa… v.v. Gom chung lại thì các cháu nói đúng như văn bản mà chúng ta tuyên xưng với nhau trong các Thánh Lễ Chúa Nhật.

Trong lúc đó, Ma-sơ để ý thấy một bé trai ngồi ở góc lớp, im lặng, mắt nhìn ra cửa sổ, đăm đăm như có chuyện gì khó giải quyết. Sơ đến gần, chăm chú nhìn cháu rồi một lần nữa nhắc lại câu hỏi. Cháu thẫn thờ trả lời: Thưa sơ, con không biết! Con chỉ biết là hiện nay em con đang bị ốm, trong nhà không có tiền để mua thuốc. Ba con là lính xa nhà, hiện đang đóng quân ở một vùng rất xa. Mẹ thì chạy ngược chạy xuôi ngòai chợ… Nếu Đức Giêsu là Chúa thì sao Người không săn sóc cho em con.

Ma-sơ và cả lớp ngạc nhiên truớc câu trả lời của bạn mình. Chẳng ai biết làm gì! Sau cùng, bà sơ nhà ta lấy ra một túi nhỏ, tự mình bỏ vào đó vài đồng cắc và chuyền túi đó cho cả lớp… rồi trao cho em để mua thuốc cho em mình.

Qua việc làm như thế, chúng ta sẽ trả lời vấn nạn Đức Giêsu là ai? Câu trả lời không bằng lý trí hay văn tự nhưng bằng cuộc sống. Nhưng trên thực tế lại không được như thế. Đã nhiều lần chúng ta khám phá ra sự khác biệt giữa Đức Giê-su mà chúng ta tôn thờ trong các nghi thức phụng vụ khác xa với Đức Giê-su trong cuộc sống thường nhật. Đức Giê-su không thay đổi. Nhưng sự thay đổi phát sinh từ chúng ta, không có sự hiệp nhất và tương đồng giữa điều chúng ta tuyên xưng và cuộc sống. Khi viết ra các điều này, tôi hoàn toàn tôn trọng sự chọn lựa câu trả lời và lối sống của anh chị em. Riêng bản thân, tôi phải nhìn nhận một điều, quả thật rất khó khăn để sống được điều mà chúng ta tuyên xưng “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.”

Kính thưa anh chị em,

Phê-rô khi xưa cũng thế. Với bản tính bộc trực, ông đã tuyên xưng “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Nhưng lúc bấy giờ, Phêrô vẫn chưa hiểu hết về Thầy mình. Tuy nhiên, để có thể tuyên xưng như thế, Phê-rô cũng đã nhận được hồng ân như Chúa nói: “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc…”

Quả thật, ngay lúc này, Phê-rô cũng không biết rõ căn tính và sứ mạng của Thầy mình phải chu toàn. Bởi vì, ngay sau đó, khi Đức Giêsu nói cho các ông biết con đuờng mà Con Thiên Chúa phải đi thì Phêrô lại ngăn cản Người. Lòng của Phêrô thật tốt, ông lo lắng và không muốn Thầy bị đau khổ. Nhưng ông đâu biết rằng ý tưởng và suy nghĩ của ông hòan tòan sai với ý định của Thiên Chúa. Rồi trên đường Thuơng Khó, Phêrô đã chối Thầy đến ba lần… Tuy nhiên, Phêrô cũng là người đã bộc lộ tình yêu và lòng mến dành cho Thầy…

Nói chung, Phêrô là một con người bộc trực, thẳng thắn, có sao nói vậy, không che đậy, không tính tóan hơn thiệt như các bạn của ông , đã có lần tìm cách trèo lên chỗ cao hơn… Ông tự nhận mình là người tội lỗi… Chính vì thế mà Chúa lại tín nhiệm ông hơn. Những giới hạn của Phêrô chính là điều khiến ông trở nên gần gũi hơn với Đức Giêsu. Chính vì nhận ra mình còn khiếm khuyết và tội lỗi, nên Phê-rô đã nhận ra một điều là muốn đứng vững và hoàn tất nhiệm vụ thì ông phải lệ thuộc và gắn bó vào Thầy mình, Chúa Giêsu Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.

Phê-rô không tự mình là đá tảng. Chính Chúa làm ông trở thành đá tảng; và Người sẽ xây cất công trình như Lời Người phán “anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.”

Tóm lại, Kê-pha, tảng đá ấy sẽ trở nên vô hiệu nếu không lệ thuộc và gắn bó mật thiết với Chúa.

Vì thế, việc chọn Phêrô làm đá tảng là việc của Chúa. Còn ông, ông biết rõ nhiệm vụ của mình, và nhiệm vụ đó chỉ tác dụng khi lệ thuộc vào Chúa. Còn chúng ta, chúng ta cũng đuợc mời gọi để biết Đức Giê-su là ai. Chính Người là viên đá góc tường để chúng ta dựa, từ viên đá góc này Người mời gọi chúng ta trở thành đá tảng cho nhau, cho con cái, cho người thân và cho tất cả những ai muốn tìm chỗ dựa. Do đó, như Phêrô, chúng ta cũng nên biết rằng tảng đá không do mình đặt, nhưng người đặt là Chúa. Nên việc lệ thuộc vào Chúa là việc quan trọng hàng đầu mà chúng ta cần làm. Có như thế, mình mới trở thành chỗ dựa vững chãi cho người khác, bằng không sẽ sụp đổ tan tành. Cầu xin cho chúng ta nhận được phúc lành đó. Amen!

Thursday, 13 August 2020

CUỘC GẶP GỠ KỲ DIỆU!


Bài Tin Mừng hôm nay kể lại trên đường đến Tia và Xi-đon, Đức Giê-su đã gặp người phụ nữ Ca-na-an, từ trong vùng đất dành cho dân ngoại đi ra. Bà nài xin Chúa chữa cho con gái bà khỏi bị quỷ ám. Cuối câu chuyện, chúng ta biết là cô con gái bà đã được khỏi bịnh, nhưng giữa lời cầu xin của bà và việc chữa lành của Đức Giê-su là những lời đối thoại thật khó nghe từ Chúa.

Dựa vào kinh nghiệm trong cuộc sống, có nhiều yếu tố tạo ra sự khoảng cách giữa người với người, như sự khác biệt về mầu da, chủng tộc, tín ngưỡng, v.v… Tuy nhiên, một khi chúng ta không để cho các yếu tố này chi phối mà đến với nhau bằng ‘chất người’, tôn trọng sự khác biệt của nhau, cố gắng khám phá những điều tích cực của nhau, đến với nhau bằng sự chân thành thì cơ hội gặp gỡ nhau rất cao.

Quả thật các điều này đã được thể hiện thật đậm nét qua những lời đối thoại giữa người phụ nữ Ca-na-an và Đức Chúa. Bà đã cho Đức Giê-su nhận ra sự cao quí trong thân phận con người, bà và con gái của bà xứng đáng hơn những mảnh vụn từ trên bàn rơi xuống. Lòng kiên trì và tình thương của bà dành cho cô con gái đã thay đổi ý định của Đức Giê-su. Lời van xin rất cương quyết của bà khiến cho Đức Giê-su nhận ra khuôn mặt của Thiên Chúa một cách trọn vẹn hơn. Thiên Chúa là Cha chung. Mọi người, không phân biệt chủng tộc, mầu da, tín ngưỡng … đều xứng đáng và trân quí trước mặt Thiên Chúa. Nhiệm vụ của Đức Giê-su, theo ý định của Thiên Chúa, Cha Người, là cứu độ muôn dân, chứ không chỉ dành riêng cho dân Ít-ra-en mà thôi.

Quả thật, bài Tin mừng này không chỉ nhấn mạnh đến việc chữa lành của Đức Giêsu; và cũng không chỉ đề cao niềm tin của người phụ nữ Ca-na-an, mà còn làm nổi bật sứ mạng cứu độ muôn dân của Chúa. Hẳn anh chị em còn nhớ, truớc khi về Trời, Đức Giêsu đã nói rõ ý định của Người qua việc truyền lệnh cho các Tông đồ làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần,…Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. (Mt 28:19-20) Do đó, trình thuật này có thể đóng vai trò tiên báo cho chúng ta biết ý định ban phát ơn cứu độ cho muôn dân của Thiên Chúa.

Thưa anh chị em,

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Ca-na-an trong bài Tin mừng hôm nay quả thật kỳ diệu. Cả hai nhân vật trong trình thuật đều ‘khát khao’ tìm cách lấp đầy uớc muốn của nhau. Trong khi đó các môn đệ lại không nhận ra nhu cầu của Thầy mình, cũng như không nhìn ra nỗi đau khổ của người phụ nữ Ca-na-an khi yêu cầu Chúa nói bà ấy đi về. Để thấy rõ sứ điệp của bài Tin Mừng, chúng ta hãy tìm hiểu về:

Người phụ nữ Ca-na-an. Bà đã làm một hành động mà ít ai dám làm. Vì là dân ngọai và có thể được coi như kẻ thù của dân Ít-ra-en, và cho dù bà không bị lệ thuộc bởi các tập tục và luật lệ của tiền nhân. Nhưng chắc bà đã đuợc nghe hay đã biết về thân phận của Đấng mà bà sẽ cầu xin. Vì thế bà đã dám công khai đến gặp Đức Giêsu. Cho dù biết bao nhiêu người dị nghị về việc bà dám lên tiếng công khai với một nam nhân giữa chốn đông người. Việc làm của bà không phải là hành vi hay cử chỉ của một phụ nữ đoan chính thời đó. Bà sẵn sàng đón nhận những lời chỉ trích và khinh khi từ kẻ khác, thậm chị các lời phê bình này có thể xuất phát từ môi miệng của những người trong nhóm của bà. Bà không còn thời gian để nghĩ đến những điều mà chúng ta vừa nói ở trên. Ngay lúc gặp Đức Giê-su, bà chỉ nghĩ được một điều duy nhất là tìm đến người sẽ chữa cho con bà khỏi bịnh. Chỉ có Tình yêu mới là động lực thúc đẩy bà vuợt qua mọi trở ngại.

Hòan cảnh của bà thật nghèo nàn. Bà cần giúp đỡ. Điều bà cầu xin nói lên tâm tư của một người mẹ, sẵn sàng làm tất cả mọi sự cho con mình. Cô con gái đó là nguồn vui, lẽ sống và là mọi sự của bà. Thế mà giờ đây, cô bị bịnh nan y, như bị quỉ ám. Bà cần làm tất cả cho con bà. Tình yêu, lòng thuơng xót của bà dành cho cô ta thúc đẩy bà vuợt qua mọi ranh giới.

Bà biết mình đâu được hưởng những đặc ân dành cho dân Is-ra-el. Tuy nhiên, trong lòng một cơn khát vô bờ bến. Tuy phận là phận của người ngọai giáo, nhưng bà lại xưng hô với Đức Giêsu theo cách của người Do Thái thưa chuyện với Đức Mêsia, kêu cu rằng: “Lạy Ngài là Con vua Đa-vít”. Dù thế, lời cầu xin của bà vẫn không được Chúa đáp nhận; cho đến khi bà đã tôn thờ Đức Giêsu như người ta bái lạy Thiên Chúa. Niềm xác tín của bà thật vĩ đại, dù là chó con, bà cũng được ăn những mảnh vụn từ trên bàn của chủ rơi xuống.

Còn Đức Giêsu thì sao? Người đến để thi hành ý định của Thiên Chúa. Tuy nhiên, với thân phận của một con người, Người cũng bị giới hạn về phong tục, địa dư, bối cảnh mà Người đã đuợc sai đến. Người có đuợc sai đến vẫn là cho dân Is-ra-el truớc hết.

Cho dù là như thế, chúng ta cũng không hài lòng về thái độ của Đức Giêsu. Người thinh lặng và xem ra coi thuờng lời van xin của người phụ nữ Ca-na-an. Thật ra, không hẳn là như thế. Bởi vì, khi mô tả và trình bầy Đức Giêsu như thế, Thánh sử muốn đưa chúng ta đi từ ngạc nhiên, có thể gọi là bất đồng về thái độ của Chúa… Nhưng, khi gặp đuợc lòng kiên định và xác tín của bà; Chúa lại có cơ hội phá tung và quét sạch mọi cấm kỵ, mọi qui uớc, mọi lề luật do ‘tính bè phái’ của con người (nhỏ nhen, ích kỷ) tạo ra.

Quả thật cũng không sai khi chúng ta cho rằng nhờ vào sự kiên trì pha chút bướng bỉnh người phụ nữ Ca-na-an này mà Đức Giêsu đã có cơ hội bộc lộ chân tuớng đích thật của Đấng Thiên Sai; Đấng đuợc sai đến không chỉ dành cho người Do Thái mà thôi. Người đến để đem nguồn vui và ơn cứu độ cho muôn dân.

Sau cùng, trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, còn một nhóm người nữa. Họ là các môn đệ tượng trưng cho mỗi người chúng ta. Chỉ vì quyền lợi riêng, chỉ muốn đuợc bình an, cho dù là giả tạo, nên đã xin Chúa bảo bà ấy đi để khỏi bị quấy rầy. Chúng ta đã gặp lời yêu cầu này trong trong phép lạ bánh hóa nhiều, khi các môn đệ không nhìn thấu nhu cầu của dân chúng mà chỉ biết đến quyền lợi của phe nhóm mình, muốn giữ lấy Đức Giê-su cho các mục tiêu mà họ đang đeo đuổi. 

Thưa anh chị em,

Khi nghe câu chuyện này, chúng ta dễ nhận ra thân phận mình trong thân phận của người phụ nữ Ca-na-an. Cũng như bà, chúng ta chạy đến với Chúa để xin ơn, cho dù là ơn cứu độ. Nhưng, chúng ta đã kiên tâm như bà hôm nay chưa? Và thay vì xin cho nhu cầu của riêng mình; chúng ta có quảng đại trong lời cầu, xin cho những người đuợc Chúa gửi đến trong vòng tay yêu thuơng của chúng ta hay chưa? Không ai có thể trả lời các câu hỏi nêu trên thay cho chúng ta!

Muốn đạt đuợc nguyện uớc này, chúng ta cần có một trái tim quảng đại và nhậy cảm trước các nhu cầu thể chất và tinh thần của tha nhân mà chúng ta thuờng gặp. Họ không chỉ là những người đồng đạo, cùng chia sẻ một tín ngưỡng, cùng chung một quan điểm với chúng ta. Thật ra, còn có nhiều người mà chúng ta liệt họ vào ‘phe khác’; nhưng họ lại có lối sống và niềm tin mãnh liệt hơn chúng ta. Họ xứng đáng đón nhận phần ăn từ trên bàn của chủ, như chúng ta.  Nhưng, đã nhiều lần, chỉ vì óc bè phái, tinh thần thủ cựu, khư khư ôm giữ truyền thống và tục lệ mà chúng ta đã ngăn cản họ đồng bàn và cùng chia sẻ hồng ân với mình. Chúng ta còn tự nhốt mình vào pháo đài của giai cấp rồi tự cao tự đại, kiêu căng cho rằng chỉ có mình mới là kẻ xứng đáng rồi khinh chê người khác. Thật ra, không ai trong chúng ta lại không có một chút ‘huyết thống’ với những người mà chúng ta gọi là dân ngọai. Thế mà lại lên mặt vênh váo ra vẻ ta đây, giở giọng đạo đức giả, tôn kính Chúa bằng môi bằng miệng, còn lòng thì lại xa Chúa. (Mt 15:7-9)

Hãy nhớ rằng: tình yêu dành cho cô con gái, sự bình thản nhưng cương quyết pha một chút bướng bỉnh của người phụ nữ Ca-na-an hôm nay đã tạo nên một cơ hội mà Đức Giêsu đã dùng để bộc lộ Tình Thương phổ quát của Thiên Chúa. Cũng thế, những ‘lũ chó con’ mà chúng ta gặp trong cuộc sống không là những trở ngại, mà còn là cơ hội để chúng ta nhận ra sự phong phú của Thiên Chúa, Đấng không chỉ họat động nơi các kẻ tin mà còn âm thầm tác động nơi ‘lũ chó con’ để tất cả muôn dân đều đuợc cứu độ. Amen!

 

Thursday, 6 August 2020

ĐỪNG SỢ, HÃY TIN VÀO THẦY

Truớc khi suy ngẫm về trình thuật Tin Mừng hôm nay, tôi mời gọi anh chị em cùng ôn lại hành trình vượt biển năm nào. Đối với tôi, biến cố ra đi tìm sự sống qua cõi chết vẫn là một sự cố kinh hòang mà tôi không thế nào quên được. Trong chuyến vượt biên vào năm 1982, thuyền của chúng tôi đã bị mắc kẹt trong cơn bão (thật ra là gần cuối cơn bão). Chúng tôi đã trải qua những giây phút thật hỏang sợ. Hầu như tất cả đều bất lực trước sự tàn phá của thiên nhiên.
 
Có khoảng chừng tám mươi người trên tầu. Ngọai trừ gia đình chủ tầu, tài công là những người quen biết nhau từ trước; còn chúng tôi hòan tòan xa lạ đối với nhau. Một số gốc Công giáo; những người khác theo Phật giáo và còn một số là tín đồ của các giáo phái như Cao Đài… Nói chung, trong giây phút nguy hiểm đó, tất cả chúng tôi không cần biết mình thuộc tôn giáo nào nữa. Tất cả đều qui huớng về Đấng Chí Tôn, Đấng Tạo Hóa để cầu xin. Chỗ này lần hạt cầu nguyện, chỗ kia niệm kinh Nam Mô. Chúng tôi cùng chia sẻ một niềm tin vào Đấng Tạo Dựng và điều khiển vũ trụ. Chúng tôi tin rằng chỉ có sức mạnh tối cao từ Đấng Tạo Hóa, Đấng có thể cứu chúng tôi khỏi cơn gian nan đầy nguy hiểm này.
 
Thời gian cứ thế trôi qua. Sóng biển vẫn tiếp tục gầm thét như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi vào lòng biển. Tất cả đều quá mệt mỏi và đuối sức đến độ ngay cả lời cầu nguyện cũng im dần. Tất cả đều chờ đợi sự chộp bắt của Thần Chết.
 
Thật may mắn, sau đó cơn bão đã suy yếu dần. Thuyền của chúng tôi tiếp tục lênh đênh trên biển cả. Năm ngày sau, chúng tôi được sự hướng dẫn của các nhân viên trên dàn khoan dầu, con thuyền từ từ đến đảo Ku-ku, một trong những hòn đảo rất quen thuộc đối với các thuyền nhân tạm cư tại các trại tỵ nạn bên In-đô.
 
Thành thật mà nói, tôi nghĩ rằng không có ai trong chúng ta còn đủ can đảm để đi trên biển trong hoàn cảnh như thế! Và, cho đến hôm nay, mỗi lần đi dạo trên bờ biển, nhất là vào buổi tối, đứng nhìn sự bao la và cũng rất đáng sợ của biển cả, cảm giác sợ hãi vẫn ám ảnh. Tôi nhận ra cuộc vượt biên ra đi tìm sự sống trong cái chết của chúng ta quả thật đáng sợ; và việc đến được bến bờ tự do quả thật diệu kỳ, chỉ còn biết coi đó là hồng ân mà thôi.
 
Thưa anh chị em,
 
Như anh chị em đã biết, đối với những người sống cùng thời với Chúa Giêsu. Họ tin rằng, sự kết hợp của biển cả và bão tố là biểu tượng của sự tàn phá và hỗn loạn; nó đe doạ sự tồn tại của con người. Và, tại một số nền văn hoá cổ đại, người ta vẫn tin rằng bão tố là biểu tượng của thần dữ, tàn phá và tạo nguy hiểm cho chúng sinh.
Trong khi đó, Tin Mừng hôm nay đã trình bầy Đức Giêsu đi trên biển và làm cho sóng gió yên lặng. Thánh sử không nhắm đến việc Đức Giêsu làm phép lạ cho bằng nhấn mạnh đến quyền năng tái tạo của Người. Chúa có quyền trên sóng gió biển cả, có quyền trên các thế lực có thể hủy họai thế giới. Người đem đến sự bình an bằng cách khơi khơi đi trên mặt biển.
 
Không chỉ như thế, Người còn cho phép Phêrô và mỗi nguời chúng ta có thể làm được như thế. Phêrô nhẹ nhàng đi trên mặt biển khi nhìn và tin vào Chúa. Đến lúc ông chú tâm vào giông tố, sóng gió, không tập trung vào sự hiện diện của Chúa thì ông bắt đầu bị chìm. Phêrô đã quên điều Chúa nói “hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ!” Đó chính là sứ điệp mà Chúa muốn gửi đến cho chúng ta.
 
Thực tế, sợ hãi, lo sợ gắn liền với cuộc sống của con người; nó cứ quấn lấy mình. Đã làm người thì không ai trong chúng ta có thể thoát được một vài lần kinh sợ. Nó làm cho chúng ta mất bình an, sống lo âu. Vì biết tầm nguy hiểm và những tác hại của nỗi sợ hãi nên Chúa nói “hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ!”
 
Thế mà, chúng ta vẫn sợ, sợ mọi thứ và cũng có lúc không biết mình sợ gì nữa. Dường như sự lo âu và sợ hãi gắn liền với cuộc sống của con người. Trong lúc âu lo và sợ hãi đó, chúng ta không còn nhìn thấy được gì. Cuộc sống dường như được bao phủ bởi màn đêm, chỉ còn nhìn thấy chung quanh đâu cũng là nguy hiểm, cho dù xoay xở thế nào cũng không đi ra khỏi vùng xoáy đó. Bước ra khỏi tầu sẽ bị chết đuối. Ở lại trong tầu thì bị sóng dập.
 
Thưa anh chị em,
 
Vấn đề không dừng lại ở cách chọn lựa của chúng ta để đối diện với những khó khăn nhất thời. Việc quan trọng mà Đức Giê-su muốn đặt ra cho chúng ta hôm nay là mời Người lên thuyền và trao tay lái để Người điều khiển. Giống như kết quả đã được kể lại trong bài Tin Mừng hôm nay là khi Đức Giê-su lên thuyền thì sóng gió ngừng, biển lại an bình và nguy cơ để tầu bị đắm không còn nữa.
 
Đây là một trong các chủ đề chính mà cộng đoàn của Thánh Mát-thêu sẵn sàng tuyên xưng. Khi ngự đến trong cung lòng của Mẹ mình, Đức Giê-su đã được gọi là ‘Emanuel’ có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Và trước khi về cùng Cha, Đức Giê-su đã hứa sẽ cùng với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Nói như thế, thì chúng ta cảm thấy vô cùng may mắn, vì dù trong hoàn cảnh nào, cho dù cuộc sống có khó khăn và gian nan đến đâu thì Chúa vẫn không bỏ rơi chúng ta. Người vẫn hiện diện và ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.
 
Như vậy, sứ điệp mà bài Tin Mừng hôm nay đến thật đúng lúc. Nó sẽ giúp chúng ta sống tin tưởng hơn để đối diện với các khó khăn do đại dịch gây ra. Thiên Chúa vẫn ở cùng chúng ta. Đấng đang hiện diện với chúng ta trong mọi cảnh huống. Hãy tin rằng chúng ta được Chúa yêu thuơng. Chúa yêu ta vô bờ bến. Tay Chúa vẫn dang rộng để chờ đợi và nắm bắt ta khi ta bắt đầu chìm. Đừng sợ, nhưng hãy tin.
 
Thật vậy, con người chỉ thắng được các nỗi sợ hãi nhờ tin vào Ðức Giêsu, Ðấng đã nhẹ nhàng đi trên mặt biển vì Tin vào quyền năng của Thiên Chúa lúc nào cũng họat động trong Người và với Người. Người đã không ngã gục vì sợ hãi mà đã đi tới cùng theo ý định của Thiên Chúa. Chúng ta cũng sẽ được như thế. Hãy tin và mời Chúa lên con thuyền cuộc đời và trao tay lái cho Người vì Người sẽ điều khiển và lèo lái con thuyền của chúng ta đến bến bờ bình an. Amen!

 


Wednesday, 29 July 2020

HÃY CHO NHAU ĂN!



Trong lúc Gio-an Tẩy Giả đang ở trong tù, Đức Giê-su đã làm chứng về sự cao trọng của Gio-an mà không một phàm nhân nào sinh ra bởi người nữ có thể sánh được với ông. Qua lời tuyên bố này, chúng ta nhận ra tình cảm và sự quý mến mà Đức Giê-su dành cho Gio-an Tẩy Giả, nhất là tính cương trực và lòng can đảm khi làm nhân chứng cho sự thật của ông. Vì thế khi nghe tin Gio-an bị hành quyết, Đức Giê-su cảm thấy có một sự mất mát và buồn phiền. Người đã mất đi một người anh họ, một người bạn, người chiến hữu đã dùng cả cuộc đời để giới thiệu Đấng Cứu Thế cho người khác.

Ngoài ra, cái chết của Gio-an có thể coi như một lời nhắc nhở cho Đức Giê-su nhớ lại sứ mạng và kết cục của một ngôn sứ là như thế: sống thì bị ngược đãi, bị bỏ tù và cuối cùng là cái chết. Do đó, chúng ta có thể hiểu ý định rút lui vào nơi vắng vẻ mà Đức Giê-su muốn thực hiện ở đây. Người muốn có thời gian thinh lặng để đối diện vơi sự mất mát do cái chết của Gio-an tẩy giả gây ra, mặt khác đây cũng là thời gian để Đức Giê-su suy nghĩ và cầu nguyện về con đường và sứ mạng mà Người đang thực hiện. Hơn thế nữa, mỗi khi bước vào cõi thinh lặng là cơ hội để Đức Giê-su gặp Thiên Chúa, Cha của Người.

Tuy nhiên, ý định và nhu cầu của Đức Giê-su đã không xẩy ra. Cái chết của một ngôn sứ vĩ đại như Gio-an đã gây ra một chấn động cho môn đệ của ông và những ai đi theo Ngài. Họ cũng buồn phiền và đau khổ. Vì thế, họ cũng muốn theo chân Đức Giê-su rút lui vào hoang vắng. Người đi đâu thì họ đi đến đấy. Họ hy vọng chính Chúa sẽ làm cho họ vơi đi nỗi buồn phiền và mất mát mà họ đang phải đối diện. Còn Đức Giê-su, khi nhìn thấy đám đông theo Người như thế thì chạnh lòng thương, con tim của Người như bị ai đâm thấu vậy. Người trước tiên chữa lành một số bịnh nhân trong nhóm họ, và sau đó là cho họ ăn. Lòng thương xót và sự quan tâm của Đức Giê-su không dừng lại ở ý nghĩ mà còn được Người thực hiện bằng hành động: Qua việc chữa lành Người trao cho họ niềm hy vọng và tựa nương vào Chúa. Với việc nuôi ăn, Người bảo đảm họ sẽ không bị chết đói.

Đức Giê-su muốn truyền cho các môn đệ tấm lòng và sự quan tâm đến nhu cầu của tha nhân. Lòng thương xót không chỉ được diễn tả bằng lời nói mà thôi, nhưng còn được thể hiện bằng hành động. Để diễn tả cho ý tưởng này, xin kể cho anh chị em một mẩu truyện ngắn, có lẽ các nhân vật và chi tiết trong câu chuyện không có thật; nhưng tình tiết và bài học mà truyện kể đem lại thì rất thật. Truyện kể như sau:

Tại một làng nọ, có một người làm chủ một trang trại với đầy ngô khoai. Mỗi buổi sáng, sau khi thức dậy ông và gia đình đều dâng lời cầu nguyện cho những kẻ đói ăn có đủ lương thực dùng hằng ngày. Nhưng mỗi khi có ai đến xin ăn thì ông đều từ chối và không muốn cho đi những gì ông đã dự phòng trong kho lẫm nhà mình.

Vào một ngày kia, sau khi nghe cha mình cầu nguyện cho người nghèo và người túng thiếu, cậu con út của ông mới thưa với ông rằng: “Thưa Ba, con ước gì có được số lượng dự trữ ngô và khoai của Ba.” Người cha mới hỏi lại cậu muốn có ngô và khoai để làm gì? Cậu đáp lại “con muốn có ngô và khoai để đáp trả lời cầu nguyện của Ba.”

Ông Bố thương xót người nghèo khổ và túng thiếu bằng lời cầu nguyện. Nhưng cậu út của ông lại muốn nhắc nhở ông rằng lời cầu nguyện của bố cậu cho những kẻ đói ăn chưa đủ. Bố của cậu cần diễn tả lòng thương xót của ông bằng việc làm nữa. Đó là việc mà Đức Giê-su muốn dậy các môn đệ qua việc làm cho Bánh hóa nhiều hôm nay!  

Thưa anh chị em,

Tuy nhiên, làm thế nào để có đủ lương thực nuôi ăn một số đông như thế khi trời đã chập choạng tối và nơi họ đang tụ họp lại hoang vắng và cách xa thị trấn hay làng mạc; vì thế việc tìm kiếm lương thực quả thật khó khăn cho các môn đệ. Lý do của các Tông Đồ đưa ra quả thật rất đáng thuyết phục. Nhưng khi nại vào các lý do như thế, các Tông đồ cho chúng ta biết rằng các ông tuy là những người bạn hữu thân thiết với Đức Giê-su, nhưng các ông vẫn chưa học được bài học quên mình và quan tâm đến người khác.

Các lý do của các môn đệ đã không làm thay đổi ý định của Đức Giê-su. Người biết sẽ phải làm gì. Người truyền lệnh cho các môn đệ “hãy cho họ ăn.” Khi nghe Chúa phán như thế, các môn đệ không thể nghĩ ra làm thế nào mà họ có thể nuôi ăn một đám đông như thế. Tất cả những gì họ có chỉ là năm chiệc bánh và hai con cá, với ngần ấy lương thực thì làm sao đủ cho năm ngàn người ăn. Nhưng, các môn đệ còn bỏ sót một yếu tố thật quan trọng, đó là sự hiện diện của Đức Giê-su, Đấng có thể làm mọi sự, đang hiện diện giữa họ.

Sau đó, Đức Giê-su cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá. Thực phẩm chỉ vọn vẹn có bấy nhiêu thì ai ăn ai nhịn đây. Nhưng đó lại là tất cả những gì các môn đệ có. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông. Kết quả là ai ai cũng hài lòng vì được ăn no. Có lẽ Người hài lòng nhất là chính Đức Giê-su. Giống như dân Is-ra-el khi xưa, trong hoang địa đã được Thiên Chúa nuôi ăn bằng manna và nước uống thế nào thì hôm nay qua việc phân phát bánh, Đức Giê-su cũng nuôi những ai đã bỏ hết mọi sự, vất vả theo chân Người được ăn no nê.

Thưa anh chị em,

Các cử chỉ như đón nhận, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao ban hôm nay chỉ được ghi lại một lần khác; đó là trong bữa tiệc ly Người đã san sẻ bánh và rượu cho các môn đệ. Bánh và rượu đây là dấu chỉ tượng trưng cho Thịt và Máu của Người như Đức Giê-su đã phán: “Ta là bánh trường sinh và ai đến với Người sẽ không đói bao giờ.

Bánh, của ăn và thực phẩm là những thực vật nhằm nuôi dưỡng và làm cho con người được lớn lên. Con người cần đến nó để duy trì sức khỏe và sự sống. Nhưng ý nghĩa của bữa ăn không nhằm đến việc ăn cho đầy bụng. Đói quá thì cũng chết mà ăn no quá thì bội thực và cũng chết. Việc của chúng ta là biết ăn. Bữa ăn là cơ hội để xây dựng tình nghĩa, thể hiện tình yêu, cùng san sẻ và chia vui những thành công trong đời và qua bữa ăn con người còn đến gần và thông cảm nhau hơn; từ đó cộng đoàn được gầy dựng một cách thật tự nhiên. Đây là một biểu tượng vô cùng phong phú qua mọi thời đại, đến nỗi Đức Giê-su cũng không bỏ quên nó. Người đã dùng nó như một phương tiện để nói lên lòng quan tâm và lo lắng của Người dành cho chúng ta.

Trình thuật ‘Bánh hóa Nhiều’ hôm nay là thế. Biến cố này nói lên tình yêu của Người dành cho những ai đã theo Người. Sự kiện này còn nhắc nhở chúng ta nhớ rằng những gì chúng ta có được để duy trì cuộc sống thể lý của chúng ta đều được ban tặng từ Chúa; và sau cùng Người còn là bánh trường sinh nuôi dưỡng toàn bộ con người chúng ta.

Giống như thức ăn có thể dẫn chúng ta đến gần nhau và nhiều việc được bắt đầu và tiến đến thành tựu qua bữa ăn thế nào thì của ăn mà Chúa ban phát cũng làm cho chúng ta trở nên thành viên của một cộng đoàn thuộc về Người, nhất là giúp chúng ta nhận thức rằng qua đó chúng ta nên những người bạn thân tình với Chúa và với nhau.

Tuy nhiên, họ và chúng ta vẫn còn gặp trở ngại; như hai môn đệ trên đường Em-mau, chúng ta có thể biết kế hoạch của Chúa, chứng kiến việc Chúa chết, nghe các bạn nói rằng Người đã sống lại và hiện ra với họ… Nói chung là giống như họ, chúng ta biết rất nhiều, biết rất rõ những kế hoạch và gần như là biết mọi sự; nhưng lại quên sự hiện diện của Đấng trở thành của ăn cho chúng ta; cho nên chúng ta e ngại vì thấy mình đứng trước những nhu cầu quá lớn lao của con người. Nhìn chung quanh vẫn thấy bao người đói khổ. Hàng giây, hàng phút vẫn còn bao nhiều sinh mạng nhất là các trẻ em bị chết đói trên thế giới này. Thế mà, trong tay chúng ta chỉ vỏn vẹn vài tấm bánh nhỏ, chúng ta lúng túng và thấy mình bất lực.

Nếu chúng ta dám trao cho Chúa Giêsu tất cả những gì chúng ta có; trao cho Người những cố gắng thật khiêm tốn của chúng ta thì việc làm cho ‘Bánh Hóa Nhiều’ vẫn có thể xảy ra hôm nay. Chúng ta vẫn có thể làm hài lòng người khác bằng lòng quảng đại và sẵn sàng cho đi tất cả những gì chúng ta có; thế là quá đủ cho chúng ta rồi. Thế mà chúng ta lại không dám, cứ khư khư giữ làm của riêng cuối cùng mọi người, cả chúng ta nữa, đều bị đói khát.

Như vậy, hãy nhớ rằng chúng ta còn nhiệm vụ phải chu toàn. Nhiệm vụ đó là được gửi đi, gặp gỡ những người mà chúng ta chưa biết. Đến với nhau bằng tấm lòng rộng mở và cùng nhau chia sẻ một nhịp đập, cùng tiến về một mục tiêu. Mục tiêu đó được phát sinh từ những lần chúng ta cùng nhau tham dự tiệc bẻ bánh và trao ban của ăn cho nhau thì ai trong chúng ta còn bị thiếu thốn và đói khát nữa. Ai ai cũng hài lòng, người hài lòng nhất có lẽ là Chúa và như thế là đủ cho chúng ta rồi. Amen!

Thursday, 23 July 2020

VỚI CHÚA MỌI SỰ ĐỀU TỐT ĐẸP, ĐỀU TRÂN QUÝ.



Trong các tuần vừa qua, chúng ta đã được nghe các dụ ngôn về Nước Trời trong Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu. Tuần này chúng ta nghe thêm ba dụ ngôn ngắn, trong đó Đức Giê-su đã dùng ba hình ảnh: kho báu, ngọc trai tinh xảo và lưới cá để tiếp tục dậy bảo cho chúng ta về mầu nhiệm của Nước Trời.

Dụ ngôn lưới cá kết nối với dụ ngôn lúa và cỏ lùng trong bài Tin Mừng tuần trước. Trong dụ ngôn này, Đức Giêsu đã ví Nước Trời giống như một chiếc lưới ném xuống biển bắt đủ mọi loại cá. Khi lưới đầy, nó được đưa vào bờ. Những con cá tốt được bỏ vào giỏ, và những con cá xấu bị ném đi. Dụ ngôn này mang âm hưởng và có ý nghĩa giống như dụ ngôn cỏ lùng. Giống như lúa tốt và cỏ lùng cùng lớn lên thế nào thì những con cá tốt và xấu bơi chung một vùng biển như thế. Dụ ngôn này còn mang giai điệu hướng về ngày tận thế, về sự phán xét sau cùng, trong đó người xấu xa, độc ác (mô tả là những con cá xấu) sẽ bị tách ra khỏi đội ngũ của những người công chính và bị quẳng xuống địa ngục.

Còn hai dụ ngôn kho báu và ngọc quý nhằm nói đến giá trị cao quí của Nước Trời mà không một thứ gì trên trần gian có thể so sánh được. Tuy Nước Trời là một bảo vật được chuẩn bị và tặng ban cho chúng ta qua cuộc sống và sứ vụ của Đức Giê-su, nhưng để có thể sống theo đúng tiêu chuẩn của Nước Trời đề ra thì con người cần có một quyết tâm thật mãnh liệt, cho dù có phải hy sinh tất cả mọi sự thì người đó vẫn vui mừng đánh đổi để tậu cho được kho báu hay viên ngọc.

Như chúng ta đã biết, Nước Trời đã được xuất hiện bởi lời rao giảng và việc làm của Đức Giêsu ngay trong bối cảnh lịch sử của cuộc sống tại trần gian của Người. Lối sống của Người thật mới mẻ và không một ai trong hàng ngũ lãnh đạo của Do thái giáo lúc bấy giờ dám thực hiện, và họ cũng không đủ can đảm để chấp nhận lối sống mất mát và hy sinh như thế. Đức Giêsu đã chọn những người tội lỗi, những người gái điếm, hạng thu thuế, những người nghèo khổ, những người không nhà không cửa và những người sống bên lề xã hội làm bạn.

Tìm kiếm sự hiện diện của Nước Trời để nhận ra giá trị và sức mạnh vô song mà Nước ấy đem lại là nghĩa vụ và bổn phận của các Kitô hữu. Điều này có nghĩa là chúng ta phải cùng với Đức Giêsu, Đấng đang hiện diện và đồng hành với cuộc sống của mỗi người, để lên đường ra đi tìm kiếm và kết bạn với những người bất hạnh mà chúng ta vừa đề cập ở trên. Đây chính là ước muốn của Đức Giê-su, Chúa chúng ta. Và điều mà Chúa mong ước này cũng phải đánh động và thúc đẩy niềm mong ước của chúng ta. Nói khác đi, mang trong mình sứ mạng loan báo về Nước Trời thì chúng ta cũng phải có lối sống mới như Đức Giê-su đã sống.

Thật vậy, nhìn vào cuộc sống và sứ vụ của Đức Giêsu, con người sẽ khám phá ra mầu nhiệm của Nước Trời; và ngay lúc đó, chúng ta biết là đã tìm được một kho tàng. Kho báu này làm thỏa mãn mọi khát vọng và đam mê của đời mình. Và từ trong nỗi khát khao đó, con người được tự do, chứ không bị ép buộc, bán tất cả mọi sự để tậu cho được.

Hành động bán tất cả mọi sự mà mua kho báu và viên ngọc quí giá của các nhân vật trong dụ ngôn này làm chúng ta nhớ đến lời mời gọi của Đức Giê-su dành cho thanh niên giàu có trong Tin Mừng. Trước lời mời gọi của Chúa là hãy từ bỏ tất cả những gì anh đang có và sẽ sở hữu một kho tàng trên trời rồi theo Chúa, thì anh làm không được. Lời mời gọi mà Đức Giê-su đề nghị với anh và cho chúng ta hôm nay không dừng lại ở việc sống và thực hiện một số việc làm đạo đức. Bổn phận và nhiệm vụ của một thành viên trong Nước Trời không chỉ qui chiếu về việc tuân giữ các khoản luật mà thôi, nhưng cần được thể hiện bằng các việc làm, không cho riêng mình, hay gia đình và dòng tộc mình, mà cho tất cả mọi người; đặc biệt là giới nghèo, những ai bị thương tích, những con người đang sống trong tình trạng mỏng dòn dễ vỡ. Do đó, lời mời gọi của Đức Giê-su dành cho anh cụ thể hơn, thực tế và thích hợp với tiêu chuẩn của Nước Trời hơn, đó chính là: bán gia tài, tặng cho người nghèo để tậu cho anh có một sản nghiệp trong Nước Trời, rồi đi theo Người.

Đề nghị này của Đức Giê-su gồm ba bước, gắn bó với nhau:

Thứ nhất là bán gia tài. Gia tài ở đây không chỉ là tiền bạc; nhưng là tất cả những gì anh đang có, những gì anh đang sở hữu, đang quản lý. Nó có thể là tiền bạc, thời giờ, sức khoẻ, tài năng. Bán đi là hành động chứng tỏ anh không lệ thuộc vào nó, nhưng làm chủ nó. Nói khác đi, người thanh niên phải nhận ra rằng những gì mà anh đang có không thể là của riêng anh. Đó là của chung. Tất cả chỉ là phương tiện giúp anh dễ dàng hơn trong việc theo Chúa. Tất cả những gì anh có đều là hồng ân của Chúa ban cho. Đó là của chung, còn anh và chúng ta chỉ là những người quản lý. Bởi thế, tất cả những gì chúng ta có, chỉ để làm vinh danh Chúa và phục vụ tha nhân.

Vì thế, việc kế tiếp mà anh và chúng ta cần nhắm đến là tha nhân, những người nghèo khổ đầy thương tích đang ở chung quanh anh. Có nghĩa là anh cần chuyên tâm sống nguyên tắc không dính bén và biết chia sẻ. Không nghĩ đến mình, mà còn phải biết nghĩ đến tha nhân, phải mở rộng con tim, giang rộng đôi tay để ôm ấp, giúp đỡ những người tất bạt rồi quì xuống mà phục vụ anh em.

Người nghèo không chỉ thiếu tiền thiếu bạc và của cải. Họ còn thiếu tình thương, lời an ủi, niềm khích lệ, sự tôn trọng… Vì thế, chúng ta không chỉ mời gọi trao ban cho họ tiền của, mà còn cho họ thời giờ, sức lực và cả trí tuệ, con người của mình nữa. Nhiều khi, chỉ cần trao cho họ một nụ cười, trả lại cho họ niềm kính trọng như một con người thì còn cao quí hơn các tặng vật.

Sau khi thực hiện các việc làm đó rồi hãy đi theo Chúa. Lúc này, anh không còn bị vướng bận, thảnh thơi để buớc vào giai đọan sau cùng của người môn đệ là theo Chúa, là thành viên của Nước Trời. Tuy gia tài trên trời đã có, nhưng không vì vậy mà anh và chúng ta lại chểnh mảng và không lo làm cho nó giàu có hơn. Theo Chúa là như thế, là làm giàu cho Chúa những gì đã được tặng ban. Như thế, muốn bước theo Đức Giê-su, con người phải để cho mình hết sức nhẹ nhàng và thanh thản, không còn bị dính bén hay bị bận rộn trong việc tính toán theo thói thế gian, mà phải hoàn toàn nhẹ nhàng và thanh thoát.

Đức Giê-su đã đáp ứng điều mà anh nhà giầu đang kiếm tìm bằng cách chỉ cho anh điều mà anh đang thiếu, điều mà anh cần dứt bỏ để có thể tiến vào hạnh phúc đích thật và viên mãn trong Nước Trời. Tuy nhiên, trước lời mời gọi của Đức Giê-su, người này đã chùn chân và không dám bước tới, anh đã “sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi vì anh ta có nhiều của cải”.

Thái độ buồn rầu của anh giúp chúng ta nhận ra một điều là anh dám mơ ước, nhưng lại không dám hy sinh, không dám bán đi tất cả để đạt được ước mơ của mình. Có lẽ trong cuộc sống, anh ta chưa bao giờ phải chạm trán và đương đầu với một cuộc chiến thật gay go như lúc này. Anh đã buồn chán rồi bỏ đi, vì anh không cảm nhận đuợc tầm quan trọng của Nước Trời trong cuộc sống anh. Anh cứ bám vào những điều cũ kỹ. Anh không nhận ra sứ vụ và con người đang nói với anh là biểu hiệu của Nước Trời. Anh đã làm mọi sự theo luật dậy. Nhưng niềm vui giữa những người thuộc về Nước Trời thì anh còn thiếu hay là chưa có! Anh là một người trong chúng ta!

Chúng ta dành nhiều thời gian để tìm hiểu về lối ứng xử của người thanh niên giàu có là để nhớ đến phận mình! Anh buồn rầu vì không dám từ bỏ để chọn phần tốt hơn. Còn chúng ta, qua bài Tin Mừng hôm nay, có đưa ra một quyết tâm nào phù hợp để lấy Nước Trời làm gia nghiệp hay không? Chúng ta có dám buông bỏ mọi sự để tậu cho bằng được kho báu và viên ngọc quí hay không?

Hẳn nhiên, chúng ta vẫn chưa quên trong Hiến Chương Nước Trời, Đức Giêsu có căn dặn rằng: “Hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi. Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó.” (Mt 6:20-21).

Sau cùng chúng ta hãy nhớ rằng chính mình là bảo vật, là viên ngọc tinh xảo mà Chúa cất công tìm kiếm trước. Ngay từ ngày đầu, Thiên Chúa đã lên đường tìm kiếm con người, cho dù phải thắp đèn, quét nhà, moi móc mọi nơi mọi chốn thì Người cũng phải tìm cho ra bảo vật đó; rồi mời bà con lối xóm đến cùng chia vui. Tất cả nghĩa cử đó nói lên tình yêu của Thiên Chúa muốn bộc lộ cho con người là bảo vật quí báu của Người. Phần chúng ta hãy quyết tâm sống xứng đáng như một bảo vật quí giá của Thiên Chúa dành cho tha nhân, và tiếp tục khám phá vẻ đẹp, sự mới mẻ và những nét trân quý nơi mình và nơi người khác, vì tất cả đều là những viên ngọc tinh xảo mà Thiên Chúa đã dựng lên. Amen!

Tuesday, 14 July 2020

HÃY KIÊN TÂM VÌ NƯỚC TRỜI VẪN CÒN ĐÂY!



Tuần trước chúng ta đã được nghe dụ ngôn “người gieo giống”, trong đó Đức Giê-su không nói nhiều đến chất lượng của hạt giống mà bàn nhiều về phẩm chất của đất mà hạt giống được gieo xuống. Còn trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su xác định rõ rằng hạt giống được gieo là loại giống tốt, nhưng năng suốt của hạt giống lại bị cản trở bởi sự xuất hiện của cỏ lùng do kẻ thù của ông gieo xuống. Như vậy, trên một mảnh đất mà có sự xuất hiện của hai loại hạt giống thì thế nào cũng làm cho sản lượng thấp kém đi. Cho nên, chúng ta không ngạc nhiên khi nghe những người giúp việc đề nghị với ông chủ cho phép họ đi gom cỏ lùng lại mà đốt đi, và xét theo thói của đời thường thì ông chủ sẽ hoan nghinh, tán thành và cổ võ cách xử lý này. Bởi vì, con người thường có khuynh hướng tiêu diệt điều ác và cổ võ sự thiện. Ngay cả Gio-an Tẩy Giả cũng nghĩ rằng khi Đức Giê-su đến, Người sẽ thu thóc tốt vào lẫm và đổ rác và thóc lép vào lò lửa không bao giờ tắt để đốt đi. Nhưng, ông chủ lại không cho phép họ làm như thế. Lời từ chối của ông làm chúng ta ngạc nhiên; nhưng lý do ông đưa ra thật chí lý. Ông biết cách suy nghĩ và khả năng của họ, thay vì nhổ cỏ lùng thì họ có thể làm bật luôn cả rễ của lúa.

Nghe đến đây, chúng ta nhận ra ý của Đức Giê-su, Người muốn chúng ta hãy nhớ thân phận và vị trí của mình, dù được mời gọi và giữ nhiệm vụ nào đi chăng nữa chúng ta vẫn chỉ là những người thừa hành. Quyền bính mà chúng ta có cũng được ban tặng từ Chúa, vì thế Người không muốn chúng ta hành xử thay quyền Người. Ngoại trừ Thiên Chúa, Đấng thấu suốt mọi sự, nhìn thấy tỏ tường ý định, cách suy nghĩ và tâm can của con người, thì không một ai trong chúng ta có thể ‘biện phân’ rõ ràng giữa thiện và ác, tốt và xấu. Một cuộc chiến giữa lành và dữ vẫn bám lấy chúng ta. Tự bản thân, chúng ta không thể thẩm định được, như kinh nghiệm chiến đấu mà Thánh Phao-lô đã chia sẻ như sau: “Việc lành tôi muốn tôi không làm, còn việc dữ tôi không muốn thì tôi lại làm.” Một sự căng thẳng giữa tốt và xấu, thiện và ác, lành và dữ vẫn hiện diện trong ta.  Không ai xấu hoàn toàn và cũng không ai tốt về mọi phương diện. Cái xấu ngày hôm nay có thể được biến đổi để trở thành tốt. Điều mà chúng ta nhìn thấy và chủ quan cho là tốt chưa hẳn sẽ theo ta mãi. Cuộc sống là một chuỗi ngày thử thách, cần được thanh luyện và mài dũa; sau cùng điều thiện hảo, điều tốt lành chỉ hiện diện và bền vững trong ơn nghĩa của Thiên Chúa, Đấng có thể biến đổi xấu thành tốt và làm cho mọi sự trở nên tốt lành và thánh thiện hơn.

Thật vậy, Đức Giê-su đã khai mạc và loan báo về Nước Thiên Chúa. Người còn dậy chúng ta về cách xử thế theo đúng tiêu chuẩn của Nước Thiên Chúa: Thay vì phá hủy thì Người kiện toàn; thay vì hủy diệt thì Người cứu sống, thay vì loại bỏ thì Người vui mừng đón tiếp, thay vì đi đến với người quyền thế, có danh có giá thì Người chọn làm bạn với bọn bất lương, phường tội lỗi, thay vì tiêu diệt tận gốc kẻ thù là đứa phá hoại thì Người lại yêu cầu chúng ta cầu nguyện cho kẻ bách hại mình, và Người còn nhiều nói và làm điều mới lạ khác nữa. Như vậy, điều mà chúng ta yêu cầu nhổ cỏ lùng trước mùa gặt chỉ là việc lấy cái dốt của mình dậy khôn Thiên Chúa, dùng tài khôn lỏi để xúc phạm đến sự thông biết mọi sự của Thiên Chúa. Rõ mù lại làm ra vẻ sáng mắt nên cuối cùng lăn đùng xuống hố. Bao lâu còn sống là còn đấu tranh. Bao lâu còn tồn tại là còn cơ may để thay đổi. Chúng ta cần chấp nhận một sự thật, cho dù chua cay, nhưng vẫn là sự thật. Đó là trên thế giới, trong gia đình, ngoài xã hội và ngay trong cộng đòan của những kẻ tin vẫn còn bao gồm những người tốt và xấu.

Việc ông chủ không cho phép những người giúp việc gom cỏ lùng để đốt đi đuợc giải thích rằng ông thật khoan dung và nhân hậu khi đối xử với người xấu, không trừng phạt ngay nhưng chờ họ trở về. Nhưng, lại có một số người khác diễn giải rằng thái độ và cách ứng xử của ông chủ duờng như hỗ trợ cho sự ác, cho phép bạo động bành truớng và tội ác phát triển. Thật ra, theo tinh thần của bản văn thì hành động của ông chủ đuợc xuất phát từ sự khôn ngoan. Ông biết rõ giới hạn và khả năng ‘phán đóan’ của những nguời giúp việc. Họ, tuy nhiệt thành và hăng say nhưng lại thiếu khôn ngoan trong việc biện phân nên dễ biến thành những người cuồng tín, rồi thay vì đi nhặt cỏ lùng, họ lại đi gom cả lúa vào thì hư hết việc. Kinh nghiệm trong cuộc sống dậy chúng ta rằng: những ai hăng say và nhiệt thành, nhưng thiếu óc phán đóan và khôn ngoan, có nhiều cơ may biến thành ‘hăng máu’; và kết quả thuờng gặp là đụng chạm và đổ vỡ.

Quả thật, thế giới mà chúng ta đang sống, cộng đòan nơi chúng ta đang sinh họat, thậm chí Hội Thánh mà chúng ta là thành phần… vẫn không hoàn hảo. Hãy nhớ lại thời đại mà Hội Thánh đã có lối cư xử bất khoan dung, không nhân nhượng với tà giáo, với những ai có những quan điểm hay phổ biến các giáo thuyết hay tín điều khác với mình. Tòa án dị giáo được thành hình để tiêu diệt những kẻ chống đối. Đây là một thực tế mà không ai trong chúng ta có thể lọai bỏ được!

Như vậy, không lẽ chúng ta cứ sống mãi như thế, đồng lõa với sự ác. Không phải thế. Ngay trong dụ ngôn, Đức Giêsu nói cho chúng ta biết rằng cỏ lùng sẽ bị đốt, tội ác sẽ bị tiêu diệt. Thời gian mà tội ác hòanh hành trên thế giới, trong gia đình, ngay bản thân của mỗi người chỉ là tạm thời. Những điều tốt đẹp và các việc lành sẽ tồn tại muôn đời. Chúng ta được mời gọi sống trong niềm xác tín rằng rồi mùa thu hoạch chắc chắn sẽ đến. Và, khi mùa thu họach đến, cả thế giới này sẽ tràn ngập niềm vui và tiếng cười.

Từ niềm xác tín này chúng ta tìm hiểu và suy niệm dụ ngôn “hạt cải” và “men trong bột” tiếp theo. Nước Trời còn được ví như hạt cải nhỏ bé tí nhưng khi lớn lên lại như cây lớn mà chim trời có thể đậu. Và, Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men. (Mt 14: 30-33) Muốn đạt được kết quả như thế, chúng ta nghĩ ngay đến sự can thiệp của một sức mạnh siêu nhiên làm cho hạt cải lớn thành cây đại thụ. Cũng giống như thế về việc cả khối bột dậy men của người đàn bà trong dụ ngôn “men trong bột.” Nước Trời bắt đầu thật nhỏ bé, đối diện với muôn ngàn khó khăn từ trong ra ngoài. Tuy nhiên, Nước Trời chứa đựng một mầm sống thật mãnh liệt mà không một quyền lực nào có thể ngăn chận sự phát triển của nó. Yếu tố quan trọng là bàn tay và sức mạnh của Thiên Chúa, Đấng làm chủ và làm cho Nước ấy trở nên mạnh mẽ. Người có chương trình của Người. Hãy kiên trì, cộng tác và trao quyền làm Chủ triều đại Thiên Chúa cho Người, bởi vì nó thuộc về Thiên Chúa.   

Một cách tương tự, hai dụ ngôn nói trên có thể được viết lại bằng ngôn ngữ của thời đại chúng ta như sau: “Nước Trời giống như công việc của một cha xứ trong một thành phố gần 2 triệu dân, mà chỉ có vài chục tín hữu đến nghe ngài giảng. Ngài kiên tâm bền chí rao giảng cho đến khi mọi người trong thành trở lại và tin vào Tin Mừng.”

Tóm lại, Đức Giêsu dùng các dụ ngôn để giảng dậy cho chúng ta về Nước Trời, chứ không phải là lời tiên báo, cho dù về sự phát triển rộng lớn và mạnh mẽ của Giáo Hội.  Qua các dụ ngôn này, Đức Giêsu nói về ngày mùa, ngày gặt hái chung thẩm của Nước Trời sẽ bội thu. Vì thế, thay vì dùng các dụ ngôn như một lời giải thích về sự thành công hay như một đảm bảo cho sự phát triển của Giáo Hội, thì chúng ta nên nghĩ rằng; qua các dụ ngôn này, Giáo Hội luôn được mời gọi để nhìn lại lối sống của mình mà nhận ra rằng: Nuớc Trời đã khai mạc bởi Đức Gie-su, đã được hoàn tất bởi sự nghiệp của Người. Tuy nhiên, đối với chúng ta thì Nước Trời vẫn còn nằm ngòai tầm với, chúng ta cần phải cố gắng hơn để đạt được nó. Hiện tại, chúng ta cần mở lòng ra chấp nhận nhau, tốt lẫn xấu, cùng bắt tay, nỗ lực hơn trong việc làm chứng về sự hiện của Nuớc Trời bằng lối sống của Đức Giêsu đã dậy và làm gương cho chúng ta. Amen!