Wednesday, 30 June 2021

THẤT BẠI MỞ RA CON ĐƯỜNG MỚI

 

Kính thưa quí ông bà và anh chị em,

Hôm nay, trong bài Tin Mừng chúng ta chứng kiến cảnh Đức Giê-su bị chối từ bởi những người bà con trong lần Người về thăm cố hương Na-da-rét. Dân trong làng vẫn nhận ra sự khôn ngoan trong lời giảng dậy của Người. Nhưng khi nhớ lại gốc tích và các kinh nghiệm mà họ đã từng trải qua với Đức Giê-su trong thời thơ ấu thì không một ai trong họ còn nhận ra quyền năng của Thiên Chúa đang hoạt động trong và với Người nữa. Đối với họ, Đức Giê-su vẫn chỉ là con bà Maria. Thân nhân và anh chị em của Người, họ đều biết rõ.

Đức Giê-su sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo. Cha Người là bác thợ mộc quê mùa. Người thuộc về tầng lớp không được trọng vọng, chẳng có địa vị gì. Và như vậy, dù Người có nổi tiếng và làm được nhiều điều kỳ diệu tại các nơi khác, thì truớc mặt họ, Chúa của chúng ta vẫn chỉ là con bác thợ mộc Giu-se. Với gốc tích bần cùng và nghèo hèn như thế thì Đức Giê-su có thể làm được gì tại Na-da-rét để cho họ khâm phục!

Nói khác đi, Đức Giê-su không có quyền trở thành một người khác hơn là một con người do họ nghĩ ra và tạo nên. Có nghĩa là Đức Giê-su bị nhốt trong lối suy nghĩ và cách nhìn của họ. Người bị giam lỏng như một số người trong chúng ta vẫn thường xuyên nhốt Người trong các cơ sở vật chất, cho dù nguy nga và tráng lệ đến đâu; nhưng thiếu tình yêu, bác ái và lòng thương xót thì các đền đài đó còn có ý nghĩa gì hay không?

Với ngần ấy lý do, chúng ta có thể thông cảm với cách hành xử thiếu tin tưởng của dân làng Na-da rét. Họ từ chối đón nhận sứ điệp của Người. Vì với lối suy nghĩ rất giới hạn và đầy thành kiến như thế thì làm sao họ có thể nhận ra chân tướng đích thật của Đức Giê-su! Làm thế nào họ có thể đón nhận Người là Đấng được Thiên Chúa sai đến để loan báo sứ điệp giải thoát và đem tin vui đến cho họ! Đó là các nguyên nhân đã làm mờ mắt họ khiến họ không còn nhận ra vẻ kỳ diệu và phi thường mà Thiên Chúa muốn tỏ bầy qua con người của Đức Giê-su nữa. Đức Giê-su đối với họ vẫn là con người Na-da-rét.

Truớc tình hình đó, Đức Giê-su còn biết nói gì hơn! Người chỉ biết trích một câu ngạn ngữ rất phổ thông để làm cho tình hình bớt căng thẳng, và đây cũng là dịp nhắc lại cho họ biết về sứ mạng và thân phận của một ngôn sứ. Đó là: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.”

Thưa anh chị em,

Công việc mà Đức Giêsu cần làm trong hoàn cảnh này là thẳng thắn đối diện với tình trạng thiếu niềm tin của họ. Không thể để cho thái độ tiêu cực của họ làm cho Người bị nản chí hay bị gục ngã. Họ không tin. Nhưng các môn đệ cần nhìn vào gương sáng của Thầy. Gương sáng đó là niềm tin và tâm tình phó thác tuyệt đối vào Cha của Người, Đấng hiện diện trong mọi tình huống, nhất là trong những lúc Đức Giê-su cần đến Cha của Người. Bài học là như thế. Đức Giê-su đã trở thành gương sáng cho các môn đệ noi theo. Chu toàn ý định của Thiên Chúa hơn là đi tìm sự chấp thuận của thế gian, cho dù thế gian vẫn không tin Người.

Trạng thái thiếu niềm tin này có thể được cụ thể hoá qua lối sống của những người trẻ trong xã hội mà chúng ta đang sống hôm nay. Biết bao bậc làm cha làm mẹ đã và đang ngao ngán trước lối sống xa cách với niềm tin tôn giáo của con cái họ. Chính Đức Giêsu, dù là Đấng đuợc Cha sai đến cũng đã gặp những người không tin, nhất là những người đó lại là thân nhân của Người. Đứng trước thái độ không tin của những người đồng hương, Đức Giê-su dường như bị bất lực. Thật ra, không hẳn là như thế. Sự im lặng của Chúa có thể cho chúng ta biết rằng Người hoàn toàn tôn trọng quyền tự do mà Thiên Chúa đã ban cho họ.  Cho dù con người đã nhiều lần xử dụng sai cái thẩm quyền đó. Nhưng vì yêu thương, Người vẫn tôn trọng và tìm cách khác để lôi kéo họ về nẻo chính đuờng ngay.

Có một sự thật vô cùng hiển nhiên mà chúng ta không thể chối bỏ được là Đức Tin tuy là điều cần thiết để nhận ra uy quyền của Thiên Chúa. Nhưng đức tin đó không phải là thành quả phát sinh từ sự cố gắng của con người, cho bằng đó chính là hồng ân cao quí của Thiên Chúa ban cho.

Và, với bản chất mỏng dòn và yếu đuối của con người như thế nào thì niềm tin của chúng ta cũng mỏng dòn và yếu đuối như thế. Chính vì thế, chúng ta cần có sự trợ lực. Sự hỗ trợ này không phát xuất bất cứ từ một sức mạnh nào, cho bằng nhìn nhận sự yếu đuối của bản thân, rồi để cho sức mạnh của Thiên Chúa được tỏ hiện. Đó chính là kinh nghiệm đã được san sẻ bởi Thánh Phao-lô trong bài đọc thứ hai mà chúng ta vừa nghe hôm nay.

Những gì mà Thiên Chúa đã nói với Thánh Phao-lô khi xưa, cũng là Lời mà Chúa muốn nói với chúng ta hôm nay. Đó là “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Và Thánh nhân đã rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của mình, để sức mạnh của Đức Ki-tô được biểu dương.

Đây, chính là bài học vô cùng quý giá cho những yếu đuối, thất bại và bị chối bỏ bởi người thân và những ai mà chúng ta quan tâm và hết lòng yêu mến. Chúng ta cần vững tin tiếp tục bước về phía trước, miễn sao chúng ta làm đẹp lòng Chúa là đủ rồi.

Vì thế, đứng trước sự từ khước của thân nhân và bà con lối xóm, Đức Giê-su đã không chấp nhận ngã gục hay thua cuộc, nhưng lại tiếp tục lên đuờng hoàn tất sứ mạng. Thánh Mác-cô nhận xét là Người ngạc nhiên vì họ thiếu lòng tin. Nhưng cũng chính vì ngạc nhiên mà Người tiếp tục tìm kiếm câu trả lời bằng cách thi hành sứ vụ. Câu trả lời đã đến qua việc Người đón nhận sự gục ngã toàn diện trên Thập Giá để củng cố niềm tin cho những ai đi theo Người.  Và, đó cũng là cách mà Đức Giê-su muốn tỏ bầy để biểu lộ trọn vẹn kế hoạch của Thiên Chúa thành toàn nơi bản thân Người. Và chúng ta, hôm nay, đang được mời gọi để thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa chứ không phải sự đồng thuận hay hỗ trợ của thế gian. Xin cho những suy nghĩ, hành động và từng bước chân của chúng ta luôn ở trong kế hoạch vẹn toàn của Thiên Chúa. Amen!

 

Wednesday, 23 June 2021

“ĐỪNG SỢ, CHỈ CẦN TIN.”


Bịnh tật, đau khổ, tai ương và sự chết vẫn làm cho con người lo sợ. Hôm nay trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su đã chứng tỏ cho chúng ta thấy quyền năng của Thiên Chúa ở trong Người khi chữa cho người phụ nữ được khỏi bịnh và làm cho con gái của ông Giai-rô sống lại. Câu chuyện bắt đầu như sau.

Trước tiên, chúng ta hãy nhớ rằng: khi thi hành sứ vụ, Đức Giê-su đã gặp phải sự chống đối của các nhà lãnh đạo tôn giáo, sống cùng thời với Người. Thế mà thái độ của ông Giai-rô dành cho Đức Giê-su hôm nay khiến cho chúng ta phải ngạc nhiên. Tuy, ông cũng thuộc vào lớp người danh giá, có quyền có thế, đường đuờng là viên chức trưởng hội đường, thế mà ông đã phải hạ thấp mình xuống dưới chân Đức Giê-su và van xin Người rằng: “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và đuợc sống.”

Sự chết luôn luôn là mối bận tâm của con người. Nó trở thành nỗi lo âu, mối đe dọa thật khủng khiếp cho mọi người, đặc biệt những ai còn trẻ. Hoàn cảnh của cô con gái ông Giai-rô là như thế. Cô ta sắp chết. Cô rất khó để qua khỏi cơn gian nan này. Đặt mình vào hoàn cảnh của một người cha như ông Giai-rô, chúng ta có thể tìm ra vài lời giải thích cho hành động của ông hôm nay. Vì tình thương của người cha dành cho con, xen kẽ với niềm tin vào Đức Giê-su và nhất là ông phải thoát khỏi vòng ảnh huởng của các bạn đồng nghiệp, rồi mở lòng ra để đón nhận Tin Vui của Đức Giê-su mang đến. Đó là các động lực giúp ông can đảm hơn để gặp Chúa. Một cuộc gặp gỡ công khai chứ không thầm kín hay lén lút. Ông cần mạnh dạn để làm điều ông tin. Thật đáng cảm phục!

Tuy là như thế, nhưng con đường đến nhà ông Giai-rô lại bị gián đoạn bởi sự chen lấn của đám đông. Trong đám đông đầy người đó, có một người phụ nữ vô danh, đã tiếp xúc với Đức Giêsu một cách bí mật. Thật ra bà biết rằng theo luật thì bà không được phép đụng chạm đến ai; bởi vì bất kỳ ai tiếp xúc hay chạm vào bà đều bị ô uế và cần tẩy sạch.

Khỏi cần nói nhiều, chúng ta cũng hiểu cuộc sống của bà đau khổ đến dường nào. Đau khổ vì bịnh tật. Đau khổ vì bị sống cách ly khỏi các sinh hoạt của cộng đoàn. Đau khổ khi bị gia đình và người thân bỏ rơi. Thậm chí bà đã bao phen khổ sở vì tìm sai thầy, uống nhầm thuốc khiến cho bà tiền mất tật mang, thế mà không những bịnh vẫn hoàn bịnh mà còn bị nặng hơn. Bà sống trong tình trạng tuyệt vọng, không còn biết trông cậy vào ai là người có thể chữa cho bà được khỏi bịnh và trả lại phẩm vị con người cho bà nữa đây!

Trong cơn đau khổ và gần như tuyệt vọng đó, bà đã tìm gặp Đức Giê-su. Lúc đó bà chỉ nghe người ta nói về Người là Đấng đã chữa cho nhiều người được khỏi bịnh. Trong đầu bà chỉ cầu mong làm thế nào có thể sờ vào tua áo của Người thì sẽ được khỏi bịnh. Một ý nghĩ đơn sơ mang tính dị đoan và chút vụ lợi này của bà đã là khởi điểm giúp bà bước ra khỏi những điều đã giam hãm và đóng kín bà. Bà cần được thoát ra khỏi cái vỏ bên ngoài và bằng vào con người thật bà đến gặp Đức Giê-su.

Ngay khi đó bà ta nhận thấy có một sự thay đổi trong cơ thể của mình. Và, cũng ở thời điểm đó, Đức Giê-su nhận ra có một sự thay đổi trong cơ thể của Người. Không ai nhận ra điều này ngoại trừ Chúa và người phụ nữ biết có sự thay đổi đang xẩy ra nơi họ! Và bà đã đuợc chữa lành. Máu liền ngưng chảy ra. Căn bịnh đã biến mất.

Nhưng, cuộc gặp gỡ giữa Đứa Giê-su và bà không ngừng ở phần chữa lành thể xác. Sau khi thấy lực trong người thoát ra, Chúa nhìn bà. Bằng vào cái nhìn của Đức Giê-su khiến bà cảm thấy sợ phát run lên. Tuy nhiên, không vì nỗi run sợ khiến bà chạy trốn cái nhìn của Chúa. Trái lại, bà can đảm buớc ra khỏi cõi lòng để tự giới thiệu mình với Chúa và trình bầy toàn bộ sự thật. Không ai bắt người phụ nữ này phải làm như thế. Bà vẫn có thể ẩn mình vì máu đã ngưng chảy, căn bịnh băng huyết đã được chữa khỏi. Nhưng hình như bà thấy đuợc cái nhìn mãnh liệt, một cái nhìn soi thấu tâm can của Chúa, khiến bà phải buớc ra để bộc lộ và phơi bầy mọi sự đang xẩy ra cho bà. Nhờ cuộc gặp gỡ với Đức Giê-su, nhất là với cái nhìn của Người khiến bà thay đổi, nhận ra căn tính và phẩm vị của một con người và buớc vào để thiết lập mối quan hệ với Đức Giê-su, Đấng đã phán: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bịnh.”

Anh chị em thên mến,

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người phụ nữ bị băng huyết đã làm trì hoãn việc Người đến chữa lành cho con gái ông Giai-rô. Nên khi Người đến nơi thì được tin cô bé đã chết. Với nguồn tin sét đánh này, người nhà của ông chủ hội đuờng mới góp ý đừng làm phiền đến Chúa nữa. Họ có lý khi có lối suy nghĩ như thế. Bởi vì, sự chết vẫn là một vấn nạn khiến họ phải bó tay. Chạy đến với Đức Giê-su để xin Người chữa lành bịnh tật là chuyện mà ông Giai-rô và một số người cùng thời với Chúa đã làm; nhưng bây giờ đứa bé đã chết, còn gì để hy vọng nữa đây!

Nghe được những lời bàn như thế, Đức Giê-su quay sang an ủi và động viên ông Giai-rô đừng sợ, nhưng hãy vững tin. Quả thật, đây là một thách đố mới. Thách đố này đòi hỏi ông tiến thêm một buớc trong lòng tin. Ông đã tin rằng Đức Giê-su có thể chữa lành bịnh mà con gái ông phải mang thế nào; thì giờ đây ông hãy tin rằng Chúa còn có quyền trên cả sự chết nữa.

Nói thế rồi, Người tiếp tục bước đến nhà ông Giai-rô, có ba môn đệ thân tín cùng đi với Người. Bước vào nhà, Đức Giê-su liền nói: “Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” Nghe những lời nói đó, phản ứng của đám đông là chế riễu Người.

Thật vậy, làm sao chúng ta có thể nói một người đã chết là họ đang ngủ. Nhưng, đối với Đức Giê-su thì khác. Người mang đến một giáo lý mới, Người loan báo một Tin Vui. Đó chính là điều mà con người gọi là sự chết thì theo Chúa họ đang nghỉ ngơi, đợi chờ ngày được đánh thức để sống đời đời, để tham dự vào cuộc sống đời đời với Thiên Chúa, Cha Người. Điều này có nghĩa là, khi Đức Giê-su đến thì cái chết không còn là cái chết nữa mà đó chỉ là giấc ngủ.

Đến lúc này là sự đáp trả của ông Giai-rô: Ông có tin hay không?

Ông đã tin và với niềm tin của ông, Đức Giê-su đã tiến vào nơi cháu bé đang nằm, cầm tay cháu và truyền cho nó chỗi dậy. Con bé liền chỗi dậy và đi lại được. Chi tiết đi lại đuợc ám chỉ cho chúng ta biết rằng sau khi đuợc hồi sinh, cháu đã trưởng thành và có thể tự mình đi lại như người lớn. Ngoài ra, việc Đức Giê-su yêu cầu họ cho cô bé ăn chứng minh là cô đã hồi sinh. Cô không chỉ đi lại mà còn ăn uống bình thường như mọi người.

Tóm lại, Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta đến gặp Chúa Cứu Thế. Qua hành trình rao giảng, cùng với các phép lạ kèm theo và sau cùng là sự chết của Người đã ban cho nhân loại ơn chữa lành và cuộc sống được thay đổi, một sự thay đổi toàn diện cho mọi người: không phân biệt giai cấp, không phân chia địa vị, sang giầu hay nghèo hèn, không đánh giá vẻ bên ngoài, không vì tội nhân hay công chính. Nói chung Người không loại trừ một ai và cũng không bỏ rơi ai. Tất cả đều được chữa lành và đổi mới. Có nghĩa là khi gặp Chúa thì con người được đổi mới. Người muốn chúng ta tin rằng Người có sức mạnh đổi mới và hoàn thiện chúng ta.

Còn chúng ta thì sao?

Là thành viên của một cộng đoàn của những kẻ tin, cùng san sẻ một lòng mến, nhất là cùng đón nhận Chúa làm gia nghiệp, chúng ta có thể thay đổi các điều kiện của cuộc sống mình và những người xung quanh hay không? Và, liệu chúng ta có thể mang lại sự chữa lành cho những ai đang lâm vào các hoàn cảnh khó khăn và tuyệt vọng hay không?

Xin Chúa ban cho chúng ta can đảm và tin rằng Chúa sẽ thực hiện trong ta những điều cả thể như thế. Amen!

Wednesday, 16 June 2021

SAO LẠI NHÁT ĐẢM NHƯ THẾ! HÃY TIN VÀO THẦY.


Trước khi suy ngẫm về trình thuật Tin Mừng hôm nay, tôi mời gọi anh chị em cùng ôn lại hành trình vuợt biển năm nào. Tôi tin rằng hầu hết những người Việt Nam đang sống ở Nước ngoài đều trải qua những tháng ngày đau thương trong hành trình vượt biên. Tôi không dám và không muốn gợi lại những chuỗi ngày đau khổ đó. Bản thân tôi muốn quên mà vẫn không quên được. Nó là một phần trong cuộc sống. Đối với tôi, biến cố ra đi tìm sự sống qua cõi chết vẫn là một sự cố kinh hoàng mà mỗi khi nhớ đến tôi vẫn còn run sợ.

Trong chuyến vượt biên vào năm 1982, thuyền của chúng tôi đã bị mắc kẹt trong cơn bão (thật ra là gần cuối cơn bão). Chúng tôi đã trải qua những giây phút thật kinh sợ. Hầu như tất cả đều bất lực trước sức mạnh của bão táp và sự tàn phá của thiên tai. Có khoảng chừng tám mươi người trên tầu. Ngọai trừ gia đình chủ tầu, tài công là những người quen biết nhau từ trước; còn chúng tôi hòan tòan xa lạ đối với nhau. Một số gốc Công giáo; những người khác theo Phật giáo và còn một số là tín đồ của các giáo phái như Cao Đài… Nói chung, trong giây phút nguy hiểm đó, tất cả chúng tôi không cần biết mình thuộc tôn giáo nào nữa. Tất cả đều qui huớng về Đấng Chí Tôn, Đấng Tạo Hóa để cầu xin. Chỗ này lần hạt cầu nguyện, chỗ kia niệm kinh Nam Mô. Chúng tôi cùng chia sẻ một niềm tin vào Đấng Tạo Dựng và điều khiển vũ trụ. Chúng tôi tin rằng chỉ có sức mạnh tối cao từ Đấng Tạo Hóa, Đấng có thể cứu chúng tôi khỏi cơn gian nan đầy nguy hiểm này.

Thời gian cứ thế trôi qua. Sóng biển vẫn tiếp tục gầm thét như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi vào lòng biển. Tất cả đều quá mệt mỏi và đuối sức đến độ ngay cả lời cầu nguyện cũng im dần. Tất cả đều chờ đợi sự chộp bắt của Thần Chết.

Thật may mắn, sau đó cơn bão đã suy yếu dần. Thuyền của chúng tôi tiếp tục lênh đênh trên biển cả. Năm ngày sau, chúng tôi được sự hướng dẫn của các nhân viên trên dàn khoan dầu, con thuyền từ từ đến đảo Ku-ku, một trong những hòn đảo rất quen thuộc đối với các thuyền nhân tạm cư tại các trại tỵ nạn bên In-đô.

Sau này, tôi đã được nghe anh tài công cho hay khi đi qua cửa biển, con tầu của chúng tôi đã bị các chú công an biên phòng rượt bắt, nhưng họ đã bỏ cuộc, bởi vì họ nghĩ rằng con tầu của chúng tôi, sớm hay muộn, cũng bị đắm chìm khi phải chống chọi với cơn bão. Đúng là vận may đã đến trong cơn hoạn nạn.

Thành thật mà nói, tôi nghĩ rằng không có ai trong chúng ta còn đủ can đảm để đi trên biển trong hoàn cảnh như thế! Và, cho đến hôm nay, mỗi lần đi dạo trên bờ biển, nhất là vào buổi tối, đứng nhìn sự bao la và cũng rất đáng sợ của biển cả, cảm giác sợ hãi vẫn ám ảnh. Tôi nhận ra cuộc vượt biên ra đi tìm sự sống trong cái chết của chúng ta quả thật đáng sợ; và việc đến được bến bờ tự do quả thật diệu kỳ, chỉ còn biết coi đó là hồng ân mà thôi.

Cơn bão vượt biên đã xẩy ra chỉ một lần khiến cho con người khiếp sợ. Trong khi đó bão tố cuộc đời không chỉ xẩy ra một lần mà có thể nhiều lần trong đời. Vậy, chúng ta đối diện thế nào đây?

Thưa anh chị em,

Như anh chị em đã biết, đối với những người sống cùng thời với Chúa Giêsu. Họ tin rằng, sự kết hợp của biển cả và bão tố là biểu tượng của sự tàn phá và hỗn loạn; nó không chỉ làm cho con người khiếp sợ mà còn đe dọa mạng sống của họ nữa. Hơn thế nữa, chúng ta nên để ý đến bối cảnh mà sự việc xẩy ra hôm nay là vào lúc chiều đến. Chi tiết này làm tăng nỗi sợ hãi của các môn đệ trước trận cuồng phong bất chợt ập đến. Thế mà, Đức Giê-su vẫn ngủ yên trên thuyền. Người ngủ vì mệt hay vì say sóng. Có lẽ cả hai lý do nêu trên đều không đúng. Người có được sự bình an, một sự bình an mà ai trong chúng ta cũng mơ ước, bởi vì Chúa Giê-su đặt trọn niềm tin, phó thác sự sống vào tay Cha Người.

Tương tự như thế, nhiều lần chúng ta thấy mình ở nơi đầy tràn hoan lạc và bình an như thế. Chúng ta cảm thấy được yêu thương và dường như đang nằm thu gọn trong vòng tay yêu dấu kề cận Trái Tim Chúa. Trong khoảnh khắc đó, chúng ta có cảm giác là hiểm nguy nào cũng vượt qua, thử thách nào chúng ta cũng có thể đối diện được… Nhưng sau đó, mọi sự rồi cũng qua đi, mọi cảm xúc cũng biến mất để nhường chỗ cho một thực tại, mình trở về với chính mình, lại muốn độc lập, lại muốn làm chủ và tự mình định liệu cho cuộc sống đầy tham vọng của bản thân. Cái ‘tôi’ được vuốt ve và sự tin cậy và lệ thuộc của chúng ta vào Chúa cũng yếu dần.

Đó là cách phản ứng của các môn đệ. Họ thiếu lòng tin. Dù ngủ hay thức thì Chúa đang ở trên thuyền với họ, nhưng mắt họ chỉ nhìn thấy sóng gió và cuồng phong nên không nhận ra Chúa. Phản ứng thiếu lòng tin của các môn đệ được diễn tả qua câu than vãn “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi mà Thầy không quan tâm gì sao?” Họ cho rằng Chúa không để ý đến sự sống chết mà họ đang đối diện. Có ai quan tâm đến các môn đệ và mỗi người chúng ta bằng Chúa. Cho dù người mẹ có nhẫn tâm bỏ con, Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Chúa nói như thế, thế mà vì lo sợ và hoảng hốt quá nên chúng ta lại quên. Chúa vẫn đồng hành với các môn đệ trên đường về Em-mau, thế mà vì buồn và thất vọng nên các môn đệ không nhìn thấy Chúa. Chúa yêu thương thế gian đến độ hy sinh người Con yêu dấu, thế mà chúng ta lại nói với nhau rằng Chúa chẳng lo cho chúng ta. Một câu nói làm tổn thương Trái Tim Chúa.

Điều này còn xẩy ra trong các mối quan hệ. Hai người đang yêu nhau thắm thiết, thế mà có một hôm chị nói rằng: “Em thấy anh chẳng còn yêu và quan tâm hay để ý gì đến em nữa! Anh đã quên em rồi sao!” Thật là đau lòng! Anh đang mong từng giờ từng phút được ở bên em thế mà chị lại nói một câu làm anh buồn rười rượi. Trong gia đình cũng thế, bố mẹ nào mà lại chẳng thương con! Thế mà, có một hôm người con yêu dấu của họ than rằng: “Bố mẹ chẳng thương con gì hết.”

Thật vậy, “chúng ta chết đến nơi” là tiếng kêu van của các môn đệ về tình trạng bất lực của họ trước sự đe dọa của cơn bão. Nhưng hôm nay, khi nghe câu nói này tôi lại nhớ đến lời mời gọi được chết với Chúa. Chúng ta cùng chết với Người. Chết cho nỗi hoảng sợ của mình. Chết đi cho cái tôi đang giam hãm và trói buộc chúng ta. Chết đi cho các nhu cầu của cá nhân. Chết đi cho chính mình. Chết đi cho tội lỗi. Chết đi rồi chỗi dậy với Chúa mà đối diện với các sóng gió cuộc đời bằng chính quyền năng của Chúa, Đấng đã ra lịnh cho biển như đã ra lịnh cho các thần dữ rằng: “Hãy im đi! Hãy câm đi!” tức thì biển lặng yên và gió ngừng thổi.

Vì thế, là những tín hữu, những người có niềm tin, chúng ta thực sự sống cuộc đời của mình như có Chúa, khắc sâu các lịnh truyền của Người vào tâm can và đem ra thực hành thì cuộc sống của mình sẽ không còn giống như cũ nữa. Biển cả vẫn gầm thét. Sóng gió cuộc đời vẫn xẩy ra. Bão tố làm bật tung những thứ bị che đậy để con người có thể nhìn thấy rõ nhu cầu của nhau mà giúp đỡ. Chúng ta thật đã thay đổi. Cái cũ đã qua đi để nhường chỗ cho tái tạo mới. Chúng ta rời bỏ chính mình để “Duc In Altum – Ra Khơi” vào vùng nước sâu, nơi dễ bị phong ba bão táp, nhưng lại có nhiều cá. Tại chỗ đó, chúng ta không còn sống cho chính mình mà là trong Chúa, với Chúa chúng ta sống. Sống trong mầu nhiệm hiệp nhất với Chúa và tha nhân để mọi sự trở nên mới hơn. Không còn sợ hãi, không còn âu lo chỉ còn hoan lạc và bình an để cùng nhau “Ra Khơi” thôi.

Như vậy, sứ điệp mà bài Tin Mừng hôm nay đến thật đúng lúc. Nó tiếp tục giúp chúng ta sống tin tưởng hơn để đối diện với các khó khăn do đại dịch Covic-19 gây ra hơn một năm qua. Thiên Chúa vẫn còn ở trên con thuyền cuộc đời chúng ta. Người ở với chúng ta trong mọi cảnh huống. Hãy tin rằng chúng ta được Chúa yêu thuơng. Chúa yêu ta vô bờ bến. Tuy Chúa ngủ, nhưng con tim Chúa vẫn không ngừng tuôn đổ máu huyết để nuôi sống chúng ta. “Đừng nhát đảm! Nhưng hãy tin!”

Thật vậy, con người chỉ thắng được các nỗi sợ hãi nhờ tin vào Ðức Giêsu, Ðấng đã nên một với Thiên Chúa vì Người đã Tin vào quyền năng của Thiên Chúa lúc nào cũng họat động trong Người và với Người. Người đã không ngã gục vì sợ hãi mà đã đi tới cùng cho dù là cái chết, miễn là làm hài lòng Thiên Chúa. Chúng ta sẽ được như thế. Hãy tin và trao tay lái cuộc đời chúng ta cho Người rồi Người sẽ điều khiển và lèo lái con thuyền của chúng ta đến bến bờ bình an. Amen!

Wednesday, 9 June 2021

HẠT GIỐNG ÂM THẦM TĂNG TRƯỞNG


Chúng ta bắt đầu bài chia sẻ hôm nay bằng câu chuyện. Tuy truyện kể mang tính hư cấu nhưng nội dung và các tình tiết trong câu chuyện rất thật, thật đến độ có nhiều người tưởng như truyện kể về hoàn cảnh của gia đình mình. Truyện kể như thế này.

Có một gia đình kia có 4 người con. Cả anh và chị mới đến Úc khoảng hơn chục năm. Chân ướt chân ráo tới định cư tại một xã hội hoàn toàn mới lạ với những gì mà họ đã được dậy bảo và trưởng thành khi còn sống ở Việt nam. Họ cố gắng chu tòan bổn phận và trách nhiệm làm cha mẹ trong môi truờng của một xã hội mà chính họ còn bỡ ngỡ. Khi còn nhỏ, cháu nào cháu ấy thật dễ thương, chăm chỉ học hành, vâng lời anh chị, ngoan ngoãn trong công việc. Đến tuổi dậy thì, các cháu đổ chứng, mỗi đứa một tật khiến cho anh chị lao tâm lao lực, thậm chí chán nản, bị trầm cảm rồi mất lòng trông cậy và chẳng biết bám víu vào ai. Nhưng anh chị vẫn tiếp tục vai trò làm đầy tớ phục vụ nhu cầu các con, làm thầy dậy chỉ bảo đường đi cho các con, làm lang y mỗi khi các cháu ngã bịnh.

Theo tôi, anh chị đã cố gắng hết sức trong việc giáo dục con cái. Tôi thông cảm và rất muốn chia sẻ nỗi khó khăn, niềm lo âu và cơn buồn phiền trong đời sống với họ. Tôi cảm phục lòng can đảm, sự hy sinh, lòng kiên nhẫn nói lên tình yêu của họ dành cho các cháu. Đó chính là công sức mà họ đã đóng góp để cho hạt giống mà Chúa đã gieo, đang gieo và tiếp tục gieo qua cuộc sống của họ và âm thầm mọc lên trong cuộc sống của các cháu. Tất cả được đặt trong niềm hy vọng là các hạt giống đó sẽ sinh hoa kết trái sau này.

Trước hoàn cảnh thật chông gai mà gia đình anh chị, bạn tôi đã và đang đối diện. Anh chị có thể nhận ra mình là kẻ thua cuộc, nhưng anh chị vẫn tin rằng Thiên Chúa yêu thương những người con của anh chị hơn anh chị yêu các cháu. Bởi vì, các cháu trước khi là con của anh chị thì phải là con của Thiên Chúa truớc. Như thế, Ngài có đường lối và cách ứng xử của Ngài. Anh chị tin rằng Ngài không muốn một ai trong chúng ta bị hư đi. Chúng ta là những con người bất tòan mà còn biết hành xử với con cái mình như thế, gieo và tiếp tục gieo hạt giống tin yêu và hy vọng là nó sẽ sinh hoa kết trái; phuơng chi là Thiên Chúa. Người yêu thuơng, tiếp tục ban phát ân huệ, kiên tâm chờ đợi kết quả của ngày mùa, đến mùa thu họach sẽ đuợc bội thu.

Thưa anh chị em,

Tuy truyện kể trên đây không xẩy ra cho mọi gia đình, nhưng tình tiết của câu chuyện không xa lạ với hoàn cảnh sống của gia đình chúng ta. Các bậc cha mẹ dường như đều trải qua những kinh nghiệm giống như thế.

Một cách tương tự, đây cũng là hoàn cảnh của các tín hữu tiên khởi đã phải đối diện. Sau khi Chúa Giê-su về trời, ngự bên hữu Thiên Chúa. Các Tông đồ bắt đầu ra đi rao giảng về Nước Thiên Chúa. Công cuộc rao giảng và gieo trồng Lời Chúa của các môn đệ không được thuận lợi. Các ông bị chống đối, chịu cấm cách, bị bắt bớ, tù đầy thậm chí bị giết chết. Trước một thực tế đầy chông gai như thế, anh chị em tiên khởi có thể hỏi nhau rằng làm thế nào Nuớc Thiên Chúa có thể phát triển đây?

Dụ ngôn về Nước Thiên Chúa mà chúng ta vừa nghe có thể đem đến cho họ và cả chúng ta một lời giải đáp. Trước hết, chúng ta cần ghi nhận rằng điểm chính của dụ ngôn nằm ở thái độ của người gieo giống hơn là bổn phận mà ông phải chu toàn. Trong bài Tin Mừng, ông được trình bầy như một kẻ lười biếng, chỉ biết gieo mà không nỗ lực canh tác. Sau khi gieo, ông trở về với cuộc sống thường nhật của mình. Tuy, đó là vẻ bề ngoài của ông, nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng: là một nhà trồng cấy chuyên nghiệp, ông có đủ kinh nghiệm để biết rằng thủa đất mà ông vừa gieo hạt giống xuống sẽ bắt đầu một tiến trình khiến cho hạt giống tăng trưởng mà không cần bất kỳ một sự can thiệp nào của ông. Ngoài niềm tin đó, việc kế tiếp mà ông cần làm là quan sát và kiên nhẫn chờ đợi, cho đến khi hạt giống chín thì vác liềm ra gặt mà thu hoa lợi về cho chủ.

Nếu dụ ngôn được hiểu như thế thì chúng ta cũng dễ dàng nhận ra ý của Thánh sử là: Nước Thiên Chúa thuộc về quyền cai quản của Thiên Chúa. Mọi người chúng ta chỉ là những người thợ trong cánh đồng này. Lẽ dĩ nhiên, chúng ta có bổn phận đóng góp và thể hiện vai trò, như những người con, những người phụ giúp; còn việc làm cho Nước ấy tăng trưởng hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa.

Cụ thể hơn, qua mầu nhiệm nhập thể Đức Giê-su đã đảm nhận vai trò đó. Người đến để rao giảng và phát triển Nước Thiên Chúa. Vì thế, Người có bổn phận làm cho hạt giống tăng trưởng. Người mới là người gieo giống chân thật. Còn chúng ta chỉ là những kẻ thừa hành, những người cộng tác.

Hoàn cảnh mà các cộng đoàn tiên khởi đang phải đối diện cũng là số phận mà Đức Giê-su đã trải qua. Người đã thất bại, đã bị khước từ, bị chống đối, loại bỏ khỏi hội đuờng sau cùng bị giết chết. Người xem ra thất bại trước sự cứng tin của người nghe. Tâm hồn họ đã ra chai đá và không mở lòng ra để đón nhận những hạt giống trong Lời rao giảng của Người. Tuy nhiên, không vì thế mà hạt giống không được tăng trưởng. Chúng ta phải tin rằng: Hạt giống được gieo bởi Đức Giê-su. Người biết làm sao để cho hạt giống được tăng trưởng. Và, trong niềm tin, chúng ta chắc chắn rằng không có một sức mạnh nào có thể ngăn cản sự tăng trưởng của hạt giống.

Hạt giống của Chúa chứ không phải lời hay công sức của chúng ta. Vì thế, việc hạt giống nảy mầm, sinh hoa kết trái là của Chúa. Những điều cần làm thì chúng ta vẫn phải làm, vì đó là bổn phận của mình, nguời môn đệ của Chúa. Còn phần còn lại, kết quả của nó, thành công hay thất bại không phải là việc của mình. Kiên nhẫn đợi chờ với tinh thần lạc quan để chờ ngày thu hoạch.

Trong khi chờ đợi, chúng ta hãy hết lòng tin tưởng với tâm hồn khao khát rằng Nuớc Thiên Chúa, cho dù đã đến, nhưng còn sẽ đến để đem mọi sự đến hoàn thành. Và trong ngày đó, lối sống yêu thương và các công sức của chúng ta sẽ trở thành những bông lúa rực mầu nắng ấm của tình yêu, sẽ triển nở một cách vẹn toàn để báo cho biết mùa gặt đã đến. Và lúc đó, chúng ta chỉ biết dâng lời chúc tụng và tôn vinh Chúa, Đấng đem mọi sự đến mức hoàn hảo và sung mãn nhất theo ý của Ngài.

Vì vậy, Lời Chúa trong dụ ngôn về sự tăng trưởng âm thầm của hạt giống giúp cho tôi xác tín hơn rằng: Chúa chúng ta là Đấng thật quảng đại, kiên tâm trong tình yêu và không hề áp đặt, luôn tôn trọng quyền tự do và mức độ đón nhận của con người. Để đáp trả, chúng ta hãy tự do đứng dậy rồi yêu thuơng, tha thứ và kiên tâm chờ đợi cùng nhau sinh hoa kết trái nhé. Amen

 


Monday, 31 May 2021

TRONG CHÚA, MỌI NGƯỜI LÀ CỦA ĂN

 

Anh chị em thân mến,

Truyện kể rằng: Có một cha giáo chuyên dậy về môn thần học bí tích. Trong tuần cha lo việc giảng dậy, cuối tuần ngài đi vào các thôn làng giúp mục vụ ở các xứ đạo nghèo. Cha chọn lối sống sát cánh với nếp sống của người miền quê. Họ tuy nghèo nhưng đơn sơ và chân thật. Nơi họ sinh sống lại chịu nhiều thiên tai, nhưng ít ai oán trách.

Trong làng, có gia đình hai cụ kia, lớn tuổi, nghèo. Hai cụ cư trú trong một căn chòi chỉ đủ để che mưa, che nắng mà sống qua ngày. Họ không có con cái nên cũng chẳng có ai để nhờ vả. Xẩy ra là có cơn bão quét qua làng khiến cho căn chòi của hai cụ bị thiệt hại nặng hơn các nhà khác.

Sau cơn bão, theo thông lệ cha giáo xuống làng để cùng bà con cử hành Thánh Lễ. Trong các bài giảng, cha luôn tìm cách nhắc nhở cho bà con biết về tình trạng của hai cụ. Tuần thứ nhất qua đi, rồi lại một tuần nữa trôi qua, sang thêm một tuần nữa, đến cuối tuần thứ tư, mọi sự vẫn y nguyên. Sau khi dâng Lễ vào cuối tuần đó xong. Cha báo cho bà con biết tuần tới Ngài sẽ không đến dâng lễ cho họ nữa. Nghe đến đó, bà con trong nhà thờ nhốn nháo và xôn xao cả lên. Họ nghĩ là cha ốm hay bị thuyên chuyển.

Cha giáo giải thích: “Tôi không đến dâng lễ vì anh chị em chưa sống đúng vai trò của người tín hữu, ngài nói thêm: đây nhé, kể từ ngày cơn bão quét đến làng này, tuần nào tôi cũng nhắc cho anh chị em biết về hoàn cảnh mục nát, xiêu vẹo của căn chòi mà hai cụ đang ở. Thế mà có ai quan tâm làm gì để giúp họ đâu!” Chúng ta cùng chia một bánh, cùng uống một chén trong Thánh Lễ, rồi có ai sống điều mình đã lĩnh nhận chưa? Nghe đến đâu lòng họ bị đau nhói lên đến đó. Cả nhà thờ lặng yên. Ai ai cũng cúi gầm mặt xuống. Không ai nói với ai điều gì.

Sau vài phút trôi qua, ở góc cuối nhà thờ, có một người đàn ông bị tàn tật, run rẩy đứng lên và thưa với cha và cộng đoàn lời lẽ sau đây: “Dạ thưa cha, lời cha dậy thật chí phải! Tuy nhiên, thay vì nhắc nhở cho chúng con biết nhiệm vụ phải làm, sao cha không dẫn chúng con đi, rồi mỗi người một tay sửa lại căn chòi xiêu vẹo cho hai cụ ấy. Theo con, đó là cách thế hữu hiệu và nhanh nhất.”

Đến lúc này, không chỉ có giáo dân mà cả cha giáo cũng cúi gầm mặt xuống. Cha ngẫm lại mới thấy ông này nói đúng. Cha thường xuyên giảng dậy và khuyên bảo họ hãy sống điều mình đã lĩnh nhận, hãy trở nên của ăn cho nhau, hãy giúp đỡ nhau; thế mà bản thân cha cũng chỉ biết nói mà không biết làm. Cha dường như đã quên điều cha thường nói là con người ngày nay muốn được nhìn thấy nhiều gương sáng hơn là nghe những lời nói suông!

Truyện dừng lại ở chỗ đó, như lời mời gọi để chúng ta đáp trả! Phần còn lại tùy thuộc vào cách đón nhận của từng người, những ai tham dự tiệc Thánh Thể, bao gồm mọi người, cả cha lẫn con, không chừa một ai!

Anh chị em thân mến,

Ít nhất mỗi tuần một lần, nhớ đến Lời Chúa dậy ‘Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy.’ Chúng ta cùng nhau dâng Lễ, cùng nhau cử hành bí tích Thánh Thể, nhưng chúng ta đã sống điều mà chúng ta cử hành và lãnh nhận như thế nào?

Tại tiệc Thánh Thể, chúng ta làm lại các việc mà Chúa đã làm, như đã đuợc ghi lại trong các sách Tin Mừng, cụ thể trong trình thuật của Tin Mừng theo Thánh Mác-cô như sau: “Cũng đang trong bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: "Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy." Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người.”

Tất cả các hành động “cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao ban” của Đức Giê-su trong bữa tiệc vượt qua đã đuợc thể hiện trọn vẹn trong sự chết, cao điểm của mầu nhiệm hiến dâng mà Đức Giê-su đã thực hiện. Đây không chỉ là huấn lịnh. Đó là việc làm của Đức Giê-su. Người đã làm mọi sự được cử hành trong nghi lễ của bữa tiệc vượt qua này. Thân xác Người là tấm bánh mà Người đã bẻ ra và trao ban để nuôi sống muôn người.

Kính thưa anh chị em,

Tìm hiểu sâu để chúng ta yêu mến bí tích Thánh Thể là chuyện cần thiết. Nhưng, cuối cùng chúng ta hãy nhớ rằng ‘Đây là mầu nhiệm đức tin’. Đã là mầu nhiệm thì hiểu sao cho thấu! Con người ở các thời đại khác nhau có cách diễn tả khác nhau về mầu nhiệm mà họ đã lĩnh nhận. Tuy nhiên, tất cả đều cần đón nhận bằng niềm tin rồi sống niềm tin đó.

Giả như có ai cầm tấm bánh đã được truyền phép và hỏi anh chị em có tin đây là Thánh Thể Chúa hay không? Bảo đảm cả nhà thờ sẽ đồng thanh tuyên xưng “Amen, nghĩa là đúng như vậy”. Sẽ có anh chị em nói rằng việc đó sao xẩy ra được! Ai có gan làm chuyện tầy trời đó! Đúng vậy, anh chị em tín hữu không dám làm và không có năng quyền để làm. Nhưng các thừa tác viên linh mục của Hội Thánh đều làm sau khi truyền phép và tất cả đều tin nhận đó là Mình và Máu Thánh Chúa. Không chút ngần ngại. Không phút nghi ngờ. Tất cả đều tuyên xưng. Chúa hiện diện hữu hình qua hình bánh và hình rượu mà tất cả chúng ta đều chấp nhận bằng niềm tin.

Thế nhưng có trường hợp, hy vọng không bao giờ xẩy ra, như sau: Ai trong chúng ta có gan cầm tấm bánh đã được truyền phép rồi giơ lên, bỏ xuống đất rồi chà và dẫm đạp. Truớc cảnh tượng đó, tôi tin chắc anh chị em sẽ bầy tỏ thái độ đối với người bất kính ngay.

Nhưng, nếu có người nào trong anh chị em bị bạo hành trong gia đình, là nạn nhân của các vụ lạm dụng tình dục, bị ngược đãi, bị chà đạp, nhân phẩm không còn chất người thì chúng ta sẽ hành xử ra sao? Chúng ta có cảm nhận rằng thân thể Chúa đã bị thương tích và cần đuợc hàn gắn hay là chúng ta lại chọn thái độ im lặng, ngu si hưởng thái bình và ai chết mặc ai, miễn là ta vẫn ruớc lễ, sống thánh thiện và giữ vững vị thế trong cộng đoàn là đủ rồi!

Nói như thế có nghĩa là, đôi khi chúng ta nhấn quá mạnh, bàn quá sâu, làm chứng quá hùng hồn về sự hiện diện đích thật của Chúa trong bí tích Thánh Thể trong các Thánh Lễ, các giờ suy tôn, chầu Thánh Thể rồi sau đó chúng ta lại giam Người trong nhà tạm rồi ra về. Trong khi đó, Người đang hiện diện và chờ đợi chúng ta nơi những anh chị em đang bị thương tích nói trên. Anh chị em đừng quên họ cũng là một phần của thân thể Người.

‘Hãy làm việc này’ là bắt chước, noi gương những gì mà Chúa đã làm cho Chúa Cha và cho chúng ta. Người đã trở thành của lễ hiến dâng đẹp lòng Thiên Chúa và cũng trở nên nguồn ơn cứu độ nuôi dưỡng thế gian và những kẻ thuộc về Người thế nào thì trong phận vụ của người môn đệ, chúng ta cũng được hối thúc, để ngày qua ngày, sống trong mối dây hiệp thông với Đức Ki-tô để trở thành của lễ hoàn hảo cho Thiên Chúa trong niềm vui phục vụ và trở thành của ăn cho nhau như thế.

Tóm lại, rao giảng Nước Trời và phục vu tha nhân là nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng của người môn đệ. Nhưng, để chu toàn đuợc nhiệm vụ cao cả và quan trọng đó, chúng ta cần đuợc nuôi dưỡng bởi sức sống là Thánh Thể Chúa. Chính bí tích Thánh Thể là nguồn sức mạnh giúp chúng ta làm đuợc những việc mà thế gian không làm được. Thế gian có thể tạo ra những anh hùng nhưng không tạo ra người môn đệ. Người ta có thể hiến dâng vì lý tưởng. Nhưng người môn đệ hiến dâng mình vì Yêu. Nguồn sức mạnh giúp các môn đệ có thể hiến dâng chỉ được tìm thấy trong Thánh Thể Chúa. Chúng ta chỉ có thể quên mình để phục vụ người khác hết lòng nếu chúng ta được nuôi dưỡng bởi Tình Yêu của Đấng đã hiến dâng và sẵn sàng chết vì yêu.

Như vậy, chạy đến với bí tích Thánh Thể để múc thêm năng lực của sự sống rồi ra đi chu toàn nghĩa vụ yêu thương mà người môn đệ cần thực hiện là sứ điệp mà chúng ta cần ghi nhớ trong ngày mừng kính Lễ Mình và Máu Thánh Chúa hôm nay. Cầu chúc mọi người đạt được nguyện ước này và trở thành của ăn nuôi sống nhau trong Chúa. Amen!

TRONG TÌNH YÊU CON NGƯỜI ĐƯỢC TỎA SÁNG

 

Hôm nay cùng với toàn thể Hội Thánh, chúng ta mừng trọng thể Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Đây là mầu nhiệm lớn lao và quan trọng nhất trọng đạo, vì mầu nhiệm này thuộc về đời sống thâm sâu của Thiên Chúa. Và đã là mầu nhiệm thì trí khôn con người làm sao hiểu thấu được! Chúng ta vui lòng chấp nhận bằng niềm tin. Và sở dĩ chúng ta tin là vì chính Thiên Chúa đã mạc khải và cho chúng ta chạm vào Mầu Nhiệm này. Vì Người yêu thương và không dấu chúng ta một sự gì. Nhưng nếu Chúa đã mạc khải thì tại sao Chúa lại không ban cho chúng ta ơn khôn ngoan để chúng ta hiểu?

Trước hết, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su trao cho chúng một nhiệm vụ thật cao cả là hãy ra đi rao giảng cho thế gian biết về Tình yêu. Và nhờ vào lời rao giảng và các việc làm trong cuộc sống của chúng ta mà người ta nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa và trở về với Ngài qua phép rửa nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi. Và như vậy, trong khi thực hiện  nhiệm vụ làm chứng nhân, chúng ta không được phép chỉ dựa vào trí óc hay sự hiểu biết của con người, mà còn phải lệ thuộc vào các chứng từ trong đời sống của chúng ta nữa.

Tuy nhiên, dù chúng ta nỗ lực đóng góp hết công sức của mình vào công việc truyền giáo. Nhưng, ngay từ đầu việc tham gia vào sứ mạng rao giảng là hồng ân được ban tặng. Chính Thiên Chúa mới là người giao nhiệm vụ. Chúng ta chỉ là những kẻ được sai, là những người thừa hành. Vì thế, để hoàn tất sứ mạng cao cả này, chúng ta phải gắn kết cuộc sống mình với Tình Yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa, Đấng không ngừng trao đổi và hy sinh cho nhau rồi tuôn đổ suối nguồn yêu thương của chính Thiên Chúa trên cuộc sống của chúng ta.

Vì thế, nhân dịp mừng lễ hôm nay, chúng ta hãy tự hỏi nhau rằng: Mối tương quan giữa Ba Ngôi Thiên Chúa ảnh hưởng như thế nào trong cuộc sống mình? Và chúng ta được lôi kéo như thế nào vào trong vòng xoáy yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi, để từ đó cuộc sống của chúng ta cũng được bung ra mà làm cho Tình Yêu của Ba Ngôi được toả sáng hơn.

Nhìn lại cuộc sống, tôi cảm nhận được một điều là tôi được Ba ngôi Thiên Chúa che chở, cho dù đã nhiều lần tôi chẳng có ý thức gì về việc tuyên xưng hay hành động cuả tôi.

Đã bao nhiêu lần chúng ta làm dấu Thánh giá: Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần. Amen.

Trong cuộc sống, mỗi khi gặp gian nguy và thoát cảnh hiểm nghèo, chúng ta thuờng dâng lời tạ ơn rồi làm dấu Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần. Amen.

Đến lúc sinh thì, trong giây phút lâm chung; tôi thuờng nghe một công thức phó linh hồn cho nguời quá cố như sau: Giêsu, Maria, Giuse con phó linh hồn Maria, Giuse, Phêrô hay linh hồn người thân nào đó vào trong tay Chúa, Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần. Amen.

Phải chăng mỗi lần như thế là chúng ta đặt mình duới sự bảo vệ của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Như vậy, dù ý thức hay sự hiểu biết của chúng ta về Mầu nhiệm Ba Ngôi đến độ nào cũng không quan trọng bằng việc đặt mình duới sự bao bọc và yêu thuơng của Ba Ngôi Thiên Chúa bằng chính các việc làm thật đạo đức và ý nghĩa của mình. Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần.

Ba ngôi Thiên Chúa thuờng xuyên hiện diện và hoạt động thật mãnh liệt trong cuộc sống, cả những lúc chúng ta không ý thức về sự hiện diện đó; nhưng Ngài vẫn hiện diện; vì Thiên Chúa là Tình Yêu. Đó chính là chân tướng đích thật về Thiên Chúa. Có nghĩa là, điều làm cho Ba Ngôi Thiên Chúa hiện diện truờng cửu và bất toàn là Tình yêu. Ba ngôi trao đổi và làm giầu có Tình Yêu bằng cách trao ban Tình yêu đó cho nhân loại. Như vậy, cho dù thế gian và những lực luợng của thế gian luôn chống đối chuơng trình của Thiên Chúa; nhưng chính thế gian và mọi sự thuộc về nó lại là đối tuợng để Thiên Chúa trao ban Tình Yêu. Đó chính là Tình Yêu dâng hiến như Cha đã hiến dâng Con vì yêu. Tình yêu cho đi như quà tăng sự sống mà người Con đã trao ban cho thế gian. Và, trong nguồn suối yêu thuơng đó, con người được lôi về quĩ đạo của sáng tạo và đổi mới luôn.

Như vậy, khi tuyên xưng Thiên Chúa là tình yêu, có nghĩa là chúng ta chứng tỏ cho thế giới biết Thiên Chúa không đơn độc một mình. Bởi vì, nếu như Ngài đơn độc một mình thì Ngài sẽ yêu một mình Ngài một cách ích kỷ vô cùng. Nhưng Ngài là ba: Cha, Con và Thánh Thần. Là ba, nhưng cả ba hoàn toàn yêu thương nhau, hiến tặng sự sống cho nhau, hoàn toàn tương quan, hiệp nhất với nhau: Cha hoàn toàn là của Con, Con hoàn toàn là của Cha và mối dây liên kết tình yêu và sự sống giữa Cha và Con là Chúa Thánh Thần. Người chính là hoa quả tình yêu của Thiên Chúa cho nhân loại.

Tình yêu Thiên Chúa không khép kín lại nơi cộng đồng Ba Ngôi, nhưng lan toả trên khắp vũ trụ. Ba ngôi yêu thương nhau và đối tượng tình yêu của Ba Ngôi là toàn thể nhân loại. Tôi xác tín rằng tất cả mọi người, dù có cuộc sống ra sao, vẫn có một vị trí thật quan trọng trong trái tim nhân hậu của Thiên Chúa.

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi còn là mầu nhiệm của sự hiệp nhất.

Khi nói đến điều này, tôi xin đưa ra một hình ảnh và cũng là lời nhắc nhở cho anh chị em là những người đang sống trong bậc gia đình. Bởi vì anh chị em thật có phúc khi được nếm hưởng phần nào về mầu nhiệm Tình yêu của Thiên Chúa Ba ngôi.

Khi yêu nhau anh chị mong muốn cho gia đình được hiệp nhất. Ước vọng hiệp nhất và nên một của anh chị sẽ được thực hiện nơi người con mà Thiên Chúa ban cho anh chị. Nó là hiện thân của chàng và cũng là của nàng. Nó là chúng ta, là tình yêu chung mà anh chị có thể thấy được. Tình yêu giữa hai người đã triển nở thành tình yêu chung trong một ngôi vị thứ ba: Tình yêu của họ được trao ban cho nhau và cho những người con.

Hình ảnh gia đình ấy có thể giúp chúng ta tiếp cận phần nào với mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi - gọi là phần nào - bởi vì mọi hình ảnh đều bất toàn và không thể diễn đạt trọn vẹn về sự vô biên của Thiên Chúa. Nhưng chúng ta xác tín rằng Thiên Chúa là tình yêu và yêu thương là bản tính chung của Ba Ngôi. Yêu thương cũng là nền tảng của gia đình.

Vì vậy, cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa Ba ngôi là sức đẩy cho chúng ta yêu thương nhau.

Thưa anh chị em,

Trong Thiên Chúa, khởi điểm của tình yêu là mở ra, thông ban, chia sẻ. Thái độ mở ra, thông ban, chia sẻ nầy đòi hỏi chúng ta phải ra khỏi bản thân và đi đến với người khác. Thái độ nầy đòi hỏi chúng ta từ bỏ não trạng ích kỷ, quên mình mà quan tâm đến ích lợi và hạnh phúc của người khác.

Tuy nhiên, chúng ta không chỉ mở ra để tạo nên một thứ “tôi và chúng ta” khép kín. Tinh thần bè phái và phe nhóm lại chẳng có mặt trong cuộc sống của chúng ta đó sao? Nơi Thiên Chúa Ba Ngôi thì không như thế. Tình yêu đã chẳng tự khép kín trong gia đình của Thiên Chúa Ba Ngôi, nhưng lan tỏa và chan hoà trong vũ trụ bao la, tuôn đổ xuống lòng mọi người.

Thật vậy, niềm tin và tình yêu của chúng ta vào Thiên Chúa Ba Ngội thúc bách chúng ta đi tới, phá đổ mọi bức tường ngăn cách sự hiệp nhất để tình yêu hiện diện và lan toả khắp nơi. Vì tình yêu là hơi thở của sự sống.

Tóm lại, Mầu nhiệm mà chúng ta cử hành hôm nay mời gọi chúng ta sống; sống điều mà Thiên Chúa Ba ngôi đã sống là trao ban Tình Yêu cho nhau và cho nhân loại. Và khi đặt mình vào trong vòng tròn Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi là lúc chúng ta thực hiện sứ mạng mà Đức Giê-su truyền ban hôm nay: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Amen!

THẦN KHÍ THIÊN CHÚA: SỨC MẠNH YÊU THƯƠNG

 


Lâu lắm rồi, tôi đã đuợc nghe một câu chuyện. Truyện này chỉ có thể xẩy ra tại các nơi mà chính phủ chưa đủ khả năng để cung cấp một nền y tế và bảo vệ sức khoẻ cho người dân, như ở Việt Nam, Phi Luật Tân và các quốc gia nghèo. Truyện kể như sau:

Có hai mẹ con gốc người dân tộc Đu-Ma-Gat bên Phi luật Tân sống với nhau trong một hoàn cảnh nghèo đói và thiếu thốn mọi sự. Đã xẩy ra là con của chị mắc phải một cơn bịnh hiểm nghèo và cần một khoản tiền để chữa trị. Hoàn cảnh của họ, tiền ăn còn chưa đủ lấy đâu mà trả tiền viện phí và thuốc men. Cuối cùng, chị cũng đành bó tay nhìn người con ra đi!

Sau khi lo ma chay cho cháu xong. Trong một lần dọn dẹp nhà cửa, chị tìm thấy một gói giấy nằm trong góc tủ, sát bên bức tường bám đầy bụi bặm. Lôi gói giấy đó ra, chị đã lần mòmở từng lớp rồi từng lớp, cuối cùng chị khám phá ra một xấp tiền, theo sự suy đoán của chị thì đó là số tiền dành dụm của ông bố chồng; ôngđã nhét vào nơi đórồi với cơn bịnh đãng trí nên không còn nhớ đến nó nữa. Cầm xấp tiền trên tay, chị nghĩ đến chú con trai mình với tâm hồn chua xót, đầy nghẹn ngào cho số phận của cháu! Chúng ta không bàn về số phận của những người nghèo. Cuộc đời của họ bị bao phủ bởi đắng cay, bạc phước và bất hạnh.

Câu chuyện nói trên khiến tôi nhớ đến vai trò của Thánh Linh trong cuộc sống mình. Người vẫn có đó, thế mà nhiều lúc tôi cứ nghĩ Người đi vắng. Như người phụ nữ trong câu chuyện, chúng ta có thể sở hữu một năng lực phi thường, có thể giúp mình biến đổi từ trạng thái chết sang sống, thế mà chúng ta nhiều lần đã không nhận ra sự hiện diện đó.

Thánh Thần không chỉ là quà tặng cao quí nhất mà Thiên Chúa ban cho chúng ta một lần mà thôi. Ngay từ thủa sơ khai, trong trình thuật tạo dựng, tác giả sách Sáng thế đã mô tả sự hiện diện của thần khí Thiên Chúa bay lượn là đà trên mặt nước; rồi đến khi tạo dựng con người như hình ảnh của Thiên Chúa; tác giả một lần nữa, bằng một thể văn rất ấn tượng, ẩn chứa một ý nghĩa thật sâu sắc khi mô tả việc Thiên Chúa thổi sinh khí vào pho tượng mà ban cho con người sự sống.Chính Thần Khí của Thiên Chúa là nguồn sự sống của nhân loại.

Thánh Thần hoạt động liên lỉ trong dòng lịch sử của dân Do Thái nói riêng và toàn thể nhân loại nói chung. Ngài hiện diện với mọi dân tộc. Ngài xuất hiện tựa làn gió, thổi sức mạnh và hơi ấm đến mọi người, mọi nơi và mọi chốn.Không một cá nhân hay tổ chức nào có thể cầm giữ và điều khiển được Ngài.

Rồi đến lượt các Tông đồ, Chúa Thánh Thần hoạt động nơi các ngài. Trước đó các ngài đã từng theo Chúa, đã từng nghe bao lời dạy dỗ của Chúa, đã từng chứng kiến bao điều cả thể của Chúa. Rồi chỉ vì sợ hãi nên sau lần hiện ra, với lời chúc bình an và qua việc Chúa thổi hơi trên các ông; thế mà các ông vẫn trốn chui trốn nhủi trong nhà. Thậm chí đến ngày Người gọi các ông đến chứng kiến cảnh tương Người đi về cùng Cha, thế mà các ông vẫn còn cho rằng đó là lúc Người khôi phục vuơng quyền Israel. Rồi thế nào mà các ông lại không đuợc chia sẻ ít chức quyền. Óc não chính trị. Tìm kiếm chức quyền là những vật cản khiến các ông không nhận ra chân tướng và sứ vụ của Đức Giê-su.

Thế rồi Chúa Thánh Thần ngự đến và các ông được biến đổi hoàn toàn: nhiệt thành và can đảm rao giảng Tin Mừng. Phêrô đã từng run sợ chối Chúa trước mặt những người đầy tớ, thế mà sau biến cố Thánh Thần ngự xuống, ông đã đứng trước một đám đông rao giảng hùng hồn về sự chết và sống lại của Đức Giê-su, khiến cho mấy ngàn người bị đánh đông và trở lại với niềm tin Phục Sinh.

Như Phêrô, chúng ta đuợc mời gọi đóng góp công sức của mình. Nhưng chính Chúa Thánh Thần mới là nguồn động lực họat động nơi kẻ nói và người nghe; để ai nói sẽ nói Lời Chúa và kẻ nghe cũng sẽ đón nhận bằng một con tim bằng thịt mà tin và trở lại với sự thật là Tình Yêu của Chúa đã thể hiện qua sự chết và Phục sinh của Đức Giê-su.

Cu thể, trong bài đọc 1 mà chúng ta vừa nghe hôm nay. Sau khi Chúa Thánh Thần ngự xuống, các Tông Đồ nói đuợc các thứ tiếng mà những người nghe đến từ các nơi đều hiểu các ngài muốn nói gì. Chúng ta có thể giải thích rất đơn giản là các ngài được ơn nói ngoại ngữ. Thật ra, dân chúng tập hợp tại Giê-ru-sa-lem vẫn còn giữ nguyên nền tảng cá biệt của dân tộc họ và ngôn ngữ riêng của họ. Nhưng quyền năng của Chúa Thánh Thần đã hoạt động để các ngài có thể diễn đạt sứ điệp yêu thương của Thiên Chúa cho mọi người.

Như vậy, tuy họ vẫn còn sự khác biệt về văn hoá, ngôn ngữ, chủng tộc hay mầu da; nhưng bằng Tình yêu con người có thể đón nhận và hiểu sứ điệp của Thiên Chúa muốn nói gì qua lời rao giảng của các Tông Đồ. Trong Tình yêu, dù vẫn còn khác nhau, nhưng trong sự khác nhau đó, con người vẫn đồng cảm, thông hiệp và yêu thương nhau hơn. Chỉ có ngôn ngữ của yêu thương mới giúp con người nối kết được với nhau. Tình Yêu là hoa quả mà Chúa Thánh Thần tác động và ban cho con người. Nói khác đi, Chúa Thánh Thần là nguồn suối, hoa quả của yêu thương mà Chúa Cha và Chúa Con trao ban cho những kẻ thuộc về Người.

Sự thán phục của dân chúng từ khắp phương thiên hạ kéo về Giê-ru-sa-lem dành cho các Tông Đồ không phải vì các ngài thông thái hay tài giỏi, can đảm hay mạnh dạn; nhưng vì các ngài đã để cho Thánh Thần ngự xuống trên môi miệng mà ca tụng và loan báo những kỳ công của Thiên Chúa. Như vậy, quả là rõ ràng cho chúng ta nhận thấy rằng Chúa Thánh Thần đã dùng các ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau để truyền đạt sứ điệp của Chúa cho con người. Khác xa với quan niệm cho rằng chỉ có dân tộc này, ngôn ngữ kia, văn hoá nọ mới mang tính ưu vượt và duy nhất để truyền đạt tư tưởng và sứ điệp của Chúa.

Chúa Thánh Thần hoạt động trong mọi dân tộc, như dân thành Ê-phê-sô khi xưa. Họ chưa từng nghe biết về Chúa Thánh Thần, nhưng họ đã tin. Đức Tin này không phải là khám phá của họ, nhưng đó chính là hoa quả của Thần Khí! Ai trong chúng ta dám khẳng định rằng Thánh Thần chưa hoạt động nơi họ. Nếu đã không dám khẳng định thì tin là giải pháp thuận lợi nhất.

Chúa Thánh Thần đã đuợc diễn tả qua các biểu tượng như gió, cuồng phong và lửa. Và như anh chị em đã từng có kinh nghiệm: gió muổn thổi đâu thì thổi, nào ai biết được gió từ đâu đến và sẽ đi về đâu; cuồng phong mà đến thì ai cản được!

Sau cùng, nhân dịp mừng Lễ Chúa Thánh Thần ngự xuống hôm nay, xin mời anh chị em cùng tiếp tục:

·        Hãy nói lời yêu thương. Vì một khi chúng ta nói với nhau bằng tiếng nói của yêu thương thì chúng ta sẽ chạm đến những cảm xúc chân thật của con tim; từ đó mọi gắn bó và các dây liên kết của chúng ta sẽ bền chặt hơn bởi Thánh Linh.

·        Hãy tạo mọi cơ hội để tiếng nói của mình xứng đáng truyền đạt sứ điệp yêu thương của Thiên Chúa.

·        Và, đừng dập tắt hay từ khước nhận ra sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, Đấng đang hiện diện và hoạt động nơi con người tại các nền tôn giáo khác, nơi các dân tộc khác, thậm chí ngay cả trong các tổ chức mà nhiều người lầm tưởng là họ đang chống lại Giáo Hội. Có thể, ở một bình diện nào đó, họ không đồng ý với lối hành xử thiếu tính con người, không có dân chủ trong một hình thức cơ chế nào đó của Giáo Hội. Nhưng qua nỗ lực, sự thành tâm và thiện chí xây dựng; chúng ta tin rằng Chúa Thánh Thần vẫn hiện diện trong các nỗ lực mà họ đang làm để giúp chúng ta hành xử và xây dựng một thân thể nhiệm mầu của Đức Kitô theo đúng ý Chúa hơn.

Sau cùng, Thánh Linh, khấn xin ngự đến và giúp chúng con nhận ra các hoạt động của Người không chỉ trong cuộc sống của chúng con mà thôi; nhưng còn mở tung cánh cửa tâm hồn của chúng con, và tác động thật mãnh liệt để chúng con còn nhận ra sự hiện diện và tác động của Thánh Linh nơi mọi người; hầu chúng con đủ can đảm ra đi mà làm chứng cho sự thật, làm chứng cho Tin Mừng như các Tông đồ khi xưa. Amen!