Monday, 26 February 2024

CHÚNG TA LÀ ĐỀN THỜ CHÚA NGỰ?

 

Anh chị em thân mến,

Sự kiện Đức Giê-su đuổi quân mua bán, đổi tiền, lật đổ bàn ghế của những kẻ bán bồ câu ra khỏi Đền thờ Giê-ru-sa-lem hôm nay đều được bốn Tin Mừng thuật lại. Tuy nhiên, việc sắp xếp biến cố này theo thứ tự thời gian trong sứ vụ của Đức Giê-su lại khác nhau. Tin Mừng Nhất Lãm đặt biến cố này vào lúc Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem lần cuối cùng. Việc tẩy uế đền thờ coi như là giọt nước tràn ly, bởi vì sau biến cố này thì hàng ngũ lãnh đạo tôn giáo Do Thái quyết định tiêu diệt Người. Trong khi đó, Tin Mừng theo Thánh Gio-an lại đặt biến cố này nằm trong một loạt dấu lạ xẩy ra vào lúc Đức Giê-su bắt đầu sứ vụ.

Theo như chúng ta được biết, các dấu lạ trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an bao giờ cũng ám chỉ một ý nghĩa nào đó. Sự hiện diện cùng các dấu lạ kèm theo thường nói đến sự đổi mới, một sự bắt đầu lại mà Đức Giê-su đem đến. Thật vậy, trong Đức Giê-su, Thiên Chúa muốn gửi đến một điều gì mới mẻ và sâu sắc, một sự thay đổi không để phá hủy nhưng kiện toàn những cái cũ. Việc Đức Giê-su lật đổ bàn ghế của dân buôn tại Đền Thờ nói cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa của Đức Giê-su muốn phá bỏ những rào cản, các qui chế, tập tục và thay vào đó một điều gì đó sâu sắc và mới mẻ hơn. Muốn biết rõ điều mới lạ Đức Giê-su đem đến, chúng ta hãy tìm hiểu vị trí của đền thờ Giê-ru-sa-lem trong đời sống tôn giáo của người Do Thái.

Như chúng ta được biết, đền thờ Giê-ru-sa-lem là trung tâm, giữ một vai trò quan trọng trong việc thiết lập và phát triển đạo Do Thái. Đó còn là dấu chỉ nói đến sự hiện diện của Thiên Chúa và với sự tồn tại của đền thờ, những người Do Thái còn hãnh diện được làm dân riêng của Thiên Chúa, dòng giống mà Thiên Chúa đã tuyển chọn.

Theo thông lệ, hàng năm, vào dịp lễ Vượt qua, mọi công dân Do Thái buộc lên đền thờ Giê-ru-sa-lem tham dự các nghi lễ theo luật dậy. Mỗi gia đình phải dâng tế phẩm cho Thiên Chúa, nộp vào đền thờ các phần hoa lợi trong năm, đồng thời thi hành các tục lệ và mừng Đại Lễ Vuợt qua, làm sống lại việc can thiệp của Thiên Chúa cứu thoát dân vượt qua Biển Đỏ.

Một điều đáng cho chúng ta lưu tâm là dân từ khắp nơi tuôn về, và các phương tiện di chuyển thời đó không nhanh chóng và thuận tiện như chúng ta ngày nay. Nói chung, họ phải đi bộ mấy ngày đuờng thì làm sao có thể mang theo của lễ theo như luật dậy. Vì thế, người ta buôn bán những vật liệu cần thiết cho việc tế tự và xử dụng các loại tiền riêng để nộp thuế đền thờ. Nghĩa là, dịch vụ buôn bán và đổi chác là các phương tiện cần thiết giúp cho dân thực hành việc tế lễ.

Đứng trước lối sống lạm dụng chức vụ để mưu cầu ích lợi cho riêng mình của các nhà lãnh đạo tôn giáo cùng thời với Đức Giê-su, phản ứng của Người thế nào?

Đức Giêsu không thể chấp nhận, Nguời nổi giận vì tâm địa tàn ác, óc não vụ lợi, xử dụng chức quyền vào mục đích riêng tư của cá nhân và phe nhóm họ. Khi xua đuổi những người đổi tiền và những người buôn bán ra khỏi đền thờ là lúc Đức Giêsu đã đụng chạm đến quyền lợi, uy danh của tầng lớp thế lực là các thượng tế và luật sĩ. Thiên Chúa không còn là đối tượng của việc thờ phượng cho nhóm họ, trái lại Thiên Chúa đã trở thành bình phong cho các mưu đồ riêng tư của cá nhân và phe nhóm họ.

Đức Giê-su đã không vì uy tín cá nhân, sự an toàn của bản thân mà làm ngơ trước hành vi sai trái của họ. Người còn biết rất rõ là họ sẽ chống đối và sẽ tìm cách tiêu diệt Người. Nhưng vì lòng yêu mến Thiên Chúa và những người dân vô tội, Đức Giêsu đã hành động quyết liệt:  xô đổ bàn ghế, lấy dây làm roi xua đuổi chiên bò và còn ra lịnh cho họ: hãy đem tất cả những thứ này ra khỏi nơi đây và đừng biến nhà Cha Người thành hang trộm cướp.

Việc Đức Giê-su làm ngày hôm nay không chỉ đơn giản là việc xua đuổi mấy con buôn; nhưng Người muốn thay đổi một quan điểm, lật nhào một hệ thống tôn giáo đã mất gốc và đem đến một luồng gió mới, phục hồi lại bản chất đích thực của việc thờ phượng, tái tạo một lối sống đạo, trong đó Thiên Chúa là gốc và cùng đích của mọi sinh hoạt. Người phán “các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại”. Người nói như thế để ám chỉ đến Đền Thờ mới là Thân Thể Người.

Đền thờ tuy cần thiết cho tôn giáo, nhưng nếu đền thờ không còn mang ý nghĩa là tụ điểm yêu thương, không còn là nơi để con người thờ phượng Chúa và chia sẻ tình huynh đệ thì cho dù đền thờ có nguy nga, tráng lệ và bền vững đến đâu cũng chẳng còn ích lợi gì cho lối sống đạo của chúng ta nữa. Ngoài ra, nếu chúng ta quá lệ thuộc vào các hình thức tế tự mà quên đi tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa trong Đức Giê-su, thì lối sống đạo hình thức đó còn đem lại giá trị và hậu quả gì nữa đây!

Thưa anh chị em,

Theo tinh thần của Đức Giê-su thì tôn giáo hay đạo không chủ yếu lệ thuộc vào các việc tế tự tập trung vào trong tay của giai cấp lãnh đạo đền thờ mà thôi. Đạo chính là con đuờng, là lối sống đuợc xây dựng trên các mối tương quan giữa những kẻ tin với nhau. Hy lễ tuy cần thiết, nhưng nếu các điều đó không được phát sinh bởi tình yêu và lòng thương xót thì các nghi thức tế lễ cũng chỉ có tính chất trình diễn, nặng về mặt hình thức và chúng ta vẫn bị luẩn quẩn trong các nghi thức chết và không có sức sống.

Thật vậy, lối sống của Chúa là lối sống mở ra để đón nhận mọi người. Người yêu thương đón nhận mọi người, không phân biệt một ai, nam hay nữ, giầu hay nghèo, da trắng hay da mầu. Như vậy, trong các sinh hoạt của Hội Thánh, Thân thể của Đức Ki-tô và cũng là đền thờ đích thật của Thiên Chúa, nơi không có sự loại trừ, chỉ có yêu thương và tha thứ. Tại nơi đó, con người không còn bị giới hạn hay bị trói buộc bởi hệ thống giáo điều, cơ cấu khi đến với nhau. Hãy buông bỏ thể chế, buông bỏ guồng máy điều khiển làm cho con người xa cách nhau. Thay vào đó, chúng ta hãy nhìn sâu vào trong tâm khảm và cõi lòng của nhau để nhận ra rằng chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa. Chúng ta là anh em. Chúng ta hiện diện nơi đây, trong giây phút này, là vì Chúa và vì nhau.

Sau cùng, hãy học lối sống chia sẻ và ban phát của Đức Giê-su. Người đã sống cho và sống với người khác; đặc biệt là những ai bị bỏ rơi, những ai bị liệt vào hạng tội lỗi. Tất cả đều được mời gọi đồng bàn với Người; và khi đồng bàn với nhau để cử hành bữa tiệc Thánh Thể của Chúa Ki-tô là lúc Người ban cho chúng ta sức mạnh đổi mới, mời gọi chúng ta chia sẻ con đường và lối sống của Người. Và một khi, chúng ta học được lối sống của Người là lúc chúng ta hãnh diện làm chứng rằng chính thật chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa vậy. Amen.

 

HIỂN DUNG: KINH NGHIÊM CHO HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN

 

Cuộc đời Đức Giê-su là một cuộc hành trình di động không ngừng nghỉ. Người là đường như Lời Người đã phán: Thầy là đường. Người còn là con đường dẫn người ta đến với Cha. Con đường Người đi là cuộc sống Người. Đó không phải là con đường rộng thênh thang với nhiều cạm bẫy, mà là con đường hẹp, con đường hy sinh, con đường khổ nạn, con đường Thánh Giá. Vì thế, khi loan báo về con đường đó, các môn đệ của Người đã không tài nào có thể đón nhận được.

Trong tình huống đó, cảnh tượng được mô tả trong trình thuật Hiển Dung hôm nay đem đến cho các môn đệ nguồn sáng, sức mạnh để các ông có thể bước đi trên con đường mà Đức Giê-su, Thầy của các ông đã loan báo và tự nguyện đi vào. Đức Giêsu cho các môn đệ ‘nếm một chút’ ánh sáng vinh hiển của Người. Ánh sáng đích thật này chỉ đuợc tỏ bầy trọn vẹn qua biến cố Phục sinh. Nhưng trong phút giây này, trước mắt Người vẫn là hành trình khổ nạn chứ chưa phải là vinh quang.

Nhìn như thế, chúng ta mới nhận biết rằng Chúa yêu thuơng, săn sóc và lo lắng cho các môn đệ và chúng ta đến độ nào. Người hiểu các nỗi yếu đuối của họ, Người biết lòng trí không ngay thẳng của những ai đang theo Nguời, Người còn rõ ý định sai lạc muốn tìm kiếm địa vị như Gioan và Giacôbê, v.v... Nhưng Người lại không thất vọng về họ. Vì thế, Người chuẩn bị cho các môn đệ đủ sức để đối diện và đồng hành với cuộc khổ nạn của Nguời bằng cách cho họ ‘nếm một chút’ vinh quang của Con Thiên Chúa. Kinh nghiệm độc nhất vô nhị này vô cùng quí giá, nó sẽ nâng đỡ các môn đệ trên đường Thương Khó.

Thật vậy, kinh nghịệm ‘hiển dung’ đã giúp cho các môn đệ thế nào thì ngày nay cũng giúp cho chúng ta như thế, miễn là chúng ta hân hoan đón nhận đường Thương Khó và sau cùng là sự chết của Người. Vì chúng ta tin rằng tất cả không dừng lại ở đó, nhưng còn mở ra một chân trời hạnh phúc và vinh hiển trong ngày Phục Sinh.

Cho nên, trong hành trình đức tin, chúng ta rất cần những trải nghiệm ‘Chúa hiển dung’ hôm nay. Một cách cụ thể, xin thưa với anh chị em một vài chứng tích tuy rất bình thường nhưng lại đem đến những cảm nghiệm thật cần thiết cho hành trình sống của chúng ta.

Có những bà mẹ đã nhận ra ơn gọi thật cao quí mà Chúa đã trao ban cho bà qua những công việc thường nhật mà các bà thường làm trong công tác của một người nội trợ. Nhìn thấy cảnh chồng con ăn ngon, hạnh phúc đầm ấm bên bàn cơm do công sức của bà chuẩn bị, khiến cho cơn mệt nhọc duờng như biến mất, còn lại trong phần sâu thẳm của tâm hồn bà là niềm vui, một niềm vui không sao diễn tả được. Bà đã phải quay mặt đi để dấu những giọt lệ hạnh phúc đang sẵn sàng trào ra trong đôi mắt ngập tràn hạnh phúc của bà.  Bà hãnh diện và nhận ra rằng nhờ sự hy sinh của bà mà gia đình mới vui như thế. Rõ ràng đó là một việc làm bình thường như mọi ngày của cuộc sống, thế mà đến hôm đó bà mới nhận ra sự diệu kỳ và phi thường của nó. Một khoảnh khắc, một kinh nghiệm thật diệu kỳ đã đến với bà qua công việc rất bình thường.

Về đời sống thiêng liêng cũng thế, đã có thời điểm chúng ta trải qua những kinh nghiệm thật đặc biệt, nhận ra sự hiện diện và can thiệp của Thiên Chúa qua các việc rất bình thường. Trong những cuộc tĩnh tâm, nội dung các bài giảng, sự tận tâm phục vụ và huớng dẫn của các anh chị em giúp khóa; đều là các yếu tố giúp ta khám phá ra bàn tay và sự tác động của Thiên Chúa. Tác động của Chúa mạnh đến độ chúng ta không cầm được nuớc mắt. Trong nỗi vui suớng được thay đổi đó, chúng ta đã từng hứa như ý định của Phêrô, xin được ở luôn bên Chúa trên núi, trong bài Tin Mừng hôm nay.

Nhưng, chúng ta đuợc mời gọi đi xa hơn, không dừng lại ở các kinh nghiệm về những lần gặp gỡ mang nặng chất tình cảm đó. Việc chiêm ngưỡng dung nhan vinh hiển của Đức Giêsu không làm chúng ta bị chóa mắt, hay quáng gà rồi không còn nhìn thấy những thực tại ở trần gian nữa. Người mời chúng ta xuống núi.

Chúa không còn thường xuyên Thần Hiện để con người nhận ra sự hiện diện của Người như kinh nghiệm của Maisen và dân Israel xưa kia, Người cũng không biến hình đổi dạng cho các Tông đồ nhìn thấy vinh quang cuả Người như trong bài Tin Mừng hôm nay. Người đã trở thành con người như chúng ta và cư ngụ giữa chúng ta. Người chính là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta mọi nơi mọi lúc. Đó là một điều thật diệu kỳ mà chúng ta cần khám phá luôn mãi. Một sự đổi thay mà chỉ có ai ở trong Chúa mới nhận ra. Rồi từ đó, chúng ta nhận ra ai ai cũng là hình ảnh của Thiên Chúa, và mọi sự Người tác tạo đều tốt đẹp, rất dễ thương. Như thế thì cuộc đời đáng sống và đáng yêu hơn.

Vì thế, với những kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa - qua cầu nguyện, các biến cố xẩy đến trong đời - đều là hồng ân giúp chúng ta trở về với đời sống hàng ngày, đối diện với muôn ngàn thử thách, đắng cay bằng ánh sáng và con tim mới. Với sự hiện diên của Đức Giêsu, không chỉ ở trên núi (Thánh), nhưng ở mọi giây phút của cuộc đời; chúng ta sẽ chấp nhận cuộc sống với tinh thần lạc quan, sẵn sàng chiến đấu mà không ngại gian khổ, chấp nhận những bất tòan của chính bản thân để có thể thông cảm các nỗi yếu đuối và không hòan hảo của nhau, rồi cùng đồng hành với nhau trên con đuờng mà Chúa đã đi qua.

Sau cùng, xin dung nhan của Chúa Hiển Dung hôm nay và nhất là Ánh Sáng Phục sinh của Đức Chúa luôn dẫn lối chỉ đuờng cho chúng ta, để chúng ta biết đón nhận và sống trọn vẹn mọi giây, mọi phút trong cuộc sống và tiếp tục ‘buớc theo’ và ‘cùng buớc’ vào dấu chân của Đức Kitô đã bước qua. Amen.

Wednesday, 7 February 2024

NĂM MỚI: ĐỒNG HÀNH VỚI CHÚA ĐẾN VỚI NGƯỜI PHONG CÙI

 

Đối với Hội Thánh hoàn vũ, hôm nay là Chúa Nhật thứ sáu Mùa Thường Niên. Phụng vụ Lời Chúa tuần này trình bầy Đức Giê-su là Đấng có quyền trên các tai ương và dịch bệnh. Người không chỉ chữa cho người bị phong cùi được khỏi bịnh mà còn đưa ông trở về với cộng đoàn, nơi không còn nghị kỵ chỉ có hiệp nhất, tin yêu với bình an.

Và, trong niềm hân hoan đón chào năm mới Giáp Thìn 2024, Mẹ Hội Thánh Việt Nam mời gọi chúng ta dành vài ngày đầu năm để dâng lên Thiên Chúa tâm tình tạ ơn, cầu bình an cho năm mới, kính nhớ tiên nhân và dâng mọi sinh hoạt trong năm mới lên Chúa. Tuy lòng chúng ta rộn rã đón chào năm mới, nhưng chúng ta vẫn không quên nhiệm vụ mà Chúa đã trao phó. Đó là lắng nghe và áp dụng Lời Chúa vào trong cuộc sống của những môn đệ chân chính của Đức Chúa. Trong niềm ước mong đó, mời anh chị em cùng suy niệm. 

Anh chị em thân mến,

Để ngăn ngừa tình trạng lây nhiễm do bịnh phong cùi gây ra, người ta khuyên chúng ta cẩn thận khi tiếp xúc với họ. Đó cũng là cách thức mà con người sống cùng thời với Đức Giê-su đã cư xử với những ai bị bịnh phong cùi. Họ phải sống cô lập, không được phép tiếp xúc với ai. Bất cứ ai chạm đến họ đều bị coi là ô uế. Thậm chí khi đi ra ngoài, họ phải lên tiếng báo cho những người chung quanh biết để mà tránh né.

Với hoàn cảnh cuộc sống của những ai bị phong cùi như thế, chúng ta có thể nhận ra được nỗi đau khổ về tinh thần cũng như thể xác của họ. Họ bị ngược đãi và coi như thành phần cùi hủi của xã hội nói gì đến yêu thương. Ai trong chúng ta khi gặp họ mà lại không né tránh, sợ bị lây!

Ngoài lối cư xử thiếu tình bác ái như đã nói ở trên, người  Do Thái còn coi họ là những người tội lỗi, đáng bị Chúa phạt. Họ phải sống cách ly, không được phép lên Đền thờ Giêrusalem, và nếu có được tham dự lễ nghi phụng vụ, họ phải ở trong một căn phòng đặc biệt dành riêng cho họ. Họ bị đối xử như người ngoài luồng.

Trong hoàn cảnh như thế, tôi ngạc nhiên khi người bị bịnh phong cùi trong bài Tin Mừng hôm nay dám liều lĩnh đến gặp Đức Giê-su. Thái độ liều lĩnh này của ông kèm theo lời cầu khẩn, không mang tính ép buộc, ông nói “nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”. Khi nói “nếu Chúa muốn”, ông biểu lộ thái độ tin tưởng vào Đức Giê-su. Ông tin rằng Đấng đang hiện diện trước mặt ông là người có đầy uy quyền làm cho ông được sống. Tiếp cận Đức Giê-su là gặp gỡ Đấng trả lại vinh dự làm người cho ông, trao lại cho ông sự sống mà theo luật lệ ông đã bị coi như là người đã chết.

Còn Đức Giê-su thì sao?

Đức Giê-su sinh ra và lớn lên trong truyền thống Do Thái; hẳn nhiên Người biết rất rõ khoản luật cấm không được chạm đến người bị phong cùi. Thế mà trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã làm một việc mà luật cấm. Người tiếp xúc và chạm vào người bị phong cùi.

Tất cả các cử chỉ: động lòng, giơ tay, tiếp xúc và ra lịnh xẩy ra một loạt.  Qua các động tác này, chúng ta nhận ra tính duy nhất trong con người của Đức Giê-su. Không có việc nghĩ trước làm sau. Tất cả xẩy ra đồng loạt để nói cho chúng ta biết rằng Đức Giê-su thương người bị phong cùi vô cùng. Người không yêu bằng lời nói suông, hay qua các giao uớc dựa trên lý thuyết. Nhưng Đức Giê-su đã yêu bằng các việc làm cụ thể, bằng cuộc sống và sự dấn thân trọn vẹn của Người.

Thật vậy, với Đức Giê-su, giúp một người bị đau khổ, phục hồi phẩm giá của một con người là ưu tiên số một trong cuộc sống và sứ vụ của Người. Đức Giê-su tự do và thoải mái hành động vì hạnh phúc con người. Luật lệ có tồn tại và được áp dụng cũng vì lợi ích cho con người. Một khi những khoản luật ngăn cản con người thể hiện lòng yêu thương thì không còn giá trị. Không có một điều gì có thể ngăn cản việc Đức Giê-su thực hiện ý định của Thiên Chúa. Đức Giê-su yêu thương mọi người.

Còn một điều mà chúng ta cần lưu ý, đó là khi làm cho người phong cùi được sạch, được khỏi bịnh thì chính Đức Giê-su lại bị khó khăn, bị trục xuất và gặp sự đối nghịch của hàng ngũ lãnh đạo, dẫn đến cái chết mà Người sẽ chịu.

Tuy biết hậu quả mà Đức Giê-su phải lĩnh nhận sẽ là như thế. Nhưng vì yêu thương, Người sẵn sàng đánh đổ mọi sự để làm chứng cho chúng ta biết rằng Người là Thiên Chúa thật, không còn ở trên cao, nhưng đã cúi mình xuống để đồng hành và chia sẻ các nỗi khổ đau của con người. Người đã cúi mình thật sâu trong biến cố làm người và trong cái chết trên thập giá. Người cúi xuống để nâng con người lên, miễn là con người nhận ra phẩm giá của chính mình và được cứu độ.

Chính vì thế, Tin Mừng mà Đức Giê-su đem đến trong ngày Chúa Nhật thừ 6 Mùa Thường Niên. Đó là hãy sống bớt nghi kỵ, biết gạt bỏ thành kiến, chấp nhận các nỗi ô uế của nhau, tôn trọng phẩm vị con người, rồi cố gắng đến với nhau, đem cho nhau thêm một chút tình người, yêu và thông cảm nhau hơn. Vì trong Đức Giê-su, chúng ta xác tín rằng không một ai bị phong cùi mà không được chữa lành, không một ai sống trong ô uế mà không được sạch sẽ, không một ai chịu đau khổ mà không tìm được hạnh phúc, và không một ai sống trong tội lỗi mà không tìm được sự tha thứ mà được cứu độ.

Đó cũng là mục tiêu mà chúng ta cần đạt tới trong năm Giáp Thìn này. Nhưng ơn lành và sự chúc phúc của Chúa chỉ trở nên trọn vẹn khi chúng ta lĩnh nhận, không cho riêng mình mà là khí cụ đem đến hạnh phúc cho nhau. Có nghĩa là chúng ta chỉ được hạnh phúc khi sống trọn vẹn ơn gọi là những quà tặng cao quí nhất mà Thiên Chúa ban tặng để hàn gắn các nỗi đau thương mà anh em chúng ta đang phải gánh chịu.

Sau cùng, xin gửi đến anh chị em niềm vui và hạnh phúc trào dâng trong năm mới, Giáp Thìn. Xin Chúa ban cho anh chị em thêm tuổi, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan và ngập tràn hạnh phúc trong nguồn suối ân nghĩa của Thiên Chúa cho tha nhân. Amen!

Wednesday, 31 January 2024

CÔNG VIỆC TRONG NGÀY CỦA ĐỨC GIÊ-SU

 

Anh chị em thân mến,

Trình thuật Tin Mừng hôm nay thuật lại một ngày làm việc của Đức Giê-su tại Ca-pha-na-um, bao gồm cầu nguyện, giảng dậy và chữa lành. Sau khi giảng dậy và chữa người bị quỷ ám trong hội đường, Đức Giê-su cùng với các môn đệ đi đến nhà hai ông Si-mon và An-rê. Việc Đức Giê-su từ hội đuờng về nhà là một việc tự nhiên và bình thường. Người giống như chúng ta cần nghỉ ngơi sau cơn vất vả, cần được bổ sức mỗi khi đói hay khát. Tuy nhiên, việc di chuyển từ hội đường về nhà của Đức Giê-su hôm nay có thể còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn.

Như chúng ta đã biết rằng tất cả các sách Tin Mừng được soạn tác và hoàn thành sau khi đền thờ Giê-ru-sa-lem bị tàn phá. Sau biến cố thật đau thương đó, anh chị em tín hữu tiên khởi, nhất là những tín hữu gốc Do Thái không còn cơ hội lên đền thờ để thờ phượng nữa. Vì thế, họ dùng nhà riêng hay các hội đường để cử hành việc bẻ bánh và các nghi thức phụng vụ thờ phượng Chúa. Như thế nhà còn có thể coi là một nơi thánh, thu hút mọi người đến để thờ phượng. Ý niệm giáo hội tại gia chưa được phổ biến nhưng trên thực tế các anh em tín hữu tiên khởi đã dùng nhà của mình như là một phương tiện nuôi dưỡng và phát triển cộng đoàn.

Hình thức sinh hoạt ‘giáo hội tại gia’ rất thích hợp cho hoàn cảnh cấm cách mà anh em tín hữu tiên khởi đã trải qua. Và điều này vẫn còn được áp dụng tại các nơi mà giáo hội không được phép sinh hoạt công khai. Nhà vẫn là nơi an toàn nhất để các nhà thừa sai gặp gỡ, giảng dậy, ban phát các bí tich hầu nuôi dưỡng niểm tin cho các kẻ tin.

Trong ý nghĩ đó, giờ đây mời anh chị em cùng theo Chúa buớc vào nhà của hai ông Simon và An-rê.

Việc đã xẩy ra là bà mẹ vợ của ông Si-mon Phê-rô cũng có mặt vào lúc đó, nhưng bà lại bị ốm, vì thế việc tiếp đón Thầy cũng bị gián đoạn. Bà đang lên cơn sốt. Ngày nay người ta cho rằng nóng và sốt là các triệu chứng gây ra bởi nhiều căn bịnh khác nhau. Nhưng, đối với người xưa, sốt là một căn bệnh và có thể gây ra tử vong. Hơn nữa, những người Do Thái cùng thời với Đức Giê-su còn cho rằng  sốt hay bất cứ một thứ bịnh nào khác đều là những hình phạt mà Đức Chúa giáng xuống cho những ai không vâng lời Người.

Khi nghe người ta báo rằng bà đang lên cơn sốt, Đức Giê-su tiến lại giường, cầm lấy tay và đỡ bà trỗi dậy. Bà tức khắc được khỏi bịnh và phục vụ các ngài. Kiểu nói ‘đỡ bà trỗi dậy’ mà Thánh Mác-cô dùng ở đây giúp chúng ta nhớ lại việc trỗi dậy từ cõi chết của Đức Giê-su trong ngày Người phục sinh. Bịnh tật có thể dẫn con người đến cõi chết thế nào thì hôm nay trong Chúa, Người sẽ cho người đó phục hồi sự sống.

Việc Đức Giê-su chữa cho bà mẹ vợ ông Si-mon khỏi bịnh thật diệu kỳ. Người không nói điều gì và cũng không ra lệnh cho bất cứ thần dữ nào, khiến cho bà bị bịnh, thoát ra khỏi bà. Người chỉ đến, chạm vào tay rồi kéo bà trỗi dậy. Việc đụng chạm này, đem theo một sức mạnh chữa lành. Qua các cử chỉ này, Đức Giê-su muốn nhắc nhở chúng ta nhớ rằng mỗi khi Chúa đụng vào ai thì người đó không còn chọn lựa nào khác hơn là thay đổi cách sống và tham gia vào sứ mạng phục vụ mà chính Đức Giê-su làm mẫu mực như Lời Người đã phán bảo “Thầy đến để phục vụ.”

Nói một cách khác, tất cả mọi hình thức phục vụ của người tín hữu đều phải được phát sinh từ sự đụng chạm, các lần gặp gỡ của Chúa với ta, nếu như chưa có cảm ngiệm đó thì chúng ta nên suy nghĩ và tìm ra nguyên nhân nào đã thúc đẩy chúng ta đi trên con đường phục vụ. Việc phục vụ chỉ vững bền và có giá trị đích thực khi cuộc sống của chúng ta được thúc đẩy bởi Chúa mà thôi, bằng không thì các việc phục vụ mà chúng ta đang tham gia cũng chẳng được bền lâu!

Thật vậy, sự hiện diện của bà mẹ vợ ông Si-mon giúp chúng ta khám phá ra một điều: Bà là người phụ nữ đầu tiên trong Tin Mừng thực hành nhiệm vụ của người môn đệ là phục vụ tha nhân. Điều này cũng giúp chúng ta nhận ra rằng chỉ vì cơn sốt khiến bà không thể chia sẻ niềm vui khi phục vụ người khác. Nói khác đi, là người môn đệ, bà đã được trao cho vai trò phục vụ, thế mà vì bịnh tật mà công việc của bà bị dở dang, bị gián đoạn. Hôm nay, qua bàn tay của Đức Giê-su, bà đã đuợc phục hồi không chỉ để lo cho mình mà còn lo cho tha nhân mới là nhiệm vụ chính.

Ngày nay với nền tiến bộ của y học, đã có nhiều chứng bệnh được chữa khỏi. Tuy nhiên, bịnh hoan tật nguyền vẫn là nguyên nhân khiến con người bị suy nhược về tinh thần lẫn thể xác. Nó khiến chúng ta mất tự tin, các sinh hoạt bị đình trệ hoặc tắc nghẽn. Bịnh nhân cần đến sự giúp đỡ của bác sĩ, y tá và những nhân viên chuyên nghiệp. Nói chung lúc đó họ không lo đuợc cho bản thân mà phải nhờ đến người khác giúp đỡ.

Như hoàn cảnh của bà mẹ vợ ông Simon, cơn sốt đã trói bà trên giường thế nào thì bịnh tật cũng cản trở mọi sinh hoạt của con người như thế. Đức Giê-su không chỉ chữa cho bà và chúng ta khỏi bệnh mà còn nối kết chúng ta lại với những gì trước đây đã bị tắc nghẽn, bị gián đoạn. Đức Giê-su hoàn trả lại cho người vừa đuợc khỏi bịnh căn tính của một con người, không còn bị ngăn trở. Họ tiếp tục các công việc đang bị dở dang. Tinh thần và công việc phục vụ này nói lên bản chất của người tín hữu. Nó còn bộc lộ quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa, Đấng làm cho chúng ta trở thành một dân tộc yêu thương và phục vụ.

 Thông thường khi được chữa lành khỏi bịnh hoạn tật nguyền thì chúng ta thường hay tạ ơn cho Người đã ban ơn. Nhưng việc xẩy ra cho bà mẹ vợ của ông Phê-rô lại khác. Thay vì cảm ơn Chúa thì bà lại phục vụ Người. Hành vi phục vụ của bà diễn tả tâm tình tạ on một cách thật sâu xa của bà. Đó là việc chúng ta phải làm. Noi gương phục vụ của Chúa.

Thưa anh chị em,

Sau khi chữa bệnh cho bà mẹ vợ của Simon Phê-rô, Chúa còn chữa bịnh cho nhiều người khác nữa. Và vào buổi sáng hôm sau, Người lén rời Ca-pha-na-um đi tới một nơi hoang vắng để cầu nguyện. Đức Giê-su co1 thói queen bắt đầu một ngày mới bằng việc cầu nguyện, liên kết và đàm thoại với Cha. Người cần sức mạnh và sự hỗ trợ của Cha để chu toàn Thánh ý. Vậy đâu là ý muốn mà Thiên Chúa muốn Đức Giê-su thực hiện? 

Việc chữa cho người ta khỏi các bịnh tật về phần xác là điều cần thiết, nói lên tình yêu và lòng thương xót của Đức Giê-su. Nhưng Đức Giê-su đến trần gian không chỉ để chữa cho người ta hết bịnh về phần xác. Và nếu sứ vụ của Người chỉ thu hẹp trong phạm vi đó thì đến lúc Người trở về với Thiên Chúa thì bịnh tật và đau khổ vẫn tiếp tục làm khổ con người. Và nếu như thế thì mọi vấn đề vẫn còn nguyên, không giải quyết đuợc gì hết!

Như vậy, khi  chữa bịnh Đức Giê-su cũng không làm để thỏa mãn nhu cầu của dân chúng, cho bằng vâng lời Cha, công bố một sứ điệp thật quan trọng là Nước Thiên Chúa đã gần bên. Uy quyền của Satan sẽ bị trục xuất bởi sự hiện diện của Đức Giê-su, Đấng vừa khai mạc triều đại của Thiên Chúa và hoàn lại bản chất đích thực của con người như đã đuợc tạo dựng.

Vì vậy, hãy để việc chữa bịnh cho những ai đuợc ơn đó. Phần chúng ta hãy đến với nhau bằng sự cảm thông, yêu thương, hỗ trợ, ủi an và giúp đỡ nhau. Đó chính là các phương dược hữu hiệu có thể giúp con người đối diện với bịnh tật và đau khổ. Bằng thái độ sống như thế, chúng ta tin rằng mọi tình huống khiến cho con người bị đau khổ sẽ giảm bớt và được chữa lành.

Cầu xin cho mọi người làm được như thế. Amen!

Thursday, 18 January 2024

SÁM HỐI VÀ TIN VÀO TIN MỪNG

 

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay tiếp tục bổ sung cho chủ đề ơn gọi mà chúng ta đã tìm hiểu trong các bài đọc của Chúa Nhật tuần trước. Thiên Chúa không thiên vị, tất cả đều được mời gọi tham dự vào việc xây dựng và thay đổi thế giới mỗi ngày mỗi tốt đẹp hơn. Việc tham dự này không phát sinh từ sáng kiến hay nằm trong chủ đích của con người; nhưng đó là sáng kiến của Thiên Chúa. Chúng ta chỉ có bổn phận đáp trả. Chúa gọi và chúng ta đáp trả. Việc gọi và đáp trả như thế được đặt trên nền tảng của những cuộc gặp gỡ giữa Chúa và ta. Mỗi lần gặp gỡ như thế đều làm ta đổi mới.

Chúng ta có thể nói, cuộc sống và hành trình của người môn đệ được kết nối bởi những cuộc gặp gỡ và đổi mới không ngừng. Muốn đổi mới chúng ta cần nhận ra chính mình mà từ bỏ. Từ bỏ là việc mà các môn đệ của Chúa cần ghi nhớ và thực hiện luôn luôn. Môn đệ của Chúa cần từ bỏ nếp sống cũ và mặc lấy con người mới trong Đức Kitô. Con người mới của Đức Ki-tô là một con người vâng phục và thi hành ý muốn của Cha.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng về Nước Thiên Chúa, mời gọi những ai đang nghe Lời Người: Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng. Tin Mừng là Đức Giê-su, Người đang hiện diện giữa họ. Tiếp theo sau đó là việc Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên tham dự vào việc loan báo Tin Mừng. Điều này cho chúng ta nhận ra sự quan tâm của Chúa trong việc đào tạo các môn đệ. Đây không phải là một đặc ân dành riêng cho ai. Người muốn tất cả mọi người trở thành môn đệ. Bản chất của ơn gọi trở thành môn đệ của Chúa thì giống nhau, không phân biệt giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân. Tất cả đều được mời gọi tham dự vào công cuộc mở mang Nước Chúa.

Chính vì thế trước khi kêu gọi Si-mon, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an trở nên những môn đệ, Chúa đã công bố về sự hiện diện của Triều Đại Nước Thiên Chúa. sau đó Người yêu cầu chúng ta hãy sám hối và tin vào Tin Mừng. Vì thế, xin đề nghị với anh chị em dành đôi phút để tìm hiểu về lệnh truyền sám hối và tin vào Tin Mừng của Chúa trong Chúa nhật hôm nay. Lịnh truyền là sám hối. Sám hối như thế nào?

Thưa anh chị em,

Trong sự tích sa ngã của con người trong sách Sáng Thế. Chúng ta nhận thấy sự tội đã hiện diện trước khi con người bất tuân. Con người không tạo ra tội, nhưng tiếp tục sự hiện hữu của nó bằng việc ưng thuận và để cho quyền lực của sự tội thống trị. Tội có nguồn gốc riêng, luôn luôn đối nghịch với uy quyền của Thiên Chúa, và con người vừa là nạn nhân vừa là tác nhân cho sự hoành hành và phát triển đó.

Bằng kinh nghiệm sống, chúng ta cảm nghiệm được sự thống trị này: con người khó khăn trong việc thiện và dễ dàng chiều theo sự xấu. Chúng ta thường sống theo ý muốn của mình hơn là ý định của Thiên Chúa. Và như vậy tương quan giữa Thiên Chúa và ta cũng bị đứt đoạn. Từ sự đứt đoạn đó, như Adam, chúng ta đi trốn: trốn Thiên Chúa, trốn nhau và trốn chính mình.

Từ sự rạn nứt trong tương quan với Thiên Chúa, con người đi đến sự đổ vỡ khác. Câu nói ngọt ngào “phen này nàng là xương bởi xương tôi thịt bởi thịt tôi” của giây phút thân tình, đã biến thành kiểu nói gay gắt: tại cái người đàn bà mà Chúa đã đặt bên con nên con đã ra nông nỗi này. Con người không dám nhìn nhận việc mình đã làm, lại đổ thừa cho người khác và gián tiếp đổ thừa cho Chúa: giả như không có người đàn bà đó thì đời con đâu có đen đến thế này.

Từ sự rạn nứt nghĩa phu thê kéo đến tình anh em cũng chẳng còn: giết nhau chỉ vì ghen tương như trường hợp của Cain và Abel. Và lối cư xử đó như vết dầu loang, cứ thế lan rộng ra, bao trùm cả xã hội và toàn thế giới.

Trong hoàn cảnh đó, nhất là lúc mà con người nhận ra rằng mình không còn lối thoát thì chúng ta mới thấy được điều mới lạ trong lời công bố của Đức Giêsu hôm nay. Nước Thiên Chúa hiện diện nói lên uy quyền và sức mạnh của Thiên Chúa nơi bản thân Người, Đấng chiến thắng và thống trị quyền lực đó. Đấng ban cho con người niềm vui, sự hoan lạc và ơn cứu độ. Để được hưởng lợi ích này con người đòi buộc phải ăn năn, sám hối và tin vào Tin Mừng.

Nhìn vào cuộc đời của Đức Giêsu, chúng ta thấy đa số những ai thành tâm đi theo Chúa, trở thành bạn hữu của Người là những người tội lỗi, bị áp bức, bị chà đạp, bị tẩy chay bởi những ai có quyền lực. Họ không tạo một khó khăn hay rắc rối nào cho Chúa. Họ quá nghèo về tinh thần lẫn vật chất nên dễ dàng đón nhận lời mời và các thách đố của Đức Giê-su. Trái lại, những người tự nhận mình là công chính thì khác. Họ quá giầu công đức. Công nghiệp đã choán hết chổ trong lòng họ, khiến mắt họ không còn mở ra được và tai họ cũng bị che lấp. Họ đến với Chúa để gài bẫy. Họ thiếu thành tâm khi gặp Chúa. Họ âm mưu khi theo Chúa.

Sự khác biệt của hai nhóm này cũng dễ hiểu: như những nguời đau yếu cần đến thầy thuốc thế nào thì những người tội lỗi cần đến sự tha thứ của Chúa như thế. Còn người công chính, tự nhận mình là kẻ không có tội thì còn cần đến ai nữa.

Tuy nhiên, việc Thiên Chúa yêu thương người tội lỗi không có nghĩa là Người dung thứ tội lỗi. Tình yêu thương của Thiên Chúa không miễn trừ việc nhìn nhận lỗi lầm của con người, cũng không cho phép con người lạm dụng lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã đến để giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Người thấu hiểu và thông cảm cho sự yếu đuối của con người và sẵn sàng tha thứ, nhưng con người phải thành thật nhìn nhận tội lỗi của mình và trở lại với Người.

Như vậy, để đáp trả lời kêu gọi và trở nên môn đệ của Chúa, việc đầu tiên chúng ta phải làm là sám hối, phải từ bỏ cuộc sống cũ, xếp lại các tham vọng, ích kỷ và những ước mơ cũ ở lại sau lưng; rồi tin vào Tin Mừng, chấp nhận theo Đức Giêsu và sống theo các huấn lệnh của Người. Các điều đó sẽ làm cho chúng ta xứng đáng trở nên môn đệ, thành viên của Nước Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta không thể tách rời các yếu tố: sám hối, từ bỏ, tin, chấp nhận rồi theo Chúa thành các phần riêng biệt để thực hiện. Các yếu tố này xẩy ra trong lúc chúng ta đưa ra chọn lựa và quyết định. Không ai khác có thể làm thay cho chúng ta. Không có việc từ bỏ trước rồi mới thành môn đệ sau. Không có việc hôm nay quyết định dấn thân, rồi mai này khi gặp hoàn cảnh khó khăn sẽ làm tiêu hao nguồn năng lực, và việc dấn thân cho ơn gọi cũng bị suy giảm.

Nhưng, thực tế cho biết rằng các yếu tố như: thời gian chờ đợi, các thử thách trước mắt, sự yếu hèn của bản thân đều có thể là nguyên nhân khiến cho lời cam kết mang đầy nhiệt huyết của những ngày đầu tiên trong hành trình làm môn đệ của chúng ta bị bóp nghẽn và chết đi. Chỉ có nhờ quyền năng và sống trong sức mạnh của Chúa mới giúp chúng ta vực lại tính năng nổ, bầu nghiệt huyết trong việc sống trung tín với các lời cam kết để hoàn thành sứ mạng của người môn đệ.

Sau cùng, anh chị em nhớ rằng: công việc của chúng ta không chỉ là việc cầu nguyện cho Nước Cha mau đến, nhưng thật ra Nước Thiên Chúa đã hiện diện, đang tìm cách xâm nhập vào trái tim và biến đổi chúng ta thành những người môn đệ của Đức Giêsu. Vì vậy, hãy để cho Chúa biến đổi chúng ta liều lĩnh tin theo Chúa, Đấng hướng dẫn và chỉ đạo cuộc sống chúng ta sao cho phù hợp với các tiêu chuẩn của Nước Thiên Chúa đã được loan báo bởi Đức Giê-su, Amen!

Wednesday, 10 January 2024

CHÚA GỌI.

 


Anh chị em thân mến,

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật tuần này xoay quanh chủ đề ơn gọi. Ai cũng được Thiên Chúa mời gọi tham dự vào công việc rao giảng của Chúa Kitô trong hoàn cảnh sống của mình. Có người được gọi sống bậc gia đình; có người được gọi sống độc thân để trở thành các bậc thầy hay trở thành giáo sĩ và tu sĩ. Nói chung lời mời gọi từ Chúa và phần đáp trả là của chúng ta.

Bài đọc thứ nhất kể lại việc Chúa gọi Sa-mu-en nhưng cậu không hiểu ai đang gọi mình. Mỗi lần nghe thấy tiếng gọi, Sa-mu-en lầm tưởng là Thầy Ê-li gọi cho nên cậu đã chạy đến bên Thầy để trả lời. Cuối cùng Thầy Ê-li đã ghép mọi chi tiết lại với nhau và với tư cách là người cố vấn tinh thần, hướng dẫn linh đạo, thầy đã giúp Sa-mu-en nên biết trả lời như thế nào. Thầy đã góp ý cho Sa-mu-en câu trả lời thật tuyệt vời như sau: “Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe”. Và từ đó, Thiên Chúa ở cùng Sa-mu-en. Phần cậu, cậu đã không để rơi mất lời nào của Chúa mà không sinh hoa kết trái khi trở về với Người.

Và, trong bài Tin Mừng hôm nay, để mời gọi, Đức Giêsu hình như không nói trực tiếp. Người chỉ trả lời cho nỗi khát vọng tìm kiếm khi hỏi những ai đi theo Người rằng “các ông tìm gì?” Thật là một điều ngạc nhiên cho chúng ta khi nghe họ hỏi lại: “Thầy ở đâu?” Câu hỏi của họ có thể hiểu theo nghĩa bình thường là ám chỉ đến nơi cư ngụ của Đức Giêsu. Nhưng, theo nghĩa của Tin Mừng, thì câu hỏi này còn có thể quảng diễn như: Chúng tôi sẽ gặp Thầy ở đâu? Làm thế nào chúng tôi có thể gặp Thầy để được biến đổi? Làm thế nào chúng tôi có thể tiếp cận và chia sẻ cuộc sống với Thầy?

Đứng trước yêu cầu chính đáng của họ, Đức Giêsu không trả lời trực tiếp câu hỏi của họ. Người tiếp tục mời họ “Hãy đến mà xem”. Đến đâu? Đến với Chúa. Xem điều gì? Xem cách thức Người sống. Có nghĩa là Chúa mời gọi họ thiết lập và xây dựng mối dây hiệp thông với Người. Muốn đạt được nguyện ước này các môn đệ không được phép đóng vai quan sát viên, đứng bên lề. Họ cần dấn thân, chia sẻ cuộc sống và buớc đi với Người, cùng Nguời đi trên các nẻo đường khác nhau mà đến với mọi người.

Tiến trình của việc tìm kiếm, đón nhận và đáp trả này không thể xẩy ra trong một giây một phút; nhưng đó chính là hành trang của cả đời kiếm tìm. Đến rồi gặp, gặp rồi lại nhớ. Vòng tròn gặp rồi nhớ, nhớ rồi gặp cứ thế thôi thúc khiến chúng ta đã nhớ lại càng nhớ thêm và cứ như thế tình của Chúa càng gặp càng cắm rễ sâu đậm hơn trong cuộc sống của chúng ta, những người môn đệ của Chúa. Sau đây là diển tiến của một tiến trình, mời anh chị em lắng nghe.

Chúng ta cần lắng nghe tiếng Chúa gọi bằng trái tim, bởi vì cuối cùng Lời mà Đức Giê-su giao tiếp với chúng ta là chính bản thân Người. Khi chúng ta lắng nghe Người, gặp Người rồi thì cuộc sống của chúng ta sẽ thay đổi. Chúa không truyền đạt sự kiện, tin tức hay dữ kiện mà Người truyền ban cho chúng ta chính bản thân Người, tình yêu của Chúa, sự sống và lòng thương xót của Chúa. Và khi chúng ta lắng nghe Lời mời gọi của Chúa, để cho tình yêu và lòng thương xót của Chúa chạm vào chúng ta, tức khắc chúng ta sẽ được biến đổi.

Thật vậy, Thiên Chúa có trăm phương nghìn cách để nói với con người. Mỗi người là một cá thể riêng biệt. Và có bao nhiêu cá thể thì có bấy nhiêu cách qua đó Thiên chúa dùng để tiếp cận với ta. Và có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu vì sao Thiên Chúa dùng để soi dẫn mở đường cho ta nhận biết và vâng nghe tiếng Ngài.

Cách thức của Thiên Chúa thật diệu kỳ và khó hiểu. Có nhiều trường hợp con người phải kinh qua những đau khổ, những mất mát và đổ vỡ rồi mới nhận ra tiếng Chúa. Như trường hợp của hai anh em mà chúng ta thường được nghe trong Tin Mừng của thánh Luca. Người con thứ trải qua trăm cay nghìn đắng mới nhận ra ý Chúa. Còn ông con cả thì thế nào? Anh chưa bao giờ làm trái lịnh cha. Anh sống trong khuôn mẫu, kích thước của chính anh. Cuộc sống của anh quá êm đềm; êm đềm đến độ anh cũng chẳng cần biết người khác nghĩ gì về anh, và anh cũng chẳng thèm nghĩ đến nhu cầu của người khác. Phải chăng anh chỉ là ‘một xác chết biết đi’. Nhưng mọi sự đều đổi khác khi em anh trở về. Quả thật, anh không có trách nhiệm gì về sự sai lầm của chú em. Nhưng với sự đỗ vỡ của chú ta, qua đó Thiên Chúa dùng để đánh thức anh! Nếu muốn sống thật mối tương quan cha con, anh cần chọn lựa một lối đi mới. Một lối đi khác hẳn lối đi cũ. Lối đi không bị bao vây bởi giáo điều và kinh kệ. Nhưng được phát xuất từ mối dây liên kết giữa anh và Cha.

Như vậy, để khám phá ra ý định của Thiên Chúa, chúng ta cần sống mật thiết với Người. Chính trong sự kết hợp của tình yêu này chúng ta sẽ được giải thóat để sống với điều đôi khi không giống với sự kỳ vọng của đám đông. Nhưng, chắc hẳn một điều là quyết định hay chọn lựa phát sinh từ lòng yêu mến của chúng ta với Chúa và dĩ nhiên điều đó rất phù hợp với ý Chúa, Đấng không ngừng yêu mến, họat động và cùng ta dấn bước.

Thiên Chúa thăm viếng và nói với ai lắng nghe Người. Để đạt được mục tiên này, Thiên Chúa còn dùng những con người đang sống cùng thời với ta giúp ta nhận ra tiếng của Người. Cụ thể, trong các bài đọc hôm nay, chúng ta đã nhìn ra hai gương mẫu giúp người khác nhận ra ý Chúa. Thầy của Samuel đã giúp cho cậu nhận ra và đáp trả lời mời của Chúa. Các môn đệ của Gio-an cũng thế, nhờ lời giới thiệu của Thầy mà họ nhận ra Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a rồi đi theo Người. Họ là những người thầy về mặt tâm linh, hướng dẫn và giúp chúng ta nhận ra ý của Chúa mà đáp trả. Chúng ta biết ơn họ.

Hơn thế nữa, qua mầu nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa vì yêu thương đã ẩn mình trong những từ ngữ và tiếng nói của con người. Vì thế, trong cuộc sống, chúng ta cần mở ra để đón nhận nhau vì ai cũng được Thiên Chúa dùng để sinh ích lợi cho người khác. Thật vậy, không ai có thể nghe được Thiên Chúa nếu người ấy tự khép mình lại, sống cô độc, xa lánh người khác. Và, cho dù chúng ta biết rằng Chúa không hề ép buộc ai. Tuy nhiên, những ai đã nghe lời Chúa thì không thể cưỡng lại ý Chúa được.

Tóm lại, sống với Đức Giêsu, chia sẻ mối thâm tình của Người sẽ đem đến cho ta niềm vui, để rồi lại đến lượt chúng ta, trong vai trò của những chứng nhân, chúng ta mời gọi người khác cùng chia sẻ niềm vui với mình. Có nghĩa là qua cuộc sống chúng ta mời gọi những người trong cộng đoàn, xóm giáo, gia đình của chúng ta hãy đến mà xem cuộc sống của chúng ta rồi qua đó họ sẽ thấy Chúa!

Thật sự, đây là một thách đố cho chúng ta là các môn đệ của Chúa, không phân biệt giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân. Tất cả đều được mời gọi để sống thân tình với Chúa và với kinh nghiệm sống thân mật với Chúa, chúng ta sẽ can đảm tuyên xưng rằng: Hãy đến mà xem chúng tôi, những người môn đệ của Chúa Cứu Thế, yêu thương nhau đến dường nào. Bởi vỉ, tình yêu là lời chứng sống động và hiệu quả nhất để minh chứng Chúa đã Nhập Thể và đang hiện diện với chúng ta. Amen!

Thursday, 21 December 2023

CHÚA ƠI, CÓ THẬT NGƯỜI ĐÃ SINH RA!


Không khí lễ Giáng Sinh đã đến, thật tưng bừng và rộn rã. Nhà thờ nào cũng làm máng cỏ với ánh sáng muôn mầu rực rỡ luợn đi luợn lại chung quanh hang đá; lại có những dòng suối nhân tạo róc rách chảy. Đủ thứ trang trí và đồ chơi lạ mắt. 

Trong khi đó tại các trung tâm thương mại tràn ngập người; ai ai cũng hối hả chọn lựa những món quà cho người thân. Hình như những cảnh tượng đó có cái gì tương phản với sứ điệp của Chúa. 

Những quà tặng của thế gian quá nhiều, nhiều đến độ làm chúng ta bị che mắt, không nhìn ra sứ điệp của Chúa. Chúng ta quá chú tâm đến quà tặng, trao đi và nhận lại những phẩm vật tuy quí giá nhưng vẫn chỉ là tặng vật do con người tạo ra. Trong khi đó, hôm nay Chúa ban cho nhân loại một món quà là chính Chúa trong thân phận của một hài nhi mang tên Giê-su. 

Hài nhi Giê-su đã sinh ra trong cảnh khó nghèo. Cha mẹ của Người không có chốn nương thân, phải mượn hang bò lừa để sinh hạ hoàng tử, con Vua vũ trụ. Cho dù là như thế. Nhưng cuộc sống của hài nhi Giê-su là một chuỗi ngày cho đi và cho đi tận cùng của kiếp phàm nhân; khiến cho con người dù có bất hạnh hay bị ruồng bỏ đến đâu cũng tìm được niềm vui và tình thân thuơng. Và nhân lọai cũng đã tìm thấy nơi cuộc sống của hài nhi những câu giải đáp, những thao thức của kiếp nhân sinh. 

Sứ điệp mà hài nhi đem lại thay đổi tư tưởng và lối tư duy của mỗi người. Sứ điệp đó còn thách thức nhân lọai qua mọi thời đại. Bởi vì, từ ngày hài nhi Giêsu xuất hiện, bộ mặt của thế giới đã thay đổi. Ai mất phương hướng tìm được lối đi, kẻ đói khát no đầy ơn phúc, những ai bị giam cầm tìm được sự trợ giúp, trong Người mọi người được giải thóat, muôn dân muôn nước tìm được giải pháp cho hòa bình. 

Vẫn biết sứ điệp quá tuyệt vời. Nhưng trong thâm tâm, tôi vẫn thấy có điều gì không ổn! Phải chăng tôi đã quá quen với những náo nhiệt bên ngoài mà quên đi sứ điệp của Hài Nhi Giê-su đem lại cho thế gian trong đêm Giáng sinh?

Thật vậy, nhìn vào thực trạng của thế giới trong những năm gần đây, chúng ta cảm thấy ngao ngán và buồn phiền. Sau cuộc chiến đấu với nạn đại dịch Covid-19, con người quay lại chém giết nhau. Chiến tranh xẩy ra bên Ukraine chưa chấm dứt thì một cuộc chiến khác lại xẩy ra bên Gaza, Trung đông. Bao trẻ em vô tội bị chết thảm thiết. Lại thêm một số đông người không cửa không nhà, lang thang vô định tìm chỗ an toàn để trú thân. Tội nghiệp cho thân phận con người tại các nơi đó. Họ đã làm gì để rồi cuộc sống bị hủy diệt trong tay của những bạo chúa. Trước các cảnh tượng đau buồn nói trên, tôi muốn mươn lời của Thánh Gio-an tẩy giả: “Thầy có thật là Đấng phải đến, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?”

Chúng ta đã quá quen với lối sống an nhàn, thủ phận, giữ mình bởi những việc đạo đức trong khuôn viên nhà thờ. Trong khi đó sứ điệp của Chúa thách thức lương tâm con người trước sức bành trướng của nền văn minh thế tục đang soi mòn căn tính làm người mà mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Giê-su đã đem đến.

Thật vậy, qua mầu nhiệm của đêm Giáng Sinh. Thiên Chúa hiện diện giữa thế gian, cư ngụ ngay trong hòan cảnh riêng của từng người. Dù người đó sống trong tình huống nào, Người chẳng hề có ý định bỏ rơi họ. Người đã mặc lấy thân phận con người và chờ đợi ta. 

Người đã đến nơi nhà mình. Nhà của Người bao gồm mọi người, đặc biệt qua thân phận của các tù nhân, qua lối sống của những người nghèo khổ, đói khát, cô thân cô thế, không nơi nương tựa. Người đã nên đồng hình đồng dạng, hiệp hành với con người nói chung và những dạng người nói trên để qua họ Người mời chúng ta “hãy yêu thương nhau”, hãy vì Người mà phục vụ, vì Người mà tha thứ và hy sinh cho nhau, vì Người mà tôn trọng và nâng đỡ nhau. Tóm lại, vì Người mà chúng ta làm tất cả mọi sự cho nhau. 

Thế nhưng, trên thực tế vẫn còn có những người bị tẩy chay, bị loại bỏ. Bao nhiêu người đã bị đẩy ra sống bên lìa xã hội vì họ không nhận được những ánh mắt cảm thông của chúng ta. Vì thành kiến, chúng ta lên án và không tiếp nhận họ. Một mặt chúng ta tin rằng Thiên Chúa đang ở cùng chúng ta. Mặt khác, chúng ta lại không nhận ra Người nơi tha nhân. Tìm trăm phương ngàn kế để loại trừ nhau, hạ nhau để được ngoi lên. Bằng mọi cách để xua đuổi nhau một cách thiếu khoan dung. Và, cũng chính vì thiếu khoan hồng và dung thứ của chúng ta nên những người tuy đã hối cải lại không được nâng đỡ khi chính bản thân họ muốn sửa đổi và làm lại cuộc đời.

Người ta kể rằng: Trong một xóm giáo kia; những người sống tại đó hầu hết là nguời công giáo. Ai ai cũng tin vào Chúa. Và có một thanh niên mồ côi cha mẹ. Anh ta nổi tiếng ăn chơi, trộm cắp, xì ke, ma túy, cướp của. Nói chung anh là loại người bại hoại trong xóm giáo. Cuối cùng anh bị bắt đi tù. Trong trại tù anh có nhiều thời gian để suy nghĩ về những thói hư tật xấu và tự hứa sẽ thay đổi. Đến ngày mãn hạn tù. Anh hân hoan bước ra và tràn đầy hy vọng vào cuộc sống tương lai. Nhưng vì thành kiến và sợ hãi nên dân trong xóm xa lánh anh. Với những ánh mắt dè chừng, những nụ cười gượng ép khiến anh cảm thấy như bị xua đuổi. Không lâu sau đó, anh gây ra vụ án khác và lại bị bắt. Trước mặt quan tòa anh ta khai báo: "Vì đời không đón nhận mà lại khinh khi tôi cho nên tôi mới như thế này."

Anh không được đón nhận. Anh bị khước từ bởi lầm lỗi đã xẩy ra ở quá khứ. Chính thái độ hoài nghi, thành kiến và thiếu khoan dung của chúng ta đã tạo nên một người tù chung thân. Giả như Thiên Chúa cũng không chấp nhận chúng ta thì giờ đây nhân loại sẽ ra sao! Điều mà chúng ta cần suy nghĩ ở đây là một môi trường tốt không tự nhiện được thành hình. Nó chỉ được xây dựng bởi những bàn tay nhân ái, những con tim vị tha và những tấm lòng khoan dung độ lượng. 

Vì thế, trong khi mừng lễ Giáng Sinh hôm nay, chúng ta có cơ hội để nhắc cho nhau rằng Thiên Chúa đã làm người và ở giữa chúng ta. Người nhắc chúng ta bài học quên mình, đón nhận, yêu thương, giúp đỡ và tha thứ cho nhau. Vì qua các cử chỉ như thế, chúng ta tiếp tục sinh hạ và giới thiệu Chúa cho nhau. Amen!