Wednesday, 28 August 2024

LỀ LUẬT HAY TÂM HỒN?

 

Anh chị em thân mến,

Vào thời Chúa Giê-su, dân Do Thái, ngoài việc tuân giữ các huấn lịnh của Thiên Chúa ban cho qua Mai-sen và các tiên tri, họ còn tuân giữ các qui định của cha ông truyền lại và coi đó như là những khoản luật của Thiên Chúa. Các qui định được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, và được coi như là các tập tục của tiền nhân. Đây là những kiểu mẫu sống hơn là luật lệ. Sau một thời gian dài áp dụng, dân Do Thái bằng lòng với những qui định này. Họ áp dụng chúng vào đời sống vì thấy chúng thích hợp. Người ta xếp chúng vào loại truyền khẩu và được gọi là “truyền thống của tiền nhân.”

Việc tuân giữ các lịnh truyền và những qui định của tiền nhân tuy tốt đẹp nhưng khi áp dụng, họ lại quá chú trọng đến những nghi thức bên ngoài và có lòng kiêu hãnh về các việc làm đó. Từ đó ý nghĩa tôn giáo của các qui định bị mất dần đi. Họ cho rằng việc thực hành và tuân giữ những qui định này là công sức của họ, dần dần được xem là các việc đạo đức, là hành vi của những người biết phụng sự Chúa. Họ đã quên rằng sự thánh thiện phải được xuất phát từ Thiên Chúa chứ không lệ thuộc các việc làm của chúng ta.

            Một cách cụ thể, chúng ta xem qua tập tục rửa tay trước khi dùng bữa được đề cập trong bài Tin Mừng hôm nay. Trước tiên, đó là các khoản luật dành cho hàng ngũ tư tế. Mọi tư tế đều phải rửa tay trước khi bước vào nơi cực thánh trong đền thờ. Mục đích của việc làm này này là tẩy rửa đi tất cả những gì là ô uế về mặt tôn giáo để các tư tế xứng đáng cử hành nghi lễ thờ phượng Chúa hơn. Dần dần, dân chúng cũng bắt chước các tư tế rửa tay trước khi cầu nguyện. Và bằng những suy nghĩ tương tự như thế, họ cũng rửa tay trước khi dùng bữa nữa.

Hôm nay, những người Pharisiêu và các thầy thông luật chất vấn Chúa Giêsu về việc các môn đệ của Người không rửa tay trước khi ăn. Chúa Giêsu đã phê phán họ rằng họ chỉ quan tâm đến việc tuân thủ các truyền thống bên ngoài mà quên đi tinh thần của lề luật. Người trích dẫn lời của ngôn sứ I-sa-i-a, rằng dân này tôn kính Thiên Chúa bằng môi miệng, nhưng lòng họ thì xa rời Chúa hàng dặm để nhắc nhở họ.

Sau đó, Chúa giảng dạy cho đám đông rằng không có gì từ bên ngoài vào trong con người mà có thể làm cho người đó ra ô uế, mà chính những gì từ bên trong, từ lòng người phát ra, mới làm cho người ta ra ô uế. Điều này ám chỉ rằng tội lỗi và sự ô uế không phải do những hành động bên ngoài mà là từ tâm hồn và ý nghĩ xấu xa từ tron tâm hồn và ý nghĩ của họ. Theo tinh thần của Chúa thì tất cả mọi sự đều phải được xuất phát từ tấm lòng, từ trái tim bằng không thì chỉ là các hình thức đạo đức không có chiều sâu, thậm chí có thể coi là hình thức của những người đạo đức giả. Theo Người, mọi sự thay đổi phải đuợc bắt nguồn từ trong tâm hồn thì mới có hiệu quả lâu dài. Tương tự như thế, các việc làm đuợc gọi là thánh thiện đều không lệ thuộc vào các hành vi bên ngoài, nhưng phải xuất phát từ tâm hồn con người.

Như vậy, ở đây, Đức Giê-su đã giúp chúng ta có một cái nhìn khác về sự thánh thiện. Chỉ có Thiên Chúa duy nhất là Đấng Thánh, và không một tạo vật nào đuợc gọi là thánh nếu không có quan hệ với Ngài. Con người chỉ đuợc nên thánh qua việc tiếp xúc, tương giao, gặp gỡ và nối kết với Thiên Chúa. Chỉ có trong Ngài và với Ngài, con người mới đạt đến sự thánh thiện mà thôi.

Anh chị em thân mến,

Nhìn vào cuộc sống của Đức Giê-su chúng ta nhận thấy Người chính là mẫu mực của mối tương giao, nối kết mật thiết của Cha và Con. Một sự hiệp nhất nên một. Cha ở trong Con và Con ở trong Cha. Vì thế, bản chất thánh thiện nơi con người Đức Giê-su phát sinh từ Thiên Chúa, không lệ thuộc vào nghi thức bên ngoài như những người Pha-ri-siêu lầm tưởng. Do đó, Đức Giê-su không bao giờ bị ô uế khi đụng chạm vào những người, mà lề luật đã xếp họ vào lớp người ‘ô uế, tội lỗi’. Trái lại, họ lại được thay đổi từ sự thánh thiện cuả Thiên Chúa thoát ra từ con người của Đức Giê-su. Qua việc tiếp xúc này, nhân phẩm họ đuợc phục hồi và con người họ được tái tạo nên một con người mới trong Chúa. Sự thánh thiện của con người không hệ luỵ bởi việc làm của chúng ta cho bằng đó là việc nối dài bản chất thánh của Thiên Chúa nơi mình, qua Đức Giê-su.

Vì vậy, trong phần kết luận của trình thuật hôm nay, Đức Giê-su nhấn mạnh đến việc làm của trái tim. Sự thánh thiện của con người phát xuất từ trái tim của người đó, chứ không lệ thuộc vào những lề thói hay cách cư xử hình thức bên ngoài của họ. Trái tim là nơi để con người có thể tiếp xúc một cách sâu thẳm với Thiên Chúa. Đó chính là cung lòng để Thiên Chúa ngự trị.

Đừng đánh giá nhau qua dáng vẻ bên ngoài nhưng hãy trao cho nhau tấm lòng, ban cho nhau quả tim yêu thương, nhân hậu và biết rung động trước các nhu cầu của nhau. Muốn đạt được điều này, tất cả chúng ta cần xây dựng và duy trì mối tương giao với Đức Giê-su mỗi ngày mỗi bền chặt và gắn bó hơn. Bởi vì, chỉ ở trong trái tim nhân hậu và yêu thương của Đức Giê-su, chúng ta mới tìm ra mẫu mực cho mọi tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Bởi vì, Thiên Chúa là tình yêu. Cho nên, ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy. Vì mọi việc làm chỉ là cách thức biểu hiện bên ngoài, điều quan trọng nhất là trái tim của chúng ta hướng về Thiên Chúa và diễn tả cho tha nhân như thế nào? Vì thế, xin cho chúng con đến với nhau bằng con người có trái tim của Chúa. Amen!

Wednesday, 21 August 2024

BỎ THẦY CON BIẾT THEO AI!

 

Anh chị em thân mến,

Cách hành xử trong cuộc sống giúp chúng ta nhận ra vị trí của chính mình. Tôi còn nhớ một hiện tượng, một thói quen mà người ‘có đạo’ hay thực hiện. Trong thời gian ở trại tỵ nạn Ga-lang, Indo năm nào. Mỗi khi có tầu vượt biên từ Việt Nam đến đảo bình an, thì thùng tiền xin tạ ơn Chúa và Đức Mẹ đầy hơn. Rồi mỗi khi có phái đoàn đến phỏng vấn nhận người đi định cư tại các nước thứ ba, thì thùng tiền xin khấn tăng vọt, cho đến khi phái đoàn ra về thì lại đến thùng tạ ơn làm ăn khấm khá hơn. Cứ xin khấn rồi lại tạ ơn, tạ ơn xong rồi lại xin tiếp. Lối sống đạo theo vòng xin xỏ rồi lại tạ ơn cứ thế tiếp tục xoay.

Lối sống như thế nói lên mối tương quan giữa mình và Chúa. Có những lúc chúng ta xác tín về việc theo Chúa của mình, nhất là khi gặp được nhiều thuận lợi trong cuộc sống. Tuy nhiên, lại có nhiều khoảnh khắc, nhất là khi phải đối diện với các thử thách vượt quá sức đón nhận khiến chúng ta cảm thấy chán nản, thậm chí có những người lâm vào tình trạng tuyệt vọng và muốn bỏ cuộc.

Vì thế, phụng vụ Lời Chúa trong Chúa nhật hôm nay, đặc biệt nội dung của trình thuật Tin Mừng giúp cho chúng ta có cơ hội xét mình và nhận ra chúng ta có phải là các tín hữu theo Chúa và làm theo y Chúa hay vẫn chỉ là tín hữu có tiếng mà không có miếng. Nào mời anh chị em cùng suy tư.

Anh chị em thân mến,

Trình thuật Tin Mừng hôm nay là cao điểm của một cuộc đối kháng mang tính quyết liệt giữa Đức Giê-su và các môn đệ. Họ là những người đã chứng kiến dấu lạ hoá bánh ra nhiều và đuợc nghe lời giải thích của Chúa về dấu lạ đó. Tuy nhiên, Chúa càng cố gắng làm sáng tỏ sứ điệp bao nhiêu thì lại nhận được sự chống đối không thiếu phần dứt khoát của một nhóm môn đệ bấy nhiêu. Kết quả là có rất nhiều môn đệ đã rút lui và không tiếp tục đi theo Người nữa.

Còn nhóm muời hai, tuy còn ở lại nhưng các ông vẫn chưa toàn tâm, toàn lực theo Chúa. Cụ thể, tại vườn cây dầu và trong hành trình Thương Khó sau này, Phê-rô là người đầu tiên đã chối Chúa. Như vậy, chúng ta thấy tuy cách chọn lựa của nhóm muời hai có phần khá hơn các môn đệ kia, nhưng điều mà Phê-rô đại diện cho nhóm mười hai tuyên cáo hôm nay “bỏ Thầy, chúng con biết theo ai” cũng chỉ là những lời nói suông, dựa trên môi miệng. Vẫn biết là như thế, nhưng đặc tính không tháo lui, tiếp tục dấn buớc bằng tất cả nỗ lực và khả năng của mình khiến cho nhóm muời hai gần với chúng ta hơn.

Thật vậy, việc chúng ta đến với Chúa, đi theo Chúa trước tiên không phát xuất từ mình. Đó là lời mời gọi, hành động lôi kéo từ Thiên Chúa. Không ai trong chúng ta có thể nối kết, gặp gỡ rồi tin vào Đức Giê-su nếu Chúa Cha không lôi kéo người ấy. Lời mời gọi, hành động lôi kéo đã xuất phát từ Thiên Chúa, bổn phận của chúng ta là thả lỏng, không gồng lên để cuỡng lại và sẵn sàng tự nguyện rồi buông quyền kiểm soát bản thân của chúng ta để theo Chúa. Đây là một sự chọn lựa khôn ngoan của người tín hữu khi họ nhận ra tất cả những gì mình có đều là hồng ân của Chúa, bổn phận còn lại là thi hành việc làm của chủ mình.

Nói thì dễ nhưng thực hành thật khó!

Làm thế nào chúng ta vẫn giữ được tâm hồn thanh thản, không tự mãn trước các việc làm đạo đức của mình. Hình ảnh người biệt phái tự mãn hiên ngang đứng trên bục bàn thờ, rồi mang công trạng ra để khoe trước mặt Chúa. Cuối cùng ra về tay không. Thái độ tự mãn dựa vào công trạng của ông khiến chúng ta nhận ra rằng các việc lành phúc đức đôi khi có thể là những vật cản để mình nhận ra tất cả chỉ là ân huệ của Thiên Chúa muốn qua mình trao ban cho người khác mà thôi. Và nếu là như vậy thì có gì mà khoe khoang.

Còn thái độ của người thu thuế, khúm núm đứng tự đàng xa, sau những hàng ghế cuối của đền thờ; ông đấm ngực nhận mình là kẻ tội lỗi rồi ca tụng những kỳ công mà Chúa thực hiện. Ông là hình ảnh của một kẻ tin, biết trao quyền làm chủ những việc mà mình đã làm được vào tay của Thiên Chúa. Ông ra về và trở thành người công chính vì niềm tin và thái độ khiêm cung của ông. Cách ứng xử khiêm tốn trước mặt Thiên Chúa, trước tha nhân và trước cả lòng mình của ông giúp chúng ta nhận ra mình chỉ là đầy tớ bình thường, thậm chí còn vô dụng của Thiên Chúa. Tất cả luôn là hồng ân, là cơ hội giúp chúng ta nhận ra rằng tất cả những gì mà chúng ta làm được hoàn toàn phát sinh từ nguồn suối yêu thương của Thiên Chúa, Đấng làm chủ chương trình và đời sống của mỗi người chúng ta.

Như vậy, buông lỏng sức mạnh kềm chế bản thân mình là buớc tiên quyết để bộc lộ và trao phó lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về mình. Đây chính là thái độ niềm tin của người tín hữu. Tuy nhiên, anh chị em hãy nhớ rằng, chính Chúa Cha mới là đấng che chở, bảo vệ và lôi kéo chúng ta đến để đặt trọn niềm tin vào Đức Giê-su, Con của Ngài.

Và, muốn có được niềm tín thác này, chúng ta phải bước ra khỏi chính mình, dấn thân và trở thành của ăn mà Đức Kitô muốn chúng ta san sẻ cho người khác. Niềm tin của người môn đệ không chỉ được nuôi duỡng bởi các bí tích, nhưng được dưỡng nuôi bởi Người làm nên các bí tích đó. Tất cả các nhiệm tích của Hội Thánh đều dẫn chúng ta về với nguồn của bí tích là Đức Giê-su, Nguồn mọi ân phúc và là Tin Vui cho các kẻ tin. Nói khác đi, để sống đúng chân tướng của người tin vào Đức Giê-su, thì việc cử hành và lĩnh nhận các bí tích chưa đủ, nhưng truớc hết chúng ta phải trung thành với Con Người của Đức Giê-su Kitô và sống tình huynh đệ với người khác.

Vậy, việc đòi buộc các môn đệ trung tín với Đức Giê-su lệ thuộc vào việc chuyên cần nghe lời giáo huấn của Người, có nghĩa là Tin vào Lời Người phán hôm nay rằng “ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời” đồng nghĩa với việc tin vào Đức Giê-su là Đấng nuôi sống chúng ta. Hơn thế nữa, các môn đệ còn đòi buộc buớc theo Người, đi con đuờng Người đã đi và tin rằng đó cũng là con đuờng dẫn chúng ta đến sự sống đời đời.

Thật vậy, chính Người là Bánh trường sinh, là nguồn động lực giúp chúng ta sống và đến với nhau. Muốn đến với nhau thì chúng ta cần đến với Chúa truớc. Đến với Chúa, gặp gỡ Chúa rồi tin vào Chúa là việc làm của người tin hữu.

Vì thế, thưa anh chị em,

Tin rằng Chúa ở trong ta. Tin rằng việc đón nhận Mình Máu Thánh Chúa không làm cho mình thánh thiện hơn, mà là trở nên giống Chúa hơn, nên một với Chúa hơn. Có nghĩa là khi đón nhận Mình Máu Thánh Chúa trong bí tích Thánh Thể là lúc chúng ta cũng chịu lấy thần khí và sự sống của Người; đó cũng là thời khắc để Chúa trở thành sự sống và thần khí của đời ta.

Như thế, cuộc sống của chúng ta trở thành hiến lễ. Hiến lễ cũng trở thành cuộc sống. Hiến lễ và cuộc sống là một trong Đức Giê-su thế nào thì đối với chúng ta cũng như vậy. Chúng ta không thể tách cuộc sống của người môn đệ ra khỏi hành vi hiến tế của Chúa được. Đây là một cuộc gặp gỡ thật trọn vẹn nói lên sự hiện diện đích thật của Đức Kitô với Hội Thánh của Người để ban sự sống cho nhân loại.

Thật vậy, nếu không có Đức Giê-su thì cuộc gặp gỡ, mối dây hiệp thông dù mang tính hy tế cũng chỉ là các nghi thức. Và nếu chỉ là các nghi thức thì còn có ích gì! Có Đức Giê-su là có sự sống, và nếu bỏ Đức Giê-su, Thầy yêu dấu ra thì cuộc sống của chúng ta còn có ý nghĩa gì; lúc đó chúng ta còn biết đi theo ai nữa đây! Chỉ có Đức Giê-su Ki-tô vừa là Tin Vui vừa là Đấng trao ban sự sống cho chúng ta mà thôi. Đó là mầu nhiệm của niềm tin.

Chúng ta hãy hân hoan tuyên xưng niềm tin ấy trong Chúa Giê-su Thánh Thể, Người chính là Bánh trường sinh nuôi dưỡng muôn người qua muôn thế hệ. Bỏ Thầy rồi chúng con biết theo ai đây! Thầy chính là sự sống của chúng con. Không có Thánh Thể Chúa thì không có cuộc sống môn đệ. Xin cho cuộc sống của chúng con luôn gắn bó với Chúa và tha nhân. Amen!

Wednesday, 14 August 2024

THẾ NÀO LÀ Ở TRONG CHÚA?

 

Anh chị em thân mến,

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Gioan tiếp tục bàn về ý nghĩa của ‘Bánh trường sinh’, dẫn đưa chúng ta đi vào chiều sâu của phần suy tư mà Ngài và cộng đoàn của Ngài đã trải nghiệm về bí tích Thánh Thể.

Anh chị em tín hữu thuộc các giáo đoàn tiên khởi đã không chỉ tưởng nhớ đến Đức Giê-su, Đấng đã chết để làm chứng cho Tình yêu cứu độ của Thiên Chúa cho nhận loại, mà còn làm chứng rằng Đức Giêsu là Bánh Hằng Sống từ trời xuống và đang hiện diện với họ. Vì thế, trong phần kết luận của diễn từ, Thánh Gio-an tông đồ muốn nhấn mạnh đến tính hiện thực của bí tích Thánh Thể. Điều này đã được nói đến trong phần trên của bài diễn từ, còn ở đây được nói đến trực tiếp. Những điều Đức Giêsu nói trong diễn từ là một cách nói khác với các cử chỉ, ngôn ngữ của Chúa trong bữa Tiệc Ly. Chính vì thế, tác giả Tin Mừng thứ tư không thuật lại việc Đức Giêsu lập bí tích Thánh Thể trong bữa Tiệc Ly. Tác giả chỉ đưa ra những suy niệm rất phong phú trong bài diễn từ để giải thích dấu lạ hoá bánh ra nhiều. Chúng ta cùng nhau bước vào chiều sâu và hiệu quả của bí tích Thánh Thể đem lại.

Bí tích Thánh Thể là một mầu nhiệm không phát sinh từ nỗ lực tìm kiếm của con người; nhưng đó là việc Chúa đã cử hành như đã đuợc các sách Tin Mừng ghi lại, cụ thể trong trình thuật của Tin Mừng theo Thánh Mác-cô như sau: “Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: "Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy." Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người.”

Tất cả các hành động “cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao ban” của Đức Giê-su trong bữa tiệc vượt qua đã đuợc thể hiện trọn vẹn trong sự chết, cao điểm của mầu nhiệm hiến dâng mà Đức Giê-su đã thực hiện. Thân xác Người là tấm bánh mà Người đã bẻ ra và trao ban để nuôi sống muôn người. Cuộc sống và sứ vụ của Người là bài ca chúc tụng Thiên Chúa.

Đức Giêsu đã không trao cho chúng ta một kế hoạch, một chương trình để biến đổi xã hội. Người đã không đến để lãnh đạo một cuộc cách mạng chống lại sự chiếm đóng của đế quốc Rô-Ma. Thậm chí, Người cũng không phá hủy và quét sạch chế độ nô lệ mặc dù Người có ý làm như thế. Điều tiên quyết mà Người đã làm là ban chính mình để bộc lộ Tình Yêu khi Người dâng hiến bản thân cho Cha và Thánh Thần. Có nghĩa là Đức Giê-su đã trao ban cho chúng ta quyền thừa hưởng gia nghiệp của Nước Chúa, tạo cho chúng ta một cuộc sống nhằm giải thoát chúng ta khỏi quyền lực và ảnh hưởng của sự ác khiến cho chúng ta không còn phải chết nữa.

Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta tin rằng có một mối dây liên kết được thiết lập giữa chúng ta và Đức Kitô Phục Sinh. Người đã được sinh ra như chúng ta, trưởng thành và lớn lên theo năm tháng như chúng ta, và cuối cùng Người đã chết, nhưng không như chúng ta, Người đã Phục Sinh. Giờ đây, trong bí tích Thánh Thể, chúng ta làm chứng về sự Phục sinh của Người, Đấng đang sống và nuôi dưỡng để chúng ta đủ sức đi chung một con đường về nhà với Người.

Đức Kitô Phục sinh hiện diện với chúng ta trong Thánh Thể là sự hiện diện đích thật. Thân xác Phục sinh là một thân xác hoàn hảo mà Thiên Chúa đã trao ban lại cho Chúa sau cuộc hiến dâng trên Thập Giá của Người. Bằng vào thân xác đã được Phục Sinh, Đức Giê-su bây giờ có thể có mặt trong bí tích cho bất kỳ người nào khi Thánh Thể được cử hành. Đây không phải là hiện diện vật chất. Nhưng Chúa Giê-su đến với chúng ta bằng sự hiện diện bí tích của mầu nhiệm Thánh Thể, không chỉ đơn giản là một sự hiện diện bên chúng ta mà Người còn đem chúng ta đến tình trạng hoàn hảo ở trong Người nữa.

Trong bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu đến với chúng ta để chúng ta có thể ăn Mình và Máu Người. Đây chính là của ăn trường tồn và vĩnh cửu biến đổi thân xác chết dở của chúng ta thành thân xác vinh hiển của Đức Chúa. Lúc đó chúng ta làm cho Lời Chúa được ứng nghiệm, đó là: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy."

Tuy được ở trong Chúa là điều cần thiết, nhưng không quan trọng bằng việc Chúa ở trong ta. Có nghĩa là chúng ta tập sống từ bỏ để cuộc sống của mình nên giống Chúa. Người đã sống nhờ Cha. Người đã trở thành của lễ hiến dâng đẹp lòng Thiên Chúa và đã trở nên nguồn ơn cứu độ nuôi dưỡng thế gian và những kẻ thuộc về Người thế nào thì trong phận vụ của người môn đệ, chúng ta cũng đuợc hối thúc, để ngày qua ngày, với bí tích Thánh Thể chúng ta sống trong mối dây hiệp thông với Đức Ki-tô để trở thành của lễ hoàn hảo cho Thiên Chúa trong niềm vui phục vụ và trở thành của ăn cho nhau.

Tóm lại, rao giảng Nước Trời và phục vu tha nhân là nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng của người môn đệ. Nhưng, để chu toàn đuợc nhiệm vụ cao cả và quan trọng đó, chúng ta cần đuợc nuôi dưỡng bởi sức sống là Thánh Thể Chúa. Chính bí tích Thánh Thể là nguồn sức mạnh giúp chúng ta làm đuợc những việc mà thế gian không làm được. Thế gian có thể tạo ra những anh hùng nhưng không tạo thành người môn đệ. Người ta có thể hiến dâng vì lý tưởng. Nhưng người môn đệ hiến dâng mình vì Yêu. Nguồn ơn sức mạnh đó chỉ có trong Thánh Thể Chúa. Chúng ta chỉ có thể quên mình để phục vụ người khác hết lòng nếu chúng ta được nuôi dưỡng bởi Tình Yêu của Đấng đã hiến dâng và sẵn sàng chết vì yêu.

Như vậy, chạy đến với bí tích Thánh Thể để nên một với Chúa là nền tảng và mục tiêu trong cuộc sống của người môn đệ. Không có Thánh Thể Chúa, không có người môn đệ đích thật. Có nghĩa là, cho dù người môn đệ có làm đuợc bao việc cao cả đến đâu mà không phát sinh từ Thánh Thể Chúa thì giống như người khờ dại xây nhà trên cát. Ơn khôn ngoan đuợc trao ban để chúng ta chọn lựa sự sống và sự sống đó phát xuất từ Mình và Máu Thánh Chúa. Từ đó chúng ta mới có thể sống và đạt được nguyện ước là trong Chúa, chúng ta sống và trở thành của ăn nuôi dưỡng nhau. Amen!

Wednesday, 7 August 2024

NGUỒN SỐNG CHÍNH LÀ CHÚA.

 Anh chị em thân mến,

Thái độ buồn chán gần như tuyệt vọng của ngôn sứ Elia trong bài đọc một hôm nay khiến tôi nhớ lại cách ứng xử của một số người đã đối diện với các căn bịnh nan y. Họ đã trải qua những tháng ngày đau khổ trên giuờng bịnh. Có những lúc không chịu nổi, chán nản và tuyệt vọng cho nên họ đã thốt lên ‘sao Chúa không cất con về cho rồi, cứ để con phải đau khổ mãi thế này!’ Như Elia, đó chính là phản ứng mang tính rất con người của chúng ta. Nhưng thái độ của Elia không làm cho Thiên Chúa thay đổi ý định.

Trong phần tiếp theo, tác giả đã thuật lại việc Thiên Chúa sai sứ giả mang bánh cho ông ăn và nuớc cho ông uống; không phải một lần mà là hai lần. Sau khi được bổ dưỡng, ngôn sứ tiếp tục lên đuờng và hoàn tất cuộc hành trình, đến núi của Thiên Chúa. Như vậy, qua câu chuyện, chúng ta mới thấy lòng quan tâm, săn sóc của Thiên Chúa dành cho Elia và cả chúng ta nữa. Ngài luôn hiện diện để trợ lực và thêm sức giúp chúng ta vuợt qua các gian nan và thử thách để hoàn tất cuộc lữ hành.

Thiên Chúa sai sứ giả của Ngài mang bánh và nuớc đến cho ngôn sứ Elia cho nên ông mới hoàn tất cuộc hành trình. Còn chúng ta thì sao? Có được hưởng đặc ân như ngôn sứ đã được qua bàn tay của các thiên sứ hay không? Câu chuyện minh họa sau đây có thể đem đến cho anh chị em lời giải thích.

Xẩy ra là, dân chúng tại một khu làng kia đã phải chịu một trận lụt thật kinh hoàng. Cũng may là tất cả mọi người dân trong làng đều đuợc di tản đến khu an toàn, ngoại trừ một chàng thanh niên kia đã chọn không di tản vì tin vào việc Chúa sẽ đến giải cứu anh. Việc đầu tiên anh làm là trèo lên tầng thứ nhất của căn nhà để tránh ngập lụt.

Bỗng nhiên, có một người đàn ông chèo ca-nô đi ngang và hỏi anh có cần được giúp đỡ để đến khu an toàn không? Anh trả lời không vì anh tin rằng Chúa sẽ cứu anh.

Mực nuớc cứ tăng dần. Anh bó buộc phải trèo lên tầng hai. Lại có một chiếc thuyền máy đi ngang qua, viên tài công dừng lại và hỏi anh có cần được giúp đỡ hay không? Anh cũng từ chối và tin rằng Chúa sẽ cứu anh.

Mực nuớc tiếp tục dâng cao. Đến lúc này anh phải trèo lên mái nhà để tránh nạn. Bỗng nhiên, có một chiếc trực thăng bay ngang qua. Ông phi công mới hỏi anh có cần đuợc giúp đỡ để đến khu an toàn không? Lại một lần nữa anh trả lời không vì tin rằng Chúa sẽ cứu anh. Anh kiên quyết ngồi đó chờ Chúa.

Cuối cùng Chúa đến thật. Anh bị chết đuối và đưa về diện kiến Chúa. Trong giây phút đó, anh đã thân thưa với Chúa rằng: “Con đã hết lòng tin tưởng vào Ngài, tại sao lại để con bị chết đuối.” Chúa từ tốn trả lời anh: “Con ơi, Cha, không chỉ một lần mà là ba lần, đã sai ba sứ giả của Ta đến cứu con mà con có nghe đâu. Con từ chối sự giúp đỡ của Ta mà.”

Qua câu chuyện minh họa nói trên, chúng ta nhận ra mình cũng là sứ giả của Thiên Chúa. Thế mà, chúng ta có nhận ra vai trò sứ giả mà Thiên Chúa dùng để giúp nhau hay lại đi tìm các phương thế phi thường khác để nhận ra sự can thiệp của Thiên Chúa dành cho mình?

Như vậy, vai trò của thiên sứ trong bài đọc một đuợc hiểu như là sứ giả thực hiện lịnh truyền của Thiên Chúa. Và, chính Thiên Chúa mới là Đấng thêm sức bổ duỡng cho ngôn sứ chỗi dậy và đi tiếp. Thiên Chúa đã không nhận lời cầu xin của Elia, nhưng Ngài hiện diện trong lúc mà ngôn sứ cần đến Ngài nhất.

Trong tinh thần đó, qua bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta tiếp tục lắng nghe, đón nhận và đào sâu sự quan tâm và săn sóc của Thiên Chúa qua diễn từ bánh hằng sống của Đức Giê-su. Người chính là bánh trường sinh, bánh hằng sống từ trời xuống nuôi duỡng và ban thêm sức mạnh cho chúng ta đủ sức đến và cùng dắt tay nhau đi về nhà Cha. Nhưng để Đức Giêsu là sự sống đích thật cho chính mình, chúng ta đuợc mời gọi đến với Đức-Giê-su, một con người thật đã hiện diện giữa thế gian, và chúng ta tin rằng giờ đây Người còn hiện diện trong bí tích Thánh Thể.

Bắt đầu phân đoạn Tin Mừng hôm nay là sự chống đối của người Do Thái khi nghe Đức Giê-su công bố Người từ trời xuống. Chúng ta có thể thông cảm khi họ có cái nhìn định kiến về Đức Giê-su. Vì thành kiến nên họ không nhận ra quyền năng của Thiên Chúa hoạt động trong các kinh nghiệm rất đời thường mà họ đã có với Người. Mắt họ dán vào những dấu lạ bên ngoài mà quên đi một dấu lạ phi thường, đó là uy quyền của Thiên Chúa thường xuyên hiện diện và hoạt động trong các sự kiện bình thường nhất giữa chúng ta. Những gì mà chúng ta loại bỏ thì Thiên Chúa làm nên đá tảng để xây dựng cơ ngơi, nhà của Ngài.

Trước thái độ hoài nghi, vịn vào lý lẽ rồi từ khước đón nhận Đức Giê-su của người Do Thái, Đức Giê-su tiếp tục tỏ bầy cho họ biết rằng không ai có thể đến với Người trừ phi Chúa Cha là Đấng đã SAI Người, không LÔI KÉO kẻ ấy, và Đức Giê-su sẽ cho người ấy SỐNG LẠI trong ngày sau hết. Như vậy, việc chúng ta đến được với Chúa là một hồng ân.

Anh chị em thân mến,

Thật vậy. Hôm nay, Đức Giê-su đã tỏ bầy cho chúng ta một điều thật quan trọng. Việc chúng ta có thể đến được với Chúa có thể phát sinh từ niềm tin trong việc đáp trả lời mời gọi của Người; nhưng thật ra đó chỉ là điều thứ yếu. Thiên Chúa đã đi bước trước, đã hoạt động bằng cách ‘lôi kéo’ chúng ta đến với Ngài. Dĩ nhiên, Thiên Chúa không ép buộc chúng ta phải tin theo Ngài. Vì yêu thương Thiên Chúa tôn trọng quyền tự do mà Ngài đã ban tặng cho chúng ta. Nhưng không vì thái độ bất trung của chúng ta làm cho Ngài bỏ cuộc. Ngài luôn làm chủ công trình của Ngài là lôi kéo chúng ta về với nguồn ơn cứu độ đã xuất hiện nơi con người Đức Giê-su là Đấng được SAI đến từ Thiên Chúa.

Tìm đến với Đức Giê-su là tìm gặp được Thiên Chúa. Đến với Chúa không là hậu quả của sự số gắng tìm kiếm phát sinh từ con người. Nhưng đến với Chúa có nghĩa là đón nhận con người của Chúa. Thân thể Đức Ki-tô trở nên của ăn, Máu Người trở nên của uống nuôi sống chúng ta như Lời Chúa nói: “Ai đến với Người sẽ không hề đói. Ai tin vào Người sẽ không hề khát bao giờ”.

Đức Giê-su, hôm nay, cho chúng ta thấy Người là của ăn nuôi dưỡng và ai ăn bánh này sẽ được Chúa cho sống lại trong ngày sau hết. Ngày sau hết không phải là ngày trên quê trời; nhưng được bắt đầu trong mọi thời khắc của cuộc sống mình. Thời điểm nào cũng có thể là giờ phút sau hết của chúng ta. Vì thế, đến với Đức Giê-su như là của ăn đích thật ngay trong giây phút hiện tại là một bảo đảm cho chúng ta đuợc sống lại trong ngày sau hết.

Như vậy, một khi chúng ta được Thiên Chúa lôi kéo là lúc chúng ta chấp nhận từ bỏ quyền làm chủ bản thân để Thiên Chúa là Thiên Chúa thật, là Đấng ban sự sống, như Lời Người phán dậy “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” Anh chị em có tin điều đó không?

Dạ vâng, con tin Chúa là sự sống của chúng con. Amen!

Wednesday, 31 July 2024

CHÚA LÀ CỦA ĂN NUÔI SỐNG CHÚNG TA


Kính thưa anh chị em,

Có câu nói rằng: “Thiên Chúa chỉ cần một ngày để đưa dân Do Thái ra khỏi Ai Cập; nhưng Ngài lại dùng đến bốn mươi năm để đưa sinh hoạt, văn hoá, và lối sống của người Ai Cập ra khỏi người Do Thái.” Ý nghĩa của câu nói trên là đoạn đường về đất hứa tuy ngắn, nhưng Thiên Chúa cần bốn mươi năm để thanh luyện và giáo dục họ thoát khỏi các tập tục, lề thói mà họ đã bị nhiễm bên Ai Cập mà trở về với đặc tính dân riêng của Thiên Chúa và nhận ra sự chăm sóc của Ngài. Chúng ta cũng thế, Thiên Chúa luôn kiên nhẫn chờ đợi và hiện diện với chúng ta trong mọi tình huống của cuộc sống để giáo dục và giúp chúng ta nhận ra Chúa là Tình Yêu, là của ăn nuôi sống con người.

Hôm nay trong bài đọc thứ nhất, chúng ta nhận ra tính hờn dỗi và hay kêu trách của dân Do Thái. Cái gì cũng muốn. Họ chỉ muốn Thiên Chúa làm theo ý của họ. Khi còn bị làm nô dịch bên Ai Cập thì cầu xin Thiên Chúa giải thoát họ, đến khi đối diện với cơn đói khát trong sa mạc thì lại kêu trách, chẳng thà chết no bên nồi thịt tại xứ Ai Cập còn hơn là chết đói ở nơi hoang vu này.

Tâm tình đó dường như cũng xuất hiện trong bài Tin Mừng hôm nay. Sau khi được chứng kiến dấu lạ Chúa làm và bụng được no nê, đám đông bèn đi tìm Người. Khi tìm thấy Người và nghe qua cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su và họ, chúng ta mới thấy rõ lý do thầm kín bên trong cuộc săn tìm này. Họ tìm Chúa không phải để ca tụng vinh quang và quyền năng của Thiên Chúa qua việc Người vừa làm. Họ tìm Người vì nhu cầu được thỏa mãn, vì bụng được no nê. Họ chỉ dán mắt vào của ăn vật chất cần cho thân xác, cho nên đã không nhận ra tình yêu của Thiên Chúa qua dấu lạ Bánh hóa nhiều mà chúng ta mới nghe tuần trước. Thiên Chúa đã ban bánh cho họ để nuôi dưỡng thân xác thể lý của họ, nhưng nhu cầu của thân xác không phải là tất cả những gì họ và chúng ta cần quan tâm; còn một điều cao quí hơn, đó chính là tình thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta qua từng biến cố của cuộc sống.

Phần Đức Giê-su, tuy Người đã chạnh lòng, tâm hồn Người rối bời trước cảnh tất bật, lang thang trong cuộc tìm kiếm người chăn chiên của đám đông. Nhưng, không vì thế mà Người chiều theo các yêu cầu vật chất của họ. Người có thể làm thêm vài phép lạ ‘bánh hoá nhiều’ khiến họ khỏi đói. Rồi sau này họ sẽ ra sao! Bánh ăn rồi sẽ phải đói. Nuôi ăn một vài bữa chứ ai nuôi cả đời. Vì thế, Đức Giê-su muốn dậy họ nhớ rằng thay vì tìm bánh nuôi ăn tạm thời thì hãy nỗ lực tìm bánh hằng sống, đó chính là Đức Giê-su. Người đến để thực hiện ý định của Cha Người. Ý của Cha Người là qua Đức Giê-su, Thiên Chúa muốn họ tìm những gì sâu xa và trường tồn hơn. Người nói: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.”

Thưa anh chị em,

Như thế, điều duy nhất mà Đức Giê-su muốn là chúng ta hãy tin vào Người. Tin ở đây không chỉ tóm gọn như một nhân đức hay là chấp nhận một số tín điều nào đó trong Hội Thánh. Nhưng niềm tin cần được thể hiện bằng công việc mà Thiên Chúa muốn chúng ta làm.

Tin Đức Giê-su là Đấng nuôi sống chúng ta. Tin vào Lời Người phán hôm nay rằng ‘ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!’ Vì chính Người là Bánh trường sinh, là nguồn sống cho chúng ta đến với nhau. Muốn đến với nhau thì chúng ta cần đến với Chúa truớc. Đến với Chúa là một hành động của niềm tin. Tin rằng Chúa ở trong ta. Tin rằng việc siêng năng đón nhận ‘Mình Thánh Chúa’ không làm cho mình thánh thiện hơn, mà là trở nên giống Chúa, nên một với Chúa. Nên một với Chúa không phải để cho mình trọn hảo, nhưng đó là nguồn động lực thúc đẩy chúng ta đến với nhau như là anh chị em một nhà, cùng chia sẻ một niềm tin, cùng đến và trao cho nhau một lòng mến. Có như thế, chúng ta mới đủ can đảm và dũng mạnh chia sẻ cuộc đời mình cho nhau.

Nhưng, nhìn vào thực tế và với lòng can đảm chúng ta phải nhận định rằng đã có bao nhiêu người sống đúng lời mời gọi của Chúa hôm nay! Đến với Chúa qua việc siêng năng đón nhận ‘Mình Thánh Chúa’ thì nhiều, nhưng mấy ai trong chúng ta đã để cho ‘Bánh’ mà chúng ta lĩnh nhận biến đổi chúng ta giống Chúa Ki-tô, để trở thành của lễ hiến dâng cho Thiên Chúa và san sẻ cuộc đời cho nhau và cho thế giới; hay là chúng ta lại hành xử giống như người Do Thái, chỉ biết đến với Người nhằm thỏa mãn nhu cầu riêng của mình. Thậm chí, có một số người lập ra các bảng thông kê, những bó hoa thiêng ghi lại bao nhiêu lần họ đã rước lễ để báo cáo thành tích và cùng tôn vinh nhau. Như vậy, liệu chúng ta có khác người Do Thái cùng thời với Đức Giê-su hay không?

Tuy nhiên, không vì các hiện tượng tiêu cực đó mà chúng ta quên đi các giá trị cao siêu mà Mình Thánh Chúa đã đem lại cho chúng ta. Tôi vô cùng ngưỡng mộ và kính phục thái độ của một số người khi đón nhận Thánh Thể Chúa. Chúng ta không cần biết họ là ai? Quá khứ họ ra sao? Nhưng chỉ nhìn thái độ cung kính với lòng mến yêu khi đón nhận, chúng ta cũng nhận ra sức mạnh của Đức Ki-tô trong tấm bánh đã tác động và ảnh hưởng trong cuộc sống họ ra sao.

Đó là chưa kể đến một số trường hơp ngoại lệ mà tôi nghe đuợc trong các trại cải tạo. Cho dù vẫn biết rằng việc cử hành và đón nhận Thánh Thể Chúa sẽ đem lại thêm nhiều nguy hiểm cho anh chị em đang bị giam cầm tại các nơi đó. Nhưng nếu họ không nhận ra đó là nguồn sống đích thật thì mấy ai trong anh chị em có đủ can đảm để làm những việc liều lĩnh như thế. Tôi luôn dành cho họ lòng mến yêu và cảm phục.

Thật vậy, cùng với họ, chúng ta tin Đức Giê-su, Đấng không chỉ làm ra bánh nuôi chúng ta, nhưng chính Người là của ăn đích thật, không chỉ bẻ ra một lần mà từng giây từng phút đã trở thành mảnh vụn nuôi sống và hoà tan vào trong cuộc sống của những người môn đệ, những kẻ đặt trọn niềm tin và cuộc sống vào tay Người cho tha nhân.

Khi xưa, Đức Giê-su đã dùng cả cuộc đời để chỉ dâng một Thánh Lễ! Hôm nay, từng giây từng phút trong lòng Hội Thánh đang có hiến lễ được dâng. Vì vậy, anh chị em hãy tin rằng, trong từng hơi thở sống động của Hội Thánh, hoà chung với mọi diễn biến xẩy ra trong vũ trụ này, ngay cả sự bấp bênh mà chúng ta phải đối diện trong cuộc sống đều là những cơ hội mà Đức Giệ-su muốn dùng và biến chúng ta thành những miếng bánh, do chính Người bẻ ra, để nuôi sống nhau, đặc biệt cho những ai tin Người là Bánh Trường Sinh, là Đấng ban sự sống. Amen!

Thursday, 25 July 2024

HÃY TRAO RỒI CHÚA SẼ BAN


Bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe hôm nay là một trong những dấu lạ, được trích dẫn từ Tin Mừng theo Thánh Gio-an. Và trong các Chúa Nhật của những tuần kế tiếp, chúng ta sẽ được nghe Đức Giê-su giải thích ý nghĩa về dấu lạ mà chúng ta hay gọi đó là diễn từ bánh hằng sống. Nói khác đi, trong phần phụng vụ Lời Chúa của thời gian này, chúng ta được Thánh Gioan mời gọi, cùng với ngài, một lần nữa đào sâu phần suy niệm về Bí Tích Thánh Thể và về cách thức đáp trả bằng đức tin về Mầu nhiệm do chính Đức Giêsu cử hành và diễn giải.

Truớc tiên, trình thuật phép lạ Bánh hóa nhiều dường như đã đuợc lưu truyền bằng cách kể truyện cho nhau nghe, trước khi các Thánh sử ghi lại trong sách Phúc âm. Trong khi các sách Tin Mừng nhất lãm (Mat-thêu, Mác-cô và Lu-ca) đều ghi lại việc Đức Giê-su lập bí tích Thánh Thể thì Thánh Gio-an lại không có trình thuật này; nhưng để bù lại, ngài đã dành nguyên một đoạn, đó là đoạn 6 để bàn về chủ đề: Đức Giê-su là sự sống đích thật cho những ai tin vào Người.

Không giống như các sách Tin Mừng khác, Thánh Gio-an không dùng từ phép lạ, thay vào đó ngài dùng cụm từ ‘dấu lạ-sign’ để nói về biến cố này. Theo ngài, phép lạ tuy quan trọng, nhưng diễn từ giải thích ý nghĩa của dấu lạ ‘bánh hoá nhiều’ thì quan trọng hơn. Người chính là Bánh Hằng Sống.

Tấm bánh mà Người nhận được từ bàn tay của em bé, một chú trẻ con không có địa vị và tiếng nói trong xã hội thời đó, có thể là dịp để Chúa thể hiện quyền năng của Người. Tấm bánh đó không chỉ nhắc lại cho dân Do Thái nhớ lại tình yêu thương săn sóc của Thiên Chúa, Đấng đã ban Manna nuôi sống họ trong hoang địa qua sự dẫn dắt của Mai-sen. Tấm bánh đó còn là dấu chỉ hướng họ về Thân Thể của Đức Ki-tô, Đấng sẽ dùng chính thân xác mình làm của ăn nuôi toàn dân.

Như vậy, dấu lạ hôm nay là một cơ hội để Đức Giê-su loan báo một sứ điệp quan trọng. Sứ điệp không chỉ đem lại sự sống cho thân xác; nhưng toàn diện, từ thân xác đến tâm linh, từ tư tưởng đến lối suy nghĩ, từ lời nói đến hành động của con người.

Kính thưa anh chị em,

Ý nghĩa thần học về bí tích Thánh Thể rất sâu xa và không thể nào có thể hiểu thấu một cách trọn vẹn. Con người ở các thời đại khác nhau có cách diễn tả khác nhau về mầu nhiệm mà họ đã lĩnh nhận. Mỗi giai đoạn lịch sử và qua từng thế hệ, con người bầy tỏ và sống niềm tin của mình cách khác nhau. Nhưng nói chung, niềm tin đó đều phải được trao ban và xuất phát từ Hội Thánh. Vì thế, đứng trước mọi mầu nhiệm trong đạo, cho dù cao siêu đến đâu, hay là đã đuợc giải thích tường tận và rõ ràng đến độ nào, rồi sau cùng chúng ta cũng quay về để đón nhận và sống chung một niềm tin với gia đình Mẹ Hội Thánh.

Nói như thế để xin anh chị em tạm dừng bàn về các điều sâu thẳm của mầu nhiệm Thánh Thể. Chúng ta hãy tự đặt mình trong vị trí và phản ứng của đám đông đứng trước biến cố này, rồi suy nghĩ và tìm ra cho mình một bài học. Phản ứng của họ trước tiên là thán phục, muốn tôn Chúa lên làm vua; thế mà sau khi nghe Chúa giải thích, họ liền bỏ đi hết, nghĩa là sao?

Đối với người Do Thái, dấu lạ bánh hoá nhiều hôm nay làm cho họ nhớ lại bàn tay Chúa đã dẫn dắt họ vuợt qua biển đỏ duới sự lãnh đạo của Mai-sen trong thời xuất hành. Từ đó, cho dù chứng kiến các việc Chúa làm khiến họ nhận ra vai trò ngôn sứ của Đức Giê-su. Nhưng, với hoàn cảnh đất nuớc đang bị đô hộ, dân chúng trải qua muôn vàn đau khổ, mọi đắng cay đang dầy xéo thân xác và tâm can họ, thì làm sao họ có thể nhận ra và đánh giá đúng việc làm và chân tướng của Đức Giê-su được. Tầm nhìn của họ tuy thực tế, nhưng lại thiển cận, bị ước vọng chính trị che khuất. Họ chỉ nghĩ đến những gì có thể xẩy ra trước mắt.

Trong tâm tình và lối suy nghĩ đó, họ có thể nghĩ rằng Đức Giê-su là vị lãnh đạo mà Thiên Chúa sai đến để cứu thoát và giải phóng họ như Thiên Chúa đã làm qua bàn tay của Mai-sen khi xưa. Vì thế, họ muốn ép Đức Giê-su lên làm vua để Người thực hiện ý muốn và yêu cầu của họ. Họ đã để cho ước muốn và các ý nghĩ sai lầm hướng dẫn cách nhìn của họ. Thay vì tìm ra ý nghĩa của dấu lạ để tìm ra chân tướng đích thật của Đức Giê-su như là Đấng được Thiên Chúa sai đến, thì mắt họ lại chỉ dán vào bánh, của ăn chóng qua nuôi sống nhất thời cho thân xác của họ mà thôi.

Đức Giê-su đã sinh ra, lớn lên và sống cùng thời với họ; cho nên Người hiểu lối suy nghĩ mang tính phù phiếm ấy. Hơn nữa, cũng vì lối suy nghĩ này cho nên đã phát sinh ra các nhóm bạo động nổi lên chống lại chính quyền, hậu quả là bị đế quốc Rô-ma tiêu diệt; cho nên Đức Giê-su không muốn bị dính líu vào các phong trào đấu tranh cực đoan và mang sắc thái chính trị như thế. Cho nên, Người tìm cách né tránh các lối hiểu lầm có thể làm sai đi ý nghĩa của sứ vụ mà Chúa Cha đã tín thác và trao vào tay Người.

Chúng ta nên thông cảm cho các nhận định sai lầm của họ. Rồi ra và suy cho cùng thì lối suy nghĩ và thái độ cư xử của chúng ta cũng như họ mà thôi! Nói như vậy, không có nghĩa là chúng ta hãy quên đi bổn phận xây dựng trời mới, nghĩa cử yêu thương và giúp đỡ những ai đói kém hay sao? Không phải thế, tất cả chúng ta đuợc mời gọi đi vào các cơ cấu của trần gian mà làm cho nó tươi đẹp hơn, công bằng hơn. Nhưng hãy nhớ rằng, vinh quang của chúng ta không dừng lại ở các công việc đó. Hướng về Thiên Chúa bằng con tim mở rộng để nhận biết rằng chỉ có Chúa thì chúng ta mới hoàn thành đuợc các dự án mục vụ, không phải theo ý mình mà là theo ý Chúa.

Xin hãy để cho Chúa làm việc của Người. Chỉ có Đức Giê-su mới đủ uy quyền giúp chúng ta thực hiện kế hoạch và các dự án của Người mà thôi. Chúng ta chỉ là những chú bé với vài chiếc bánh và mấy con cá để trao tặng lại cho Người. Phần làm cho mọi người khỏi đói, trong đó kể cả chúng ta, là việc của Người.

Anh chị em thân mến.

Khi xưa Người đã cầm trên tay tấm bánh cuộc đời mà chia sẻ cho mọi nguời được no nê mà còn dư thừa thế nào, thì ngày nay, Lời của Chúa vẫn còn đủ năng lực và uy quyền như thế; miễn là chúng ta, đừng ai làm thay Người, tự đưa ra một phương án chính trị rồi lôi Người vào. Hãy làm việc để Nước Cha trị đến, Vương Quyền Cha bao phủ trên mọi cách cư xử của chúng ta trước, rồi mọi sự sẽ được cho thêm và trở thành hoàn hảo hơn.

Tóm lại, cuộc sống và những gì chúng ta có không bao giờ thuộc về chúng ta. Trước hết, tất cả đều thuộc về tài sản của Thiên Chúa. Chúng ta là những món quà trân quí đến từ Thiên Chúa cho thế giới này. Và Đức Giê-su, qua dấu chỉ hôm nay, đã đến để mở tấm lòng và bàn tay của chúng ta cho những người xung quanh. Giống như Người, chúng ta hãy cố gắng sống để trở thành nguồn trợ lực và giúp nhau hoàn thành sứ mạng trở thành món quà như ‘tấm bánh của Thiên Chúa’ ban cho thế gian đầy bão tố này. Amen!

Wednesday, 17 July 2024

HÃY NGHỈ NGƠI CHO LẠI SỨC.


Kính thưa quí ông bà và anh chị em.

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại việc các môn đệ trở về, ngồi chung quanh Chúa. Các ông tranh nhau kể cho Chúa nghe về các việc các ông đã làm. Với tâm hồn của một người cha, Chúa biết các ông rất mệt cho nên Người đã khuyên họ lánh vào nơi hoang vắng để nghỉ ngơi cho lại sức. Nhưng đám đông dân chúng, khi nghe biết nơi Chúa và các môn đệ chuẩn bị đến thì họ đã đến đó trước. Thấy lòng khao khát của họ, Chúa động lòng thương, buông bỏ ý định nghỉ ngơi và tiếp tục giảng dậy cho những ai tìm đến với Người.

Trình thuật Tin Mừng tuần này tuy ngắn gọn nhưng diễn tả dung mạo của Đức Giê-su thật thân tình, gần gũi và đầy tình người. Người cho chúng ta biết tâm tình của một tôn sư, một ông thầy vĩ đại, một vị thầy luôn lo cho việc học và sự phát triển của học sinh lên hàng đầu, dù phải hy sinh thời gian và công sức của mình.

Khi trao cho các Tông đồ quyền tham gia vào sứ mạng của Người, Đức Giê-su không chỉ tin mà còn muốn họ nhớ rằng không ai có thể trao cho người khác điều mà họ không có. Muốn lo cho người khác thì các ông phải lo cho bản thân mình trước. Trong tâm tình yêu mến, với một thái độ rất ân cần trong việc chăm sóc toàn bộ cuộc sống của các Tông đồ, cho nên Chúa mới khuyên họ tìm một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi cho lại sức.

Khi đưa cho họ lời khuyên này, Đức Giê-su nói lên lòng quan tâm của Người đến toàn bộ con người của người môn đệ hơn là công việc, Người muốn các ông noi gương Người khi yêu cầu họ nghỉ ngơi. Cả các con nữa hãy dành những giây phút để lắng đọng tâm hồn, để múc lấy nguồn năng lực rồi mới có thể trao ban. Có nghĩa là, muốn cho công việc rao giảng đuợc bền lâu các Tông đồ cần ý thức rằng nghỉ ngơi cũng là một phần của sứ vụ. Trong giây phút đó họ không hưởng thụ, nhưng nạp thêm sức lực để công việc phục vụ được hữu hiệu và lâu dài hơn.

Tuy ý định của Đức Giê-su thật tốt, nhưng mọi nỗ lực, cố gắng để tìm một giây phút cho tâm hồn đuợc thư dãn và thân xác được nghỉ ngơi cũng không thực hiện được, bởi vì đám đông dân chúng đã chạy đến trước nơi Thầy trò sắp đến.

Trước cảnh tượng đó, lòng dạ của Đức Giê-su rối bời. Người sững sờ nhìn họ, nhìn những khuôn mặt mệt nhọc, những buớc chân lê thê trên đường theo Người. Đứng trước cảnh tượng như thế, lòng Chúa bị quặn đau, ruột gan Chúa như bị đứt ra từng khúc một. Người biết họ đang khao khát điều gì. Người không thể bỏ rơi khiến họ phải bơ vơ và lạc bước. Với tấm lòng của người cha nhân hậu, trái tim Chúa đau nhói vì đám đông theo Người như bầy chiên không người chăn dắt. Người không đành để họ bơ vơ, nên đành buông bỏ ý định đi nghỉ ngơi và tiếp tục lo lắng và giảng dậy cho họ.

Thưa quí ông bà và anh chị em,

Khi nghĩ đến điều này, tôi nhớ đến các gương sáng của các đấng đã noi gương Đức Giê-su, sẵn sàng hy sinh buông bỏ tất cả để lo cho đàn chiên, nhất là lo cho những ai bị bỏ rơi, không người chăm sóc. Và trong tâm tình chuẩn bị mừng lễ Thánh Tổ, xin mời anh chị em cùng ôn lại sự can thiệp của Thiên Chúa đã làm thay đổi hướng đi của một người cha, Đấng đã sáng lập một hội dòng mà chúng tôi diễm phúc được là thành viên, dù thuộc về tuyến nào. Ngài chính là cha Thánh An Phong.

Cha Thánh An Phong là một trong những mẫu mực điển hình. Trước khi sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế, ngài là một linh mục triều, dấn thân phục vụ giáo hội tại các giáo xứ. Với lòng hăng say và nhiệt thành, ngài đã miệt mài phục vụ giáo dân, khiến ngài bị kiệt sức. Vì thế bác sĩ đề nghị với ngài nên dành thời gian để nghỉ ngơi và dưỡng sức. Ngài chấp nhận lời đề nghị này và chọn đi nghỉ tại Scala, thuộc xứ Naples.

Nói là đi nghỉ, nhưng phong cảnh trữ tình và không khí trong lành tại Scala cũng không lôi cuốn được ngài. Trái lại, vừa đến Scala, Thánh An Phong đã nhận thấy những người nông dân, kẻ chăn chiên và dân chúng tại nơi đó đã sống trong cảnh bơ vơ, không ai đoái hoài, không ai quan tâm, không người chăm sóc! Như Đức Giê-su và các Tông đồ, thay vì nghỉ ngơi và dưỡng sức, cha An-Phong và các bạn lập tức mở lớp giáo lý buổi tối tại tư gia để dậy dỗ và chuẩn bị cho họ lĩnh nhận các bí tích. Nghe tiếng ngài, dân chúng thuộc các vùng lân cận lũ lượt kéo đến để nghe giảng dậy. Trông thấy họ, ngài chạnh lòng thương vì họ như những con chiên bị tan tác và không được chăm sóc. Với cảm nghiệm như thế, ngài nhận ra con đường Chúa muốn ngài phải đi, nên đã cùng với các bạn cùng chí hướng ngồi lại với nhau để sáng lập một nhà dòng mà ngày nay chúng ta gọi là Dòng Chúa Cứu Thế, một hội dòng chuyên lo cho những người bị bỏ rơi, bơ vơ không nơi nương tựa, những người nghèo khó.

Lại có một câu chuyện khác kể về gương sáng về sự từ bỏ ý riêng để tuân theo ý Chúa trong việc phục vụ tha nhân. Truyện kể như sau.

Tại một ngôi trường ở một thôn làng kia, có một cô giáo được đồng nghiệp tôn trọng, phụ huynh và học trò mến thương. Cô rất tận tâm trong công việc dạy dỗ học sinh của mình, không chỉ trong giờ học mà cả ngoài giờ. Tương lai của học sinh vừa là bổn phận và cũng là niềm vui của cô.

Vào một ngày kia, sau giờ tan học, có một nhóm học sinh đến tìm cô vì các trò gặp khó khăn trong việc làm bài tập. Dù đã rất mệt mỏi sau một ngày dài, cô vẫn kiên nhẫn giảng giải và hướng dẫn học sinh.

Noi gương Chúa Giê-su, cô giáo làng quê đã đặt việc học và sự thăng tiến của học sinh lên hàng đầu, dù phải hy sinh thời gian nghỉ ngơi và công sức của mình.

Lại có một ông bác sĩ kia, làm việc trong một bệnh viện lớn. Sau một ngày dài khám bệnh và phẫu thuật, ông rất mệt mỏi và muốn về nhà nghỉ ngơi. Nhưng, trong khi ông chuẩn bị ra về thì nhân viên trực báo tin cho ông biết rằng hiện có một bịnh nhân đang được xe cứu thương chở đến khẩn cấp, rất cần bàn tay tài hoa của ông. Cho dù rất mệt, ông bác sĩ quyết định ở lại để khám và nếu cần thì ông sẽ phụ trách chữa trị cho bệnh nhân.

Giống như Chúa Giê-su, bác sĩ này thể hiện lòng thương xót và trách nhiệm của mình đối với bệnh nhân.

Từ các trải nghiệm nói trên, tôi chợt nhớ lại tâm sự của một cha cố, tuy ngài đã qua đời, nhưng điều ngài nói vẫn lưu lại như sau: “Muốn công việc phục vụ người tất bạc, bơ vơ, nghèo khổ được hữu hiệu, anh em chúng mình, các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, không cần biết thuộc tuyến nào, cần phải có con tim rung cảm, con tim bị bốc cháy bằng trái tim nhân hậu và rực cháy lửa yêu mến của Chúa.” Và điều này cần đuợc áp dụng cho anh em có chung một đặc sủng với cha Thánh, rằng chúng ta không được phép bỏ rơi ai và đừng để ai bị bơ vơ!

Còn chúng ta thì sao? Tôi không phải là Chúa. Tôi không thuộc về nhóm 12. Và tôi cũng chẳng phải là Thánh An-Phong. Tôi không phải là cha, thầy hay một tu sĩ nào đó. Tôi không bằng cô giáo và thua xa vị bác sĩ tài hoa nói trên. Tôi chỉ là một người thật bình thường.

Đúng vậy, xin bạn đừng lo! Bởi vì Chúa không đòi chúng ta trao ban hơn điều chúng ta đã nhận. Vì thế, với niềm vinh dự được làm môn đệ của Chúa, được Chúa sai thì hãy nhân danh Chúa mà ra đi. Và, trước khi ra đi, chúng ta hãy tập để đôi mắt của chúng ta nhận ra dấu chân của những con người đang bơ vơ, lạc bước và không ai đoái hoài bằng đôi mắt từ bi, nhân hậu và luôn thương xót của Chúa trước. Amen!