Tuesday, 13 October 2020

THUỘC VỀ THIÊN CHÚA

 Anh chị em thân mến,

Có một thực tế mà chúng ta dường như nên chấp nhận, đó là việc tham gia vào các công cuộc đổi mới ‘môi trường’ theo đúng tinh thần của Phúc Âm vẫn còn xa lạ với cuộc sống đạo của nhiều tín hữu. Chúng ta vẫn thờ ơ và tỏ ra thiếu quan tâm với những gì đang xẩy ra trong xã hội. Chúng ta có khuynh hướng chấp nhận việc tách rời tôn giáo ra khỏi cuộc sống của người công dân. Nói cách khác, cuộc sống của chúng ta có thể chia thành nhiều mảng. Việc thờ phượng và yêu mến Chúa dừng lại trong các nghi lễ và bị cầm tù tại các khuôn viên của nhà thờ. Khi tham dự nghi lễ xong, vừa bước chân ra khỏi nhà thờ thì chúng ta đã trở về với cuộc sống khác, một con người thuộc về trần thế. Với lối sống như thế, chúng ta dần dần sẽ thiếu nhậy cảm với những điều tạo ra các bất công, không nhìn thấy các nguyên nhân tạo ra cuộc sống giai cấp và thiếu công bình trong đời sống.

Như anh chị em đã biết: công việc xây dựng và mở mang Nuớc Chúa không chỉ lệ thuộc và giới hạn bởi các việc làm trong các nghi thức phụng tự, như đọc kinh, tham dự những cuộc hành huơng, Thánh lễ hay các công việc đạo đức mà thôi. Nhưng đó cần bao gồm cả đời sống. Chúng ta không thể phân chia đời sống của chúng ta thành nhiều mảnh: như theo đạo rồi quên đời, theo Chúa rồi bỏ thế gian. Không phải vì yêu thuơng thế gian mà Thiên Chúa đã sai người Con duy nhất của Ngài đến thế gian đó sao! Và nhờ vậy, mà thế gian đã được cứu độ. Vì thế, cả hai mặt ‘đạo và đời’ cần được gắn bó với nhau. Và đó là điểm mà chúng ta cần lưu tâm trong lúc suy niệm bài Tin Mừng hôm nay.

 Trước tiên, chúng ta cần ghi nhận một điều là con người thường có khuynh hướng bắt tay với nhau để chống lại kẻ thù chung, đúng như câu mà chúng ta thường được nghe nói rằng “kẻ thù của kẻ thù ta là bạn ta!” Và hôm nay, trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su đã gặp phải tình huống đó. Những người thuộc nhóm Hê-rô-đê, là những người có địa vị trong guồng máy của đế quốc La-Mã và nhóm Pha-ri-siêu, họ nghiêm chỉnh trong việc tuân giữ luật lệ Do Thái. Tuy hai nhóm người này là đối thủ của nhau, nhưng hôm nay họ liên kết với nhau để cố gắng làm mất uy tín của Đức Giê-su hầu tiêu diệt Người.

Trước khi đặt câu hỏi, họ tán dương và ca tụng Đức Giê-su là Người tôn trọng sự thật, là Đấng chỉ bảo đường lành, là Thầy dậy đường công chính. Những lời ca tụng của họ không phát sinh từ ý ngay lành cho bằng bộc lộ ác ý để gài bẫy Người. Họ dương dương tự đắc và nghĩ rằng Đức Giê-su sẽ bị bí với câu hỏi mà họ nghĩ rằng rất phức tạp, đó là “có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không?”

Nếu câu trả lời của Đức Giê-su là “không” thì nhóm người thuộc nhóm Hê-rô-đê sẽ bắt Chúa vì tội xúi giục dân chúng làm loạn qua việc không nộp thuế cho đế quốc La-Mã. Còn nếu Đức Giê-su trả lời "có" thì những người phe Pha-ri-siêu sẽ thừa dịp này mà tố cáo Chúa là người thân với chính quyền bảo hộ, hà hiếp và bóc lột dân chúng. Người không xứng đáng là người lãnh đạo tôn giáo (vì không làm theo ý của họ!)

Theo như cách suy nghĩ và lối suy luận của họ thì Đức Giê-su chắc chắn bị rơi vào bẫy. Người sẽ không còn đường thoái thác. Đức Giê-su không còn chọn lựa câu trả lời nào khác, ngoại trừ có hay không. Một là phải nộp thuế hai là không nộp thuế. Đường nào cũng dẫn Đức giê-su vào ngõ cụt. Nhưng câu trả lời của Đức Giêsu làm cho cả hai nhóm không bắt bẻ được Người, đồng thời Đức Giêsu còn nhắc cho họ biết sự thật đã được mạc khải từ khi tạo dựng đó là con người thuộc về Thiên Chúa thì hãy trả lại cho Ngài những gì mà Thiên Chúa đã dựng nên. Còn những gì mà họ đang nhìn thấy trước mắt thì hãy trả cho Xê-da.

Anh chị em rất thân yêu,

Chúng ta hãy ngồi xuống mà suy nghĩ rồi nghiêm túc nghiệm lại xem có một vật gì hay một thứ gì hiện diện trong trời đất này mà không thuộc về Thiên Chúa hay Thượng Đế hay chăng? Thiên Chúa đã tạo dựng nên mọi sự từ hư không, và đỉnh cao của chương trình tạo dựng của Thiên Chúa là con người, con người là “hình ảnh Ngài.” Sự sống đang luân chuyển trong ta đã được diễn tả qua việc thổi hơi, ban sự sống, trao sinh khí cho con người. Vì thế không có gì chúng ta có được mà không phát sinh và ban tặng từ Ngài.

Vậy, nếu không trả về cho Thiên Chúa những gì thuộc về Ngài, không hướng về Thiên Chúa những gì trong vũ trụ hay tất cả những gì ta đang hưởng dùng thì đó là thái độ bất trung. Một khi, chúng ta chiếm mất vị trí của Thiên Chúa, tự mình làm chủ, lấy mình làm tiêu chuẩn cho mọi phán đoán, bộc lộ tính kiêu ngạo và hất Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống mình và tha nhân thì chúng ta sẽ chuốc lấy tranh chấp, hận thù, bạo lực và hủy diệt mà thôi

Vì thế, bao lâu con người không nhìn nhận Thiên Chúa là Cha yêu thương, là Chủ tể của mình, không qui hướng tất cả những gì con người có được về Ngài, không để cho Thiên Chúa chiếm chỗ nhất trong cuộc sống của mình, không cảm nhận lòng thương xót và tính quảng đại của Thiên Chúa đang hoạt động trong ta thì bấy lâu con người không thể xây dựng một xã hội nhân bản, không thể nào xây dựng một xã hội hiệp nhất và an bình, trong đó mọi người yêu thương, kính trọng và mến mộ nhau như anh chị em trong gia đình có Thiên Chúa là Cha, đó là ý của câu trả lời của Đức Giê-su: trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa.

Hơn thế nữa, khi nói điều này, Đức Giê-su không có ý đưa ra một nguyện tắc chia quyền ‘Chúa một nửa, vua một nửa’, hay là phần thiêng liêng thì thuộc về Chúa, còn phần đời thuộc về vua. Người cũng không tranh dành uy quyền với các vị vua trần gian; bởi vì uy quyền tối thuợng và vững bền qua muôn thế hệ thuộc về Thiên Chúa; còn các vị vua, ông chúa, bà hoàng hay các vị thủ lĩnh trên thế gian đều là những người thừa hành; họ nối tiếp nhau cai trị thiên hạ; nhưng có ông vua hay bà chúa nào trường tồn quá một trăm năm đâu! Chỉ có uy quyền của Thiên Chúa mới tồn tại qua muôn thế hệ.

Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể bán cái và trả lại trách nhiệm trông coi và xây dựng vũ trụ này cho Thiên Chúa.

Trong khi thi hành sứ vụ mà chúng ta gọi là truyền giáo, giới thiệu và mở mang Nước Chúa, Đức Giêsu đã tỏ bầy cho chúng ta nhận biết về một Thiên Chúa không chỉ ở trên cao, nhưng Ngài đang đồng hành với cảnh ngộ và cuộc sống của từng người. Người nhập thể và chia sẻ mọi tình huống của con người: ai đau ốm Người chữa cho lành; ai gặp hoạn nạn, Người thuơng cứu giúp; ai đói khát, Người nuôi ăn; ai tội lỗi, Người ban ơn tha thứ; thậm chí Người hồi sinh cả kẻ đã chết… Người chu toàn mọi sự trong mọi người. Nhưng, có một điều thật rõ ràng là Đức Giêsu không làm thay chúng ta. Người trao và mời gọi chúng ta tiếp tay. Người không thể cứu giúp và làm cho mọi bịnh nhân thuộc mọi thời đại khác nhau được chữa khỏi; Người cũng chẳng làm cho mọi người đói, thuộc về các thời đại khác nhau được no nê. Đó là phần vụ của con người ở các thời đại khác nhau.

Do đó, khi chúng ta tiếp cận người nghèo, đến với những người bị bỏ rơi, tiếp đón những người bị khước từ là lúc chúng ta đang cố gắng hết sức để cho Thiên Chúa họat động trong toàn bộ, cũng như trong mọi lãnh vực của cuộc sống chúng ta.

Vì thế, sứ điệp của bài Tin Mừng hôm nay, không chỉ được thu gọn trong việc đóng thuế xây dựng quốc gia nơi chúng ta đang sống hay là việc mở mang Nuớc Chúa. Nhưng, qua cuộc sống, chúng ta thực hiện để cho Thiên Chúa trở nên mọi sự trong chúng ta. Và, chúng ta, cũng như mọi sự của chúng ta, đều thuộc về Ngài. Hơn thế nữa, chúng ta hãy sống mà trả lại cho Ngài, không chỉ quan tiền của Xê-da, mà còn là mọi sự của chúng ta nữa. Amen!

 

 

Tuesday, 6 October 2020

SỰ CÓ MẶT LÀ QUÀ TẶNG CHO NHAU


Thưa anh chị em,

Có một điều mà chúng ta nên đồng ý với nhau, đó là lối kể truyện của Đức Giê-su thật đặc biệt. Các câu chuyện Người kể trong các dụ ngôn có sức mạnh khiến chúng ta phải suy nghĩ, chấp nhận thách đố và thay đổi. Như trong dụ ngôn ‘hai người con’, sau khi nghe xong, chúng ta phải chọn lối sống, xin vâng và sống điều xin vâng đó trong suốt cuộc đời. Rồi đến dụ ngôn ‘những người làm công sát nhân’, Đức Giê-su nhắc nhở cho chúng ta nhớ lại bổn phận của mình, chỉ là những người làm công trong vườn nho mà Thiên Chúa mới là chủ nhân, chúng ta không được phép tiếm quyền. Hôm nay, trong dụ ngôn tiệc cưới, Đức Giê-su cũng đưa ra sứ điệp thách đố và lời mời gọi chúng ta thay đổi lối sống hơn là những lời trấn an.

Vì thế, chúng ta đừng tìm hiểu và đọc các câu chuyện trong các dụ ngôn theo nghĩa đen mà phải tìm ra chân lý mà dụ ngôn ẩn chứa để thay đổi cách sống sao cho phù hợp với sự mới mẻ mà Đức Giê-su muốn dậy bảo.

Trước tiên chúng ta hãy tưởng tượng.

Anh hay chị đã bao giờ nhận được lời mời đến tham dự một bữa tiệc mà bạn thực sự không muốn tham dự? Bạn đã làm gì về điều đó? Tôi cá là bạn đã không ngược đãi, lạm dụng và giết người báo tin hay nhân viên đưa thư. Thế mà, đó là những gì đã xảy ra trong câu chuyện hôm nay.

Anh hay chị đã bao giờ hết lòng hết dạ khoản đãi những khách mời, cuối cùng họ lại không đến chưa? Các việc chuẩn bị như dọp dẹp nhà cửa, nấu ăn, trang trí phòng ăn thật ấm cúng. Mọi việc đã chuẩn bị sẵn sàng, gia nhân đã được chỉ bảo trong việc tiếp đón khách. Nhưng đến giờ khai tiệc vẫn còn một số khách không đến tham dự. Trong hoàn cảnh đó anh hay chị sẽ làm gì? Tức giận rồi cho gia nhân đi đốt nhà họ hay sao? Có lẽ bạn sẽ không làm điều đó. Thế mà, đó là những gì đã xẩy ra trong câu chuyện hôm nay.

Câu chuyện mà Đức Giê-su kể hôm nay tạo một cú sốc cho người nghe. Tuy nhiên chúng ta không nên hình dung và đi đến một kết luận cho rằng Thiên Chúa là một vị vua giận dữ, đã đối xử với những người không theo ý Ngài bằng cách sai quân binh đến hủy diệt dân tộc mình và đốt cháy thành phố của họ như đã được trình bầy trong dụ ngôn. Tất cả không phải sự thật mà Tin Mừng loan báo.

Dụ ngôn ‘tiệc cuới’ hôm nay ám chỉ đến bữa tiệc ‘cánh chung’, bữa tiệc trong Nước Thiên Chúa, trong đó chúng ta thấy dung mạo của một vị Thiên Chúa rất nhân từ, kiên tâm trong công việc. Bữa Tiệc do Ngài làm chủ. Ngài tự ý mở tiệc và cho gia nhân đi mời mọi người. Cho dù, khi gặp phản ứng khước từ của nhóm khách đầu tiên, nhà vua đã có nhận định là họ không xứng đáng. Lối nói này dẫn chúng ta thấy hành động sau đó của nhà vua cho gia nhân đi mời mọi người. Qua đó, chúng ta mới thấy tư cách được mời không phải vì họ xứng đáng, nhưng đây chính là tâm huyết và niềm vui của Ngài. Điều đặc biệt ở đây là Thiên Chúa không giữ ‘niềm vui’ cho riêng mình, nhưng Ngài đã tự ý chia sẻ niềm vui đó qua việc sai các sứ giả, hết nhóm này đến nhóm khác, mời tất cả mọi người, ở tất cả mọi nơi - từ các nẻo đuờng và trong các hang cùng ngõ hẻm - đến tham dự tiệc cuới.

Nhưng giữa hai nhóm được mời tham dự tiêc cưới có điểm khác biệt.

Sự khác biệt không phải là những người thuộc nhóm thứ nhất xứng đáng hơn những người thuộc nhóm sau. Những vị khách được mời đầu tiên là những người nhận được lời mời và sự ưu ái của nhà vua. Nhưng những vị khách được mời thứ hai cũng vậy. Và người đàn ông xuất hiện không mặc áo cưới cũng vậy. Họ đều được mời. Họ đều được ưu ái. Không ai trong số họ đã làm bất cứ điều gì để có thể cho rằng mình xứng đáng được mời. Chúng ta cũng thế.

Sự khác biệt không phải là nhà vua thích nhóm này hơn nhóm khác. Động lực duy nhất của nhà vua là muốn chia sẻ niềm vui, san sẻ trong bữa tiệc do Ngài khoản đãi. Điều này nói lên lòng đại lượng và tâm tình san sẻ của Thiên Chúa cho nhân loại. Thiên Chúa muốn mọi người tham gia vào niềm vui và những sinh hoạt trong gia đình của Ngài. Đây là một phần trong các sinh hoạt trong cuộc sống của Ngài. Tất cả những người được mời đều được trao cơ hội như nhau. Chúng ta cũng thế. Cơ hội luôn chờ đợi sự cộng tác và đón nhận của chúng ta.

Sự khác biệt không phải là một số khách tốt và những người khác xấu. Không có sự phân biệt hoặc đánh giá nào được thực hiện dựa trên hành vi, niềm tin, thái độ sống hay lối hành xử đạo đức. Ngược lại, với lần mời thứ hai, nhà vua cử người hầu của mình ra các đường phố chính với chỉ thị “gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới.” Và gia nhân đã làm như chỉ thị: đi ra các nẻo đường, gặp ai, không phân biệt tốt xấu, sang hèn, giầu nghèo, có địa vị hay không, mời hết khiến cho phòng tiệc cưới đã đầy khách dự tiệc. Chúng ta cũng thế, không phân biệt tốt xấu, ai ai cũng được mời.

Chỉ có một điều duy nhất phân biệt khách được mời đầu tiên với khách được mời lần thứ hai. Đó là cách thức hiện diện. Những vị khách được mời lần thứ hai đã lộ diện. Những vị khách được mời đầu tiên thì không. Phòng tiệc đã chật kín những vị khách được mời lần thứ hai nhưng những vị khách được mời đầu tiên đã không có mặt. Đó là sự khác biệt duy nhất giữa hai nhóm.

Thưa anh chị em,

Chìa khóa cho cuộc sống của chúng ta trong Chúa là sự hiện diện, sự có mặt. Chúng ta không thể tiếp tục thờ phượng và yêu mến Chúa và tha nhân một cách ‘online’ mãi. Chúng ta cần có mặt. Bây giờ hoàn cảnh chưa cho phép, nhưng không vì thế mà thay đối cách diễn tả. Chúng ta cần có mặt để san sẻ, thông cảm và trao ban. Không ai cứ ăn uống ‘online’ mà no thỏa hết. Nói ra thì dễ nhưng biểu lộ sự hiện diện của mình và chấp nhận sự có mặt của tha nhân trong ta không phải là việc dễ dàng. Muốn làm được điều này, chúng ta phải:

• Biết quên mình, nhận ra sư hiện diện của người khác, không như sự kỳ vọng hay ước muốn của chúng ta cho bằng chấp nhận sự hiện hữu của họ với tất cả giới hạn, yếu đuối và mỏng dòn của tha nhân.

• Từ bỏ cái tôi, mở lòng ra mà chấp nhận người khác và đưa họ hiệp thông với các sinh hoạt trong cuộc sống mình.

• Tìm kiếm để nhìn thấy họ vì họ chứ không phải là người mà mình mong ước.

• Lắng nghe tiếng nói của người khác vì tâm tư của họ hơn là chọn lựa chỉ để lắng nghe những gì mình thích.

• Sau cùng, chúng ta đem đến cho nhau tất cả.

Đó là những điều chúng cần làm để chấp nhận sự có mặt bên nhau. Một khi chúng ta không làm các điều này cho nhau thì làm sao chúng ta có thể xuất hiện và hiện diện bằng xương bằng thịt, với tất cả tâm hồn với anh em mình trong bữa tiệc cưới ‘cánh chung’ được!

Thay vào đó, chúng ta thường chọn đi trên những con đường riêng biệt, đến các trang trại, tham quan các cơ sở kinh doanh hay đi buôn. Chúng ta quá bận rộn, quá mệt mỏi trong công ăn việc làm để kiếm tiền và nuôi con cái ăn học. Lý do nào cũng khẩn cấp và hợp lý, còn giờ và năng lực đâu mà có mặt để cùng đi với người khác. Đó là những gì mà những người thuộc về nhóm thứ nhất đã làm. Điều mà họ thiếu sót, và có thể cũng là điều mà chúng ta không nhận ra, đó là sự sống đích thực chỉ có thể tìm thấy được trong Nước Thiên Chúa, trong các bữa tiệc do Thiên Chúa khoản đãi mà thôi. Chúng ta được mời và chấp nhận lời mời để cùng nhau hiện diện bằng sự có mặt mật thiết bên nhau trong Nước của Ngài. Từ đó, chúng ta nhận ra mình thật xứng đáng. Xứng đáng không phải vì mình nhưng vì Chúa nhận ra mình thật xứng đáng được yêu thương, xứng đáng được đồng bàn. Đó là lúc chúng ta đã thay đổi.

Thế nhưng chúng ta sẽ nói thế nào về người khách không mặc y phục lễ cưới trong nhóm thứ hai. Người ta có thể xếp anh vào loại người có niềm tin mà không có việc làm như được mô tả ở đoạn 2 trong thư của Thánh Gia-cô bê, Ngài nói “Đức tin mà không có việc làm là đức tin chết”, giống như đi vào phòng tham dự tiệc cưới mà không có y phục lễ cưới thì đáng bị ném ra ngoài.

Nhưng hôm nay, tôi nhận ra một điều khác ở người khách này. Khi bị hỏi: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà không có ý phục lễ cưới?” thì anh ta ngậm tăm, miệng câm và không nói được gì. Có một cái gì thiếu nơi anh. Anh không nói được điều nào hết! Anh tuy có mặt nhưng thật ra đã không hiện diện. Thân xác anh bất động ở đó, nhưng tâm hồn và các sự khác của anh đã thoát khỏi phòng tiệc. Anh có mặt như không có mặt. Cứ như thể anh không thực sự hiện diện nơi đó.

Sự thật này đã xẩy ra trong kinh nghiệm sống của chúng ta. Đã bao lần thân xác ta ở đó, nhưng lòng của mình đã bay tận chốn nào rồi. Tình trạng ‘đồng sàng dị mộng’ hay ‘lãnh cảm’ là thế đó. Sự thật này cũng đã xẩy ra trong cuộc sống của chúng ta với Chúa. Đã bao nhiêu lần, thân xác chúng ta trong nhà thờ mà lòng trí lại ở tận nơi đâu. Giống như thế, trong các mối tương quan, đã bao nhiêu lần chúng ta có mặt như không có mặt. Sống chung một nhà mà không muốn nhìn mặt nhau thì coi như người đó đâu còn hiện diện nữa.

Sau cùng, chúng ta hãy nhớ rằng: tiêu chuẩn mà chúng ta đuợc mời hoàn toàn không dưạ trên lòng đạo đức, thánh thiện hay là phẩm chất tốt của chúng ta. Tất cả được phát sinh bởi Thiên Chúa, từ lòng quảng đại của Người, Đấng tha thiết mời gọi chúng ta đến để chia sẻ niềm vui trong kho tàng ân sủng thật bao la của Người.

Như vậy, ý định của Thiên Chúa dành cho chúng ta là Ngài sẵn sàng chia sẻ với chúng ta sự giàu có trong các bữa tiệc của cuộc sống. Nhưng lòng quảng đại, nhân từ và kiên tâm chờ đợi của Thiên Chúa không bao giờ là một cái cớ khiến chúng ta tự mãn và coi thuờng rồi không hợp tác với Ngài. Chính việc chọn lựa không hợp tác, giống như người được mời mà lại không có y phục lễ cưới đã được mô tả trong dụ ngôn, có thể là nguyên nhân khiến chúng ta bị, hay tự mình, loại ra khỏi bữa tiệc của niềm vui.

Vậy, chúng ta cần có thái độ nào trong các lần gặp mặt, các bữa ăn - tiệc của đời sống, nhất là qua các bữa tiệc lòng mến (Thánh Lễ) mà chúng ta đuợc mời gọi chia sẻ với nhau bằng sự hiện diện đích thật, chứ không on-line, vào các ngày Chúa Nhật hàng tuần?

Uớc mong, chúng ta cùng cộng tác với lời mời chia sẻ niềm vui của Thiên Chúa, để mãi mãi, bằng cuộc sống, chúng ta cùng cử hành bữa tiệc niềm vui cho đến ngày chung kết. Amen!

 

Thursday, 1 October 2020

VƯỜN NHO CỦA CHÚA.

 

Anh chị em thân mến,

Theo thói đời, người ta thường có khuynh hướng tránh gặp những người có xung đột hay đối đầu với mình. Nhưng Đức Giê-su đã không làm như thế.

Trong các bản văn của Tin Mừng, đặc biệt Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, chúng ta được nhìn thấy mức độ căng thẳng trong mối quan hệ giữa Đức Giê-su và hàng ngũ lãnh đạo tôn giáo thời của Người. Họ quyết tâm tìm mọi cơ hội để gài bẫy và buộc tội hầu có thể tiêu diệt Đức Giê-su; nhưng không vì thế mà Người chịu lùi bước.

Tuần trước, Đức Giê-su đã dùng câu chuyện “hai người con” để mời gọi hàng ngũ lãnh đạo Do Thái giáo trở về cõi lòng mà nói lời “xin vâng” rồi hành động theo ý Thiên Chúa. Nhưng hình như sứ điệp của Người không phá tan được rào cản của quyền lực, nhất là ‘cái tôi” của họ, khiến họ không chịu hối hận mà trở về nẻo chính đường ngay. Trong bài nói chuyện tuần này, Người tiếp tục dùng thêm một dụ ngôn nữa để ám chỉ đến tấm lòng chai đá, đôi khi biến thành các hành vi tàn ác của họ.

Truyện kể về việc kinh doanh vườn nho. Có một ông chủ kia trồng được vườn nho. Ông rào giậu chung quanh. Trong vườn ông khoét bồn đạp nho và một tháp canh. Các chi tiết này ám chỉ cho chúng ta biết vườn nho thuộc về ông. Nhưng ông không tự mình trồng nho mà lại cho các tá điền thuê để canh tác. Sau đó, ông trẩy đi phương xa cho đến mùa thu hoạch mới sai sứ giả của ông đến để thu hoa lợi. Đến lúc này thì công việc kinh doanh vẫn hoạt động như bình thường, cho đến khi sự cố xẩy ra.

Trước khi tìm hiểu xem điều gì đã xẩy ra, xin mời anh chị em thử tưởng tượng xem có người làm thuê nào dám hành hạ và đánh đập những sứ giả mà ông chủ phái tới để thu hoa lợi hay không? Giả như những người đại diện của chủ bị hành hạ thì ông chủ sẽ có thái độ như thế nào? Hơn thế nữa, với tình hình của một quốc gia đang bị đô hộ thì người dân có quyền thế gì. Mọi thứ quyền lực thường nằm trong tay đế quốc, qua trung gian của mấy ông chủ, những người có mối quan hệ với đế quốc đang thống trị họ. Trong tình hình đó, ông chủ vườn nho (như mấy ông chủ đồn điền) sẽ sai quân binh đến để dẹp bọn tá điền phản loạn, làm gì có việc sai thêm nhóm khác và sau cùng lại gửi con ông đến để chịu chết như dụ ngôn kể lại. Và, thật nực cười khi chúng ta nghe lý do mà họ giết cậu con trai, đó là để đoạt gia tài mà cậu được thừa kế. Dù cậu có bị giết thì gia tài vẫn thuộc quyền ông chủ, cho đến khi nào mới về tay những kẻ làm thuê.

Đến lúc này, Đức Giê-su mới bộc lộ ý của Người qua câu hỏi: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn đã giết các sứ giả và người con thừa tự của ông? Câu trả lời của họ thật rõ ràng: Ông sẽ tru diệt bọn ác nhân và trao cho nhóm tá điền khác canh tác, để cứ đúng mùa, họ sẽ nộp hoa lợi cho ông.

Sau câu trả lời thật hiển nhiên đó, họ thấy chính họ trong câu chuyện. Họ hiểu ý mà Đức Giê-su kể trong câu chuyện hôm nay. Người có ý mời gọi các vị lãnh đạo, các chức sắc hãy nhận ra sứ điệp của Người mà thay đổi cách sống. Nhưng họ không động lòng để hối cải. Than ôi, họ ngoan cố tiếp tục tìm cách bắt Đức Giê-su!

Thưa anh chị em,

Đối với các thành viên trong cộng đoàn của Mát-Thêu thì bài Tin Mừng này có thể được giải thích đó là việc dân Do Thái đã lạm dụng vai trò canh tác vườn nho của Thiên Chúa. Họ được mô tả như những người làm thuê, nhưng lại không chấp nhận thân phận của mình, trái lại họ đã cư xử như một ông chủ; không có lòng nhân từ và kiên nhẫn. Với cách hành xử rất thô bạo, bằng bạo lực họ đã cuớp quyền sở hữu, giết các sứ giả do chủ sai đến. Họ, từ vị trí của những người làm công, đã thiết lập các qui tắc, rồi cuớp đoạt và tự hành xử như một ông chủ. Họ tìm cách loại bỏ Người. Vì quyền lợi riêng tư nên họ đã từ chối đón nhận Đức Giêsu và nguồn ơn cứu độ của Người.

Tuy nhiên, câu chuyện không kết thúc ở hành động khuớc từ của họ. Thiên Chúa, Đấng làm chủ vườn nho tiếp tục mời gọi và sai các nhóm tá điền khác đến để canh tác. Nói cách khác thì vườn nho không bao giờ bị bỏ hoang! Một ngôi nhà mới sẽ được cất lên, một triều đại mới sẽ được khai sinh trên hòn đá tảng là chính Đức Kitô. Đây chính là công việc của Thiên Chúa, Đấng làm chủ vườn nho của Người.

Thật tuyệt vời cho chúng ta khi nhìn thấy hay nhận ra bao công trình mà Chúa đã xây dựng trong vườn nho của Người, trong cuộc đời của mỗi chúng ta nữa. Quả thật, chúng ta hãy nhận ra rằng việc được làm việc trong vườn nho của Chúa là một hồng ân, hồng ân đó hoàn toàn không lệ thuộc vào tài năng hay phẩm chất của con nguời. Đó là một món quà nhưng không của Thiên Chúa ban, không chỉ cho riêng mình, nhưng qua công sức, chúng ta làm cho món quà đó mỗi ngày mỗi lớn hơn để chia sẻ cho tha nhân. Có như thế, chúng ta mới xứng đáng là người thợ luôn tìm cách sinh hoa lợi cho ông chủ trong mùa thu hoạch. Và trong khi chờ đợi mùa thu hoạch, Thiên Chúa vẫn kiên tâm chờ đợi, không thu động nhưng rất tích cực, bằng cách tiếp tục sai hết lớp thợ này đến lớp thợ khác đến để canh tác trong vườn nho của Người. Sau cùng Người sai người con thừa tự, hy vọng rằng họ sẽ nể Người mà cộng tác với người con đó. Nhưng than ôi! Họ đã nhẫn tâm giết luôn người con. Tuy nhiên, việc con người nhẫn tâm và tàn ác cũng không thắng nổi sức mạnh và công trình của Thiên Chúa. Thật vậy, Đức Giê-su đã nói: “…Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.” Tảng đá mà Đức Giêsu nói ở đây là chính bản thân Người, là thân thể của Đức Ki-tô.

Theo thiển ý của tôi, khi nhắc lại công trình của Thiên Chúa, Thánh sử muốn đề cao quyền làm chủ của Người và nhắc chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa có dự án của Người. Cho dù con người có bất trung hay hành xử bất kính và bạo lực cũng không phá hủy được chương trình của Người.

Họ nghĩ là họ đã thành công trong ý đồ xấu xa của họ là loại bỏ Tảng đá. Nhưng, với bàn tay của Thiên Chúa, do công trình của Người, tảng đá đó trở nên tảng đá góc tường.

Họ nghĩ rằng họ đã giết được Con Thiên Chúa. Nhưng, Đức Giê-su qua sự chết, Người đã chiến thắng thần chết. Qua việc chết đi cho ý riêng, Người đã biểu lộ lòng vâng phục ý của Thiên Chúa. Sau cùng, Thiên Chúa đã siêu tôn Người Con và tiếp tục làm chủ công trình của Người.

Còn chúng ta, việc canh tác làm cho vũ trụ, vườn nho Hội Thánh, vườn nho gia đình, cộng đoàn hay xã hội được đổi mới và phát triển là trách nhiệm và phần vụ của mọi người. Phần vụ này không thuộc về riêng ai: Do Thái hay dân ngoại, ai ai cũng được mời gọi. Phần  chúng ta, hãy luôn hỏi mình rằng chúng ta đã sống như thế nào để xứng đáng với vai trò mà Chúa đã trao phó trong công việc canh tác vườn nho của Người? Và, trong việc canh tác mà Chúa đã trao phó cho chúng ta đã thực hiện thế nào? Không tự xét mình, chúng ta có thể giống như hàng ngũ lãnh đạo mà Đức Giêsu đã nhắm đến trong bài Tin Mừng hôm nay!

Vẫn biết, cuối cùng thì Nước Thiên Chúa sẽ toàn thắng. Chúng ta không đuợc phép thất vọng. Tuy nhiên, việc sinh hoa lợi là phần phúc mà Chúa đang chờ đợi bàn tay con người. Hãy làm tất cả để vườn nho của Thiên Chúa, thân thể của Đức Ki-tô được sinh hoa kết trái dồi dào và phong phú hơn!

Hãy nhớ rằng vườn nho thuộc về Thiên Chúa, vườn nho là của Người. Chúng ta chỉ là những người cộng tác, hết nhóm này đến nhóm khác, hết thời này đến thời kia, Thiên Chúa vẫn làm chủ. Và, cho dù chúng ta bất xứng, nhưng Thiên Chúa luôn thành tín với dự án của Người. Đừng bao giờ có ý nghĩ chiếm hữu vườn nho cho riêng mình. Đừng bao giờ để cho thành quả của công việc làm thay đổi căn tính phục vụ của mình. Hãy sống trọn vẹn vai trò thừa tác, chu toàn bổn phận của người cộng sự mà làm cho Danh Chúa được cả sáng và Vườn nho của Chúa, là Thân Thể của Đức Ki-tô, được sinh hoa kết trái theo ý Người. Amen!

Tuesday, 22 September 2020

ÂN SỦNG THAY ĐỔI CON NGƯỜI

 

Anh chị em thân mến,

Trong dụ ngôn hôm nay, Ðức Giêsu cho chúng ta thấy hai lối sống đối nghịch của hai người con. Cả hai người con, chẳng cậu nào làm vui lòng cha mình hết. Cậu thứ nhất, trước tiên không vâng lời huấn lịnh của Cha, nhưng sau đó cậu thay đổi. Đó là điều then chốt mà con người cần thực hiện, đó là sự thay đổi. Chúng ta có thể nhiều lần nói không, nhưng sau cùng điều mà Thiên Chúa mong đợi vẫn là lời ‘xin vâng’ quả cảm và trung thành với chữ CÓ cho đến hết cuộc sống. Sự hoán cải và thay đổi này phải được xuất phát từ tâm hồn. Sự thay đổi đó bao giờ cũng phản chiếu một lượng ân sủng dồi dào của Thiên Chúa mà họ đã nhận được. Nói cách khác, chính kinh nghiệm được yêu thương đã khiến họ hoán cải để tuy nhiều lần đã trả lời không mà nay biến thành hành động vâng phục cho đến trọn đời.

Còn hình ảnh cậu thứ hai ám chỉ đến lớp người miệng thì dạ dạ, vâng vâng nhưng cuộc sống thì có những cử chỉ ngược lại. Họ là những người, ngay từ đầu chưa bao giờ cảm nghiệm tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa trao ban, cho nên tâm hồn và cử chỉ của họ hoàn toàn xa với ý định của Thiên Chúa.

Nhìn lại trong cuộc sống, đã bao nhiêu lần chúng ta miệng thưa có mà việc làm thì không, giả như có làm thì cũng làm vì thói quen hay a dua hay vì lời khen của kẻ khác hay thậm chí làm để mưu cầu lợi ích cho cá nhân mình. Nói khác đi, chúng ta sống như những con rối để cho người khác thao túng và lôi đi. Còn việc chúng ta nói không với Chúa thì nhiều lắm. Chúa vẫn kiên nhẫn chờ đợi sự thay đổi để những lời nói không của chúng ta được biến thành những cử chỉ và hành động tuân phục của chúng ta với Ngài.

Nói chung cả hai hình ảnh đối nghịch đó cũng hiện diện trong cuộc sống của chúng ta. Tuy nhiên, Thiên Chúa mong muốn dù nói có hay không thì quyết định của chúng ta luôn xuất phát từ trong cõi lòng của mọi người. Thiên Chúa luôn kiên tâm chờ đợi và quả quyết rằng tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa sẽ giúp con người thay đổi, biến ‘không’ thành ‘có.’

Và theo Thánh Matthew, thì sự đối nghịch đó đang hiện diện như hai người con trong một gia đình của Thiên Chúa qua các sinh hoạt trong cộng đoàn của Ngài: Một bên là quí vị có chức tước được xếp vào ngũ của những người lãnh đạo, còn bên kia là những người nghèo khổ bị bỏ rơi và bị những người lãnh đạo xếp vào hạng những ngươi tội lỗi.

Mở đầu bài Tin Mừng, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Các ông nghĩ sao?” Như vậy, truyện kể hôm nay truớc tiên nhắm đến những người lãnh đạo. Họ hãnh diện về lối sống mẫu mực của họ. Họ chủ trương rằng những gì mà họ đang có như tiền tài, danh vọng, vị trí trong cộng đoàn là phần thuởng và dấu chỉ mà Thiên Chúa trao ban để tưởng thưởng cho các việc lành phúc đức và lối sống chu tòan lề luật của họ. Và, với lối sống tuân phục mọi điều khoản trong lề luật dậy bảo thì họ đã trở thành gương sáng cho nguời khác; đâu cần phải thay đổi.

Theo quan niệm và mẫu mực sống đạo của họ thì người cần đuợc thay đổi là chính Đức Giê-su. Người tự xưng mình là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa mà chẳng hề tuân theo luật lệ và các tập tục của cha ông dậy bảo thì nói ai tin; do đó theo quan niệm của họ thì Đức Giê-su cần noi guơng họ!

Nhưng Đức Giê-su đã phản đối lối sống vụ luật, dựa vào hình thức của họ và xác định rằng: Trong vương quốc của Người, những người thu thuế, hạng tội lỗi mà họ đã khai trừ ra khỏi cộng đoàn lại là những người chọn lựa đúng. Đám dân đen ít học này đã mở lòng ra để đón nhận lời rao giảng của Thánh Gioan tẩy giả và của Chúa, hối cải và trở về đường ngay nẻo chính. Còn họ thì không, cố giữ và ôm chặt lấy truyền thống để bảo đảm cho ngai vàng và nguồn lợi của họ.

Anh chị em thân mến,

Thay đổi cách sống không phải là việc dễ dàng! Nếu có cơ hội, anh hay chị hãy nghiệm lại trong cách sống, chúng ta đã thay đổi đuợc gì! Giả như, nếu có thì cũng chỉ là các thay đổi đem lại lợi ích cho bản thân và gia đình mình. Mới đây, tôi gặp lại gia đình người bạn, sau bao năm xa cách, đời sống của anh chị khá giả và sung túc hơn xưa. Tuy nhiên, cuộc sống mà họ đang thụ huởng cũng phải trả một giá rất đắt và thật chua xót. Anh chị biết điều đó và thản nhiên chia sẻ rằng: Xin cha thông cảm cho cuộc sống của gia đình tôi. Sống đạo trong hoàn cảnh của chúng tôi là điều một điều thật khó khăn; vì nếu phải thay đổi lối sống sao cho phù hợp với niềm tin thì cuộc sống của chúng tôi sẽ khó khăn hơn, sẽ nghèo lắm. (Hoàn cảnh và lời chia sẻ của gia đình này giống với hoàn cảnh của nhiều nguời trong chúng ta)

Theo tôi, điều đáng quí, đáng trân trọng là sự thành thật khi họ chia sẻ. Anh chị biết điều cần làm. Anh chị còn biết nỗi yếu đuối của bản thân. Hy vọng, một ngày nào đó, với ơn Chúa, anh chị can đảm thực hiện điều mà anh chị xác tín. Ước nguyện của tôi chỉ có thế!

Thái độ của hai người con trong câu chuyện hôm nay nhắc nhở thêm cho tôi một hiện tượng đang xẩy ra cho các gia đình công giáo. Quí vi phụ huynh thường hay than phiền về việc các cháu bê trễ trong việc tham dự các nghi lễ phụng tự. Các cháu ít hay hầu như không đọc kinh sáng tối! Các cháu cũng ít tham dự các Thánh Lễ Chúa nhật; nếu có tham dự thì may ra một năm được l hay 2 lần. Nói đến ‘lễ buộc’ thì các cháu phản ứng khá gay gắt như ‘xã hội hôm nay, làm gì còn việc ép buộc. Tự nguyện mới có giá trị, tham dự chỉ vì bị bắt buộc thì còn có ích lợi gì!’

Tôi thông cảm cho các nỗi lo âu của quí phụ huynh. Tôi cũng không bàn bạc về những suy nghĩ của các cháu là đúng hay sai? Vẫn biết lo lắng cho tương lai của con cái là bổn phận và ước mơ của cha mẹ. Nhưng, điều chúng ta lo có thay đổi gì trong cuộc sống của các cháu! Nhiều khi, chúng ta lo quá, lo đến mức làm mất đi niềm tin nơi các cháu. Điều đó có ích lợi cho các cháu hay không?

Tôi lại đuợc nghe quí phụ huynh kể lại việc các cháu tham gia các đoàn bác ái, các nhóm y tế … đi đến các nuớc nghèo thăm hỏi, cứu trợ và làm các việc thiện nguyện hầu giúp đỡ và xoa dịu các vết thuơng của những nguời thiếu may mắn hơn con cái của quí vị. Một điều đáng quí và đáng ngưỡng mộ là tiền vé máy bay và những khoản chi tiêu cần thiết cho chuyến đi thiện nguyện cũng do bàn tay của các cháu làm và để dành.

Việc làm tông đồ của các cháu thật đang khích lệ và tán thuởng. Phải chăng các cháu là những người con đã trả lời không với kiểu sống nhàm chán của lề luật, những nghi thức máy móc của các nghi lễ và lối sống đạo hoành tráng và phô truơng thanh thế của chúng ta. Việc làm của các cháu thực tế và phù hợp với tấm lòng của các cháu: lo và quan tâm cho kẻ khác. Các cháu có thể là hạng người, tuy miệng nói KHÔNG, cuối cùng lại làm CÓ; từ bỏ để bước ra ‘ngoài đồng’ làm các việc tông đồ giúp đỡ những kẻ khốn cùng.

Lắng nghe, đón nhận Tin Mừng rồi hối cải ra ngoài đồng thực hiện ý Chúa là tiến trình cần theo. Còn nếu chỉ biết dựa vào công nghiệp, hệ thống lề luật mà đòi thuởng công thì quả giống như người con chỉ biết nói vâng vâng dạ dạ, còn lòng đã bị đóng kín. Lòng đã đầy ‘CÁI TÔI’ thì còn chỗ nào trống để mở ra cho tha nhân và làm thế nào đón nhận đuợc Tin Mừng. Trong khi đó, bọn dân đen ít học, có thể là nạn nhân của hệ thống giáo điều mà hàng ngũ lãnh đạo đặt ra, tuy nghèo nàn và thiếu thốn tất cả; nhưng lại dễ mở lòng ra để đón nhận Chúa và Tin Vui cứu độ của Thiên Chúa.

Ðức Giêsu không có cái nhìn như chúng ta. Người yêu thương những người tội lỗi biết sám hối trở về. Người thường nói: "Ta không đến để kêu gọi những người công chính mà là người tội lỗi. Và không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là cầm chắc vé vào Nước Trời cả đâu! Chỉ có ai thực hiện ý muốn của Thiên Chúa mới được vào Nước Trời mà thôi. Người kiên tâm chờ đợi và hy vọng chúng ta hối cải. Dù đã nói KHÔNG nhiều lần, nhưng chỉ cần một lần thưa CÓ và cố gắng thể hiện trong cuộc sống thì cũng thật xứng đáng để được cứu độ.

Như vậy, việc sống đạo và chu toàn Thánh ý của Thiên Chúa không chỉ dựa vào lời nói; nhưng bằng hành động. Một trong những việc làm quan trọng mà chúng ta cần thực hiện là nhận biết chính mình, sửa đổi để lệ thuộc vào quyền năng của Thiên Chúa. Đây chính là hồng ân. Chỉ có hồng ân và tin vui của Chúa mới giúp con người thay đổi. Amen!

Tuesday, 15 September 2020

BẠN GHEN VÌ LÒNG TỐT CỦA CHÚA SAO?

 

Anh chị em thân mến,

Dụ ngôn mà chúng ta vừa nghe minh họa hình ảnh về Nước Thiên Chúa. Có nghĩa là qua câu chuyện, chúng ta nhận ra lòng tốt của Thiên Chúa thật bao la và từ đó con người học biết cách hành xử với nhau như những người môn đệ của Chúa. Dĩ nhiên lối cư xử của chúng ta phải được phát sinh từ lòng đại lượng của Thiên Chúa chứ không phải là thái độ phân bì và ghen tỵ khi nhìn thấy người khác được hơn mình.

Trước tiên, theo thống kê chúng ta được biết tỷ lệ con số những người không có công ăn việc làm rất cao vào thời Đức Giê-su. Tình trạng này kéo dài đến khi Tin Mừng được biên soạn. Họ thường tụ họp tại các trung tâm thương mại hay các ngã tư đường để chờ được thuê mướn. Đúng như cách thức mà dụ ngôn mô tả, công việc của họ thường bắt đầu từ 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều. Và tiền công của họ nhận được trong một ngày là một quan tiền. Số tiền này đủ trang trải chi phí cho một gia đình.

Về phía ông chủ, ông có cần phải chia ra nhiều thời điểm trong ngày để mướn thợ như trong dụ ngôn đã mô tả hay không? Bởi vì, theo lẽ thường tình thì một ông chủ khôn ngoan trong việc kinh doanh là một con người biết tính toán số thợ cần làm trong ngày chứ không chia nhiều giai đoạn để thuê nhân công như thế. Vậy, việc thuê mướn thợ theo từng giai đoạn như trong dụ ngôn này mang ý nghĩa đặc biệt gì? Có lẽ chúng ta nên chờ đến lúc ông chủ trả lương sẽ thấy rõ ý định của ông hơn.

Việc trả lương theo thứ tự của ông chủ cũng buộc người nghe có phản ứng khác. Giả như ông gọi nhóm đầu tiên đến và trả cho họ theo đúng hợp đồng, rồi họ ra về thì chẳng có vấn đề gì cả. Nhưng ông lại trêu chọc người nghe bằng cách trả một quan tiền cho những người được thuê sau cùng, thì những người thuộc nhóm được mướn trước phải có ý nghĩ là họ sẽ được đối xử một cách công bằng và thỏa đáng so với công sức mà họ đã vất vả đổ ra từ lúc 3g chiều, 12 giờ trưa, 9 giờ và 6 giờ sáng. Họ căn cứ vào cách đối xử của ông chủ với nhóm sau cùng và suy luận rằng họ làm nhiều thì sẽ được tiền công nhiều hơn. Sau cùng, họ giận vì ước muốn và ý nghĩ của họ không được đáp trả.

Thứ tự trả lương và việc thuê nhân công của ông chủ khiến chúng ta phải suy nghĩ rằng không có một ông chủ nào lại làm như thế cả. Nhưng như thường lệ, các tình tiết trong câu chuyện mà Đức Giê-su kể thường có yếu tố khác lạ để kích thích phản ứng của người nghe. Như thế, những tín hữu mà Thánh Mát-thêu nhắm đến, cả chúng ta nữa khi nghe dụ ngôn này thì sẽ nhận ra sứ điệp của dụ ngôn: Thiên Chúa rất công bằng, tuy nhiên sự công bằng của Thiên Chúa không bị bó buộc theo lối tính toán của con người và cũng không làm giảm bớt sự rộng lượng của Thiên Chúa. Người muốn ban cho ai tùy theo ý muốn của Ngài. Và không có luật nào buộc Thiên Chúa phải tuân thủ theo ý muốn của con người.

Thật vậy, ngay từ ngày đầu tiên được đón nhận Tin Mừng, cộng đoàn của Thánh Mát-thêu bao gồm các tín hữu gốc Do Thái và dân ngoại. Họ đã phải đối diện với các vấn đề như được trình bầy trong bài Tin Mừng hôm nay. Những người tín hữu đạo gốc, cậy mình có tổ phụ là A-bra-ham, I-sa-ac và có một truyền thống lâu dài được xây dựng, bồi dưỡng bởi các ngôn sứ thì đương nhiên họ phải được phần thưởng cao hơn và nhiều hơn nếu so với đám dân ngoại mới nhập đạo chứ. Thế mà những người mới gia nhập lại được hứa hẹn là sẽ có phần thưởng như những người đã vất vả từ lúc tảng sáng đến giờ thì làm gì có công bằng! Ai mà chịu được lối cư xử như thế!

Ngày nay, lối suy nghĩ dựa trên tiêu chuẩn so sánh rồi phân bì và ghen tỵ này vẫn còn. Mình là đạo gốc, được sinh ra và thuộc dòng giống của các Thánh Tử Đạo, thế mà giờ đây lại bị xếp ngang hàng với những người mới nhập đạo, thậm chí còn có cả những người mang tiếng là “đạo vợ” hay “đạo gạo” như câu mà chúng ta nghe dạo nào “theo đạo có gạo mà ăn!” thì ai chịu nổi! Nhưng thật là trớ trêu, kết quả cho thấy những người tân tòng lại có niềm tin sâu sắc và bền vững hơn dân đạo gốc chúng mình!

Anh chị em thân mến,

Câu chuyện trong dụ ngôn hôm nay còn nhắc cho chúng ta nhớ rằng sự thèm muốn và ghen tị gắn liền với cuộc sống của con người nữa. Chúng ta thèm muốn những gì Chúa ban cho người khác hơn mình. Vì thế, khi suy tư trình thuật hôm nay, tôi nhìn ra chính mình trong câu chuyện, và đem dụ ngôn áp dụng vào cuộc sống để nhận ra rằng tính phân bì, lòng ước muốn và ghen tỵ vẫn làm chủ cách cư xử và lối sống của tôi.

Như câu chuyện trong dụ ngôn, tôi phải nhìn nhận rằng tôi có xu hướng thèm muốn và bực bội với những gì mà người khác nhận được từ Chúa. Không biết anh chị em đã phân bì, đố kỵ và ghen tị với người khác bao giờ chưa? Câu trả lời của tôi hôm nay không phải chỉ là CÓ mà là BA CÓ: CÓ đố kỵ, CÓ ghen tương và CÓ phân bì.

Tôi chủ trương viết hoa chữ CÓ để nhắc nhở mình phải dè chừng, đừng để cuộc sống bị tính phân bì và đố kỵ làm chủ. Môt cách cụ thể, tôi xin phép thú nhận rằng: tôi, đã nhiều lần, chứng kiến sự thành công và thăng cấp của người khác, ngoài miệng nói lời chúc mừng mà trong lòng vẫn không được vui chút nào, thậm chí lại nghĩ rằng tôi mới là người xứng đáng để đứng vào vị trí đó! Không chỉ có thế, còn mong cho người đó thất bại để thỏa tính ghen tị và không muốn ai hơn mình của tôi.

Tuy nhiên, Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay không lên tiếng khiển trách hay phản đối cách suy nghĩ của những người cằn nhằn lối cư xử của Người. Đức Giê-su nhẹ nhàng và tế nhị nhắc cho họ biết là ông chủ chưa hề đối xử bất công với họ. Ông có quyền và tự do trong cách quản lý và phân chia tài sản. 

Thật vậy, Chúa chưa hề đối xử bất công với ai trong chúng ta. Chúa thật quảng đại khi rộng ban cho chúng ta hơn những điều chúng ta dám ước mong hay cầu xin. Khi chủ vườn nho hỏi những người đã làm việc lâu nhất và chăm chỉ nhất cho mình, “Tôi không được phép làm những gì tôi chọn với những gì thuộc về tôi? Hay bạn ghen tị vì tôi rộng lượng? ” muốn làm nổi bật điểm mấu chốt của dụ ngôn, đó là ân huệ, lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa là sở hữu của Ngài và Ngài muốn sử dụng như thế nào thì tùy ý Ngài, chúng ta lấy quyên gì mà so sánh, phân bì, đố kỵ và ghen tương!

Chúng ta hãy nhớ rằng được kêu gọi là thành viên trong gia đình của Thiên Chúa là một vinh dự, là một hồng ân, là một ân huệ được trao ban từ Thiên Chúa. Người không trả công cho chúng ta để làm việc cho Người. Trái lại, những gì mà chúng ta có được hoàn toàn là quà tặng của Người trao ban cho chúng ta. Thái độ làm công của người anh cả trong dụ ngôn Lòng Thương Xót khi anh ta xin ‘hãy đối xử với anh như người làm công của Cha’ đã được Đức Giê-su sửa thành ‘con không biết mọi sự của Cha là của con hay sao’. Tương quan đích thật mà Thiên Chúa muốn chúng ta thiết lập và xây dựng là mối liên hệ Cha – con.

Như vậy, dựa trên mối tương quan đó chúng ta biết rằng Thiên Chúa không trả công cho chúng ta khi làm việc để mở mang Nước Chúa. Trái lại, trong tình yêu và phát sinh từ lòng rộng rãi của Thiên Chúa, Người muốn ban cho chúng ta những gì mà Chúa muốn chúng ta đón nhận. Và chúng ta gọi đó là quà tặng.

Thưa anh chị em,

Nếu anh hay chị muốn tặng một thứ gì đó cho người khác với kỳ vọng hoặc hy vọng rằng họ sẽ làm điều gì đó cho anh chị để đổi lại thì đó không phải là một món quà mà đó là một khoản đầu tư; thậm chí và tệ nhất có thể coi là hối lộ.

Quà tặng được trao ban nhưng không, hoàn toàn miễn phí. Nếu anh hay chị nghĩ rằng mình xứng đáng nhận được thứ gì đó và sau đó nhận được nó thì đó không phải là một món quà mà là một khoản thanh toán mà mình được hưởng hay có thể coi như hoàn trả lại một thứ mà chúng ta đã khẳng định trong lòng từ trước.

Quà tặng không mang tính chất giao dịch. Chúng ta không thể kiếm được quà tặng, chúng ta chỉ có thể nhận được chúng.

Như vậy, chúng ta có quyền gì mà ghen tị khi Thiên Chúa thể hiện lòng tốt lành và rộng lượng trong việc trao ban tặng vật cho con người hay sao?

Tốt nhất và lý tưởng là chúng ta không nên so sánh, phân bì rồi ghen tương. Hãy chăm chú nhớ đến tấm lòng quảng đại, nhân từ, yêu thương và luôn tha thứ của Thiên Chúa. Hãy nhìn lại cách cư xử của ông chủ trong dụ ngôn. Ông đã không làm thiệt hại đến ai và cũng không ăn bớt của ai. Trái lại, ông đã quan tâm đến từng người, bằng cách cung cấp cho họ và gia đình những gì họ cần để sống. Chỉ có như thế, chúng ta mới chấp nhận, không ghen tương và không phân bì với nhau. 

Vì vậy, với tâm tình tạ ơn, chúng ta tán dương và ca tụng lòng rộng ban của Thiên Chúa, Đấng đã ban phát cho chúng ta, không chỉ đủ dùng, còn dư dật để làm quà cho người khác nữa. Từ đó chúng ta không chỉ chia sẻ sự vui mừng mà còn là nguồn vui cho nhau. Tạ ơn Cha vì sự rộng ban của Người, Đấng luôn yêu thương và ban phát muôn ngàn hồng ân trước khi chúng ta cầu xin với Người. Amen!

Tuesday, 8 September 2020

THA LÀ THA CHÚNG MÌNH THA NHIỀU.

 

Vào chiều tối Thứ Bẩy, ngày 1 tháng 2 năm 2020 vừa qua, tại thị trấn Oatlands, thành phố Parramatta, phía Tây Sydney. Một ông tài xế đã uống rượu quá chén, không kiểm soát được tay lái nên đã đâm vào đám trẻ em đang đi trên vệ đường khiến cho ba em nhỏ của gia đình Abdallah, Anthony lớn nhất 13 tuổi, Angelina 12 tuổi và Sienna, em nhỏ nhất mới được 8 tuổi bị chết thảm; cô em họ, Veronique Sakr cũng bị chết tức tưởi trong vụ tại nạn đó.

Tin này đã gây chấn động cả nước Úc. Ai nghe xong cũng bộc lộ sự tức giận vì hành vi mà ông tài xế đã vi phạm. Tuy nhiên lời tuyên bố của bà mẹ thật duyên dáng khiến cho chúng ta phải sửng sốt. Chị Leila Abdallah đã nói: “Từ tận đáy lòng, tôi sẵn sàng tha thứ cho người gây ra tai nạn. Tôi không ghét anh.” Trong lúc đó, Daniel chồng của chị, cha của ba em nhỏ, trong nước mắt thổn thức nói: “Các con của chúng tôi đã đến một nơi tốt hơn!”

Trong lúc suy niệm bài Tin Mừng hôm nay, tôi nhớ lại vụ tai nạn nói trên, nhất là lời tuyên xưng của người mẹ. Chị đã trở thành tấm gương sáng với một con tim thật vĩ đại khi tha cho kẻ được coi là đã giết ba người con của chị. Tôi càng cảm phục hơn khi nghe chị nói thêm rằng chị có thể làm được như thế vì chị và gia đình luôn có mối quan hệ thân mật với Thiên Chúa, Đấng mà chị tôn thờ và mến yêu.

Thưa anh chị em,

Tha thứ là chủ đề mà chúng ta cùng nhau suy niệm hôm nay. Tha thứ cần được phổ biến, quảng bá và áp dụng một cách qui mô và rộng rãi trong mọi tầng lớp của xã hội mọi thời. Hơn bao giờ hết, con người ngày hôm nay cần tha thứ cho các lỗi lầm của nhau, và chúng ta sẽ được gì khi tha thứ cho các sai lỗi của nhau.

Tha thứ là một trong các môn học mà chúng ta đã học từ thủa ấu thơ, bây giờ đang học và sẽ còn học cho đến hết đời. Khi còn nhỏ, chúng ta dễ dàng tha thứ cho nhau. Trẻ con nô đùa nghịch ngợm đụng đến nhau là chuyện thường tình. Đau quá, nổi nóng chỉ muốn quại vào mặt nhau. Nhưng khi nghe thấy tiếng “tôi xin lỗi” từ trong miệng của bạn phát ra thì chúng ta sẽ nguôi cơn giận và sẵn sàng đáp trả “không sao hết, tôi tha thứ cho cậu.” Thế là huề cả làng.

Quả thật, lối hành xử trẻ con như thế lại được Đức Giê-su khen thưởng khi yêu cầu các môn đệ phải có lối sống của con trẻ, Người phán: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.” (Mt 18: 3) 

Đến khi lớn lên, học khôn đủ thứ. Nhưng chỉ có việc tha thứ là học mãi không xong, càng cố gắng càng thấy mình ngu. Học mãi mà vẫn chưa thực hiện được. Vẫn biết, càng lớn càng thấy cuộc sống càng phức tạp hơn và phải chăng chỉ vì ích kỷ và thích làm chủ nên khó tha thứ? Chúng ta có biết đâu khi tha cho tha nhân là tha cho chính mình. Giận hờn và ghen ghét chỉ làm cho mình thêm đau khổ. Đã bao nhiêu đêm mất ngủ, trằn trọc chỉ vì giận hờn và ghen ghét; chưa kể có người còn tính trăm phuơng nghìn kế để trả thù và triệt hạ nhau.

Các nhà nghiên cứu cho thấy rằng, việc tha thứ rất tốt cho người ban phát nó, tha thứ cho kẻ hại mình sẽ làm giảm bớt cơn tức giận, ít nguy cơ bị trầm cảm, không còn lo lắng và sợ hãi. Hiệu quả này còn mang lại lợi ích cho hệ thống miễn dịch và tim mạch nữa. Thật vậy, một khi đã tha cho họ rồi lòng sẽ cảm thấy thật thư thái và bình an. Tất cả đều là người thân, tay trong tay dắt nhau đi, còn gì hoan lạc và vui thú hơn điều mà chúng ta đang thụ hưởng.

Thưc tế, cuộc sống không dễ dàng một chút nào. Chừng ta dễ bị tổn thương, về tinh thần cũng như thể xác. Và khi chúng ta hay người mà chúng ta yêu thương bị tổn thương thì việc tha thứ thường là điều mà chúng ta ít nghĩ tới. Chúng ta đòi quyền được lắng nghe, được bồi thường hay đòi sự thông cảm của những ai có trách nhiệm. Tuy nhiên, tất cả chỉ là thứ yếu. Điều quan trọng là tha thứ cho chính mình và tha cho kẻ làm mình bị tổn hại

Chắc chắn về mặt lý thuyết, chúng ta nghe vô số các hướng dẫn cụ thể để tha thứ, nhưng khi bắt đầu áp dụng vào cuộc sống thì chúng ta lại chùn bước. Bởi vì chúng ta chưa biết tha thứ và cũng chẳng biết bắt đầu tha thứ như thế nào.

Đó cũng là điều mà Phê-rô hỏi Đức Giê-su trong phần mở đầu bài Tin Mừng hôm nay. Không đợi câu trả lời của Thầy mình, Phê-rô lau chau và ra vẻ ta đây đã gợi ý rằng có phải bẩy lần không? Gợi ý của Phê-rô khi dùng con số bẩy không phải là tình cờ, đó là con số biểu thị sự hoàn hảo. Phê-rô không chỉ muốn được khen là trả lời đúng, mà còn muốn được số điểm tuyệt đối từ Đức Giê-su nữa. Nhưng Đức Giê-su cũng thật hài hước khi trả lời cho Phê-rô biết rằng tuy con số bẩy thật hoàn hảo, nhưng quá ít, phải là bẩy mươi lần bẩy cơ! Mức độ hoàn hảo của Đức Giê-su buộc Phê-rô hôm nay vượt quá mức hoàn hảo mà ông đề ra. Có nghĩa là hoàn hảo lôi kéo và mời gọi hoàn hảo tiếp theo. Có nghĩa là tha thứ liên tục, tha thứ là điều không thể đếm được, tha vô hạn định, tha liên miên, tha không ngừng, tha cho đến hết đời, tha tuyệt đối!

Quá khó, thảo nào, chúng ta chưa làm được và gặp nhiều khó khăn khi tha thứ. Tuy nhiên, chúng ta tìm ra câu trả lời từ trong câu chuyện nói về người mắc nợ không có lòng thương xót hôm nay. Truyện kể như sau: Có một người giúp việc kia nợ ông chủ mười ngàn nén vàng, một khoản nợ mà ông ta và gia đình có làm lụng cả đời cũng không sao trả hết. Thế mà với cử chỉ sấp mình van xin lòng nhân từ hay thương xót của ông chủ mà ông đã được tha và không phải trả nợ nữa.

Thế mà, vừa từ trong nhà chủ bước ra, ông gặp người bạn chỉ thiếu nợ ông một trăm quan tiền. Một khoản nợ quá nhỏ so với mười ngàn nén vàng mà ông vừa được chủ tha. Thế mà, không cần hỏi thăm và cũng không tìm hiểu nguyên do, anh liền tóm cổ người bạn đòi trả nợ. Người bạn của anh cũng nằm trong hoàn cảnh giống như anh là không có gì để trả nợ. Nhưng bạn anh chỉ xin hoãn lại, chứ không xin tha bổng, rồi anh ta sẽ trả hết. Nhưng anh ta không chịu, cứ tống bạn mình vào ngục cho đến khi trả xong nợ. Đã bị tống vào ngục thì làm sao có cơ hội trả xong nợ, kết quả sẽ chết rục tù mà nợ vẫn còn.

Thấy sự việc xẩy ra như thế, các bạn của anh ta mới trình sự kiên cho ông chủ. Chủ gọi anh đến và trao cho anh đúng án phạt mà anh đã áp dụng cho người mắc nợ anh. Sau cùng, trong phần kết luận, Đức Giê-su đã nói: “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.” (Mt 18:35)

Như vậy qua câu chuyện này, Đức Giê-su trách những ai đã được tha thứ mà không biết tha thứ cho đồng loại mình. Tha thứ là việc làm chứ không chỉ bằng lời nói. Tha thứ không chỉ là điều kiện để được tha thứ mà là hành vi chia sẻ tình yêu, lòng thương xót và việc tha thứ của Thiên Chúa. Còn hơn thế nữa, khi tha cho nhau là lúc chúng ta làm chứng và tuyên xưng lòng thương xót của Thiên Chúa, Cha trên trời, Đấng hằng quan tâm, săn sóc và sẵn lòng tha thứ, ngay cả trước khi chúng ta van xin Người.

Thể hiện lòng thương xót qua việc tha thứ cho nhau vì chính mình dã được tha trước. Đó chính là chủ đề của bài Tin Mừng hôm nay, không phải việc tha bao nhiêu lần. Tha thứ là hiệu quả của lòng thương xót mà Thiên Chúa đặt trong con tim của mỗi người, đó là hành vi phát nguồn từ Thiên Chúa. Và đó là nét đặc trưng mà người môn đệ của Chúa Ki-tô cần thể hiện. Nói khác đi, tha thứ phải là lối sống của người môn đệ.

Sau cùng, mỗi thành viên trong gia đình của Thiên Chúa nên nhớ rằng: những gì chúng ta đang thụ hưởng hoàn toàn phát sinh từ lượng ân sủng vô biên của Thiên Chúa. Nhất là, trong lúc chúng ta còn là tội nhân mà Thiên Chúa đã không ngần ngại sai Con duy nhất của Ngài đến tự hiến, xóa bỏ món nợ, một món nợ mà thế gian không bao giờ có thể trả được.

Vì thế, chúng ta phải tha cho nhau và đó là hiệu quả của việc Thiên Chúa tha cho chúng ta. Còn việc không tha thứ cho nhau không được chấp nhận trong sinh hoạt của người tín hữu. Món nợ mà chúng ta gây ra cho nhau hẳn nhiên không thể nào so được với món nợ mà Thiên Chúa đã tha bổng cho chúng ta.

Sau cùng, tuy biết tha thứ không phải là việc dễ làm, nhưng chúng ta phải làm. Đó là trọng tâm mà sứ điệp Tin Mừng hôm nay đòi hỏi. Tha thứ sẽ dẫn chúng ta đi sâu vào mầu nhiệm tình yêu và tha thứ của Thiên Chúa. Càng tha càng thiếu, tha bao nhiêu thiếu bấy nhiêu và càng thiếu càng cần đến ân huệ của Thiên Chúa để tha thứ cho nhau hơn.

Cầu cho anh chị em biết tha thứ như gương sáng của chị Leila Abdallah khi tha cho kẻ đã gây ra cái chết cho ba người con của chị. Hy vọng lời tuyên xưng của chị Leila Abdallah: “Từ tận đáy lòng, tôi sẵn sàng tha thứ cho người gây ra tai nạn. Tôi không ghét anh” sẽ là lối cư xử của chúng ta dành cho nhau. Amen!

Tuesday, 1 September 2020

GIÚP NHAU CÙNG TIẾN BƯỚC


Trong bài Tin Mừng tuần trước Đức Giê-su đã yêu cầu các môn đệ noi gương Người sống đúng bản chất của họ là từ bỏ mình, vác thập giá và theo chân Chúa. Hôm nay, Đức Giê-su trao cho họ cẩm nang về các sinh hoạt trong đời sống cộng đoàn và đây là một trong các điều mà Đức Giê-su quan tâm. Bởi vì, không ai có thể nên hoàn thiện mà không cần đến sự giúp đỡ của người khác. Trong tinh thần đó, chúng ta hãy chăm chú lắng nghe, nhất là thực hiện Lời Chúa dậy trong lối sống xây dựng tình hiệp thông trong cộng đoàn hôm nay.

Chúng ta cùng nghe:“ Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi cho người đó, một mình anh với người đó thôi… Còn nếu họ không chịu nghe thì hãy đem theo một hay hai nguời nữa, để mọi công việc đuợc giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba nhân chứng. Nếu người đó vẫn không nghe họ, thì hãy trình cho công đòan. Nếu cộng đòan mà người ấy cũng chẳng nghe, thì hãy kể họ như một người ngọai hay một người thu thuế.” (Mt 18: 15-17)

Chương 18 của Tin mừng theo Thánh Matthew đã đưa ra những nguyên tắc sống chung trong cộng đòan. Đây không phải là những khỏan luật nặng hình thức; nhưng là cẩm nang được linh ứng bởi Thần Khí nhằm mục đích kiện tòan nếp sống trong cộng đòan theo đúng lời giảng dậy của Chúa Giêsu.

Nguyên tắc sống thứ nhất: Một cộng đòan chỉ là cộng đòan Kitô giáo đích thực khi tất cả mọi thành viên sẵn sàng chấp nhận nhau, tha thứ cho nhau và không một ai trong những kẻ bé mọn bị lọai bỏ hay khai trừ  cả. (Mt 18: 1-14)

Nguyên tắc thứ nhì: Tất cả đều đuợc tha thứ không phải bẩy lần mà là bẩy mươi lần bẩy. Có nghĩa là chúng ta phải thứ tha cho nhau liên tục, tha thứ không giới hạn như Chúa tha thứ cho chúng ta vậy! (Mt 18: 21-35)

Giữa hai nguyên tắc đó là việc sửa lỗi cho nhau. Việc sửa lỗi này đặt trên nền tảng của lòng mến. Và trong bài Tin Mừng nói về chủ đề sửa lỗi hôm nay, Đức Giê-su giới thiệu một tiến trình kêu gọi kẻ có tội, người có lỗi trở về hòa giải với Chúa và gia đình của Người. Đức Giê-su không nói rõ đây là tội gì hay lỗi xúc phạm đến ai. Nhưng trong thân phận làm người, có ai lại không có tội! Tội cá nhân nhiều vô kể. Tội với cộng đoàn cũng không thiếu, ví dụ như tội biển thủ công quỹ, lợi dụng chức vụ hà hiếp người khác về mặt tinh thần hay thể xác. Nói chúng tội nào cũng đáng cho chúng ta quan tâm mà sửa chữa. Và tiến trình sửa chữa theo tinh thần của bài Tin Mừng hôm nay là đưa người có tội trở về hiệp thông với Chúa và cộng đoàn chứ không nhằm kết án họ. Muốn đạt được thành quả này, con người phải yêu thương và tha thứ cho nhau chứ đừng xét đoán vì tất cả chúng ta đều là tội nhân.

Chúa nói, nếu ai đó phạm tội, trước tiên bạn nên gặp người đó và chỉ ra lỗi cho họ để họ hối cải mà trở về chứ không phải kể tội rồi lên án. Giả như ta là người đầu tiên biết, thì cũng không đuợc phép nói cho nguời khác biết. Trong tình bác ái, đừng chờ người đã phạm lỗi đến với ta; nhưng hãy đi bước trước đến và đối thọai với họ; giúp họ nhận ra việc làm sai trái; rồi nhẹ nhàng đưa họ về với Chúa, về với cộng đòan. Giả như họ nhận ra lỗi lầm và nghe ta thì ta đã lợi được người anh em rồi.

Trên thực tế, chúng ta thường quên nguyên tắc này. Khi khám phá ra lỗi lầm của ai, thay vì đối thọai với họ; lại đi nói nhỏ cho người khác biết. Cứ vài lần ‘nói nhỏ’ như thế thì chẳng bao lâu cả làng đều biết. Đến khi cả làng, cả xóm đã biết thì cơ may giúp họ nhận ra lỗi lầm để hối cải dường như không còn. Như anh chị em biết là chẳng ai muốn người khác biết những điều xấu của mình; thì cũng đừng bao giờ nói về những điều xấu của họ cho người khác. Cộng đòan Kitô- hữu không có lối sống “vạch lá tìm sâu” hay “bới lông tìm vết.”

Giả như bước thứ nhất không thành công thì kêu thêm một hay hai nhân chứng nữa, điều này có thể hiểu rằng tội mà người đó phạm đã được nhiều người biết đến. Chúng ta gọi nhân chứng đến để chinh phục chứ không tạo áp lực. Nếu bước thứ hai cũng không làm cho người có tội thức tỉnh thì trình cho cộng đoàn và nếu người đó vẫn không nghe thì chúng ta sẽ coi họ như những người thu thuế hoặc người ngoài cuộc. Nhưng, cho dù là như thế, chúng ta đừng quên rằng những người thu thuế, những ai sống bên lề xã hội vẫn là những người bạn tốt của Chúa, được Chúa thương yêu. Tuy các bước trong diễn trình nói trên quan trọng, nhưng điều quan trọng hơn hết là mục tiêu của toàn bộ tiến trình không phải để lên án hay kết tội mà là phục hồi. Tuy nhiên, muốn cho hối nhân trở về thì người có tội phải nhận ra sự nguy hiểm của tội và mức độ ảnh hưởng và tác hại của tội trong việc xây dựng và sinh hoạt cộng đoàn mà người đó thuộc về.

Anh chị em thân mến,

Đã là người môn đệ của Chúa, chúng ta không được phép mất đi niềm hy vọng nơi chính mình và tha nhân. Chúa không thích, đúng hơn là Chúa ghét tội, nhưng Người lại thích làm bạn với kẻ có tội. Người có tội luôn được Chúa thương yêu và quan tâm một cách đặc biệt để họ biết quay về. Thật vậy, chúng ta đừng bao giờ mất hy vọng cho bản thân và cho cả những tội nhân tồi tệ nhất. Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, mọi người đều có thể ăn năn, được tha thứ, được hòa giải với Thiên Chúa và trở về với gia đình Hội Thánh.

Trong Kinh Lậy Cha, chúng ta thường kêu cầu: “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người cò lỗi với chúng con.” Nói khác đi, chúng ta chỉ có thể tha thứ cho nhau khi chúng ta cảm nhận sự tha thứ của Thiên Chúa, và nhờ vào sự tha thứ mà chúng ta lĩnh nhận từ Thiên Chúa, chúng ta mới có thể tha thứ cho nhau. Hai điều này nối kết chặt chẽ với nhau. Hành động tha thứ vừa là nguyên nhân để chúng ta có thể tha thứ cho nhau, đó cũng là hậu quả của việc Thiên Chúa tha thứ cho mình. Chúng ta không thể giữ điều này và bỏ điều kia.

Tóm lại, Chúa ban cho chúng ta những nguyên tắc rất thực tế để giúp nhau hoàn thiện và xây dựng cộng đòan. Tất cả các tín hữu đều có bổn phận và trách nhiệm đối với nhau. Chúng ta được gửi đến để sống cho nhau, chứ không sống cho riêng mình. Mỗi người, dù sống trong ơn gọi nào cũng đều được mời gọi sống cho nhau. Và như vậy, thì ngày hôm nay, anh hay chị giúp tôi nhận ra lỗi lầm để sửa đổi, ngày mai sẽ đến phiên tôi giúp anh chị. Ai là nguời không phạm tội. Vì vậy, truớc tiên hãy nhận ra các nỗi yếu đuối của bản thân, rồi với trải nghiệm được Thiên Chúa tha thứ và thương yêu đó chúng ta sẽ khiêm nhường hơn trong việc sửa sai và góp ý để giúp người khác kiện tòan. Amen!