Thursday, 23 May 2024

THẦN KHÍ THIÊN CHÚA: SỨC MẠNH YÊU THƯƠNG


Lâu lắm rồi, tôi được nghe cha Peter Robb, một linh mục Dòng Chúa Cứu Thế đã kể lại một câu chuyện. Truyện này đã xẩy ra tại nơi mà chính phủ chưa đủ khả năng để cung cấp một nền y tế và bảo vệ sức khoẻ cho người dân, như ở Phi Luật Tân và các quốc gia nghèo. Truyện kể như sau:

Có hai mẹ con gốc người dân tộc thiêu số, Đu-Ma-Gat bên Phi luật Tân. Họ nghèo khổ sống với nhau. Đã xẩy ra là con của chị mắc phải một cơn bịnh hiểm nghèo và cần một khoản tiền để chữa trị. Hoàn cảnh của họ, tiền ăn còn chưa đủ lấy đâu mà trả tiền viện phí và thuốc men. Cuối cùng, chị cũng đành bó tay nhìn người con ra đi!

Sau khi lo ma chay cho cháu xong. Trong một lần dọn dẹp nhà cửa, chị tìm thấy một gói giấy nằm trong góc tủ, sát bên bức tường bám đầy bụi bặm. Lôi gói giấy đó ra, chị đã lần mò mở từng lớp rồi từng lớp, cuối cùng chị khám phá ra một xấp tiền, theo sự suy đoán của chị thì đó là số tiền dành dụm của ông bố chồng. Ông đã nhét vào nơi đó rồi với cơn bịnh đãng trí nên không còn nhớ đến nó nữa. Cầm xấp tiền trên tay, chị nghĩ đến chú con trai mình với tâm hồn chua xót, đầy nghẹn ngào cho số phận của cháu! Số phận của những người nghèo là như thế, cuộc đời của họ bị bao phủ bởi đắng cay, bạc phước và bất hạnh.

Câu chuyện nói trên khiến tôi nhớ đến vai trò của Thánh Linh trong cuộc sống mình. Người vẫn có đó, thế mà nhiều lúc tôi cứ nghĩ Người đi vắng. Như người phụ nữ trong câu chuyện, chúng ta có thể sở hữu một năng lực phi thường, có thể giúp mình biến đổi từ trạng thái chết sang sống, thế mà chúng ta nhiều lần đã không nhận ra sự hiện diện đó.

Nhìn lại lịch sử cứu độ, đâu đâu chúng ta cũng thấy bàn tay của Thánh Linh, thần khí và sức sống của Thiên Chúa qua Chúa Thánh Thần. Sơ lược như sau:

Thánh Thần không chỉ là quà tặng cao quí nhất mà Thiên Chúa ban cho chúng ta một lần mà thôi. Ngay từ thủa sơ khai, trong trình thuật tạo dựng, tác giả sách Sáng thế đã mô tả sự hiện diện của thần khí Thiên Chúa bay lượn là đà trên mặt nước. Rồi đến khi tạo dựng con người như hình ảnh của Thiên Chúa; tác giả một lần nữa, bằng một thể văn rất ấn tượng, ẩn chứa một ý nghĩa thật sâu sắc khi mô tả việc Thiên Chúa thổi sinh khí vào pho tượng mà ban cho con người sự sống. Chính Thần Khí, hơi thở của Thiên Chúa là nguồn sự sống của nhân loại.

Thánh Thần hoạt động liên lỉ trong dòng lịch sử của dân Do Thái nói riêng và toàn thể nhân loại nói chung. Ngài hiện diện với mọi dân tộc. Ngài xuất hiện tựa làn gió, thổi sức mạnh và hơi ấm đến mọi người, mọi nơi và mọi chốn. Không một cá nhân hay tổ chức nào có thể cầm giữ và điều khiển được Ngài.

Rồi đến lượt các Tông đồ, Chúa Thánh Thần hoạt động nơi các ngài. Trước đó các ngài đã từng theo Chúa, đã từng nghe bao lời dạy dỗ của Chúa, đã từng chứng kiến bao phép lạ của Chúa. Thế mà chỉ vì sợ hãi nên cho dù sau các lần hiện ra, với lời chúc bình an và qua việc Chúa thổi hơi trên các ông; thế mà các ông vẫn lo sợ, trốn chui trốn nhủi trong nhà. Thậm chí đến ngày Chúa về trời và sai các ông tiếp tục sứ mạng của Chúa, thế mà vẫn còn có các Tông Đồ cho rằng đó là lúc Người khôi phục vuơng quyền Israel. Thì ra, óc não chính trị, tìm kiếm chức quyền là những vật cản khiến các ông không nhận ra chân tướng và sứ vụ của Đức Giê-su.

Thế rồi Chúa Thánh Thần ngự đến và các ông được biến đổi hoàn toàn: nhiệt thành và can đảm rao giảng Tin Mừng. Phêrô đã từng run sợ chối Chúa trước mặt những người đầy tớ, thế mà sau biến cố Thánh Thần ngự xuống, ông đã đứng trước một đám đông rao giảng hùng hồn về sự chết và sống lại của Đức Giê-su, khiến cho mấy ngàn người bị đánh đông và trở lại với niềm tin Phục Sinh.

Như Phêrô, chúng ta đuợc mời gọi đóng góp công sức của mình. Nhưng chính Chúa Thánh Thần mới là nguồn động lực họat động nơi kẻ nói và người nghe; để ai nói sẽ nói Lời Chúa và kẻ nghe cũng sẽ đón nhận bằng một con tim bằng thịt mà tin và trở lại với sự thật là Tình Yêu của Chúa đã thể hiện qua sự chết và Phục sinh của Đức Giê-su.

Một cách cụ thể, trong bài đọc một mà chúng ta vừa nghe hôm nay. Sau khi Chúa Thánh Thần ngự xuống, các Tông Đồ nói đuợc các thứ tiếng mà những người nghe đến từ các nơi đều hiểu các ngài muốn nói gì. Chúng ta có thể giải thích rất đơn giản là các ngài được ơn nói ngoại ngữ. Thật ra, dân chúng tập hợp tại Giê-ru-sa-lem vẫn còn giữ nguyên nền tảng cá biệt của dân tộc họ và ngôn ngữ riêng của họ. Nhưng quyền năng của Chúa Thánh Thần đã hoạt động để các ngài có thể diễn đạt sứ điệp yêu thương của Thiên Chúa cho mọi người.

Như vậy, tuy họ vẫn còn sự khác biệt về văn hoá, ngôn ngữ, chủng tộc hay mầu da; nhưng bằng Tình yêu con người có thể đón nhận và hiểu sứ điệp của Thiên Chúa muốn nói gì qua lời rao giảng của các Tông Đồ. Trong Tình yêu, dù vẫn còn khác nhau, nhưng trong sự khác nhau đó, con người vẫn đồng cảm, thông hiệp và yêu thương nhau hơn. Chỉ có ngôn ngữ của yêu thương mới giúp con người nối kết được với nhau. Tình Yêu là hoa quả mà Chúa Thánh Thần tác động và ban cho con người. Nói khác đi, Chúa Thánh Thần là nguồn suối, hoa quả của yêu thương mà Chúa Cha và Chúa Con trao ban cho những kẻ thuộc về Người.

Sự thán phục của dân chúng từ khắp phương thiên hạ kéo về Giê-ru-sa-lem dành cho các Tông Đồ không phải vì các ngài thông thái hay tài giỏi, can đảm hay mạnh dạn; nhưng vì các ngài đã để cho Thánh Thần ngự xuống trên môi miệng mà ca tụng và loan báo những kỳ công của Thiên Chúa. Như vậy, quả là rõ ràng cho chúng ta nhận thấy rằng Chúa Thánh Thần đã dùng các ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau để truyền đạt sứ điệp của Chúa cho con người. Khác xa với quan niệm cho rằng chỉ có dân tộc này, ngôn ngữ kia, văn hoá nọ mới mang tính ưu vượt và duy nhất để truyền đạt tư tưởng và sứ điệp của Chúa.

Chúa Thánh Thần hoạt động trong mọi dân tộc, như dân thành Ê-phê-sô khi xưa. Họ chưa từng nghe biết về Chúa Thánh Thần, nhưng họ đã tin. Đức Tin này không phải là khám phá của họ, nhưng đó chính là hoa quả của Thần Khí! Ai trong chúng ta dám khẳng định rằng Thánh Thần chưa hoạt động nơi họ. Nếu đã không dám khẳng định thì tin là giải pháp thuận lợi nhất.

Anh chị em thân mến,

Chúa Thánh Thần đã đuợc diễn tả qua các biểu tượng như gió, cuồng phong và lửa. Và như anh chị em đã từng có kinh nghiệm: gió muổn thổi đâu thì thổi, nào ai biết được gió từ đâu đến và sẽ đi về đâu; cuồng phong mà đến thì ai cản được!

Vì thế, nhân dịp mừng Lễ Chúa Thánh Thần ngự xuống hôm nay, xin mời anh chị em cùng tiếp tục:

·       Hãy nói lời yêu thương. Vì một khi chúng ta nói với nhau bằng tiếng nói của yêu thương thì chúng ta sẽ chạm đến những cảm xúc chân thật của con tim; từ đó mọi gắn bó và các dây liên kết của chúng ta sẽ bền chặt hơn bởi Thánh Linh.

·       Hãy tạo mọi cơ hội để tiếng nói của mình xứng đáng truyền đạt sứ điệp yêu thương của Thiên Chúa.

·       Và, đừng dập tắt hay từ khước nhận ra sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, Đấng đang hiện diện và hoạt động nơi con người tại các nền tôn giáo khác, nơi các dân tộc khác, thậm chí ngay cả trong các tổ chức mà nhiều người lầm tưởng là họ đang chống lại Giáo Hội. Có thể, ở một bình diện nào đó, họ không đồng ý với lối hành xử thiếu tính con người, không có dân chủ trong một hình thức cơ chế nào đó của Giáo Hội. Nhưng qua nỗ lực, sự thành tâm và thiện chí xây dựng; chúng ta tin rằng Chúa Thánh Thần vẫn hiện diện trong các nỗ lực mà họ đang làm để giúp chúng ta hành xử và xây dựng một thân thể nhiệm mầu của Đức Kitô theo đúng ý Chúa hơn.

Sau cùng, Thánh Linh, khấn xin ngự đến và giúp chúng con nhận ra các hoạt động của Người không chỉ trong cuộc sống của chúng con mà thôi; nhưng còn mở tung cánh cửa tâm hồn của chúng con, và tác động thật mãnh liệt để chúng con còn nhận ra sự hiện diện và tác động của Thánh Linh nơi mọi người; hầu chúng con đủ can đảm ra đi mà làm chứng cho sự thật, làm chứng cho Tin Mừng như các Tông đồ khi xưa. Amen!

Wednesday, 8 May 2024

CHÚA VỀ VỚI CHA ĐỂ Ở CÙNG TA, NHẤT LÀ CÁC BÀ MẸ.


Trình thuật Tin Mừng hôm nay bao gồm hai điều: Thứ nhất là viêc Chúa trao ban sứ mạng cho các môn đệ. Trước khi đi về cùng Cha, Người trao năng quyền cho các môn đệ để họ tiếp tục sứ mạng của Người cho muôn dân. Người không để họ mồ côi, nhưng ở cùng với họ luôn mãi. Nói khác đi, với sự hiện diện mới, không còn bằng xuơng bằng thịt và cũng không còn bị giới hạn và ràng buộc bởi không gian và thời gian; Người hoạt động trong các kẻ tin, đặc biệt nơi các bà mẹ.

Khi nói đến việc đi về cùng Cha, chúng ta bước sang ý tưởng thứ hai của bài Tin Mừng hôm nay, đó là việc Chúa được đưa lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa. 

Có phải cho đến hôm nay Chúa mới đuợc đưa lên trời hay không? Thật ra, Đức Giê-su đã đi vào vinh quang của Cha Người ngay trong giờ chết. Việc được cất nhắc về trời hôm nay không phải là việc ra đi để rồi không hiện diện nữa; nhưng đây chính là một sự hiện diện mới mà các môn đệ cần nhận ra bằng con mắt đức tin. 

Vì thế, điều mà tác giả của bài Tin Mừng muốn truyền đạt cho chúng ta hôm nay là Đức Giêsu, Đấng đã chịu thương tích và bị giết vào dịp lễ Vượt Qua; Người vẫn hiện diện và không hề bỏ rơi các môn đệ của Người. Người đã sống lại và tiếp tục sống cho họ và với họ. Cách thức hiện diện tuy khác, nhưng Người không hề bỏ rơi họ. Trong khi thi hành sứ vụ ở trần thế, Đức Giê-su đã không ở với mọi người tại mọi nơi khác nhau. Nay đã được tôn vinh, Người hiện diện mọi nơi, mọi chốn và ở với mọi người. 

Chúng ta mừng sự thay đổi, cách hiện diện mới của Chúa.Tuy rằng chúng ta không còn đuợc tiếp cận với con người bằng xương bằng thịt của Chúa nữa. Nhưng với Thân Thể Mầu nhiệm của Đức Ki-tô là Giáo Hội, chúng ta được liên kết với Người như Lời Người đã phán: “Ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa họ.” Và ở đâu có tình yêu thương thì ở đấy có Thiên Chúa. Tình của Thiên Chúa là một thứ tình hiến dâng, hiến dâng đến mức hy sinh mạng sống cho người mình yêu.

Khi nói đến tình yêu đến độ hiến mạng sống mình cho người khác là lúc chúng ta nghĩ đến sự hy sinh của các người mẹ mà chúng ta tôn vinh trong ngày Mother’s Day hôm nay. Tình yêu và sư sống là những hạt giống quí báu nhất mà Thiên Chúa đã trao ban để các ngài gieo trồng, chăm bón và thu hoạch. Muốn cho các hạt giống này triển nở thì chính mẹ phải đón nhận tình yêu và sự sống như quà tặng mà Thiên Chúa ban cho mình trước.

Khi nói mẹ là sự sống thì tôi nhớ lại đoản truyện ngắn vô cùng thương tâm mà tôi đã đọc được trong nguyệt san ‘Reader’s Digest’. Đó là một sự kiện có thật đã xẩy ra tại Việt Nam vào đầu thập niên 1970. Trong cuộc di tản dân chúng khỏi vùng hỏa tuyến tại miền Trung, phái đoàn y tế Hoa kỳ đã chứng kiến cảnh một cháu bé khoảng chừng 9 tháng đang cố gắng nuốt những giọt sữa hòa chung với dòng máu trên thân xác tuy đã chết nhưng vẫn còn hơi ấm của mẹ em. 

Lại một sự hy sinh khác. Vào năm 1995, sau vụ động đất tại Thành Phố Kô-bê, bên Nhật, người ta đào bới và khám phá dưới đống gạch vụn của một tòa nhà đã đổ nát là hai mẹ con. Người mẹ, tuy còn sống nhưng đã bất tỉnh; còn đứa cháu gái đang cố gắng ngậm chặt ngón tay của người mẹ và cố hút nguồn sống bằng máu phát xuất từ thân thể của mẹ cháu. 

Sau khi phục hồi sức khỏe cho hai mẹ con. Người ta nghe bà mẹ kể lại rằng. Tuy bị chôn vùi ở dưới đống gạch đổ nát của tòa cao ốc. Nhưng hai mẹ con chúng tôi quả thật đã gặp vận may. Có một cái đà thay vì đổ suống đập vào chúng tôi thì lại bị ngăn lại bởi bức tường vụn và trở thành vật chắn giúp hai mẹ con chúng tôi không bị đè chết. Sau đó, đứa con vài tháng tuổi của chị đói quá khóc thét lên. Bà mẹ không biết phải làm gì! Dòng sữa thì khô quặn vì đã mất mấy ngày họ đâu có gì để ăn và để uống. Bà mẹ mò mẫm trong bóng tối và tay bà đã chạm vào một vật sắc và nhọn. Với bản năng yêu thương của một người mẹ, bà không kịp suy nghĩ, lập tức dùng ngay vật nhọn đó cắt vào ngón tay của mình và đặt vào miệng cháu. Cứ thế mỗi lần con của bà khóc thét lên là một vết cắt của yêu thương được xuất phát từ thân thể của bà. Cứ thế cho đến khi bà ngất đi vì bất tỉnh và không hề biết những chuyện xẩy ra sau này.

Người ta hỏi bà là khi cắt da thịt mình để lấy máu thay sữa cho con, bà không sợ chết sao? Bà trả lời rằng với bản năng của người mẹ, tôi không có thời gian để suy nghĩ. Sự sống còn của con tôi là tất cả những gì mà tôi có thể làm được; cho dù giờ này biết làm thế rồi chết, tôi vẫn làm.

Anh chị em thân mến, 

Tình mẹ thật cao cả. Ơn gọi làm mẹ thật thiêng liêng. Nó không chỉ là một chức năng mang tính thể lý hay sinh vật của người phụ nữ. Ngày nay người ta bàn nhiều về việc trao ban các thừa tác vụ trong Hội Thánh cho phụ nữ. Nhưng có bao giờ chúng ta nghĩ đến việc phong chức cho các phụ nữ làm mẹ hay chưa? 

Thật ra, mẹ không cần tôn phong. Mẹ là một Thiên chức mà Thiên Chúa ban tặng cho các người phụ nữ. Theo một nghĩa nào đó, chỉ có mẹ mới có quyền mang thai, nuôi dưỡng và thông ban sự sống cho con người ngay lúc còn trong bụng mẹ. Đó là sự ban tặng thiêng liêng của Thiên Chúa dành cho phụ nữ. Mẹ noi gương Đấng Tạo Hóa trong việc tạo nên những sinh vật mới và giúp chúng tồn tại. Vì cuộc sống là một món quà thiêng liêng từ Thiên Chúa cho nên khi người mẹ mang một cuộc sống mới vào thế giới này là lúc mẹ thực hiện phần vụ đáp trả lời mời gọi thiêng liêng nhất. Bất kỳ một người đàn ông nào, dù có muốn cũng không làm được việc này.

Sau đây là vài chia sẻ của các người mẹ gửi cho các con nhân ngày Mother’s day. Tâm tình của mẹ như thế này: “Mẹ không ngẫu nhiên hay tình cờ là mẹ của các con. Thật ra Mẹ và Ba cũng chẳng có kế hoạch cụ thể khi sinh ra các con. Người lập kế hoạch này là Thiên Chúa. Mẹ chỉ là người cộng tác, thừa hành và đón nhận. 

Quả thật, sau khi tạo dựng nên người phụ nữ, Thiên Chúa đã đặt tên cho bà là E-và, có nghĩa là “mẹ chúng sinh”. Qua việc đặt tên, Thiên Chúa muốn nhắn gửi cho bà biết rằng chính Thiên Chúa đã tạo nên tình mẫu tử, và Người cũng muốn bà và những người mẹ sau này cộng tác vào chương trình tạo dựng của Người bằng cách sinh hạ chúng sinh. Thật vậy, các con đã được Chúa chọn để ban cho mẹ. Các con nằm trong kế hoạch vẹn toàn của Thiên Chúa để ban cho mẹ. Mẹ chỉ biết xin vâng và đội ơn Thiên Chúa thay cho các con.”

Và có thêm một bà mẹ khác đã tâm sự rằng: “Sau khi thấy các người con của mẹ lớn khôn và trưởng thành. Mẹ đã thốt lên rằng Chính Chúa làm chứ không phải tôi. Chúa biết mọi sự và hiện diện khắp mọi nơi cho nên mọi điều Người làm là phần ích của con cái tôi. Thiên Chúa không hề sai lầm. Người binh vực và yêu thương các con cho nên tôi tin Chúa đã chọn tôi làm mẹ cho đàn con của mình hơn là tôi tin vào chính tôi nữa.”

Tâm tình của mẹ không bao giờ cạn. Thân xác và hình hài của mẹ có thể bị cất nhắc đi. Nhưng tâm tư của mẹ vẫn còn in thật rõ nét trong cuộc sống của các người con. Mẹ chính là nguồn suối tình yêu tuôn chảy không ngừng. Để đáp trả, chúng ta có một cách nói tuy đơn sơ nhưng diễn tả tất cả, đó là: Thưa mẹ, chúng con thật vinh dự khi có mẹ là mẹ chúng con. Chúng con tôn vinh và tri ân các người mẹ, không phải vì những gì mà mẹ đã làm cho bằng là mẹ của chúng con. 

Vâng, mẹ là tất cả, là thế giới của chúng con. Nhờ mẹ mà chúng con nhận ra tình yêu lân tuất, tình yêu cao cả của Thiên Chúa, Đấng đã tín thác và đặt chúng con vào cung lòng mẹ để mẹ giữ gìn và chăm sóc. Xin dâng lời cảm tạ và tri ân. Mẹ mãi mãi là mẹ chúng con. 

Happy Mother’s Day. Xin tôn vinh và dâng một nén hương trầm lên mẹ hôm nay và luôn mãi, Amen!


Wednesday, 1 May 2024

YÊU THƯƠNG LÀ THẾ ĐẤY!

 

Trong bài Tin Mừng tuần trước, Đức Giê-su đã dùng hình ảnh cây nho để diễn tả sự liên kết mật thiết mà người môn đệ không thể thiếu được trong cuộc sống. Như cành nho tiếp nhận nhựa sống từ thân cây nho thế nào thì cuộc sống của các tín hữu, môn đệ của Chúa Phục Sinh cũng phải gắn liền với Chúa Giê-su như thế. Và một khi chúng ta ở lại trong mối dây hiệp thông mật thiết với Chúa thì chúng ta cũng đuợc thúc đẩy ra đi để nối kết với anh chị em mình. Điều này chỉ có thể được thực hiện, một khi chúng ta quyết định “ở lại trong tình thương của Chúa.”

Nhưng làm thế nào để có thể ở lại trong tình thương của Chúa. Câu trả lời được tìm thấy trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúa dẫn chúng ta bước thêm một buớc nữa, buớc sâu xa hơn, cụ thể hơn. Một bước đi không dựa trên lý thuyết nhưng bằng hành động. Đó là việc chúng ta giữ các giới răn của Chúa, và giới răn của Chúa là: “Anh chị em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh chị em.”

Tình thương là sứ điệp căn bản cấu tạo và nuôi dưỡng sức sống của người môn đệ. Đó không phải là điều chúng ta có thể sở hữu rồi trao ban cho người khác như trong cách diễn tả của chúng ta như: “Tôi yêu anh, yêu chị, yêu em, yêu cha, yêu mẹ… hay con yêu Chúa.” Khi nói với nhau như thế, chúng ta có thể ám chỉ và coi tình yêu như là một thứ gì thuộc về mình rồi trao cho tha nhân.

Thật ra, sứ điệp mà Chúa nói với chúng ta hôm nay không phải là tình yêu của chúng ta dành cho Chúa mà là tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Ý nghĩa này quá rõ ràng qua Lời Chúa phán hôm nay “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh chị em như vậy.”

Tình thương mà Đức Giê-su ban phát hoàn toàn xuất phát từ Chúa Cha. Tình thương của Thiên Chúa không lệ thuộc vào tình trạng của con người, có nghĩa là Thiên Chúa yêu tôi không phải vì tôi tốt hay xấu, thánh thiện hay tội lỗi, giầu hay nghèo, sang hay hèn, nam hay nữ, quí tộc hay thứ dân… Người yêu chúng ta vì bản chất của Thiên Chúa là Tình yêu. Vì vậy, bất kỳ một khả năng yêu thương nào của chúng ta cũng chỉ là sự mở rộng của Tình Yêu nơi Thiên Chúa. Và, một khi chúng ta yêu nhau là lúc chúng ta được lôi kéo vào và sống trong quỹ đạo tình thương của Thiên Chúa.

Như thế, vấn đề đặt ra cho chúng ta suy nghĩ hôm nay là sống, chứ không phải là giải thích cho người ta hiểu về sứ điệp Yêu Chúa và thương tha nhân như thế nào. Và đây cũng chính là điều mà Đức Giê-su đã thực hiện trong cuộc sống. Người không chỉ dậy chúng ta yêu Thiên Chúa và tha nhân mà thôi; nhưng bằng chính cuộc sống hiến dâng Người đã làm chứng về điều mà Người đã dậy.

Với Chúa Giêsu chúng ta tìm ra đuợc một giải pháp của yêu thương, đó chính là không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu. Chúa Giêsu đã hy sinh hiến mình trên thập giá để cứu độ chúng ta. Người đã chết ngay khi chúng ta còn là tội nhân. Sự chết của Người là giải pháp giúp chúng ta giao hoà với Thiên Chúa. Tình yêu hiến dâng của Chúa là một tình yêu chân chính vuợt lên trên mọi thứ tình mà thế gian có thể ban tặng. Và đó cũng là mối tình mà Người muốn chúng ta sống và chia sẻ cho nhau. Sau đây là vài gương sáng.

Trong Giáo Hội, chúng ta thấy rất nhiều gương sáng của các đấng đã sẵn sàng hy sinh tất cả, thể hiện tình thương yêu mà các Người đã cảm nhận từ Thiên Chúa, ra đi phục vụ người nghèo khó.

Như trường hợp của cha Thánh An Phong. Trước tiên, thánh nhân là linh mục triều. Sau nhiều ngày tháng miệt mài nhiệt tâm phục vụ tại các họ đạo khiến Ngài bị kiệt sức. Vì thế bác sĩ buộc cha An Phong và các bạn đồng hành phải đi dưỡng sức tại Scala thuộc xứ Naples. Vị trí và phong cảnh của Scala thật trữ tình, nó nằm trên một ngọn núi hướng ra mặt biển, không khí thật trong lành. Quả là nơi lý tưởng để nghỉ ngơi.

Tuy nhiên, phong cảnh trữ tình và không khí trong lành như thế cũng không quyến rũ được cha Thánh. Trái lại, chính những ngọn gió đó đã làm thay đổi đời Người. Vì vừa đến nơi Thánh An Phong đã nhận thấy những người nông dân, kẻ chăn chiên và dân chúng tại Scala bị bỏ rơi, không người chăm sóc.

Nhìn thấy hoàn cảnh của dân chúng như thế, cha Thánh An Phong và các bạn đồng hành động lòng thương rồi tụ họp những người nghèo khó trong vùng lại. Người dậy dỗ và chuẩn bị cho họ lĩnh nhận các bí tích. Nghe tiếng Người, dân chúng thuộc các vùng lân cận lũ lượt kéo đến để nghe giảng dậy.

Phát xuất từ tình yêu của Thiên Chúa, đứng trước tình hình thực tế, với một nhu cầu cần thiết. Cha Thánh An Phong và các bạn đồng hành đã nhận ra việc phải làm, nên đã quyết định tụ họp anh chị em cùng chí hướng thành lập nhà dòng, đó là Dòng Chúa Cứu Thế chuyên lo cho những người bị bỏ rơi, những người nghèo khó.

Trong thời gian gần đây, chúng ta nghe nhiều về những công tác hoạt động phục vụ người nghèo của các nữ tu thuộc dòng mà mẹ Tê-rê-sa thành Calculta đã sáng lập. Mẹ vốn là một nữ tu dòng Loreto, chuyên lo việc giảng dậy. Trên đuờng đi tham dự tĩnh tâm, Mẹ chứng kiến không biết bao nhiêu trẻ em bị bỏ rơi, những người già nua chết cô đơn trên vệ đường mà không có thân nhân ở bên để vơi bớt những nỗi khổ đau cuối đời họ. Cho nên, vì những người nghèo khó và cho họ, nhất là được thôi thúc bởi tiếng gọi yêu thương, mẹ đã từ bỏ nếp sống an toàn trong một tu viện chuyên lo giảng dậy cho các trẻ em thuộc giai cấp thương lưu, bắt đầu lại bằng việc dấn thân vào các hang cùng ngỏ hẻm để phục vụ người cùng khốn. Hiện nay số người theo chân mẹ hầu như có mặt trên toàn thế giới. Đối với mẹ và các nữ tu thuộc dòng mẹ chỉ biết sống cho và sống với những người khổ đau nghèo đói.

Trở về những ngày đầu tiên, anh chị em tín hữu tiên khởi đã làm chứng bằng lối sống của Chúa khiến cho những người chung quanh kháo láo với nhau rằng: Kìa xem, họ yêu thương nhau là chừng nào. Từ việc chứng kiến lối sống diệu kỳ của các tín hũu, những người chung quanh mới đi tìm hiểu xem anh chị em tín hữu thuộc giáo đoàn tiên khởi đã dựa vào đâu mà có lối cư xử với nhau tốt đẹp duờng ấy.

Ngày nay, những người chưa tin sẽ tin nếu chúng ta đủ chứng từ cho họ nhận thấy Tình Yêu của Thiên Chúa hoạt động nơi mình. Tình yêu đó sẽ thúc đẩy chúng ta đến với nhau, yêu thương nhau như Chúa đã yêu, để mọi người nhận biết chúng ta là mộn đệ của Thầy. Vì chúng ta yêu thương nhau. Amen!

 

Sunday, 28 April 2024

TRONG CHÚA MỚI SINH HOA KẾT TRÁI

Anh chị em thân mến,

Đức Giê-su, trong bài Tin Mừng hôm nay đã nói cho chúng ta biết rằng chính Người là cây nho đích thật và chúng ta là cành. Như cành nho muốn sinh hoa kết trái thì phải gắn liền vào thân cây nho. Chúng ta cũng thế, nếu muốn trổ sinh hoa trái nhiều hơn thì phải gắn liền với thân thể của Chúa và ở lại trong Người.

Tôi đã nghe đoạn Tin Mừng này rất nhiều lần. Nhưng, hôm nay khi nghe và suy niệm tôi thấy mình bị cuốn hút một cách mạnh mẽ vào lời tuyên bố của Chúa Giê-su, đó là không có Chúa, chúng ta chẳng làm gì được. Tôi xin anh chị em lưu ý rằng Đức Giê-su không nói rằng nếu không có Người, chúng ta có thể làm được một vài điều quan trọng. Không! Đức Giê-su nói nếu không có Người, chúng ta không làm được gì hết. Việc chúng ta ở lại trong Chúa diễn tả niềm tin tưởng, sự gắn bó, hiệp thông và cùng bước đi của chúng ta với Người.

Thật vậy, chỉ có ở lại với Chúa Giê-su chúng ta mới sinh hoa trái. Người luôn sẵn sàng, chờ đợi sự đồng ý, thậm chí cho phép của chúng ta để Người hành động. Phần chúng ta, hãy ở lại trong Người, hãy tin tưởng nơi Người là Đấng luôn trung tín với Lời Người đã hứa rằng: “Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái,”

Trong lúc suy tư tới đây, tôi chợt nhớ một câu chuyện. Truyện kể về hoàn cảnh của một thiếu nữ, ở độ tuổi mới lớn, dự định dọn nhà ra đi vì có vài mâu thuẫn và không chịu nổi các qui luật dường như hơi khó khăn của gia đình. Cô muốn thoát ly. Cô không muốn ở lại trong bầu khí dường như quá ngột ngạt của gia đình nữa.

Vào một ngày nọ, trong khi cô đi dạo tại một công viên gần nhà thì nhìn thấy con két nhỏ bị thương ở đôi cánh đang nằm bên lối đi dành cho người đi bộ. Khi thấy hoàn cảnh quá đáng thương của con vẹt. Bản tính của cô lại rất yêu thú vật nên cô đã bế chú vẹt về nhà, tự tay làm ổ và chăm sóc chú chim con. Vì bận rộn với công tác mới như thế cho nên cô không thể thực hiện ý định bỏ nhà. Cô sẽ thực hiện ý định này cho đến khi chim con lành bịnh và có thể bay lại được. Ngày qua ngày, sau cùng chim con cũng có thể nhẩy nhót và bay lại được và cô quyết định giải thoát chim con.

Cô bèn đem chú két ra công viên. Đang lúc phóng sinh thì cô một gặp một nhân viên bảo vệ thú vật đang đi tuần ở đó. Ông nghi là cô có ý định hành hạ thú vật nên tính phạt cô. Nhưng khi nghe cô giải thích ông mới hiểu rõ sự kiện bèn giải nghĩa cho cô biết việc thả chú chim con tại công viên không thích hợp, chim có thể bị nguy hiểm khi không được bảo vệ. Ông ta đề nghị cô hãy đem chim con bỏ vào rừng, nơi con chim thuộc về. Tại nơi đó chú chim con sẽ được bảo vệ. Bởi vì, khi chim sống theo bầy thì cơ hội sống sót cao hơn. Cô đã làm theo lời chỉ dẫn của ông. Chú chim con đã được trở về nơi chú thuộc về. Còn phần cô gái trẻ, ngạc nhiên thay khi trở về nhà cô cũng quên luôn ý định bỏ nhà ra đi.

Cùng một cách suy nghĩ, mọi tương quan chỉ được nối kết khi con người muốn ở bên nhau. Từ trong cùng một môi trường và ai cũng quyết tâm giữ mối dây liên kết với nhau thì sau cùng mối tương giao sẽ được thiết lập. Nhưng nếu bất kỳ một ai muốn dời đi thì mối quan hệ sẽ bị sứt mẻ.

Tương tự như thế, cho dù ước muốn của Thiên Chúa là muốn cuộc sống của chúng ta được thêm nhiều hoa trái, nhưng nếu chúng ta từ chối không hợp tác hay là không muốn ở lại trong mối quan hệ với Người và tha nhân thì Người cũng không thể làm gì khác để chúng ta trổ sinh hoa trái được. Và phần chúng ta sẽ bị khô héo. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta hãy nhìn lại, không phải thành quả hay các việc làm cho bằng mối tương quan của Thiên Chúa và chúng ta, và giữa chúng ta với nhau.

Như vậy, bài học của chúng ta hôm nay là: Sống đổi mới và sống liên kết với nhau. Đổi mới để chấp nhận nhau. Liên kết trong các sinh hoạt chung để việc xây dựng nhóm, xây dựng gia đình và cộng đoàn mỗi ngày mỗi gắn bó mật thiết với nhau hơn; rồi từ đó chúng ta đến với nhau bằng sự tin tưởng và lòng yêu thương.

Anh chị em thân mến,

Tin tưởng và yêu thương là hai đức tính nền tảng của người tín hữu. Các đức tính này cần được trau dồi và luyện tập trong cuộc sống. Niềm tin của chúng ta không dựa vào một vị Thiên Chúa của trí óc về tính siêu việt của Ngài, nhưng là một sự lệ thuộc vào Đấng đã nghe, đã thấy, đã sống lại và đang hiện diện để cứu thoát chúng ta khỏi ách nô lệ của sự dữ và thần Ác.

Từ đó, chúng ta làm chứng về sự hiện diện của Thiên Chúa qua cách xử thế của chúng ta với người khác. Chúng ta yêu người bằng con tim chân thật thể hiện qua hành động, không nơi đầu môi chót lưỡi. Tình yêu này được xuất phát bởi niềm tin vào Đức Giêsu, Con của Người.

Và, khởi điểm của sự yêu thương là chấp nhận sự khác biệt của nhau, giảm bớt các mối nghi kỵ và sợ hãi nhau. Thật vậy, mỗi người chúng ta là những cành nho được nuôi dưỡng bởi cây nho. Như cành nho, không cành nào giống cành nào. Chúng ta cũng thế, mỗi người đều có các vẻ đẹp khác nhau trong vẻ đẹp chung xuất phát từ Thiên Chúa. Và tự cành nho không thể sống được nếu không tiếp nhận sự sống từ cây nho, thì sự sống của chúng ta hoàn toàn phát sinh từ sự sống của Chúa: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy.” (Gio-an 15: 4-9) Có nghĩa là chỉ ở lại với Chúa và trong Chúa thì người môn đệ mới sinh hoa kết trái; bằng không thì sẽ bị khô héo và cháy đi.

Tuy nhiên, không phải là cứ ở trong Chúa rồi sẽ sinh hoa kết trái đâu! Hoa quả đuợc sinh ra từ nhựa sống của thân cây và cũng bị cắt tỉa để tươi tốt hơn thế nào thì cuộc sống của người môn đệ cũng cần đi vào mầu nhiệm Thập Giá mà chính Đức Giê-su đã buớc vào. Người môn đệ cũng cần bị cắt tỉa, cắt tỉa ý riêng, từ bỏ sở hữu; từ bỏ tất cả rồi vượt qua cái chết để buớc vào sự sống vĩnh cửu. Chỉ có bị cắt tỉa như thế thì con người mới đuợc dự phần vào cuộc sống vĩnh cửu với các giá trị mới mà Chúa Ki-tô Phục Sinh đem lại, nhờ vậy mà Thiên Chúa được tôn vinh và chúng ta quả thật rất xứng đáng là môn đệ của Người. Amen!

NGƯỜI CHĂN CHIÊN TỐT

Anh chị em thân mến,

Chúa nhật thứ tư trong mùa Phục sinh còn được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành. Đây là một hình ảnh vô cùng sống động mà Hội Thánh dùng để mời gọi con cái mình nhận ra lòng yêu thương, sự bao bọc và bảo vệ của Thiên Chúa như người mục tử nhân hậu sẵn sàng làm mọi sự, ngay cả hy sinh mạng sống, để bảo vệ đoàn chiên.

Cũng trong ngày hôm nay, Hội Thánh cổ võ và cầu nguyện cho ơn gọi chung cho tất cả môn đệ, không phân biệt phẩm trật, không loại trừ một ai. Tất cả đều được mời gọi noi gương Đức Giê-su, Đấng Chăn Chiên nhân hậu, Mục Tử duy nhất của thế giới mọi thời.

Trước tiên, chúng ta hãy coi lại cách nhìn và sự hiểu biết của chúng ta về vai trò của người mục tử. Chúng ta thường hay gọi Đức Giáo Hoàng, các Đức Giám Mục, và đôi khi các Linh Mục là các nhà mục tử. Đây là kiểu nói quá hạn hẹp vì cho rằng chỉ có các Đấng bản quyền mới có trách nhiệm chăn dắt con chiên, bổn đạo.

Ngày xưa, người ta nói rằng việc mở mang Nước Chúa được thực hiện bởi hàng Giáo Phẩm. Ngày nay, nhờ sự tác động của Thánh Linh, nhất là từ công đồng Vatican II, chúng ta đã có được cái nhìn đúng đắn hơn. Trách nhiệm mở mang Nước Chúa được trao ban cho tất cả mọi tín hữu, ai ai cũng có bổn phận loan báo Tin mừng.

Chính vì thế, một mặt vai trò ‘mục tử’ được dùng để nói đến trách nhiệm của chúng ta là những kẻ được đặt để chăm sóc, quan tâm và nhất là để trao ban tình yêu cho người khác tùy theo ơn gọi mà Chúa đã mời. Mặt khác, chúng ta phải thừa nhận rằng chính Chúa Giêsu mới là Đấng chăn chiên nhân hậu, còn chúng ta tuy được ban tặng cho danh hiệu đó; nhưng chúng ta vẫn là người thừa hành tác vụ từ Chúa. Căn bản, mỗi người chúng ta luôn là những con chiên trong ràn chiên của Chúa.

Hẳn anh chị em còn nhớ, các ngôn sứ của thời Cựu ước đã dùng hình ảnh ‘người chăn chiên’ để ám chỉ đến các vị lãnh đạo về phần đời cũng như trong đạo của người Do Thái. Khái niệm này đã đuợc hình thành trong hoàn cảnh của dân Do Thái khi bị lưu đầy bên Babylon. Trong bối cảnh như thế, khi mà dân Do thái đã mất tất cả như: mất đi nền văn hóa truyền thống, xa quê hương và không còn đền thờ để thờ phượng,... thì ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã khơi lên niềm hy vọng cho dân bằng cách trình bầy Thiên Chúa là Người chăn chiên tốt lành, là Mục tử nhân hậu, là Đấng dẫn đường để dẫn dắt ràn chiên, tìm chỗ cho chiên ăn, dẫn lại về ràn các con chiên lạc đường và cứu chiên thoát khỏi các cạm bẫy, các hiểm nguy của các thợ săn và thú dữ. (Ed 34:11–16). Từ đó mỗi khi nói đến người chăn chiên thì dân Do Thái hình dung ra hình ảnh của một vị Thiên Chúa luôn yêu thương và quan tâm đến họ.

Kính thưa quí cụ, quí ông bà và anh chị em,

Trở lại với trình thuật của Tin mừng hôm nay, chúng ta hãy cố gắng tìm ra điểm then chốt trong mối quan hệ giữa người chăn chiên và ràn chiên, nhờ đó chúng ta sẽ tìm ra những bài học bài học hữu ích trong cuộc sống.

Trước hết, chúng ta cần đồng ý với nhau rằng qua cuộc sống và sứ vụ, Đức Giê-su đã chứng thực điều Người đã phán dậy hôm nay, chính Đức Giê-su là người chăn chiên tốt lành và thiện hảo. Người biết rõ nhu cầu, sở thích, ưu điểm, khuyết điểm và các thương tích của từng con chiên. Người đã hy sinh chính mạng sống mình để bảo vệ và ban sự sống cho các con chiên trong ràn.

Đối với Đức Giê-su thì tất cả mọi người không cần phân biệt chủng tộc hay mầu da, tự do hay nô lệ, tín ngưỡng hay lối sống, nam hay nữ, giầu sang hay nghèo hèn… Tất cả đều thuộc về ràn chiên mà Chúa Cha đã trao cho Người để chăm nom. Trong Chúa không có sự tách biệt. Tất cả đều bình đẳng, không ai hơn ai kém. Mọi người đều có giá trị thật quan trọng trong con tim của Người chăn chiên tốt lành là Đức Giê-su Kitô.

Người phán: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi. Tôi biết chúng và chúng theo Tôi” là một xác định thật quan trọng nói lên mối tương quan giữa Đức Giê-su và các con chiên. Người không lý giải hay biện minh. Người đã phán như một Đấng có uy quyền. Tôi là! Tôi là Người Chăn Chiên Tốt ! Trong mối dây tương quan giữa Chúa Cha và mình, Đức Giê-su đã xác định một cách thật mạnh mẽ: Tôi là Người Chăn Chiên Tốt, Tôi biết chiên tôi, chúng biết và nghe tiếng Người. Đây không là vấn đề để tranh luận hay bàn cãi. Ai tiếp nhận thì điều mà Chúa phán hôm nay nghiễm nhiên trở thành sự thật và của mình.

Nghe tiếng Chúa, hôm nay, có nghĩa là nhận ra tiếng Chúa trong mối dây thân mật dưạ trên tương quan của Tình Yêu, của gắn bó và hiệp thông. Thậm chí đến mức độ, trong mối tương quan này họ không cần nói, cũng chẳng cần nghe… mọi âm thanh dường như cần dừng lại để cho cảm xúc của Tình Yêu và Lòng Mến dâng trào và ngâp tràn trong giây phút hai người biết nhau, như “Tôi biết chúng và chúng biết tôi.”

Như vậy, chúng ta biết rằng chỉ mình Đức Giê-su là Đấng chăn chiên tốt lành. Người biết rõ nhu cầu, sở thích của từng con chiên trong ràn và cả những con chiên ngoài ràn nữa. Cả thế giới và mọi người sống trong đó là ràn chiên thuộc về tay Người. Người đã chết để bảo vệ và ban cho mọi con chiên sự sống và không ai có thể lấy mất được.

Còn chúng ta, mỗi người đều là những mục tử, chăn dắt ràn chiên, nhỏ hay lớn, mà Thiên Chúa trao phó. Chúng ta không thể nào chu toàn nhiệm vụ cao cả này nếu không sống rập theo gương mẫu của Người Chăn Chiên duy nhất là Đức Ki-tô, Đấng đã chấp nhận mọi đau khổ, và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình để diễn tả tình thương cho mọi con chiên của Người. Tuy nhiệm vụ rất khó khăn và còn nhiều gian nan nhưng chúng ta sẽ làm được vì có Chúa Chiên lành, Đấng đang bồng bế và ôm ấp chúng ta trong vòng tay yêu thương của Người. Tin Tưởng vào Tình Yêu Nhân Ái của Người, chúng ta cùng tiến bước và làm như Người đã làm, hy sinh cho nhau sống và sống đầy tràn. Amen!

Monday, 22 April 2024

CHÚA SỐNG LẠI, TA LÀ CHỨNG NHÂN

 

Anh chị em thân mến,

Trong những tuần qua, chúng ta đã được nghe các trình thuật nói về việc Chúa đã sống lại. Người đã sống lại, đang hiện diện, đồng hành và sống với chúng ta, và chúng ta hãnh diện là các chứng nhân về sự sống lại đó của Người. Đó chính là sứ điệp trong bài Tin Mừng hôm nay. Mời anh chị em cùng nghe các diễn tiến trong lần hiện ra này.

Hai môn đệ, mà chúng ta chỉ biết một người tên là Cleopas, đang say sưa và vui sướng kể lại cho các môn đệ khác biết, trên đường đi Em-mau, Chúa Giê-su đã hiện ra cho các ông như thế nào. Bất thình lình, không biết từ đâu Chúa hiện đến, cắt ngang cuộc trò chuyện của họ và đứng giữa các ông rồi nói “Bình an cho anh em.” Họ nhìn thấy Chúa, nghe Chúa nói, nhưng lại không nhận ra Chúa mà còn tưởng là ma.

Họ không nhận ra bản tính thần linh và thánh thiêng của Chúa, Đấng đang ở giữa họ. Họ tiếp tục sống trong lối suy nghĩ của họ. Họ vẫn chưa nhìn ra sự sống và sự đổi mới mà Chúa Phục Sinh đem lại. Sự Phục Sinh không thể là một biến cố dựa trên lối suy nghĩ hay khám phá bằng lý trí của con người. Đó là một sự kết hợp và nối tiếp giữa chết và sống lại. Vẫn biết thân xác sống lại của Chúa là thân xác đã bị thương tích nhưng hôm nay thân xác của Chúa không bị ràng buộc bởi các qui luật tự nhiên của không gian và thời gian trong thế giới mà chúng ta đang sống nữa.

Bài tường thuật củng cố niềm tin của chúng ta. Tin thôi cũng chưa đủ mà còn phải làm chứng về sự sống lại của Chúa bằng chính lối sống của mình như Lời Chúa nói hôm nay rằng: anh em là chứng nhân về những điều mà anh chị em đã có kinh nghiệm.

Việc các môn đệ làm nhân chứng không có nghĩa là họ đã tìm và có được câu trả lời cho tất cả mọi sự. Cuộc sống nhân chứng có nghĩa là bây giờ họ và chúng ta có được cuộc sống theo đúng ý Chúa. Họ là nhân chứng không dựa trên những gì họ biết, nhưng dựa trên mối quan hệ của họ với Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã sống lại và cùng sống với họ.

Thật vậy, nhìn lại từ những ngày đầu tiên của Ki-tô giáo cho đến hôm nay, chúng ta nhận ra rằng chỉ có một chứng cớ thuyết phục con người mọi thời đó chính là đời sống chứng tá của các tín hữu. Với Chúa Phục Sinh, những ai tin vào Chúa đã đuợc biến đổi, sẵn sàng quay lưng lại với các tiêu chuẩn của nền văn hoá sự chết, rồi quyết tâm biểu dương văn hoá sự sống qua lối sống yêu thương, tha thứ và trao ban cho nhau sự sống. Họ làm chứng cho thế giới nhận ra rằng Chúa đã sống lại và hiện đang sống mãnh liệt trong lối sống của họ. Đó là những gì mà Chúa Giê-su đã làm cho các môn đệ, và đó cũng là những gì Người muốn chúng ta lĩnh nhận.

Anh chị em thân mến,

Tôi vẫn biết rằng trong cuộc sống, chúng ta đã trải qua những khoảnh khắc khó quên. Những khoảnh khắc này đã ảnh hưởng và làm thay đổi lối suy nghĩ, hành động, cách cư xử của chúng ta. Trong các thời điểm đó, chúng ta nhận ra sự hiện diện của Chúa Ki-tô Phục Sinh, Đấng đổi mới cuộc sống của chúng ta. Đó chính mục đích mà Chúa Phục Sinh muốn chúng ta có.

Tuy nhiên trong bài Tin Mừng hôm nay, có một chi tiết mà chúng ta nên để ý đó là giây phút mà hai môn đệ nhận ra Chúa đã sống lại là lúc Người bẻ bánh. Và giờ đây, theo dấu chân họ, chúng ta hãy tự hỏi là mình đã nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh như thế nào?

Khi nói đến việc nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh là lúc chúng ta tin và nhận ra sự hiện diện của Chúa trong bí tích Thánh Thể và trong Thánh Lễ. Quả thực không sai!

Căn cứ vào sách Công Vụ Tông Đồ chúng ta nhận thấy việc bẻ bánh đã có từ thời các Tông Đồ. Họ chuyên cần nghe giáo huấn của các Tông Đồ, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng… Họ sống hiệp nhất và yêu thương, mọi sự đều là của chung và ai nấy tiêu dùng theo nhu cầu của mình… Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được người người thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn thêm nhiều người tin vào Chúa và đuợc cứu độ. Qua đó chúng ta nhận thấy việc bẻ bánh đuợc thực hiện tuy với tâm hồn đơn sơ, nhưng lại rất thực tiễn. Họ không chỉ tham dự các nghi thức nhưng còn chia sẻ lối sống và san sẻ cho nhau tuỳ theo lợi ích và nhu cầu của từng người.

Lối sống này được nhấn mạnh như một lời mời gọi chúng ta nhìn lại việc làm của mình! Viêc cùng nhau cử hành bữa tiệc Thánh Thể, bẻ bánh mà chúng ta gọi là Thánh Lễ ngày nay có phản ảnh lối sống hiệp nhất và yêu thương của chúng ta hay không? Bằng không thì chúng ta đang lập lại những gì mà anh chị em tín hữu thuộc công đoàn Cô-rin-thô đã phạm phải trước đây. Và sau đây là phản ứng và huấn dụ của Thánh Phao-lô:“…tôi chẳng khen anh em đâu, vì những buổi họp của anh em không đem lại lợi ích gì, mà chỉ gây hại… Khi anh em họp nhau, thì không phải là để ăn bữa tối của Chúa. Thật vậy, mỗi người lo ăn bữa riêng của mình trước, và như thế, kẻ thì đói, người lại say. Anh em không có nhà để ăn uống sao? Hay anh em khinh dể Hội Thánh của Thiên Chúa và làm nhục những người không có của? Tôi phải nói gì với anh em? Chẳng lẽ tôi khen anh em sao? Về điểm này, tôi chẳng khen đâu!”

Sau đó Thánh Phao-lô nhắc lại cho họ biết sự hiện diện của Chúa Ki-tô Phục Sinh khi Người bẻ bánh. Rồi Ngài tiếp tục khuyên dậy họ cần xét mình, biện phân để khỏi bị xét xử. “Cho nên, thưa anh em, khi họp nhau để dùng bữa, anh em hãy đợi nhau. Ai đói, thì ăn ở nhà, kẻo anh em đến họp mà hoá ra để bị kết án…” (1Cor 11: 17-34)

Như vậy việc nhận ra hay tin rằng Chúa Kitô Phục Sinh hiện diện qua việc bẻ bánh thật cần thiết và quan trọng. Tất cả đã đuợc lưu truyền và làm chứng bởi đời sống của các chứng nhân qua bao thế hệ. Cho đến ngày nay, chúng ta vẫn được mời gọi sống vai trò của những chứng nhân không chỉ bằng lối sống phụng vụ mà còn bằng chính cuộc sống chia sẻ và yêu thương của chúng ta nữa.

Và khi thực hiện đuợc như thế, chúng ta đã sống thật đúng như lời nhắn nhủ của Chúa “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”

Thật vậy, sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa chúng ta không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Thiên Chúa ở lại với chúng ta mãi mãi vì Ngài là Em-ma-nu-en. Đó là tinh thần mà chúng ta mang đến cho nhau qua bữa tiệc bẻ bánh. Không phải chỉ có chúng ta, nhưng Chúa Kitô Phục Sinh đồng hành và cùng hiện diện với chúng ta nữa. Vì Danh Nguời mà chúng ta chia sẻ và yêu thương nhau. Và chúng ta là những chứng nhân về các điều ấy.

Sau cùng, chúng ta biết rằng niềm tin của chúng ta dựa trên lối sống của các chứng nhân. Họ đã và đang làm chứng về sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời họ. Và qua những lần bẻ bánh, chúng ta có bổn phận làm chứng cho nhau biết về sự hiện diện của Chúa.

Nói chung, Chúa Phục Sinh chính là trung tâm của cuộc sống chúng ta vậy. Amen

 

Wednesday, 3 April 2024

CHÚA PHỤC SINH, CÒN MANG ĐẦY THƯƠNG TÍCH!


Anh chị em thân mến,

Hẳn anh chị em vẫn biết rằng Phục Sinh là mầu nhiệm; một mầu nhiệm nền tảng và cao trọng nhất của Ki-tô giáo. Và nếu đó là mầu nhiệm thì đầu óc con người sao hiểu thấu được! Chỉ còn nhờ vào niềm tin. Vì thế, mục đích của việc Chúa hiện ra là để củng cố đức tin cho các Tông Đồ và các môn đệ, sau đó Người trao ban cho các ông sứ mạng làm chứng nhân về biến cố Phục Sinh mà chính các ông cảm nhận.

            Trình thuật hôm nay kể lại hai lần hiện ra của Chúa Giê-su. Việc đầu tiên Người làm trong hai lần hiện ra là chúc bình an cho các môn đệ. Đây không phải là lời chúc mà thôi, nhưng đó là ân huệ đầu mùa của Chúa Phục Sinh ban cho các môn đệ. Người không chỉ chúc một lần, nhưng đã lập lại lời chúc ‘Bình an cho anh em’ đến ba lần.

Khi đón nhận ơn bình an của Chúa Phục Sinh, các môn đệ cũng hiểu rằng họ phải trao ban cho người khác điều mà họ vừa lĩnh nhận, nghĩa là trở thành sứ giả bình an cho nhân loại. Có nghĩa là khi chúng ta chúc bình an cho nhau là lúc chúng ta cầu mong cho nhau được bình an thật sự. Việc này chỉ có thể có được khi chúng ta được bình an mà thôi. Không ai trong chúng ta có thể trao cho người khác điều mà chúng ta không có!

Sau đó Chúa cho họ thấy tay và cạnh sườn của Người. Khi làm như thế, Chúa muốn cho các ông nhận ra rằng thân xác của Chúa Phục Sinh và con người đã trải qua khổ nạn, chết trên Thập Giá là một người. Vinh quang chỉ tỏ hiện qua hành trình của đau khổ. Cho dù hy sinh đi liền với các bi kịch trong cuộc sống của Chúa; nhưng qua hy sinh Chúa đã hoàn tất mầu nhiệm Tình Yêu để chiến thắng bằng cuộc chỗi dậy và hiện diện một cách vĩnh cửu. Khi thấy những chứng tích đó, các môn đệ đã vui mừng và tin rằng người đang ở trước mặt họ là Đức Giê-su, vị Thầy đáng kính của họ.

Sau đó, Chúa Giêsu tiếp tục ban bình an và Thánh Thần cho các ông để các ông ra đi hoàn thành sứ mạng mà chính Người vừa hoàn tất.

Lần hiện ra thứ nhất này không có mặt Tôma. Các môn đệ khác đã kể lại cho ông biết về việc này: “Chúng tôi đã được thấy Chúa”. Nhưng Tôma đã không tin vào lời loan báo của các bạn mình. Thật ra, các bạn của ông cũng chẳng làm chứng được gì. Họ vẫn đóng kín vì sợ hãi. Cho dù Thần khí đã đuợc trao ban, nhưng các bạn của Tôma đã không để cho sức mạnh của Thần Khí tác động. Họ vẫn chưa ra khỏi vùng an toàn, vẫn dựa vào các cánh cửa đã đuợc đóng kín để bảo vệ, chưa sẵn sàng ra đi rồi vịn cớ là không biết đi đâu! Lời loan báo của họ không đi đôi với việc họ làm thì làm sao khiến Tôma tin đuợc.

Còn Tôma, ông muốn niềm tin của ông phải dựa trên trải nghiệm của cá nhân; ông muốn chạm vào thân thể của Chúa, nên đáp rằng: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” 

Tám ngày sau, Chúa lại hiện ra với các ông, lần này có mặt Tô-ma.

Cũng như lần hiện ra lần trước. Việc đâu tiên Người làm là ban bình an cho các môn đệ rồi sau đó quay sang Tôma và nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Tôma đã đáp trả bằng một niềm xác tín thật cao độ rằng Người là CHÚA và là THIÊN CHÚA của ông.

Sau đó qua Tôma, Chúa đã thể hiện tình thương của Người dành cho chúng ta bằng cách trao ban cho chúng ta thêm mối phúc nữa là “Phúc thay những người không thấy mà tin.”

            Trước khi xem xét cách biểu lộ niềm tin của Tôma, chúng ta biết rằng ông không phải là trung tâm của bài Tin Mừng hôm nay. Trình thuật nói về việc Chúa hiện ra thì Chúa phải là trọng tâm. Khi nhìn như thế, chúng ta mới khám phá ra lòng đại lượng phát sinh từ tình yêu của Chúa.

Chúng ta vẫn thường đuợc dậy bảo niềm tin vào Chúa phải là một niềm tin vô điều kiện, phó thác hoàn toàn theo Chúa. Nhưng hôm nay, Chúa hành xử với Tôma quả thật khác hẳn với lối suy nghĩ cầu toàn của chúng ta. Chúa chấp nhận điều kiện mà Tôma đưa ra. Cho dù đã đuợc tôn vinh, nhưng Chúa vẫn không che dấu các thương tích. Đó chính là chứng tích của Tình yêu thì làm sao phải che dấu! Các vết thương đó cần đuợc bộc lộ hơn là che dấu.

            Tôma cũng có nỗi đau của riêng mình. Ông cũng là nguời đang mang thương tích. Chúa Giê-su, Thầy đáng kính của ông đã chết. Cái chết của Người để lại trong ông một tâm trạng buồn rầu và mất mát; ông và dân tộc ông còn biết trông cậy và nương tựa vào ai nữa đây. Ông đi trốn một mình. Ông cần có một không gian và nơi ẩn nấp để đối diện với niềm đau này. Vì thế ông đã hụt mất một cơ hội khi Chúa hiện ra lần trước.

Các bạn của ông cũng thế, họ cũng có niềm đau rồi sinh ra chán nản và thất vọng. Nhưng họ đã chọn cách đối diện với bi kịch mà họ đang đón nhận bằng cách liên đới, chia sẻ, an ủi và hỗ trợ nhau. Trước đây họ nương tựa vào Thầy. Sau khi Thầy của họ bị giết, họ không biết số phận của họ rồi sẽ ra sao? Thầy của mình quyền năng đến dường nào mà còn bị xử tử phương chi là họ, những cậu học trò nhút nhát và sợ sệt. Trong tình thế đó, họ chọn giải pháp đi trốn để dấu đi nỗi sơ hãi.

Nói chung là chỉ có ai đã kinh qua đau khổ mới thông cảm cho những người đồng cảnh ngộ. Chúa đã bị thương tích và Người cũng nhìn thấy các nỗi đau khổ mà Tôma đang đối diện; vì thế Người cũng muốn cho ông biết là Người rất thông cảm với yêu cầu của ông.

Qua sự tiếp xúc, Thầy trò gặp và nhận ra nhau. Chúa chữa lành thuơng tích cho ông. Còn ông nhận ra Thầy mình là Chúa và là Thiên Chúa của ông. Ông đầu phục hoàn toàn trước quyền năng của Thầy mình, Đấng mới bị án tử mấy ngày qua.

Để kết thúc bài suy niệm, chúng tôi xin gửi đến anh chị em tâm tình của Đức Hồng Y Luis Antonio Gokim Tagle đã chia sẻ cho các thành viên tham dự tĩnh tâm tại Tổng Công Hội lần thứ 25 của Dòng Chúa Cứu Thế, tổ chức ở Pattaya, vào năm 2018, tại Thái Lan. Ngài nói như sau:

Chúa Phục Sinh không xoá đi dấu vết của thập giá. Vết thương vẫn là vết thương. Thế giới của chúng ta đầy những vết thương. Ai nhắm mắt lại trước những vết thương của anh chị em mình thì không có quyền tuyên xưng, “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Chạm vào những vết thương của nhân loại là điều kiện cần thiết cho một đức tin đúng nghĩa.

Chúng ta hãy chạm vào vết thương của người nghèo, hãy đặt bàn tay vào cạnh sườn bị đâm thâu của họ. Đó chính là phần tuyên xưng đức tin của chúng ta. Chối từ những vết thương của anh chị em mình là cắt đứt những cầu nối của tình hiệp thông.

Chúng ta thường sợ chạm vào những vết thương của người khác. Tại sao vậy? Một phần sợ bị lây nhiễm, phần khác vì chúng ta sợ gợi lại chính những vết thương của chúng ta. Sợ hãi này làm cho chúng ta xa cách anh chị em chúng ta. Có một mối hiệp thông sâu hơn. Đó là hiệp thông với nhau trong những vết thương chung, nỗi đau chung, cái nghèo chung. Người liên kết chúng ta lại với nhau và đã ôm lấy tất cả chính là Chúa Giêsu đã trải qua muôn ngàn khổ đau rồi mới đuợc Phục Sinh. Trong Đức Ki-tô chúng ta hiệp thông với nhau; trong Chúa Cứu Thế chúng ta liên đới với nỗi đau và mang lấy vết thương của anh chị em mình.

Hãy gặp và chạm vào chính Chúa Phục Sinh, Đấng đang mang thương tích nơi những anh chị em nghèo, bị tổn thương, bị bỏ rơi, đang lầm đường, đầy tội lỗi. Cùng nhau đến với họ bằng sự dịu dàng của lòng thương xót của Thiên Chúa. Hãy để tình liên đới với người nghèo trở thành nền tảng, trở nên bản chất đích thật cấu tạo nên người môn đệ của Chúa Cứu Thế, Đấng đã sống lại và hiện diện nơi những con người tất bạt về mọi phương diện, thể xác cũng như tâm hồn.

Chúa Phục Sinh vẫn còn mang thương tích. Người đang chờ chúng ta nơi những con người đầy thương tích đó. Hãy đến để gặp và chạm vào họ vì Chúa Phục Sinh đang hiện diện và chờ chúng ta nơi những vết đau của tha nhân. Alleluia, Alleluia. Amen.