Thursday, 11 March 2021

THIÊN CHÚA YÊU TẤT CẢ, CÒN CHÚNG TA?

 

Anh chị em thân mến,

Trong bài Tin mừng hôm nay có một câu được nhiều người biết và cũng  được yêu thích nhất trong Tân Ước. Câu nói đó được coi như là toát yếu toàn bộ Tin Mừng mà Đức Giê-su đem đến và cũng bộc lộ bản chất đích thật của Thiên Chúa: Người chính là Tình Yêu. Tình Yêu của Người dành cho thế gian và mọi kẻ thuộc về nó. Tình yêu đó là “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Gio-an 3: 16)

Tình yêu của Thiên Chúa đã trải dài qua muôn thế hệ. Tình yêu đó đã xuất hiện ngay khi Người tạo dựng. Mọi sự Người tạo dựng đều tốt đẹp và thiện hảo. Trong khi đó thế gian chưa bao giờ tùng phục và tuân theo ý của Người. Quyền lực của thế gian luôn là thế lực chống đối Thiên Chúa, nhưng không vì thế mà thế gian có thể làm giảm uy lực Tình yêu của Thiên Chúa, trái lại Người càng yêu mến thế gian hơn.

Sự tích sa ngã trong sách Sáng thế ký không chỉ cho ta thấy sự thất bại của con người cho bằng đề cao lòng thành tín và yêu thương của Thiên Chúa, Đấng luôn đi bước trước để tìm kiếm con người cho dù vì tội mà con người luôn tìm cách trốn tránh Thiên Chúa. Còn hơn thế, và để chuẩn bị cho muôn thế hệ nhận ra Tình yêu của Người, Thiên Chúa đã chọn một dân tộc để diễn tả lòng thương yêu, sự quan tâm của Ngài dành cho đám dân được tuyển chọn đó.

Đúng vậy! Tình yêu của Thiên Chúa không phải là mớ giáo thuyết, cũng không lệ thuộc vào các trải nghiệm của con người. Nhưng, tất cả đều diễn tiến qua các biến cố lịch sử, trong đó con người có thể nhận ra bàn tay can thiệp của Thiên Chúa. Một cách cụ thể, trong bài đọc một mà chúng ta nghe hôm nay kể lại việc vua Ky-rô phóng thích, cho phép dân Israel được hồi hương, trở về tái thiết xứ sở, xây dựng lại Đền thờ Giê-ru-sa-lem đã bị sụp đổ. Qua hành động của Vua Ky-rô, xứ Ba-tư này, dân Do Thái và chúng ta nhận ra lòng yêu thương của Thiên Chúa được thể hiện trong việc Ngài đã can thiệp để cứu thoát dân riêng của Ngài.

Sau đó, trên đường về đất hứa, trong sa mạc, trước các thử thách, họ than van và chẳng còn nhớ đến ơn Ngài, lại còn đòi quay về Ai cập, cho dù ở đó, cuộc sống có khó khăn, thân phận bị ngược đãi như những kẻ nô lệ, nhưng lại có thịt để ăn; bây giờ được tự do, lại lâm vào cảnh chết đói ở sa mạc thì hơn gì.

Dân chúng mọi thời vẫn thế. Được voi đòi tiên. Đến với Thiên Chúa theo ước muốn của riêng mình. Đến khi gặp thử thách thì lại trách móc. Tuy nhiên, Thiên Chúa của chúng ta luôn trung tín, không bao giờ thất hứa. Ngài ban cho họ Man-na để khỏi bị chết đói, cho họ nuớc uống để khỏi chết khát.

Sau khi được no nê và không bị chết khát, họ lại nổi loạn đòi giết chết cả ông Mai-sen. Với thái độ bất trung và phản bội như thế, một hiện tuợng đã xẩy ra cho dân, đó là biến cố rắn lửa bò ra cắn chết một số người trong họ. Trong nguy cơ đó, họ mới biết sợ và năn nỉ tổ phụ Mai-sen xin Chúa cứu họ. Chúa dạy ông Mai-sen làm một con rắn bằng đồng treo lên cao. Ai nhìn lên con rắn đồng mà sám hối thì sẽ được cứu khỏi chết.

Hôm nay, trong cuộc đối thoại với Ni-cô-đê-mô, Đức Giê-su đã nhắc lại sự tích con rắn đồng để ám chỉ đến việc Người sẽ bị giương cao trên Thập Giá để cứu độ con người, Đức Giêsu nói tiếp: “Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Ngài, được cứu độ”. Nghĩa là Thiên Chúa chỉ biết thương và muốn cứu, chứ không bao giờ muốn lên án hay trừng phạt ai cả. Chỉ có con người tự lên án và tự trừng phạt mình.

Thiên Chúa luôn yêu thương, kiên tâm chờ đợi việc quay về nẻo chính đường ngay của con người. Các câu chuyện trở về đuợc kể lại trong Thánh Kinh cho chúng ta thấy rằng: Khi trở về, Thiên Chúa không hạch tội bất trung của con người. Trở về với giao ước để đầu phục Ngài là Thiên Chúa duy nhất và chúng ta là thần dân của Ngài là vui rồi. Về trong nhà của Thiên Chúa, con người sẽ tìm thấy tất cả những gì đã đánh mất trong thời gian đi hoang.

Sau cùng, chương trình cứu độ đã được hoàn tất bởi sự vâng phục và trao hiến của người Con, Đức Giê-su Ki-tô. Người đã bộc lộ cho thế gian nhận biết Tình yêu của Thiên Chúa dành cho thế gian đến dường nào. Nhưng, tất cả những gì mà Đức Giêsu đã làm, thì Người chỉ làm có một lần duy nhất, nhưng hiệu quả kéo dài đến mọi nơi mọi thời. Cho dù chúng ta không có mặt cùng thời với Đức Giêsu, nhưng không vì thế mà lợi ích của chúng ta nhận được lại thua kém những người cùng thời với Người.

Thật ra, các môn đệ và những ai sống cùng thời với Đức Giê-su cũng giống như chúng ta, phải chờ đến ánh sáng Phục Sinh, và nhất là duới quyền năng tác động của Chúa Thánh Thần rồi họ mới nhận ra rằng nơi Người ơn cứu độ chứa chan cho những ai Tin vào Đức Giê-su. Đó là hồng ân của đức tin, một sự đáp trả không chỉ bằng lời nói, nhưng qua cách sống, một lối sống hoàn toàn phụ thuộc vào quyền năng của Đức Ki-tô, mà với lòng tin, chúng ta tôn vinh Người là Chúa. Còn những ai không tin, họ không bị kết án bởi Thiên Chúa, mà chính họ tự kết án chính mình, bởi vì họ ngoan cố, bướng bỉnh, chỉ muốn tự mình làm chủ và loại trừ Chúa ra khỏi cuộc sống của họ.

Còn đối với những ai tin thì cuộc sống của họ lệ thuộc vào Đấng mà họ tin thờ. Niềm tin của họ là một sự đáp trả không dựa vào ngôn từ mà còn bằng việc làm. Thật đúng như lời của Thánh Gia-cô-bê: “Đức tin không việc làm là đức tin chết.” Nghĩa là một đức tin đúng nghĩa phải đuợc biểu lộ bằng hành động, qua lối sống của một con người đến để phục vụ.

Nói cho cùng thì Tin rồi Yêu và càng Yêu thì càng Tin. Đó chính là lối sống của người môn đệ. Chúng ta không bộc lộ, không diễn tả tình yêu của riêng mình. Nhưng, tin tưởng vào sự hiện diện của Chúa trong mọi tình huống, trong mọi giai đoạn, ngay cả những lúc yếu đuối nhất… để mà buớc đi và quảng bá cho thế gian biết rằng Tình yêu của Chúa vẫn trường tồn trong lối sống của mình.

Thật vậy, trong thân phận của những người môn đệ, chúng ta hãnh diện và xác tín rằng: chỉ có tình yêu mới làm cho con người sống trong hy vọng về một tương lai tươi đẹp hơn những gì mà chúng ta, cùng với mọi thành phần trong Hội Thánh, đang phải đối diện. Bởi vì,

Tình yêu luôn mở ra các cơ hội cho con người đến và giao tiếp với nhau.

Tình yêu là cánh cửa mở ra cho con người bước vào.

Tình yêu là động lực giúp chúng ta cùng bước để loan báo, không chỉ bằng lời mà còn bằng cuộc sống chứng từ của mình rằng: “Không có tình yêu nào cao quý hơn mối tình của người thí mạng sống vì người mình yêu".

Thật vậy, Đức Giêsu đã tuyên bố như thế và Người đã sống chính Lời Người nói ra bằng việc đi đến cùng con đường Người tự chọn để thể hiện Tình Yêu của Người. Cái chết trên thập giá diễn tả mối tình của một người đã yêu và yêu cho đến cùng... Chết cho Tình Yêu để rồi sống mãi cho Tình Yêu.

Ngày hôm nay, chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn cho thật vui để mừng đón mầu nhiệm Vượt Qua mà Đức Giê-su, Đấng đã dâng hiến chính mình, mở cửa Nước Trời cho chúng ta bước vào mà vui hưởng niềm vui được hòa giải với Thiên Chúa. Đó chính là điều mà Thánh Gio-an nói với chúng ta hôm nay rằng Thiên Chúa đã cho đi tất cả mà không hề do dự hay nuối tiếc, ngay kể người Con yêu dấu của Ngài. Còn niềm vui nào cao trọng và tuyệt vời hơn niềm vui của Thiên Chúa, Đấng vui sướng khi làm cho chúng ta được sống lại, khôi phục mối dây yêu thương của chúng ta với Ngài và với nhau.

Vì thế, với niềm tin vào sự hiện diện của Đức Kitô, cảm nhận được tình yêu nồng cháy của Thiên Chúa, Đấng đã trao ban cho chúng ta người Con duy nhất của Ngài. Chúng ta hãy tự hỏi mình đã làm gì cho Chúa và tha nhân? Người đang chờ đợi và mong muốn lối sống hy sinh, yêu thương và phục vụ hết mình của Người được tiếp tục qua cuộc sống của mỗi tín hữu, trong đó có bạn và tôi, tất cả mọi người không loại trừ một ai. Cầu xin cho nhau thực hiện được điều mong ước của Chúa, Amen.

Thursday, 4 March 2021

CHÚNG TA LÀ ĐỀN THỜ CHÚA NGỰ?

 

Anh chị em thân mến,

Sự kiện Đức Giê-su đuổi quân mua bán, đổi tiền, lật đổ bàn ghế của những kẻ bán bồ câu ra khỏi Đền thờ Giê-ru-sa-lem hôm nay đều được bốn Tin Mừng thuật lại. Tuy nhiên, việc sắp xếp biến cố này theo thứ tự thời gian sứ vụ của Đức Giê-su lại khác nhau. Tin Mừng Nhất Lãm đặt biến cố này vào lúc Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem lần cuối cùng. Việc tẩy uế đền thờ coi như là giọt nước tràn ly, bởi vì sau biến cố này thì hàng ngũ lãnh đạo tôn giáo Do Thái quyết định tiêu diệt Người. Trong khi đó, Tin Mừng theo Thánh Gio-an lại đặt biến cố này nằm trong một loạt dấu lạ xẩy ra vào lúc Đức Giê-su bắt đầu sứ vụ.

Theo như chúng ta được biết, các dấu lạ trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an bao giờ cũng ám chỉ một ý nghĩa nào đó. Sự hiện diện cùng các dấu lạ kèm theo thường nói đến sự đổi mới, một sự bắt đầu lại mà Đức Giê-su đem đến. Thật vậy, trong Đức Giê-su, Thiên Chúa muốn gửi đến một điều gì mới mẻ và sâu sắc, một sự thay đổi không để phá hủy nhưng kiện toàn những cái cũ. Việc Đức Giê-su lật đổ bàn ghế của dân buôn tại Đền Thờ nói cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa của Đức Giê-su muốn phá bỏ những rào cản, các qui chế, tập tục và thay vào đó một điều gì đó sâu sắc và mới mẻ hơn.

Như chúng ta được biết, đền thờ Giê-ru-sa-lem là trung tâm, giữ một vai trò quan trọng trong việc thiết lập và phát triển đạo Do Thái. Đó còn là dấu chỉ nói đến sự hiện diện của Thiên Chúa và với sự tồn tại của đền thờ, những người Do Thái còn hãnh diện được làm dân riêng của Thiên Chúa, dòng giống mà Thiên Chúa đã tuyển chọn.

Theo thông lệ, hàng năm, vào dịp lễ Vượt qua, mọi công dân Do Thái buộc lên đền thờ Giê-ru-sa-lem tham dự các nghi lễ theo luật dậy. Mỗi gia đình phải dâng tế phẩm cho Thiên Chúa, nộp vào đền thờ các phần hoa lợi trong năm, đồng thời thi hành các tục lệ và mừng Đại Lễ Vuợt qua, làm sống lại việc can thiệp của Thiên Chúa cứu thoát dân vượt qua Biển Đỏ.

Một điều đáng cho chúng ta lưu tâm là dân từ khắp nơi tuôn về, và các phương tiện di chuyển thời đó không nhanh chóng và thuận tiện như chúng ta ngày nay. Nói chung, họ phải đi bộ mấy ngày đuờng thì làm sao có thể mang theo của lễ theo như luật dậy. Vì thế, người ta buôn bán những vật liệu cần thiết cho việc tế tự và xử dụng các loại tiền riêng để nộp thuế đền thờ. Nghĩa là, dịch vụ buôn bán và đổi chác là các phương tiện cần thiết giúp cho dân thực hành việc tế lễ.

Nhưng, thay vì xử dụng chức vụ để phục vụ nhu cầu tế tự của dân chúng. Trái lại, để kiếm lợi, các thầy thượng tế và hàng ngũ lãnh đạo đã tổ chức các bàn đổi tiền ngay tại sân đền thờ, đồng thời buôn bán những con vật để làm của lễ như chiên, bò và chim câu. Họ độc quyền trong việc áp dụng bảng giá thật khắt khe để thu lợi nhiều hơn. Dân đen vẫn là đám thua thiệt và bị chèn ép.

Đó là điều Đức Giêsu không thể chấp nhận, Nguời nổi giận vì tâm địa tàn ác, óc não vụ lợi, xử dụng chức quyền vào mục đích riêng tư của cá nhân và phe nhóm họ. Khi xua đuổi những người đổi tiền và những người buôn bán ra khỏi đền thờ là lúc Đức Giêsu đã đụng chạm đến quyền lợi, uy danh của tầng lớp thế lực là các thượng tế và luật sĩ. Thiên Chúa không còn là đối tượng của việc thờ phượng cho nhóm họ, trái lại Thiên Chúa đã trở thành bình phong cho các mưu đồ riêng tư của cá nhân và phe nhóm họ.

Đức Giê-su đã không vì uy tín cá nhân, sự an toàn của bản thân mà làm ngơ trước hành vi sai trái của họ. Người còn biết rất rõ là họ sẽ chống đối và sẽ tìm cách tiêu diệt Người. Nhưng vì lòng yêu mến Thiên Chúa và những người dân vô tội, Đức Giêsu đã hành động quyết liệt:  xô đổ bàn ghế, lấy dây làm roi xua đuổi chiên bò và còn ra lịnh cho họ: hãy đem tất cả những thứ này ra khỏi nơi đây và đừng biến nhà Cha Người thành hang trộm cướp.

Thưa anh chị em,

Qua hành động rất quyết liệt của Đức Giêsu khiến chúng ta có thể nghĩ rằng: Người làm như thế không chỉ đơn giản là việc xua đuổi mấy con buôn; nhưng Người muốn thay đổi một quan điểm, lật nhào một hệ thống tôn giáo đã mất gốc và đem đến một luồng gió mới, phục hồi lại bản chất đích thực của việc thờ phượng, tái tạo một lối sống đạo, trong đó Thiên Chúa là gốc và cùng đích của mọi sinh hoạt. Và, không có một tà thần nào có thể thay thế Thiên Chúa. Không có một kiểu thờ ngẫu tượng nào thay thế một tâm hồn chân chính trong việc phụng thờ Thiên Chúa được. Điều này đã đuợc thể hiện thật rõ ràng qua Lời Người phán “các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại”. Người nói như thế để ám chỉ đến Đền Thờ mới là Thân Thể Người. Nhưng, họ đã không hiểu. Làm thế nào họ có thể hiểu đuợc khi con tim và đôi mắt của họ chỉ nhắm đến việc thu vén tiền của và củng cố uy quyền mà thôi.

Theo tinh thần của Đức Giê-su thì tôn giáo hay đạo không chỉ dựa trên một hệ thống giáo điều và các việc tế tự tập trung vào trong tay của giai cấp lãnh đạo đền thờ mà thôi. Đạo chính là con đuờng, là lối sống đuợc xây dựng trên các mối tương quan giữa những kẻ tin với nhau. Và trong niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh, chúng ta nhớ lại lời dậy bảo của Chúa: Người muốn việc làm của chúng ta được phát sinh bởi lòng mến, lòng thương xót đối với người khác chứ không bằng hy lễ hay các nghi thức tế tự mà thôi. Hy lễ tuy cần thiết, nhưng nếu các điều đó không được phát sinh bởi tình yêu và lòng thương xót thì các nghi thức tế lễ cũng chỉ có tính chất trình diễn, nặng về mặt hình thức và chúng ta vẫn bị luẩn quẩn trong các nghi thức chết và không có sức sống.

Đền thờ tuy cần thiết cho tôn giáo, nhưng nếu đền thờ không còn mang ý nghĩa là tụ điểm của yêu thương, không còn là nơi để con người thờ phượng Chúa và chia sẻ tình huynh đệ thì cho dù đền thờ có nguy nga, tráng lệ và bền vững đến đâu cũng chẳng còn ích lợi gì cho lối sống đạo của chúng ta nữa. Ngoài ra, nếu cách biểu lộ việc sống đạo của chúng ta chỉ còn được diễn tả bằng các hình thức tế tự tại các đền thờ và quên đi tình yêu và lòng thương xót mà Đức Giê-su đã làm gương, thì lối sống đạo hình thức đó còn đem lại giá trị và hậu quả gì nữa đây!

Thật vậy, lối sống của Chúa là lối sống mở ra để đón nhận mọi người. Người yêu thương đón nhận mọi người, không phân biệt một ai, nam hay nữ, giầu hay nghèo, da trắng hay da mầu. Như vậy, trong các sinh hoạt của Hội Thánh, Thân thể của Đức Ki-tô và cũng là đền thờ đích thật của Thiên Chúa, nơi không có sự loại trừ, chỉ có yêu thương và tha thứ. Tại nơi đó, con người không còn bị giới hạn hay bị trói buộc bởi hệ thống giáo điều, cơ cấu khi đến với nhau. Hãy buông bỏ thể chế, buông bỏ guồng máy điều khiển làm cho con người xa cách nhau. Thay vào đó, chúng ta hãy nhìn sâu vào trong tâm khảm và cõi lòng của nhau để nhận ra rằng chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa. Chúng ta là anh em. Chúng ta hiện diện nơi đây, trong giây phút này, là vì Chúa và vì nhau.

Sau cùng, hãy học lối sống chia sẻ và ban phát của Đức Giê-su. Người đã sống cho và sống với người khác; đặc biệt là những ai bị bỏ rơi, những ai bị liệt vào hạng tội lỗi. Tất cả đều được mời gọi đồng bàn với Người; và khi đồng bàn với Người thì Người ban cho họ sức mạnh đổi mới, mời gọi họ chia sẻ con đường và lối sống của Người. Và một khi, chúng ta học được lối sống của Người là lúc chúng ta hãnh diện làm chứng rằng chính thật chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa vậy. Amen.

 

Thursday, 25 February 2021

HIỂN DUNG: KINH NGHIÊM CHO HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN


Cuộc đời Đức Giê-su là một cuộc hành trình di động không ngừng nghỉ. Người là đường như Lời Người đã phán: Thầy là đường. Người còn là con đường dẫn người ta đến với Cha. Con đường Người đi là cuộc sống Người. Đó không phải là con đường rộng thênh thang với nhiều cạm bẫy, mà là con đường hẹp, con đường hy sinh, con đường khổ nạn, con đường Thánh Giá. Vì thế, khi loan báo về con đường đó, các môn đệ của Người đã không tài nào có thể đón nhận được.

Trong tình huống đó, cảnh tượng được mô tả trong trình thuật Hiển Dung hôm nay đem đến cho các môn đệ nguồn sáng, sức mạnh để các ông có thể bước đi trên con đường mà Đức Giê-su, Thầy của các ông đã loan báo và tự nguyện đi vào. Đức Giêsu cho các môn đệ ‘nếm một chút’ ánh sáng vinh hiển của Người. Ánh sáng đích thật này chỉ đuợc tỏ bầy trọn vẹn qua biến cố Phục sinh. Nhưng trong phút giây này, trước mắt Người vẫn là hành trình khổ nạn chứ chưa phải là vinh quang.

Nhìn như thế, chúng ta mới nhận biết rằng Chúa yêu thuơng, săn sóc và lo lắng cho các môn đệ và chúng ta đến độ nào. Người hiểu các nỗi yếu đuối của họ, Người biết lòng trí không ngay thẳng của những ai đang theo Nguời, Người còn rõ ý định sai lạc muốn tìm kiếm địa vị như Gioan và Giacôbê, v.v... Nhưng Người lại không thất vọng về họ. Vì thế, Người chuẩn bị cho các môn đệ đủ sức để đối diện và đồng hành với cuộc khổ nạn của Nguời bằng cách cho họ ‘nếm một chút’ vinh quang của Con Thiên Chúa. Kinh nghiệm độc nhất vô nhị này vô cùng quí giá, nó sẽ nâng đỡ các môn đệ trên đường Thương Khó.

Thật vậy, kinh nghịệm ‘hiển dung’ đã giúp cho các môn đệ thế nào thì ngày nay cũng giúp cho chúng ta như thế, miễn là chúng ta hân hoan đón nhận đường Thương Khó và sau cùng là sự chết của Người. Vì chúng ta tin rằng tất cả không dừng lại ở đó, nhưng còn mở ra một chân trời hạnh phúc và vinh hiển trong ngày Phục Sinh.

Cho nên, trong hành trình đức tin, chúng ta rất cần những trải nghiệm ‘Chúa hiển dung’ hôm nay. Một cách cụ thể, xin thưa với anh chị em một vài chứng tích tuy rất bình thường nhưng lại đem đến những cảm nghiệm thật cần thiết cho hành trình sống của chúng ta.

Có những bà mẹ đã nhận ra ơn gọi thật cao quí mà Chúa đã trao ban cho bà qua những công việc thường nhật mà các bà thường làm trong công tác của một người nội trợ. Nhìn thấy cảnh chồng con ăn ngon, hạnh phúc đầm ấm bên bàn cơm do công sức của bà chuẩn bị, khiến cho cơn mệt nhọc duờng như biến mất, còn lại trong phần sâu thẳm của tâm hồn bà là niềm vui, một niềm vui không sao diễn tả được. Bà đã phải quay mặt đi để dấu những giọt lệ hạnh phúc đang sẵn sàng trào ra trong đôi mắt ngập tràn hạnh phúc của bà.  Bà hãnh diện và nhận ra rằng nhờ sự hy sinh của bà mà gia đình mới vui như thế. Rõ ràng đó là một việc làm bình thường như mọi ngày của cuộc sống, thế mà đến hôm đó bà mới nhận ra sự diệu kỳ và phi thường của nó. Một khoảnh khắc, một kinh nghiệm thật diệu kỳ đã đến với bà qua công việc rất bình thường.

Về đời sống thiêng liêng cũng thế, đã có thời điểm chúng ta trải qua những kinh nghiệm thật đặc biệt, nhận ra sự hiện diện và can thiệp của Thiên Chúa qua các việc rất bình thường. Trong những cuộc tĩnh tâm, nội dung các bài giảng, sự tận tâm phục vụ và huớng dẫn của các anh chị em giúp khóa; đều là các yếu tố giúp ta khám phá ra bàn tay và sự tác động của Thiên Chúa. Tác động của Chúa mạnh đến độ chúng ta không cầm được nuớc mắt. Trong nỗi vui suớng được thay đổi đó, chúng ta đã từng hứa như ý định của Phêrô, xin được ở luôn bên Chúa trên núi, trong bài Tin Mừng hôm nay.

Nhưng, chúng ta đuợc mời gọi đi xa hơn, không dừng lại ở các kinh nghiệm về những lần gặp gỡ mang nặng chất tình cảm đó. Việc chiêm ngưỡng dung nhan vinh hiển của Đức Giêsu không làm chúng ta bị chóa mắt, hay quáng gà rồi không còn nhìn thấy những thực tại ở trần gian nữa.

Chúa không còn thường xuyên Thần Hiện để con người nhận ra sự hiện diện của Ngài như kinh nghiệm của Maisen và dân Israel xưa kia, Ngài cũng không biến hình đổi dạng cho các Tông đồ nhìn thấy vinh quang cuả Ngài như trong bài Tin Mừng hôm nay. Ngài đã trở thành người và cư ngụ giữa chúng ta. Ngài chính là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta mọi nơi mọi lúc. Đó là một điều thật diệu kỳ mà chúng ta cần khám phá luôn mãi. Một sự đổi thay mà chỉ có ai ở trong Chúa mới nhận ra. Rồi từ đó, chúng ta nhận ra ai ai cũng là hình ảnh của Thiên Chúa, và mọi sự Ngài tác tạo đều tốt đẹp, rất dễ thương. Như thế thì cuộc đời đáng sống và đáng yêu hơn.

Vì thế, với những kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa - qua cầu nguyện, các biến cố xẩy đến trong đời - đều là hồng ân giúp chúng ta trở về với đời sống hàng ngày, đối diện với muôn ngàn thử thách, đắng cay bằng ánh sáng và con tim mới. Với sự hiện diên của Đức Giêsu, không chỉ ở trên núi (Thánh), nhưng ở mọi giây phút của cuộc đời; chúng ta sẽ chấp nhận cuộc sống với tinh thần lạc quan, sẵn sàng chiến đấu mà không ngại gian khổ, chấp nhận những bất tòan của chính bản thân để có thể thông cảm các nỗi yếu đuối và không hòan hảo của nhau, rồi cùng đồng hành với nhau trên con đuờng mà Chúa đã đi qua.

Sau cùng, xin dung nhan của Chúa Hiển Dung hôm nay và nhất là Ánh Sáng Phục sinh của Đức Chúa luôn dẫn lối chỉ đuờng cho chúng ta, để chúng ta biết đón nhận và sống trọn vẹn mọi giây, mọi phút trong cuộc sống và tiếp tục ‘buớc theo’ và ‘cùng buớc’ vào dấu chân của Đức Kitô đã bước qua. Amen.

 

Wednesday, 17 February 2021

VƯỢT QUA THỬ THÁCH BẰNG GÌ?

 


Anh chị em thân mến,

Câu chuyện nói về việc Đức Giê-su chịu cám dỗ trong bài Tin Mừng năm nay tuy ngắn, không nói đến chi tiết các cám dỗ mà Đức Giê-su đã vượt qua như đã được mô tả trong Tin Mừng Theo Thánh Mát-thêu. Nhưng nội dung vẫn bao gồm các điểm chính yếu hầu giúp chúng ta đối chiếu và tìm ra các phương thế để đối diện với mọi  thử thách hay cám dỗ trong cuộc sống.

Trước tiên, Đức Giê-su được thúc đẩy bởi Thần Khí. Đó là hơi thở của Thiên Chúa, là sức mạnh tình yêu Thiên Chúa. Con người mà không có hơi thở thì còn sống thế nào đây. Vì thế Thần Khí, hơi thở nói lên sức sống của Thiên Chúa mà chúng ta còn gọi là Thánh Thần. Hôm nay chính sức mạnh đó đã thúc đẩy Đức Giê-su vào hoang địa và ở lại với Ngươi trong suốt thời gian Người chịu cám dỗ.

Sau đó là yếu tố thời gian, phải chăng 40 ngày gợi lại cho chúng ta hành trình 40 năm của dân Israel xưa kia.

Sau cùng là yếu tố không gian, đó chính là hoang địa hay sa mạc là nơi xẩy ra việc Đức Giê-su chịu cám dỗ.

Tất cả các chi tiết nói trên gợi lại cho chúng ta hai câu chuyện.

Câu chuyện thứ nhất là hành trình và các thử thách mà dân Is-ra-el đã phải đối diện. Đây là ví dụ cụ thể giúp chúng ta hiểu dân Chúa đã trải qua các cuộc thử nghiệm và bị sa ngã như thế nào. Trong hoang địa, khi phải đối diện với những thử thách, họ đã quên đi công trình tay Chúa, Đấng đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ của Vua Pha-ra-ôn. Trái lại, họ lại nghĩ rằng Thiên Chúa dẫn họ vào đây và để họ chết trong hoang địa.

Họ đã bất trung, bội phản và sa ngã; thậm chí có lúc còn muốn biến Đức Chúa thành một pho tượng, qua việc xin đắp con bê bằng vàng để thờ lậy. Ý định của họ là muốn làm chủ vận mạng của mình và cả gan muốn điều khiển cả Thiên Chúa nữa. Thay vì để Chúa dẫn đuờng chỉ lối, họ lại muốn, qua con bê bằng vàng, khiêng Chúa đi đâu tùy theo ý muốn của họ.

Trong lúc nhìn lại cách diễn tả việc sa ngã của con người trong trình thuật tạo dựng cho đến hành trình tiến về đất hứa, chúng ta khám phá ra nguyên nhân khiến họ sa ngã. Đó là cách cư xử theo ý riêng và thiếu tin tưởng vào quyền năng và Lời của Chúa.

Còn câu chuyện hôm nay kể lại việc Đức Giêsu, cũng trong hoang địa và với thời gian 40 đêm ngày để chịu ma quỷ cám dỗ. Người trung tín với Cha Ngài và vuợt qua mọi thử thách không chỉ trong 40 ngày này mà thôi; nhưng còn đuợc thể hiện trong suốt hành trình cuộc sống hiến dâng và tự hạ của Người. Và, ngày hôm nay, trong lúc chiến đấu với các thử thách, Đức Giêsu đã đặt bản thân Người dưới quyền năng của Thần Khí trong cuộc tìm kiếm và làm hài lòng Cha. Tâm tình hiệp nhất này đã ảnh hưởng trên bầy thú dữ trong hoang địa, khiến chúng không còn là những con vật nguy hiểm, nhưng đã trở thành những con vật thật hiền hòa. Chúng hiện diện với các thiên thần để hầu hạ Chúa. Phải chăng đây là cảnh sắc của vườn địa đàng được phục hồi bởi sự vâng phục của Đức Giêsu, để đổi lại những gì mà con người đã đánh mất sau khi sa ngã.

Vì thế, thưa anh chị em,

Ngay đầu Mùa Chay, để giúp chúng ta đối diện và chiến đấu với các sa ngã; Hội Thánh muốn nhắc nhở đến thân phận mỏng dòn, yếu đuối và dễ đổ vỡ của mỗi người. Trong phận mỏng dòn đó, chúng ta chỉ có thể vượt qua các sa ngã và mọi thử thách bằng quyền năng của Chúa mà thôi.

Hãy nhớ mình từ bụi tro rồi sẽ trở về tro bụi. Ý nghĩa của lời đó quá rõ ràng. Thiên Chúa đã truyền ban sự sống vào đám tro tàn đó. Rồi có một ngày chúng ta sẽ về với cội nguồn. Hiện tại chúng ta còn sống; có nghĩa là thử thách và cám dỗ vẫn còn. Nó là một phần của cuộc sống. Không ai có thể tránh thoát được. Tất cả vẫn hiện diện. Có nhiều người lầm tưởng là các cám dỗ sẽ đến từ bên ngoài. Thực ra nó ẩn tàng ngay bên trong bản thân và cuộc sống của từng người.

Những thử thách mà chúng ta gặp trong cuộc sống rất khó biện phân như hoàn cảnh và cách thức đối diện với các thử thách của người thanh niên giầu có trong Tin Mừng. Anh đã thất bại và không vuợt qua đuợc thử thách khi để cho cuộc sống của mình bám víu vào những bảo đảm do tiền của mà anh tạo ra. Tiền của và sự giầu sang không dẫn anh đến sa ngã. Nhưng, vì giầu có nên anh không trải nghiệm được cảnh nghèo để khám phá ra rằng những gì anh có đều do Chúa ban, cho nên anh cần có cuộc sống lệ thuộc vào Người. Anh không làm đuợc chuyện đó nên lủi thủi bỏ đi và Chúa nhìn anh bằng một cái nhìn thật buồn; bởi vì anh đã chọn sai ưu tiên cho cuộc sống.

Trong dụ ngôn người gieo giống, Chúa đã không báo cho chúng ta biết rằng chính những bụi gai là những vật cản khiến cho các hạt giống không đâm chồi nẩy lộc đuợc hay sao! Bụi gai là thử thách mà chúng ta cần vuợt qua. Nhưng bụi gai là gì?

Đối với tôi thì hào quang có thể là những bụi gai làm sai lạc ý huớng trong các công tác phục vụ của tôi. Bụi gai cũng có thể là những việc làm, các câu nói ngoại giao để làm thỏa mãn nhu cầu và thị hiếu của đám đông, và kiếm được vài lời khen tặng hay một tặng vật nào đó từ họ cho mình. Trong khi đó, với sứ mạng tìm kiếm, tuân phục và loan báo Lời Chúa phải là ưu tiên hàng đầu của chúng ta.

Rồi còn nữa, trong dụ ngôn tiệc cuới. Các khách từ chối lời mời nào có tội gì. Họ bận việc và ai cũng có việc phải lo. Họ không sai khi từ chối lời mời của ông chủ tiệc. Nhưng lại một lần nữa, họ và chúng ta thay vì chọn Chúa thì lại chọn ý riêng. Đó chính là nguyên nhân đưa chúng ta đến sa ngã.

Nói chung, để chuẩn bị tham dự vào Mầu Nhiệm Phục Sinh, trong Muà Chay này chúng ta đuợc mời gọi quay về với Chúa. Để trở về, chúng ta cần sống phó thác hơn; có nghĩa là ngoài Chúa ra, không ai làm cho cuộc sống của chúng ta đuợc bảo đảm. Trở về với Chúa là hành động quay lưng lại với tất cả những gì đi ngược lại ý định và tiếng nói của Chúa và chỉ lắng nghe một tiếng nói duy nhất, đó là tiếng nói của Chúa mà thôi.  Một khi chúng ta lo lắng quá nhiều về thành công và sự an toàn cho cuộc sống là lúc chúng ta chấp nhận lối sống thoả hiệp, lối sống ích kỷ, lối sống theo các tiêu chuẩn của thế gian rồi chỉ biết nghĩ đến hạnh phúc cho riêng mình và quên đi các giá trị đích thực của Tin Mừng.

Thử thách và cám dỗ là thế. Cần biết biện phân để chọn lựa sao cho hợp ý Chúa. Đó là việc chúng ta cần làm trong suốt cuộc sống, đặc biệt trong 40 ngày của Mùa Chay Thánh năm nay.  Amen.

 

Friday, 12 February 2021

TRONG CHÚA, PHONG CÙI CÓ LÀ HỒNG ÂN?


Ông bà và anh chị em thân mến,

Mỗi năm, nhân dịp xuân về; Mẹ Hội Thánh Việt Nam mời gọi chúng ta dành vài ngày đầu năm để dâng lên Thiên Chúa tâm tình tạ ơn, cầu bình an cho năm mới, kính nhớ tiên nhân và dâng lên Chúa mọi tâm nguyện của chúng ta. Trong tâm tình đó chúng ta cũng đến với nhau bằng những lời chúc thật ngọt ngào và dễ thương. Người nào cũng cầu cho nhau được hạnh phúc và bình an. Trong giây phút này, tôi xin anh chị em cùng ngồi xuống tìm ra sứ điệp mà Chúa Kitô nhắn gửi chúng ta qua những lời cầu chúc mà chúng ta cùng đón nhận trong những ngày đầu năm.

Làm thế nào để cho lời chúc của chúng ta thành hiện thực và sống động; trong khi đó thế giới và môi trường mà chúng ta đang sống vẫn còn bị đe dọa bởi nạn đại dịch do Covid-19 gây ra. Còn biết bao người đang sống đau khổ, cô thân, cô thế và thiếu may mắn. Hạnh phúc và an bình chỉ có thể có nếu chúng ta biết thay đổi lối sống, biết hoán cải và để Chúa đổi mới chúng ta thành những tín hữu trưởng thành, khôn ngoan trong các công tác phục vụ tha nhân.

Ngày mùng hai, chúng ta nhớ đến các bậc tiền nhân bằng lòng hiếu kính. Ngay khi các ngài còn sống mà chúng ta không thể hiện đạo hiếu thì việc cầu kinh và xin lễ sau khi các ngài chết sẽ đem lại ich lợi gì? Đến lúc đó mới hoán cải và nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục thì có quá trễ không?

Sang ngày mùng 3 chúng ta xin ơn thánh hóa công ăn việc làm. Thiên Chúa viếng thăm dân Người trong những công việc của cuộc sống thường ngày. Người mời gọi chúng ta tham gia công trình sáng tạo và thánh hóa thế giới, bằng cách làm tốt những gì đã được ủy thác để phục vụ cuộc sống và con người.

Một cách cụ thể hơn, phụng vụ Lời Chúa tuần này trình bầy Đức Giê-su là Đấng có quyền trên các tai ương và dịch bệnh. Người không chỉ chữa cho người bị phong cùi được khỏi bịnh mà còn nối kết ông với các thành viên khác trong gia đình của Người. Trong tâm tình đó, chúng ta cũng cầu chúc cho nhau, trong năm mới Tân Sửu 2021 này, biết trở thành tác nhân của Thiên Chúa trong việc hàn gắn các thương tích mà anh em chúng ta đang phải gánh chịu.

Anh chị em thân mến,

Để ngăn ngừa tình trạng lây nhiễm trong mùa đại dịch do Covid-19 gây ra, các nhà lãnh đạo dân sự lúc thì khuyên, khi khác lại ra lịnh cho dân chúng phải tuân giữ lịnh giãn cách xã hội. Điều này đã tạo ra một ảnh hưởng tiêu cực khác là chúng ta e ngại khi tiếp xúc với nhau. Thậm chí khi đi ra đường chúng ta còn né tránh nhường đường cho nhau. Thoáng nhìn qua thì cử chỉ đó có vẻ lịch sự, nhưng thật ra là chúng ta sợ bị lây nhiễm. Không biết tình trạng này cứ kéo dài và giả như con người chưa tìm được giải pháp hữu hiệu thì việc tiếp xúc cá nhân còn được duy trì hay là khoảng cách giữa chúng ta cứ xa dần cho đến khi con người tự cô lập nhau!

Đó cũng là cách thức mà con người sống cùng thời với Đức Giê-su đã cư xử với những ai bị bịnh phong cùi. Họ phải sống cô lập, không được phép tiếp xúc với ai. Bất cứ ai chạm đến họ đều bị coi là ô uế. Thậm chí khi đi ra ngoài, họ phải lên tiếng báo cho những người chung quanh biết để mà tránh né.

Với hoàn cảnh cuộc sống của những ai bị phong cùi như thế, chúng ta có thể nhận ra được nỗi đau khổ về tinh thần cũng như thể xác của họ. Họ không còn được đối xử như một con người, bị ngược đãi và coi như thành phần cùi hủi của xã hội nói gì đến yêu thương. Ai trong chúng ta khi gặp họ mà lại không né tránh, sợ bị lây! Trong hoàn cảnh đó, họ không còn gì để mất, thế mà họ không nổi loạn đã là may mắn cho chúng ta lắm rồi!

Ngoài lối cư xử thiếu tình bác ái như đã nói ở trên, theo lề thói của công đoàn Do Thái, họ còn bị coi là những người bị Chúa phạt, họ không được phép lên Đền thờ Giêrusalem, và nếu có được tham dự lễ nghi phụng vụ, họ phải ở trong một căn phòng đặc biệt dành riêng cho họ. Họ bị đối xử như người ngoài luồng.

Trong hoàn cảnh như thế, tôi ngạc nhiên khi người bị phong cùi trong bài Tin Mừng hôm nay dám liều lĩnh đến gặp Đức Giê-su. Thái độ liều lĩnh này của ông kèm theo lời cầu khẩn, không mang tính ép buộc, ông nói “nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”. Khi nói “nếu Chúa muốn”, ông biểu lộ thái độ tin tưởng vào Đức Giê-su. Ông tin rằng Đấng đang hiện diện trước mặt ông là người có đầy uy quyền làm cho ông được sống. Tiếp cận Đức Giê-su là gặp gỡ Đấng trả lại vinh dự làm người cho ông, trao lại cho ông sự sống mà theo luật lệ ông đã bị coi như là người đã chết.

Còn Đức Giê-su thì sao? Đức Giê-su sinh ra và lớn lên trong truyền thống Do Thái; hẳn nhiên Người biết rất rõ khoản luật cấm không được chạm đến người bị phong cùi. Thế mà trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã chạm vào người bị phong cùi. Vì sao? Bởi vì Người thương ông ta, không chỉ bằng lời nói, Người còn giơ tay đụng vào người ông và bảo “Tôi muốn”.

Tất cả các cử chỉ: động lòng, giơ tay, chạm vào rồi lên tiếng phán bảo xẩy ra một loạt.  Qua các động tác này, chúng ta nhận ra tính duy nhất trong con người của Đức Giê-su. Không có việc nghĩ trước làm sau. Tất cả xẩy ra đồng loạt để nói cho chúng ta biết rằng Đức Giê-su thương người bị phong cùi vô cùng. Người không yêu bằng lời nói suông, hay qua các giao uớc dựa trên lý thuyết. Nhưng Đức Giê-su đã yêu bằng các việc làm cụ thể, bằng cuộc sống và sự dấn thân trọn vẹn của Người.

Thật vậy, với Đức Giê-su: Hành động giúp một người bị đau khổ. Việc phục hồi phẩm giá của một con người là ưu tiên số một trong cuộc sống và sứ vụ của Người. Đức Giê-su tự do và thoải mái hành động vì hạnh phúc con người. Luật lệ có tồn tại và được áp dụng cũng vì lợi ích cho con người. Một khi những khoản luật ngăn cản con người thể hiện lòng yêu thương thì không còn giá trị. Không có một điều gì có thể ngăn cản việc Đức Giê-su thực hiện ý định của Thiên Chúa. Tình yêu mà Người dành cho Chúa Cha được mô tả và thể hiện ngay trong cuộc sống. Người động lòng thương tất cả mọi người mà Đức Giê-su đã gặp.

Còn một điều mà chúng ta cần lưu ý, cụ thể, trong bài Tin Mừng hôm nay là khi làm cho người phong cùi được sạch, được khỏi bịnh thì chính Đức Giê-su lại bị khó khăn, bị trục xuất và gặp sự đối nghịch của hàng ngũ lãnh đạo, dẫn đến cái chết mà Người sẽ chịu.

Nhưng, thưa quí ông bà và anh chị em. Chính vì việc làm này khiến Đức Giê-su không còn chỗ đứng, đến nỗi Người không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng. Hay nói khác đi, người bị ly khai vì lề luật thì nay, nhờ Đức Giê-su, đã được nối kết lại với các sinh hoạt trước đây; còn Đấng làm cho ông ta được khỏi thì lại bị khai trừ vì tính bướng bỉnh và tự tôn của những kẻ vịn vào lề luật mà trói buộc nhau.

Tuy biết hậu quả mà Đức Giê-su phải lĩnh nhận sẽ là như thế. Nhưng vì yêu thương chúng ta, Người sẵn sàng đánh đổ mọi sự để làm chứng cho chúng ta biết rằng Người là Thiên Chúa thật, không còn ở trên cao, nhưng đã cúi mình xuống để đồng hành và chia sẻ các nỗi khổ đau của con người. Người đã cúi mình thật sâu trong biến cố làm người và trong cái chết trên thập giá. Người cúi xuống để nâng con người lên, miễn là con người nhận ra phẩm giá của chính mình và được cứu độ.

Chính vì thế, Tin Mừng mà Đức Giê-su đem đến mời gọi chúng ta sống bớt nghi kỵ, biết gạt bỏ thành kiến, chấp nhận các nỗi ô uế của nhau, tôn trọng nhau trong phẩm vị con người, rồi cố gắng đến với nhau, đem cho nhau thêm một chút tình người, yêu và thông cảm nhau hơn. Và với Đức Giê-su, chúng ta xác tín rằng không một ai bị phong cùi mà không được chữa lành, không một ai sống trong ô uế mà không được sạch sẽ, không một ai chịu đau khổ mà không tìm được hạnh phúc, và không một ai sống trong tội lỗi mà không tìm được sự tha thứ mà được cứu độ.

Như vậy, chúng ta thật có phúc để sống trọn vẹn ơn gọi mãi mãi là những quà tặng cao quí nhất mà Thiên Chúa ban tặng để hàn gắn các nỗi đau thương mà anh em chúng ta đang phải gánh chịu. Amen.

 

 

Tuesday, 2 February 2021

CÔNG VIỆC TRONG NGÀY CỦA ĐỨC GIÊ-SU


Anh chị em thân mến,

Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta tiếp tục tìm hiểu công việc trong ngày của Đức Giê-su tại Ca-phá-na-um, bao gồm cầu nguyện, rao giảng và chữa lành. Sau khi giảng dậy và chữa người bị quỷ ám trong hội đường, Đức Giê-su cùng với các môn đệ đi đến nhà hai ông Si-mon và An-rê. Việc Đức Giê-su từ hội đuờng về nhà là một việc tự nhiên và bình thường. Người giống như chúng ta cần nghỉ ngơi sau cơn vất vả, cần được bổ sức mỗi khi đói hay khát. Tuy nhiên, việc di chuyển từ hội đường về nhà của Đức Giê-su hôm nay có thể còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn.

Như chúng ta đã biết rằng tất cả các sách Tin Mừng được soạn tác và hoàn thành sau khi đền thờ Giê-ru-sa-lem bị tàn phá. Sau biến cố thật đau thương đó, anh chị em tín hữu tiên khởi, nhất là những tín hữu gốc Do Thái không còn cơ hội lên đền thờ để thờ phượng nữa. Vì thế, họ dùng nhà riêng hay các nguyện đường nhỏ để cử hành việc bẻ bánh và các nghi thức phụng vụ thờ phượng Chúa. Như thế nhà còn có thể coi là một nơi thánh, thu hút mọi người đến để thờ phượng. Ý niệm giáo hội tại gia chưa được phổ biến nhưng trên thực tế các anh em tín hữu tiên khởi đã dùng nhà của mình như là một phương tiện nuôi dưỡng và phát triển cộng đoàn. Trong ý nghĩ đó, giờ đây mời anh chị em cùng theo Chúa buớc vào nhà của hai ông Simon và An-rê.

Việc đã xẩy ra là bà mẹ vợ của ông Si-mon Phê-rô cũng có mặt vào lúc đó, nhưng bà lại bị ốm, vì thế việc tiếp đón Thầy cũng bị gián đoạn. Bà đang lên cơn sốt. Ngày nay người ta cho rằng nóng và sốt là các triệu chứng gây ra bởi nhiều căn bịnh khác nhau. Đối diện với hòan cảnh thực tế, những ai bị nhiễm Covid-19 cũng mang trong mình triệu chứng nóng và sốt này. Nhưng, đối với người xưa, sốt là một căn bệnh và có thể gây ra tử vong. Hơn nữa, những người Do Thái cùng thời với Đức Giê-su còn cho rằng  sốt hay bất cứ một thứ bịnh nào khác đều là những hình phạt mà Đức Chúa giáng xuống cho những ai không vâng lời Người.

Khi nghe người ta báo rằng bà đang lên cơn sốt, Đức Giê-su tiến lại giường, cầm lấy tay và đỡ bà trỗi dậy. Bà tức khắc được khỏi bịnh và phục vụ các ngài. Kiểu nói ‘đỡ bà trỗi dậy’ mà Thánh Mác-cô dùng ở đây giúp chúng ta nhớ lại việc trỗi dậy từ cõi chết của Đức Giê-su trong ngày Người phục sinh. Bịnh tật có thể dẫn con người đến cõi chết thế nào thì hôm nay trong Chúa, Người sẽ cho người đó phục hồi sự sống.

Việc Đức Giê-su chữa cho bà mẹ vợ ông Si-mon khỏi bịnh thật diệu kỳ. Người không nói điều gì và cũng không ra lệnh cho bất cứ thần dữ nào, khiến cho bà bị bịnh, thoát ra khỏi bà. Người chỉ đến, chạm vào tay rồi kéo bà trỗi dậy. Việc đụng chạm này, đem theo một sức mạnh chữa lành. Qua các cử chỉ này, Đức Giê-su muốn nhắc nhở chúng ta nhớ rằng mỗi khi Chúa đụng vào ai thì người đó không còn chọn lựa nào khác hơn là thay đổi cách sống và tham gia vào sứ mạng phục vụ mà chính Đức Giê-su làm mẫu mực như Lời Người đã phán bảo “Thầy đến để phục vụ.”

Nói một cách khác, tất cả mọi hình thức phục vụ của người tín hữu đều phải được phát sinh từ sự đụng chạm, các lần gặp gỡ của Chúa với ta, nếu như chưa có cảm ngiệm đó thì chúng ta nên suy nghĩ và tìm ra nguyên nhân nào đã thúc đẩy chúng ta đi trên con đường phục vụ. Việc phục vụ chỉ vững bền và có giá trị đích thực khi cuộc sống của chúng ta được thúc đẩy bởi Chúa mà thôi, bằng không thì các việc phục vụ mà chúng ta đang tham gia cũng chẳng được bền lâu!

Thật vậy, sự hiện diện của bà mẹ vợ ông Si-mon giúp chúng ta khám phá ra một điều: Bà là người phụ nữ đầu tiên trong Tin Mừng thực hành nhiệm vụ của người môn đệ là phục vụ tha nhân. Điều này cũng giúp chúng ta nhận ra rằng chỉ vì cơn sốt khiến bà không thể chia sẻ niềm vui khi phục vụ người khác. Nói khác đi, là người môn đệ, bà đã được trao cho vai trò phục vụ, thế mà vì bịnh tật mà công việc của bà bị dở dang, bị gián đoạn. Hôm nay, qua bàn tay của Đức Giê-su, bà đã đuợc phục hồi không chỉ để lo cho mình mà còn lo cho tha nhân mới là nhiệm vụ chính.

Ngày nay với nền tiến bộ của y học, đã có nhiều chứng bệnh được chữa khỏi. Tuy nhiên, bịnh hoan tật nguyền vẫn là nguyên nhân khiến con người bị suy nhược về tinh thần lẫn thể xác. Nó khiến chúng ta mất tự tin, các sinh hoạt bị đình trệ hoặc tắc nghẽn. Bịnh nhân cần đến sự giúp đỡ của bác sĩ, y tá và những nhân viên chuyên nghiệp. Nói chung lúc đó họ không lo đuợc cho bản thân mà phải nhờ đến người khác giúp đỡ.

Như hoàn cảnh của bà mẹ vợ ông Simon, cơn sốt đã trói bà trên giường thế nào thì bịnh tật cũng cản trở mọi sinh hoạt của con người như thế. Đức Giê-su không chỉ chữa cho bà và chúng ta khỏi bệnh mà còn nối kết chúng ta lại với những gì trước đây đã bị tắc nghẽn, bị gián đoạn. Đức Giê-su hoàn trả lại cho người vừa đuợc khỏi bịnh căn tính của một con người, không còn bị ngăn trở. Họ tiếp tục các công việc đang bị dở dang. Tinh thần và công việc phục vụ này nói lên bản chất của người tín hữu. Nó còn bộc lộ quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa, Đấng làm cho chúng ta trở thành một dân tộc yêu thương và phục vụ.

Thưa anh chị em,

Sau khi chữa bệnh cho bà mẹ vợ của Simon Phê-rô, Chúa còn chữa bịnh cho nhiều người khác nữa. Và vào buổi sáng hôm sau, Người lén rời Ca-pha-na-um đi tới một nơi hoang vắng để cầu nguyện. Đây là một thói quen tốt lành thường xẩy ra trong cuộc sống của Người. Đức Giê-su thuờng bắt đầu một ngày mới bằng việc cầu nguyện, liên kết và đàm thoại với Cha. Người cần sức mạnh và sự hỗ trợ của Cha để chu toàn Thánh ý. Vậy đâu là ý muốn mà Thiên Chúa muốn Đức Giê-su thực hiện? 

Việc chữa cho người ta khỏi các bịnh tật về phần xác là điều cần thiết, nói lên tình yêu và lòng thương xót của Đức Giê-su. Nhưng Đức Giê-su đến trần gian không chỉ để chữa cho người ta hết bịnh về phần xác. Và nếu sứ vụ của Người chỉ thu hẹp trong phạm vi đó thì đến lúc Người trở về với Thiên Chúa thì bịnh tật và đau khổ vẫn tiếp tục làm khổ con người. Và nếu như thế thì mọi vấn đề vẫn còn nguyên, không giải quyết đuợc gì hết!

Như vậy, khi  chữa bịnh Đức Giê-su cũng không làm để thỏa mãn nhu cầu của dân chúng, cho bằng vâng lời Cha, công bố một sứ điệp thật quan trọng là Nước Thiên Chúa đã gần bên. Uy quyền của Satan sẽ bị trục xuất bởi sự hiện diện của Đức Giê-su, Đấng vừa khai mạc sự hiện diện triều đại của Thiên Chúa và hoàn lại bản chất đích thực của con người như đã đuợc tạo dựng.

Đó là việc chúng ta phải nhìn ra và tiếp tục công việc của Người cho đến mọi thời. Hãy để việc chữa bịnh cho những ai đuợc ơn đó. Phần chúng ta hãy đến với nhau bằng sự cảm thông, yêu thương, hỗ trợ, ủi an và giúp đỡ nhau. Đó chính là các phương dược hữu hiệu có thể giúp con người đối diện với bịnh tật và đau khổ. Vì thế, chúng ta hãy đến với Người, ở lại trong Người và cùng Người làm việc để Uy quyền và Danh Thánh của Thiên Chúa đuợc cả sáng hơn. Bằng thái độ sống như thế, chúng ta tin rằng mọi tình huống khiến cho con người bị đau khổ sẽ giảm bớt và được chữa lành. Cầu xin được như thế. Amen.

Wednesday, 27 January 2021

UY QUYỀN CỦA LỜI RAO GIẢNG

 

Trong các tuần vừa qua, chúng ta đã tham dự ngày khai mạc sứ vụ công khai rao giảng về Nước Thiên Chúa của Đức Giê-su tại sông Gióc-đan. Sau đó còn được nghe kể lại việc Đức Giê-su đã gọi và thiết lập nhóm môn đệ đầu tiên. Đây cũng là cơ hội giúp chúng ta nhớ lại và hâm nóng ơn gọi của chính mình.

Tất cả chúng ta được Thiên Chúa mời gọi tham dự vào sứ mạng của Chúa Kitô trong hoàn cảnh sống của mình. Có người tham gia vào chức vụ mục tử coi sóc và phân phát ân sủng của Thiên Chúa qua các bí tích của Giáo Hội. Có người diễn tả lòng yêu mến của họ qua các phương thức như chăm sóc bịnh nhân, thăm viếng những người bị bỏ rơi, an ủi những ai cô đơn, giúp đỡ những người cùng khốn, binh vực những ai bị áp bức, tham gia vào các công tác truyền giáo và phục vụ những người khổ đau nghèo đói tại các hang cùng ngỏ hẻm ở khắp mọi nơi.

Nói chung, Thiên Chúa gọi ai là vì yêu thương và trọn niềm tín thác nơi người đó. Vì thế, lời đáp trả phải diễn tả và bộc lộ lòng mến của người được gọi dành cho Chúa trước. Lòng mến khi đáp trả không dừng lại ở mặt cảm xúc nhưng cần được diễn tả bằng cử chỉ và hành động như các môn đệ đầu tiên đã làm. Họ đã từ bỏ gia đình, đến nơi Chúa ở, lưu lại với Người, chia sẻ cuộc sống và xây dựng mối thân tình với Thầy. 

Như vậy, tất cả mọi ơn gọi xoay quanh bản thân Chúa Giêsu. Chúa gọi vì yêu con người, và con người đáp trả cũng vì yêu Chúa. Vì thế, trước khi được gọi để lãnh nhận các tác vụ riêng biệt khác để phục vụ Hội Thánh thì chúng ta đều được gọi để trở thành môn đệ, tín hữu của Chúa trước.

Thật vậy, qua bí tích rửa tội, chúng ta đã gia nhập vào hàng ngũ của những người môn đệ, chúng ta là chi thể của Đức Kitô. Để chu toàn vai trò của người tín hữu, chúng ta phải học để nói như Chúa nói, sống như Chúa sống. Đó chính là sứ điệp mà Thánh Mác-cô muốn gửi đến cho chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay.

Truyện kể lại việc rao giảng và chữa lành của Đức Giê-su tại Ca-phác-na-um. Ngày hôm đó là ngày hưu lễ, giống như bao người khác, Đức Giê-su vào hội đường. Chúng ta không biết nội dung lời giảng dậy của Đức Giê-su tại hội đường ở Ca-phác-na-um là gì. Thánh Mác-cô đã ghi lại phản ứng của những người nghe. Họ ngỡ ngàng và nhận ra uy quyền của Thiên Chúa trong lời Người giảng dậy. Người đã giảng dậy như một Đấng có uy quyền. Thẩm quyền của Đức Giê-su không dựa vào truyền thống của tiền nhân như các kinh sư mà dựa trên mối quan hệ giữa Người và Thiên Chúa Cha. Lời rao giảng của Người lôi cuốn và thu hút những người nghe trở về mối quan hệ với Thiên Chúa.

Và cũng trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta được chứng kiến thêm cuộc đối thoại, đúng hơn là cuộc chiến bằng Lời của Đức Giê-su và thần ô uế. Truyện kể về tình trạng của một người bị thần ô uế nhập. Ông tự nguyện đến trình diện với Đức Giê-su. Đây là cuộc chạm trán đầu tiên giữa Đức Giê-su và thần ô uế, một thứ quyền lực chống lại Thiên Chúa. Một cách khác, chúng ta có thể đọc câu chuyện này như một cuộc hiển linh của Đức Giê-su, Đấng được Thiên Chúa sai đến để chiến đấu với quyền lực của ma quỉ. Cuối cùng, Đức Giê-su đã chiến thắng, và qua đó Người đã trục xuất thần ô uế ra khỏi người bị ám và đã trả lại phẩm giá và căn tính làm người cho ông.

Công việc chữa lành và trục xuất thần ô uế ra khỏi ngượi bị sự dữ ám nói lên tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa. Thần ô uế và mọi thứ quyền lực khác đã làm đảo lộn mọi sinh hoạt nhất là tương quan giữa con người và Thiên Chúa thế nào thì nay với uy quyền của Đức Giê-su, Đấng muốn chúng ta biết rằng phẩm giá và căn tính của con người không khi nào bị thống trị bởi quyền lực sự dữ cả. Vì thế, khi chúng ta thiết lập, nối lại tương quan với Thiên Chúa là lúc chúng ta để cho quyền lực của Thiên Chúa trở thành hiện thực và giải thoát mình khỏi quyền lực của sự ác.

Ngày nay, thần ô uế hay các thế lực khác chống lại Thánh ý của Thiên Chúa mặc mầu áo và xuất hiện dưới hình ảnh khác nhau. Nó có thể là tính tự mãn, chủ nghĩa tôn sùng tự do cá nhân, tự mình sắp xếp cuộc sống mình mà quên đi mối giao tiếp và sự hỗ trợ của đồng loại rồi không  cần sự trợ lực của Thiên Chúa nữa. Tất cả các điều đó dần dà kiểm soát cuộc sống khiến cho mọi sinh hoạt bị đảo lộn. Trong tình huống đó, Đức Giê-su yêu cầu lối suy nghĩ và quan niệm đi ngược lại với tính sáng tạo và liên kết mà Thiên Chúa đã thiết lập, thoát ra khỏi chúng ta.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta vẫn biết rằng không bao giờ chúng ta trở nên và giống Chúa hoàn toàn. Và không phải tất cả chúng ta đều có năng quyền xua trừ ma quỷ hay các ảnh hưởng của nó. Chỉ một số người được trao ban cho đặc ân, họ mới có năng quyền trên các tà thần. Tuy nhiên, nói chung, ai trong chúng ta cũng có thể nói lời yêu thương, hành động vì lòng mến. Và đó chính là những điều mới lạ, phi thường mà thế giới này đang cần.

Sau đây là một số chứng từ được ghi nhận để anh chị em cùng suy nghĩ.

Truyện kể như thế này. Cha Peter Robb là linh mục thuộc tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Úc, đã cống hiến gần hết cuộc đời linh mục của Ngài cho công cuộc truyền giáo cho nhóm người dân tộc thiểu số -Dumagat- bên Phi luật Tân. Một lần kia, trong lúc đi vào buôn làng. Ngài nghe thấy tiếng nói rất hung hăng và cử chỉ thật dữ tợn của một chàng thanh niên thuộc buôn làng đó. Hình như anh này đã uống quá chén cho nên không còn kềm chế được bản thân. Có một nhóm nhân viên công lực đi ngang qua. Nhìn thấy cảnh tuợng như thế, họ tính dùng quyền uy và sức mạnh để áp chế và đưa anh này về đồn.

Ngay lúc đó, có một ông thầy giáo già, đã về hưu, đi ngang qua. Thấy hiện tượng đó, ông xin nhân viên cảnh sát cho phép ông gặp để khuyên anh ta. Ông đến gần và choàng tay qua vai người đó rồi nhỏ nhẹ nói: “Jim, đừng làm những chuyện quá trớn. Hãy điềm tĩnh và về nhà đi con.” Qua cử chỉ và lời nói thật thân thương của ông, Jim có vẻ như đã biến thành một người khác. Trông anh không còn giống như người say rượu nữa, miệng lí nhí nói câu chào thầy. Sau đó, anh từ từ đi về huớng mấy ông cảnh sát nói lời xin lỗi rồi đi về nhà trước các cặp mắt đầy ngạc nhiên của các kẻ có quyền. Họ tự hỏi nhau rằng: “Ông thầy này là ai mà chỉ bằng một câu nói đã có thể biến một người đang hung hăng trở nên thuần thục như vậy!”

Đó là truyện xẩy ra bên Phi. Còn bên nhà chúng ta thì sao? Truyện sau đây đã được cố giáo sư Nguyễn Ngọc Lan ghi trong “Chủ nhật hồng giữa mùa tím.”  

Sau năm 1975, có một người bị bịnh phong cùi ra ngồi ăn xin tại chợ Bến Thành. Nhân viên công lực và các chú bảo vệ muốn làm đẹp thành phố, nên đã yêu cầu anh rời đi nơi khác. Anh ta không nghe theo, ngược lại có vẻ tức giận, xem ra có vẻ hơi hung hăng và sẵn sàng cắn người nào muốn đụng vào anh. Trước tình huống đó, không ai dám đến gần, vì sợ bị lây nhiễm. Thấy thế anh ta càng hăng hơn.

Thấy thế, có người đến báo tin cho văn phòng bịnh xá chuyên trị bịnh da liễu gần đó. Nhân viên trực ban lúc đó là dì Hai Loan. Thực ra dì là một nữ tu, nhưng người ta quen gọi là dì cho nên chẳng còn mấy ai nhớ đến thân phận của sơ nữa, chỉ biết đó là dì Hai Loan. Khi nhận đuợc tin báo, dì lập tức đến hiện truờng và nhận ra anh là một trong những bịnh nhân do các dì coi sóc. Nhìn thấy anh, dì tiến đến gần, với một giọng nhỏ nhẹ, cực kỳ dễ thương, dì nói: “Trời ơi! Tại sao con lại ở đây. Các dì và những người bạn của con đang lo lắng cho con. Đứng dậy, rồi đi về nhà với dì.” Không một chút phản kháng, anh lập tức đứng dậy và theo chân dì đi về như một chú chiên con.” Các chú công an, những người qua đường nhìn hiện tượng đó bằng một cặp mắt ngạc nhiên và kính phục. Họ tự hỏi nhau rằng: “Bà này là ai mà lại có uy quyền như thế!”

Anh chị em thân mến,

Uy quyền của ông giáo già bên Phi và của dì Hai Loan tại chợ Bến Thành không lệ thuộc vào vị trí của họ trong xã hội hay phẩm trật trong Giáo Hội. Họ không thuộc về lớp các đấng các bậc. Bàn tay họ cũng chưa được xức dầu năng quyền. Họ là những con người bình thường như mọi người chúng ta. Nhưng mối quan hệ, tình yêu thương của họ dành cho tác nhân đã tạo nên uy quyền khiến lời họ nói có sức mạnh ảnh hưởng trên người khác. Họ nhận ra rằng sức mạnh biến đổi khiến người khác phải nghe theo đều xuất phát từ Thiên Chúa là Đấng mà họ đã gặp gỡ, tin yêu và phó thác. Mối quan hệ thân thiết này tỏa sáng trên lời họ nói khiến cho lời trở thành sức mạnh lay chuyển người khác. Còn phản ứng của dân chúng khi chứng kiến các sự kiện nói trên thì giống như phản ứng của dân thành Ca-phác-na-um đã dành cho Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay: “Thế nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân theo!”

Ước vọng của dân chúng mọi thời đều giống nhau. Họ uớc mong được nghe những lời giảng dậy thực tế và ích lợi cho cuộc sống, nhưng tốt hơn vẫn cần có các chứng từ kèm theo để chứng thực những lời nói hay lời giảng đó được xuất phát từ Chúa. Tôi còn nhớ đã được diễm phúc tham dự cuộc tĩnh tâm do Viện phụ Vuơng đình Lâm hướng dẫn. Nội dung các bài giảng và cách thức truyền đạt cuả ngài rất bình dân, câu văn không chải chuốt, thật mộc mạc và đơn sơ. Nhưng mỗi lời ngài nói đánh động người nghe bằng những dấu ấn khó quên. Lời giảng của Ngài dường như có sức mạnh của lửa, nhằm sưởi ấm tâm hồn nguội lạnh như tôi.

Trở lại với ơn gọi môn đệ của người tín hữu, chúng ta xác tín rằng ai cũng đuợc mời gọi để cổ vũ, hỗ trợ và thi hành sứ mạng của Đức Giê-su mà chúng ta đã được trao ban. Vẫn biết là còn nhiều ơn gọi và đặc sủng khác để xây dựng cộng đoàn dân Chúa. Nhưng, trước tiên chúng ta phải chu toàn bổn phận của người tín hữu bằng lời nói cũng như việc làm. Chỉ có lời rao giảng đi kèm với hành động yêu thương mới chứng thực rằng chúng ta có uy quyền và uy quyền đó từ Thiên Chúa. Ai cũng đuợc Chúa yêu thương. Đây là một hồng ân thật cao cả, một chân lý luôn luôn mới và không bao giờ bị phai lạt. Qua lời nói kèm theo với các chứng từ, chúng ta đuợc mời gọi làm cho người khác nhận ra điều khác lạ và mới mẻ để tôn vinh Chúa. Chỉ có ai dám sống cho cái gì tồn tại mãi mới dẫn họ đến sự sống đời đời. Nói khác đi, thực hiện Lời Chúa, sống yêu thương và sẵn sàng để cho uy quyền của Thiên Chúa được bộc lộ xung quanh cuộc sống của mình đều là khí cụ xua trừ quyền lực của sự dữ và dẫn chúng ta đến cuộc sống vĩnh cửu. Cầu xin được như thế, Amen!