Wednesday, 2 February 2022

VÂNG LỜI THẦY CON THẢ LƯỚI


Anh chị em thân mến,

Xã hội mà chúng ta đang sống là một xã hội trọng nhân tài. Ai có tài thì được trọng dụng. Lẽ đương nhiên ở đây chúng ta cũng phải kể đến yêú tố đức độ của người có tài nữa. Tài năng và đức độ là hai tiêu chuẩn mà chúng ta thường hay áp dụng để được đề bạt hay tuyển dụng. Đó là chưa kể đến yếu tố quen biết, bởi vì nhờ vào sự quen biết, chúng ta dễ kết thân và thuận tiện hơn trong công việc. Có lẽ anh chị em đã từng được nghe nói ‘nhất thân nhì thế’ là như thế. Và chúng ta cũng nên thành thật mà nhận ra rằng lối hành xử như thế vẫn đuợc áp dụng trong các tổ chức tôn giáo; vì thế mới nẩy sinh ra tinh thần phe phái và che giấu sự thật; đó là những nguyên nhân đang làm hoen ố bản chất đích thật của Đấng đã chọn và sai chúng ta ra đi.

Từ trong lề thói cư xử như thế, chúng ta có thể ngộ nhận và cho rằng Thiên Chúa cũng chọn những người tốt và thiện hảo nhất để làm những người lãnh đạo chúng ta. Đuờng lối của Thiên Chúa khác hẳn cách cư xử của con người. Trước khi tổ phụ Mai-sen đuợc gọi và chọn để lãnh đạo dân tiến về Đất hứa thì ông đã phạm tội sát nhân. Vua David đã đuợc chọn và gọi trong sứ mạng lãnh đạo, triều đại của Đa-vít là một triều đại huy hoàng và thịnh vượng nhất trong lịch sử Do Thái. Thế mà, khi còn thiếu thời ông đã được cưng chiều quá độ, sau này đã lạm dụng chức vụ, chiếm đoạt vợ thuộc hạ và tìm cách giết hại trung thần để công khai ruớc vợ của trung thần là giai nhân Bét-sai-ba về làm vợ của Vua.

Các bài đọc trong phần Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đều mang chung một chủ đề là ơn gọi, hay nói một cách khác là sự tuyển chọn của Thiên Chúa. Chúa là người gọi phần đáp trả vẫn thuộc về con người. Tuy nhiên, nghĩ cho cùng thì việc đáp trả cũng là hồng ân đuợc ban tặng. Bởi vì nếu không có tiếng gọi thì tai chúng ta nghe đuợc những gì. Cuối cùng tất cả đều tùy thuộc vào Thiên Chúa.

Riêng trong bài Tin Mừng, tác giả đã thuật lại việc Đức Giê-su gọi và chọn các môn đệ đầu tiên trong bối cảnh mẻ cá kỳ diệu nơi bờ biển. Bắt đầu là sáng kiến của Đức Giê-su. Người đang giảng dậy trên bờ bỗng nhiên lại muốn ra khơi; có lẽ vì thấy dân chúng tuôn đến quá đông nên Người đã chọn một không gian rộng lớn hơn để mọi người đều có thể nghe được lời giảng dậy của Người. Nhưng việc ở trên thuyền cũng là một sự sắp xếp thật lý thú của Thánh Sử Lu-ca. Không ở trên thuyền làm sao bắt được cá. Phải chăng thuyền là hình ảnh của Hội Thánh!

Sau khi giảng cho dân chúng nghe xong, Người lập tức yêu cầu Si-mon chèo thuyền ra xa để thả luới bắt cá và kết quả là một mẻ luới lạ lùng!

Có một chi tiết khá lý thú mà chúng ta nên lưu tâm.  Si-mon là người đánh cá chuyên nghiệp, dựa vào năm tháng đầy kinh nghiệm, Si-mon biết là muốn bắt được cá thì cần phải thả luới ban đêm nên đã thưa với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết” Qua lời phân trần này, Si-mon có ý ám chỉ là cả đêm đã vất vả mà không bắt được con nào, thì trời sáng rồi thì làm sao bắt được cá đây! Nhưng với kết quả của mẻ cá hôm nay đã khiến Si-mon và những ai hay dựa vào kinh nghiệm và tài năng của bản thân phải xấu hổ. Một cách thật nhẹ nhàng, Đức Giê-su đã khiến các ông nhận ra lối suy nghĩ và kinh nghiệm của Phê-rô hôm nay chỉ làm trò cuời cho ông mà thôi. Tuy nhiên, một điều đáng quí nơi Phê-rô, đó chính là thái độ vâng lời của ông, nên ông đã thưa với Chúa “nhưng vì Lời Thầy phán, con sẽ thả lưới”; kết quả là một mẻ lưới kỳ diệu.

Đứng trước việc kỳ diệu vừa xẩy ra trước mắt các ông. Si-mon, nhanh nhẩu và mau mắn nhận ra thân phận của mình. Ông biết rằng dựa vào kinh nghiệm và sức riêng chỉ làm cho ông thấy mình tội lỗi, nên ông đã sụp lạy dưới chân Đức Giê-su và thưa: “Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi”. Cả ông Giacôbê và Gioan cũng kinh ngạc như ông.

Lại một lần nữa, Đức Giê-su làm cho Si-mon thấy điều ông đang nghĩ lại sai nữa. Mẻ luới lạ lùng đã xẩy ra ngay lúc Simon Phê-rô nghĩ mình là người có tội. Tội không cản trở ơn phúc. Đức Giê-su đã thực hiện việc kỳ diệu ngay trong thân phận bất toàn của ông và các môn đệ. Đây quả thật là Tin Mừng.

Thật vậy, như các kinh sư và các người thuộc nhóm Biệt phái khi xưa, chúng ta luống cuống khi tiếp xúc và cư xử với những ai có tội. Trong khi những người thuộc nhóm Biệt phái hay các kinh sư coi thường và cả chúng ta nữa, xếp tội nhân vào loại người không xứng đáng thì Chúa lại có thái độ khác. Người luôn tạo cơ hội cho họ bắt đầu lại.

Thái độ của Đức Giê-su dành cho Si-mon Phê-rô trong bài Tin Mừng hôm nay cũng thế. Trong lúc Phê-sô đang bị mặc cảm tội lỗi dầy vò và dằn vặt khiến ông bất an và nhận ra mình thật bất xứng thì Chúa lại tìm cách lôi ông thoát khỏi những ý nghĩ đó. Người nói: “Đừng sợ! từ nay con sẽ là kẻ chinh phục người ta”.  Và các ông đã đưa thuyền vào bờ, từ bỏ mọi sự, nhất là những suy tính dựa trên ý mình, quên đi quá khứ tội lỗi, mà đi theo Người.

Làm sao có thể từ bỏ tất cả để đi theo Người? Đây là việc làm đòi hỏi nhiều quyết tâm và cần thời gian. Không dễ dàng gì để từ bỏ. Điều khó nhất là có thể chúng ta từ bỏ đuợc nhiều điều lệ thuộc của cuộc sống mà lại không từ bỏ được mình, từ bỏ cách suy nghĩ cho mình là trung tâm và ngoài mình ra thì chẳng có ai làm đuợc gì hết!

Ta vẫn là ta, dù có hăng say hay thành công đến đâu đi chăng nữa thì chúng ta muôn đời vẫn chỉ là môn đệ. Môn đệ không thể hơn chủ. Muốn sống, người môn đệ phải biết sống và nương tựa vào Chủ. Muốn đuợc như thế, cần tập sống từ bỏ và trở thành những kẻ nghèo nhất. Và với nếp sống nghèo thì việc tựa nương vào Chúa sẽ dễ dàng hơn. Thiên Chúa là nguồn năng lực duy nhất của người môn đệ. Hãy trông cậy, tin tưởng và phó thác hoàn toàn vào Đấng đã kêu mời ta.

Thưa anh chị em,

Qua trình thuật kêu gọi và làm cho Simon Phê-rô trở thành kẻ chài luới người hôm nay. Chúa cho chúng ta biết rằng Phê-rô đã được gọi ngay trong hoàn cảnh sống của riêng ông. Sau này Chúa sẽ ban thêm ơn cho ông. Nhưng ngay lúc này, Chúa dùng khả năng sẵn có của Phê-rô. Nghề của ông là nghề đánh cá chuyên nghiệp thì cá ông bắt lên sẽ là cá chết để nuôi sống bản thân; thì giờ đây Chúa mời gọi ông trở thành kẻ chài luới người. Phê-rô không còn bắt cá rồi để chết nữa nhưng sứ mạng của ông bây giờ là ra khơi, tìm chỗ sâu, thả luới, bắt cá rồi đưa vào đàn mà nuôi sống.

Như vậy, Phụng vụ Lời Chúa hôm nay trao ban cho chúng ta một sứ điệp, đó là: Chúa gọi và chọn những người Chúa muốn. Mọi ơn gọi đều phát xuất từ tình thương của Người. Điều quan trọng, con người phải ý thức rằng: mình chẳng là gì trước mặt Chúa, nhưng lại được Chúa yêu thương và tuyển chọn. Phần còn lại, đó là sự đáp trả bằng cách đón nhận và làm giầu có tình thương của Thiên Chúa qua cuộc sống mình.

Thiết nghĩ, với ơn Chúa, chúng ta sẽ làm được tất cả. Hẳn anh chị em còn tin là những ai biết nương tựa vào Chúa thì Ngài sẽ chẳng bỏ rơi họ bao giờ. Vì thế, hãy sống nhờ Người, làm việc với Người và ở trong Người thì cuộc đời của chúng ta sẽ là mẻ cá lạ lùng của Thiên Chúa. Bởi vì, Chúa có thể không nhận lời mà ban cho chúng ta điều mà chúng ta nguyện xin. Nhưng Người luôn có mặt khi chúng ta cần đến Người. Amen!

 

 

Tuesday, 25 January 2022

“THẤT BẠI LÀ MẸ THÀNH CÔNG!”


Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay tiếp tục thuật lại sinh hoạt của Đức Giê-su tại hội đường Na-da-rét trong ngày hưu lễ. Đức Giê-su, các môn đệ và bà con trong làng tụ họp với nhau để cử hành việc thờ phượng. Họ hát Thánh ca, nghe sách Thánh và cầu nguyện. Họ đã nghe danh tiếng, những lời giảng dậy và các việc Đức Giê-su làm tại các nơi khác, cho nên ai cũng háo hức và nôn nóng đến nghe Người giảng.

Sau khi công bố Lời Chúa trong sách ngôn sứ I-sa-ia, tiên báo về vai trò của Đấng Mê-si-a, Đấng được Thần Khí Thiên Chúa xức dầu tấn phong để trở thành Đức Kitô. Nhiệm vụ của Đấng Thiên Sai là rao giảng Tin Mừng cho người nghèo, loan báo niềm vui được giải thoát cho những ai bị giam cầm, cởi trói cho những ai đang bị gông cùm và đem đến cho con người một nền tự do đích thật. Quan trọng hơn cả là công bố và thiết lập năm hồng ân của Thiên Chúa nơi bản thân và sứ vụ của Người. Đức Giêsu đọc xong thì ngồi xuống và nói cho họ biết rằng những điều mà tai họ vừa nghe đã ứng nghiệm nơi bản thân và sứ vụ của Người. Vắn gọn, rõ ràng và đi thẳng vào trọng tâm của sứ điệp.

Thái độ và phản ứng của thính giả trong hội đường khiến chúng ta ngạc nhiên. Thoạt đầu họ đều tán thành và khâm phục những lời hồng ân thốt ra từ miệngNgười. Nhưng tại sao mọi người đang từ chỗ tán thành và ca tụng, đột ngột chuyển sang chống đối, rồi mức độ đối kháng tăng dần cho đến độ tất cả “mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi … kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực.”

Nguyên do nào khiến cho phản ứng của các thính giả trong hội đuờng ngày hôm đó lại biến chuyển như thế, từ thán phục đến chống đối và có ý định thủ tiêu Người?

Hình như nội dung bài giảng của Đức Giê-su không phải là nguyên nhân tạo nên sự phẫn uất của những người đồng hương. Thật ra, dựa vào trình thuật hôm nay thì chúng ta chưa hề nghe trọn vẹn nội dung bài giảng của Chúa. Người chỉ vừa mở đầu bài giảng bằng câu “hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe.”

Quả thật đây là câu then chốt. Giả như Đức Giê-su là một trong các vị tư tế hay có vai trò lãnh đạo trong hội đường thì việc loan báo ứng nghiệm lời Kinh Thánh hôm nay còn có cơ may được họ chấp nhận. Nhưng vị trí của Đức Giê-su trong kinh nghiệm và ý nghĩ của họ không phải như thế! Họ biết quá rõ về gia thế, địa vị và các phần tử trong gia đình của Chúa. Chẳng có gì sáng giá! Bần cùng, nghèo hèn. Tất cả đều rất bình thường. Người chỉ là con bác thợ mộc Giu-se mà họ đều quen biết. Như vậy làm sao họ có thể chấp nhận được việc Người quả quyết là Lời Chúa mà ngôn sứ I-sa-ia đã loan báo lại có thể được thực hiện nơi bản thân Người.

Từ lối suy nghĩ đó, họ cho Chúa một cơ hội là hãy làm cho họ thấy những gì mà Người đã làm ở các nơi khác. Quả thật, yêu cầu này không phải là điều quá đáng. Nhưng Đức Giê-su đã không chiều theo sở thích của họ. Trái lại, Đức Giê-su mà Thánh Luca đã trình bầy ở đây không phải là một con người dễ dàng bị trói buộc bởi đám đông hay bởi bất cứ một hệ thống nào. Người không lo tìm kiếm sự hỗ trợ và tôn vinh của dân chúng, cũng không vịn vào sự thành công bởi các việc Người làm. Người cũng không làm các phép lạ để tạo sự tín nhiệm và gây thanh thế kéo đám đông về phe mình. Người hoàn toàn tự do để thực hiện ý định mà Thiên Chúa muốn Người thực hiện, cho dù gặp chống đối hay thất bại.

Số phận của ngôn sứ là thế. Chỉ biết phục vụ Lời. Người nói “không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê quán mình.” Điều này có nghĩa là Người biết ơn gọi của Người là gì, và Người chấp nhận số phận của một ngôn sứ giống như số phận mà các ngôn sứ trong truyền thống đã phải lĩnh nhận. Tuy kết quả là như thế; nhưng không một ngôn sứ nào có thể từ khước nhiệm vụ đã được trao ban ngay khi còn trong lòng thân mẫu; và chính Thiên Chúa không chỉ ở cùng ngôn sứ, mà còn là thành trì bảo vệ ngôn sứ để chiến thắng kẻ thù, như trong trường hợp của ngôn sứ Giê-rê-mi-a mà bài đọc một đã mô tả.

Như vậy, qua việc loan báo ơn gọi ngôn sứ và chấp nhận sự từ khước của dân chúng, Đức Giê-su đã cho chúng ta thấy mục tiêu cuộc sống của Người là làm đẹp lòng Thiên Chúa. Vì thế, thay vì làm cho họ được hài lòng thì Đức Giê-su lại làm khác. Người trích dẫn và nhấn mạnh đến sứ mạng mà các ngôn sứ như Ê-li-a và Ê-li-sa đã thực hiện tại Si-don và Xy-ria, là các vùng của dân ngoại. Mục tiêu mà Đức Giê-su trích dẫn hai vị ngôn sứ này là muốn cho những người đồng hương biết rằng Người không đến để thực hiện và ban phát hồng ân cho riêng họ mà thôi. Người còn có trách nhiệm đem tin vui, loan báo Năm Hồng Ân cho những con chiên lạc của nhà Is-ra-en nữa. Thật tuyệt diệu khi chúng ta nhận ra ý tưởng truyền giáo và đem Tin Mừng ra khỏi biên cương Do Thái giáo được đề cập một cách thật khéo léo ở đây.

Kính thưa anh chị em,

Sự sai lầm của những người thuộc làng Na-da-rét khi xưa có thể là sai lầm của chúng ta hôm nay. Chúng ta nhiều lần vịn vào tư cách như đã được rửa tội, đã sống đạo lâu năm, đã  góp công góp của xây dựng cơ sở Giáo Hội, gia đình mình có nhiều con cháu là tu sĩ, làm linh mục, v.v… rồi buộc Chúa phải trả công bội hâụ. Thiên Chúa không phải là ông chủ ngân hàng, để rồi chúng ta gửi vào đó những công việc để sinh lời rồi sau này buộc ông chủ phải trả lại cả vốn lẫn lời cho chúng ta. Những suy nghĩ đó phát sinh từ việc chúng ta quên rằng tất cả đều là hồng ân. Và Thiên Chúa hoàn toàn tự do ban phát các ân huệ cho chúng ta, ngay từ khi chúng ta chưa thuộc về Ngài. Trước sự giầu sang và đại lượng của Thiên Chúa, chúng ta mãi mãi là những người nghèo, thiếu thốn và luôn luôn cần đến sự quan tâm và yêu thương của Ngài.

Bài học và hành động từ chối đón nhận Chúa của dân làng Na-da-rét khi xưa luôn là lời cảnh giác cho mỗi người chúng ta hôm nay. Chúng ta không được phép bắt Người phải quan tâm và dành cho chúng ta một sự chiếu cố đặc biệt. Tuy nhiên, chính sự từ khước của dân làng Na-da-rét khi xưa không làm Chúa buồn, trái lại Người coi đó như là dấu chỉ dẫn Đức Giê-su nhận ra con đường của Người. Một con đường chông gai, đầy sỏi đá… cuối cùng bị khước từ và chết tủi nhục trên Thập Giá để cứu độ con người. Nhưng đó lại là một con đường tình mà Thiên Chúa đã dọn cho Người, để Người tự do thực hiện Lời Người đã phán: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.”

Tất cả đều được xuất phát từ lòng mến, đó là ơn cao trọng nhất và cũng là con đường hoàn hảo nhất mà Thánh Phao-lô trong bài đọc thứ hai hôm nay nhấn mạnh. Theo Thánh nhân thì cái lợi duy nhất mà con người cần đạt được là ở lại trong lòng mến của Thiên Chúa. Đó chính là thước đo, là nến tảng của mọi công việc của chúng ta trong cuộc sống chứng nhân.

Cái khác biệt giữa lời của ngôn sứ với tất cả lời của bất cứ bậc hiền triết hay các nhà thông thái và khôn ngoan nào đó, chính là trong Lời của ngôn sứ có chứa đựng và truyền tải một sức mạnh yêu thương dẫn chúng ta đến Chúa, nguồn ơn cứu độ. Đó là điều mà Đức Giê-su đã thực hiện tại Na-da-rét và Người muốn mọi tín hữu hãy lập lại những gì mà chúng ta lĩnh nhận hôm nay để cho dù có gặp khó khăn hay bị từ khước chúng ta vẫn hiên ngang chu toàn ơn gọi ngôn sứ của mình, vì chính Chúa là thành trì bảo vệ và giúp ta chiến thắng mọi nghịch cảnh làm chúng ta đi ngược lại Ý muốn của Chúa. Amen!

Wednesday, 19 January 2022

BÀI GIẢNG TUY NGẮN NHƯNG ĐẦY ĐỦ!


Trong phần lời tựa, tác giả soạn tác Tin Mừng theo Thánh Lu-ca đã nói rõ mục đích công việc Ngài làm là ghi lại các lời giảng dậy và những việc làm của Đức Giê-su, để người đón nhận Tin mừng này nhận biết rằng giáo huấn chứa đựng trong đó rất xác thực. Khi trình bầy bối cảnh mà Đức Giê-su rao giảng trong các hội đường, tác giả muốn nhắm đến ý niệm là Đức Giê-su hoàn thành những gì mà truyền thống Cựu Ước đang mong chờ. Cụ thể, tại Ga-li-lê-a và các vùng lân cận, Đức Giê-su đã rao giảng và được mọi người đón nhận và tôn vinh. Nhưng chúng ta không biết nội dung của các bài giảng của Người tại các nơi đó như thế nào.

Hôm nay, trong bài giảng đầu tiên tại Na-da rét, Đức Giê-su quả quyết rằng lời hứa qua miệng các ngôn sứ, đặc biệt ngôn sứ I-sa-ia về sứ vụ của Đấng Thiên Sai được ứng nghiệm. Có nghĩa là những gì mà Thiên Chúa đã hứa thì nay được thực hiện bởi Đức Giê-su. Bài giảng khai mạc thật ngắn gọn và đây phải là mẫu mực của mọi bài giảng của các nhà giảng thuyết sau này. Đơn giản, ngắn gọn và đi thẳng vào trọng tâm. Đức Giê-su công bố Lời Chúa trong sách ngôn sứ I-sa-ia, rồi đơn giản tuyên bố rằng những gì mà anh chị em vừa nghe, hôm nay được ứng nghiệm. Bài giảng kết thúc!

Điều được ứng nghiệm hôm nay diễn tả ước vọng của Thiên Chúa, và cũng là điều mà các ngôn sứ hằng mơ ước. Rất đơn giản, chỉ đủ để thông truyền một sứ điệp là tin vui cho những ai nghèo hèn, luôn trông cậy vào sự giầu có của Thiên Chúa, trả tự do cho kẻ bị giam cầm, cho những ai bị đui mù nay được sáng mắt, những người bị áp bức về tinh thần cũng như vật chất nay được thanh thản tự do và khai mạc Năm Hồng Ân của Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến,

Hầu giúp chúng ta thấy rõ điều mới mẻ mà Đức Giê-su vừa công bố, chúng ta hãy ôn lại ý niệm về năm hồng ân của người Do Thái. Như chúng ta được biết, người Do Thái tôn trọng và giữ luật của ngày hưu lễ rất nhiệm nhặt. Sau sáu ngày làm lụng vất vả họ dành riêng một ngày để nghỉ ngơi và dưỡng sức để lấy lại những năng lực đã hao phí trong sáu ngày qua. Ngày đó được gọi là ngày hưu lễ.  Trong ngày hưu lễ, họ không làm gì hết, chỉ nghỉ ngơi. Sau 7 năm họ để ra trọn một năm: năm hồng ân ban ơn toàn xá; và sau bẩy lần bẩy năm, nghĩa là sau 49 năm, họ lại dành ra một năm, năm thứ năm mươi để cử hành một năm gọi là “năm chúa của mọi ngày hưu lễ và gọi là năm hồng ân.”

Họ trù tính rằng trong một kiếp người, dù dài hay ngắn, thì ai ai cũng có thể tiếp nhận được các đặc ân của năm đó. Trong năm ‘chúa của mọi ngày hưu lễ’, toàn thể dân Do Thái được mời gọi tìm lại bản chất đích thực của dân tộc mình. Họ tìm lại sự mới mẻ, trọn vẹn và tinh tuyền cũng như sự tốt đẹp mà Thiên Chúa đã ban cho họ ngay từ những ngày đầu của tạo dựng. Họ phải tuân thủ một cách thật nghiêm ngặt một số qui định sau đây:

1/ Ruộng đất bỏ hoang, không cầy cấy trồng trọt. Việc này có ý nghĩa là hãy quan tâm đến đời sống của mình, vì nó còn quan trọng hơn là trồng cấy. Họ tin tưởng vào sự chăm sóc và nuôi dưỡng của Thiên Chúa trong thời gian này.

2/ Tất cả những ai đang thiếu nợ thì đều được tha. Việc tha nợ nói lên chủ đích là đừng để nợ nần chồng chất từ đời này sang đời khác. Nó cũng nhằm bảo đảm cho những ai dù vất vả suốt đời nhưng vẫn không có khả năng trả nợ, thì được tha hết.

3/ Những ai đang sống trong thân phận nô lệ đều được trả tự do và quyền công dân được phục hồi. Điều lệ này nhằm chống lại việc phân chia giai cấp, vì con người được sinh ra không phải để làm nô lệ cho kẻ khác.

4/ Việc giảng dậy về sự khôn ngoan của lề luật được phổ biến rộng rãi cho toàn dân, ai ai cũng được học hỏi về lẽ khôn ngoan. Đó không phải là điều mà chỉ có những người thuộc thành phần ưu tú hay có địa vị mới được lĩnh nhận mà thôi.

Mục đích mà chúng ta ôn lại cách hiểu biết của người Do Thái về năm hồng ân, năm toàn xá giúp cho chúng ta hiểu về những điều mới mẻ mà Đức Giê-su muốn kiện toàn qui định này. Hãy nhìn vào sứ vụ và lời rao giảng của Đức Giêsu về Nước Thiên Chúa, chúng ta nhận thấy tất cả lề luật của đạo Do Thái, đặc biệt là các qui định về năm hồng ân đã được kiện toàn, trở nên sống động và ứng nghiệm nơi bản thân Chúa.

Cụ thể như trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đọc xong rồi ngồi xuống như cách mà các kinh sư thường làm. Tất cả đều chăm chú nhìn Người chờ đợi. Đức Giê-su đã tuyên bố cho họ biết rằng những lời mà ngôn sứ I-sa-ia đã loan báo khi xưa, nay đuợc thể hiện nơi bản thân và sứ vụ của Người. Người mạc khải cho họ biết chính Người là Đấng đuợc Thiên Chúa sai đến.

Với tư cách ấy, Người rao giảng Tin Mừng cho người nghèo, loan báo niềm vui đuợc giải thoát cho những ai bị giam cầm, bị trói buộc bởi gông cùm của tội lỗi và thiết lập những nguyên tắc đem đến cho con người một sự tự do đích thật. Quan trọng hơn cả là công bố và thiết lập năm hồng ân của Thiên Chúa nơi bản thân và sứ vụ của Người.

Nói khác đi, thời đại của Hồng Ân đã được loan báo bởi các ngôn sứ xưa kia, nay được ứng nghiệm nơi sự hiện diện của Người. Thời đại đó không còn chỉ dành riêng cho người Do Thái, nhưng cho mọi dân tộc trên thế giới. Hơn thế nữa, Người không chỉ là dấu chỉ của Hồng Ân, mà còn là ‘Con Người Hồng Ân’. Tất cả những ai đã gặp Người đều cảm nghiệm được điều đó. Bằng chính cuộc sống cũng như các lời giảng dậy, Đức Giêsu đã là Tin Vui cho người nghèo, những kẻ thấp cổ bé miệng, bị bỏ rơi và thân phận không được tôn trọng. Người đã không chỉ giải thoát con người khỏi ách nô lệ của tội lỗi mà thôi, nhưng còn lôi họ ra khỏi sự giam cầm của thứ luật lệ đã giam hãm và làm mất đi phẩm giá của họ. Từ sự giải thoát ấy, họ cảm nghiệm được lối sống phát sinh từ sự tự do của ân sủng nơi Người.

Anh chị em thân mến,

Khi nói đến Năm Hồng Ân, theo thói quen chúng ta thường hay nghĩ đến ơn toàn xá. Thật ra đây không phải là điều quan trọng, dù có hay không cũng không làm thay đổi cuộc sống và mối dây tương quan giữa chúng ta và Thiên Chúa. Bởi vì, mỗi giây, mỗi phút trong cuộc sống của chúng ta đều là ân sủng. Tất cả đều là hồng ân.

Còn năm hồng ân theo tinh thần của Đức Giê-su không chỉ nhắc nhở chúng ta nhớ đến các hồng ân của Chúa ban tặng mà còn là lời mời gọi chúng ta sống yêu thương hơn, sống tha thứ và biết bỏ qua những nợ nần của nhau. Hãy can đảm để đổi mới cách sống: thay vì nhìn nhau bằng cặp mắt soi mói, ghen tương, lên án hay hận thù thì hãy trao cho nhau sự tin tưởng, lòng nhân ái và hãy thông cảm những yếu hèn, sự mỏng giòn trong thân phận kiếp người của nhau.

Khi thi hành các trách vụ đó, chúng ta không mong tìm được lợi ích cho bản thân, nhưng quyết tâm chu toàn bổn phận của người quản lý trung tín để phục vụ cộng đồng nhân loại và đổi mới bộ mặt của thế gian. Bởi vì, chúng ta xác tín rằng Thiên Chúa luôn chăm sóc cho dân của Người. Chúng ta tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Ngài đã dọn sẵn cho chúng ta một chỗ ở mới, một thế giới mới và ở nơi đó công bằng sẽ ngự trị. Hạnh phúc tại nơi ấy sẽ thỏa mãn và lắp đầy mọi ước vọng của sự an bình luôn trào dâng trong lòng con người... Vì tất cả đều là hồng ân, không chỉ ban tặng trong năm hồng ân mà thôi. Nó đã đuợc khai mạc bởi Đức Giê-su và sẽ kéo dài cho đến muôn thế hệ.

Trong tinh thần đó, chúng ta hãy sống mọi ngày như những ngày của hồng ân mà nhìn lại chính mình, sắp xếp lại cuộc sống và vui mừng dấn bước trong công việc tái thiết cũng như xây dựng gia đình mình, xóm giáo, họ đạo, cộng đoàn, giáo xứ và tập thể chung của nhân loại để trở thành một cộng đồng yêu thương, đầy tràn công lý và bình an, trong đó mọi người đều có thể cảm nhận được hồng ân của Thiên Chúa ban cho họ qua sự cộng tác của các tín hữu.

Cầu xin Chúa gìn giữ và giúp cho chúng ta đạt được nguyện ước đó để làm cho kho tàng hồng ân của Thiên Chúa mỗi ngày mỗi phong phú và đầy tràn hơn. Amen!

 

Wednesday, 12 January 2022

RƯỢU MỚI THÌ BÌNH PHẢI MỚI.


Tin Mừng theo Thánh Gioan thường có ý nghĩa rất sâu xa. Chẳng hạn đoạn Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe hôm nay, tuy nói về tình hình của một đám cưới nhưng ý nghĩa không chỉ gói gọn về các khó khăn trong đời sống hôn nhân mà bao trùm cả đời sống con người. Tuy nói về việc nước biến thành rượu nhưng ám chỉ đến tất cả những thứ mà quyền năng Chúa Giêsu có thể biến đổi.

Việc Chúa Giêsu hóa nước thành rượu được Thánh Gioan gọi là "dấu chỉ" và còn là "dấu chỉ đầu tiên để bày tỏ vinh quang của Người". Dấu chỉ là cái gì đó trước mắt chỉ tới điều gì khác có ý nghĩa sâu xa hơn. Cái trước mắt ở Cana là nước thành rượu. Cái khác mà nước thành rượu chỉ tới là gì? Đó là với sự hiện diện của Đức Kitô, Người sẽ biến đổi cuộc sống con người thành cuộc sống tràn đầy niềm vui và hoan lạc như tiệc cưới.

Vì thế, thưa anh chị em,

Dù chúng ta sống ở thời đại nào hay lớn lên trong bất cứ nền văn hoá nào, tiệc cưới luôn là bữa tiệc của niềm vui. Người ta ăn uống nhẩy múa để san sẻ niềm vui với cô dâu, chú rể và hai họ. Theo phong tục của người Do Thái thời Đức Giê-su thì tiệc cưới kéo dài bẩy ngày. Con số bẩy là con số tràn đầy, gợi lại cho chúng ta thời gian mà Thiên Chúa dùng để tạo dựng vũ trụ và vạn vật. Phải chăng theo tập tục cưới hỏi này chúng ta nhận ra cuộc sống của người nam và nữ chỉ đạt đến mức trọn hảo khi họ kết hợp với nhau thành một gia đình!

Thế mà mới sang ngày thứ ba, họ đã hết rượu. Chi tiết và cách xử dụng phép lạ đuợc thực hiện vào ngày thứ ba khiến cho chúng ta nghĩ đến cụm từ ‘ngày thứ ba’ đuợc dùng để mô tả biến cố Phục Sinh của Đức Giê-su; như vậy rõ ràng có sự nối kết giữa việc xẩy ra hôm nay với Mầu Nhiệm Phục Sinh.

Trong tiệc cưới hôm nay có Đức Giê-su, Mẹ Người và các môn đệ của Người nữa. Không khí tiệc cưới thật náo nhiệt, mọi người vui vẻ, đã sang ngày thứ ba rồi nên ai cũng có chút hơi men; vì thế không khí càng sôi nổi hơn. Mẹ của Đức Giê-su ngồi chung bàn với bà con và những người bạn của Mẹ. Mẹ nhìn sang bàn của Chúa và các môn đệ, thấy họ đang nghe Chúa kể truyện. Người là nguồn vui cho cả bàn. Mẹ gật gù, mỉm cuời mãn nguyện về con mình.

Giống như các bà mẹ khác, Đức Maria cũng có hoài vọng và mơ ước riêng dành cho Đức Giê-su. Tuy nhiên, Mẹ tiếp tục cầu nguyện và xin được tự do, không bị vuớng bận bởi các ước muốn của riêng Mẹ để luôn tôn trọng việc tự do tìm kiếm ý định của Thiên Chúa nơi Đức Giê-su và cùng với Người hoàn thành ý định của Thiên Chúa.

Đang chìm đắm trong mối suy tư về con của mình. Bỗng nhiên, Mẹ khám phá ra sự việc tiệc cưới đã hết rượu! Làm sao chuyện này có thể xẩy ra được. Trước khi khai mạc tiệc cưới, họ đã chuẩn bị thật kỹ lưỡng; thế mà làm sao vẫn có thể xẩy ra như thế này. Mọi người đều bối rối.

Trong lúc đó, Đức Giê-su vẫn đang mải mê kể truyện, làm như không hề biết chuyện gì đã xẩy ra. Mẹ đứng dậy, mạnh dạn bước đến nói với Đức Giê-su ‘Con ơi, họ hết rượu rồi.’ Mẹ ám chỉ đến tình trạng của đám cuới. Mẹ chỉ nói được như thế. Sau khi nghe Mẹ thông báo về tình trạng hết ruợu của nhà đám, Đức Giê-su nhìn vào trong nhà, thấy rõ vẻ bối rối của họ. Tuy nhiên, quay sang Mẹ, Người ngập ngừng nói ‘Mummy’, rồi im lặng mới nói tiếp: “Thưa bà, chuyện đó có can hệ gì đến tôi và bà, giờ tôi chưa đến.” Câu nói này tuy hơi khó nghe, nhưng ở đây, Đức Giê-su muốn tỏ rõ lập trường về mối quan hệ giữa Đức Maria và Người. Liên hệ máu huyết tuy quan trọng, nhưng vẫn không bằng mối tương quan của những ai luôn tìm kiếm và thực hiện điều Thiên Chúa muốn. Vì vậy, vấn đề quan trọng mà Người và Mẹ Người cần thi hành đó chính là ý định của Thiên Chúa.

Câu trả lời của Đức Giê-su ‘Giờ tôi chưa đến’ khiến Mẹ nhớ lại Lời mà Người đã nói trong đền thờ là ‘Cha Mẹ không biết rằng con phải lo việc cha con sao’.  Mẹ tin vào sự lựa chọn của Đức Giê-su. Người chỉ muốn tùng phục và vâng nghe theo ý của Thiên Chúa mà thôi, nên Mẹ cũng chẳng cảm thấy buồn, bèn quay vào trong nhà và bảo những người giúp việc là “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Nghe Đức Maria nói thế, họ nhìn nhau ngạc nhiên và chẳng hiểu gì hết!

Một lát sau. Mẹ nhìn thấy Đức Giê-su sai bảo gia nhân đổ đầy nước vào sáu chum đá dành cho việc rửa tay trước khi nhập tiệc. Những người giúp việc nghe xong lịnh truyền của Chúa bèn cảm thấy bối rối. Bởi vì, nghi thức rửa tay trước khi nhập tiệc đã hoàn tất, giờ đây cần đổ đầy nước vào các chum để làm gì! Tuy vậy, họ cũng không hỏi lại Người. Chỉ biết vâng nghe và làm theo. Sau đó Đức Giê-su yêu cầu họ đem nuớc ra cho ông quản tiệc. Nước đã biến thành rượu mà ông quản tiệc không hề biết. Chỉ có những người cộng tác biết mà thôi!

Phần Mẹ, qua mẩu đối thoại hôm nay giúp chúng ta nhận ra niềm tin của Mẹ, luôn kiên cường, phó thác và hết lòng cậy trông, không nghi ngại. Tuy nhiên đó không phải là ý của Thánh sử khi thuật lại dấu lạ tại Ca-na này. Tuy vị trí của Mẹ quan trọng trong sứ vụ của Đức Giê-su, nhưng Mẹ không thể thay thế được vai trò của Chúa. Đức Giê-su mới là nhân vật quan trọng mà Thánh sử muốn nói đến trong câu chuyện này.

Và, có một sự biến chuyển thật diệu kỳ ở đây. Đó là từ đầu trình thuật chúng ta chưa hề biết ai là chú rể. Theo tục lệ của người Do thái thì chú rể là người cung cấp rượu. Đến lúc này, qua việc Đức Giê-su biến nuớc thành rượu chúng ta nhận ra ý của Thánh sử muốn công bố cho chúng ta biết Đức Giê-su không chỉ là rượu mới, mà còn là Chủ cung cấp ruợu cho muôn dân. Người là chủ bữa tiệc hoan lạc của ngày cánh chung, mà hiện nay chúng ta cùng nhau cử hành trong các Thánh lễ.

Tại Cana, trong tiệc cuới hôm nay, Đức Giêsu đã đến khai mạc ngày hoan lạc ấy. Ở Na-im, Người đã biến đổi những giọt nước mắt đau thương của người Mẹ khóc con thành những giọt lệ vui mừng khi cho con của bà sống lại. Ở Giê-ri-cô, Nguời đã biến tâm hồn ích kỷ, chỉ biết vơ vét của ông Da-kêu thành một tâm hồn quảng đại. Cho tới lúc đã bị đóng đinh trên thập giá, lúc mà thiên hạ tưởng như Người đã bó tay; nhưng chính trong lúc đó Người đã biến đổi kẻ trộm thành người khách đầu tiên dự tiệc thiên quốc. Và nhất là trong biến cố phục sinh, Nguời đã biến đổi sự chết thành sự sống.

Vì thế, qua dấu lạ hôm nay, Đức Giê-su đã tỏ bầy cho chúng ta nhìn thấy vinh quang của Người. Phải chăng đây cũng là cuộc hiển linh, cuộc tỏ mình để biến đổi tất cả những ai tin vào Người trở thành rượu thơm ngon hảo hạng, dành cho thế giới đang có nhiều sự đổi thay hôm nay. Giữa các sự đổi thay nhanh như chớp, người tín hữu cần đến với Đức Giê-su là nguồn của mọi sự đổi mới. Chỉ trong Người thì mọi sự thay đổi mới bền vững và có giá trị lâu bền. Hãy đến với Chúa, Người sẽ biến đổi cuộc sống tẻ nhạt, không chút đổi thay của chúng ta thành rượu ngon cho mọi bữa tiệc mà chúng ta cùng tham dự. Amen!

Wednesday, 5 January 2022

ĐỨC GIÊ-SU CHỊU PHÉP RỬA.


Anh chị em thân mến,

Vào những dịp cuối năm, nhiều người có thói quen dành thời gian để nhìn lại những việc làm trong năm cũ, những sai lầm cần sửa đổi, các kinh nghiệm cần ghi nhớ và những dự án cần thực hiện để đổi mới. Có những người nhìn lại rồi hối tiếc. Lại có những người nhìn lại với tâm tình tạ ơn. Dĩ nhiên cũng có những trải nghiệm khiến chúng ta bị tổn thương… Tất cả đều là kinh nghiệm.

Với các bài học đã xẩy ra trong năm qua, nhất là nỗi sợ hãi do đại dịch Co-vid 19 gây ra khiến lòng chúng ta còn hoang mang. Tuy là như thế, nhưng chúng ta vẫn hy vọng hướng về tương lai, mong chờ nhiều cơ hội mới sẽ diễn ra với những giải pháp thật tốt đẹp sẽ xẩy đến. Như vậy, thời gian ‘giao thừa này’ thật thú vị. Đó là thời gian thay cũ đổi mới.

Đức Giê-su cũng đã trải qua kinh nghiệm này. Trong cuộc đời của Người thì biến cố lĩnh nhận phép rửa hôm nay đánh dấu một bước ngoặt lớn. Nó có thể được coi như là sự kiện kết thúc quãng đời ẩn dật và báo trước cuộc sống công khai của Người. Kể từ hôm nay, Người bắt đầu sứ vụ giảng dạy và chữa lành, một sứ vụ sẽ kết thúc bằng cái chết trên Thánh Giá sau này.

Thật vậy, qua việc đón nhận phép rửa bởi Gio-an, Đức Giê-su đã tỏ cho chúng ta thấy mối dây liên đới của Người với toàn thế nhân loại, đang trông chờ ơn cứu độ. Khi làm việc này, Đức Giê-su đã nói lên tính hòa đồng giữa Người và chúng ta, Người đành chấp nhận mất tất cả và trở thành một người như chúng ta.

Ngoài ra, với hành động tự hạ của Người, Đức Giê-su đã hàm ý loan báo cho chúng ta biết về phép rửa bằng chính sự chết của Người trên Thánh Giá; đó chính là phép rửa mà Người sẽ vui lòng nhận lãnh để làm trọn vai trò của ‘người tôi tớ đau khổ’ mà Thiên Chúa sai đến để cứu độ muôn dân. Vì tình yêu, Đức Giê-su đã hoàn tất ý định của Thiên Chúa và đồng ý đi đến cùng, cho dù phải đón nhận phép rửa bằng máu trên Thánh Giá để xóa bỏ tội lỗi của chúng ta.

Hơn thế nữa, theo các nhà chuyên môn Thánh Kinh thì việc Đức Giê-su đã hạ mình xuống, chấp nhận thân phận tội nhân để xin Gioan Tẩy Giả làm phép rửa mang một ý nghĩa là qua đó Người đã thánh hóa nước và ban cho nước một hiệu quả kỳ diệu, đó là trao ban ơn sủng. Hay nói cách khác, chính nhờ việc chấp nhận chia sẻ thân phận của hàng ngũ tội nhân hôm nay và hành vi dâng hiến trọn vẹn sau này trên Thánh Giá, Người đã thiết lập bí tích Rửa tội.

Như vậy, phép rửa mà Đức Giê-su đón nhận bên bờ sông Gióc-đan bởi Gio-an Tẩy giả mang đến một ý nghĩa mới, đầy đủ và thiêng liêng hơn. Qua biến cố này, căn tính của Đức Giê-su được lộ diện. Thần khí đã xuống trên Người bằng hình chim bồ câu. Hơn thế nữa, trong lúc tự hạ mình xuống như vậy, Người đã được Chúa Cha nâng lên qua lời xác nhận: “Này là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng.”

Thưa anh chị em,

Với chúng ta cũng vậy, kể từ khi lãnh nhận bí tích rửa tội, chúng ta cũng đã được Chúa Cha nhận làm con cái Ngài. Những gì mà Thiên Chúa đã nói với Đức Giêsu trong nghi lễ thanh tẩy hôm nay cũng là điều mà Chúa Cha nói với mỗi người chúng ta, đó là qua bí tích rủa tội, chúng ta không chỉ sạch mọi tội khiên mà còn được diễm phúc là thành viên trong gia đình của những con yêu dấu của Thiên Chúa.

Trong bí tích rửa tội, chúng ta đã được ghi ấn tín và trở thành Con Thiên Chúa, thuộc về gia đình của những người môn đệ của Đức Giê-su. Phép rửa không chỉ là một nghi thức; nhưng đó là phương thế mà Thiên Chúa đã dùng để xác định rằng chúng ta thuộc về cộng đoàn tín hữu, những người môn đệ dấu yêu của Người. Tập thể của những người con mà Thiên Chúa yêu dấu và dĩ nhiên chúng ta cũng cố gắng làm vui lòng Ngài. Do vậy, tuy rằng chúng ta lĩnh nhận bí tích này duy chỉ một lần trong đời, nhưng căn tính được ban tặng cần được phát triển mãnh liệt trong cuôc sống thường ngày của chúng ta.

Hôm nay, khi mừng lễ Đức Giê-su chịu phép rửa. Hội Thánh mời gọi chúng ta nhìn lại cuộc sống, tuyên xưng lại niềm tin và quyết tâm sống trọn lời tuyên hứa trong ngày lĩnh nhận bí tích rửa tội của mỗi người. Từ đó, chúng ta có nhiều cơ hội sống tốt hơn, thiện hảo hơn, sống đúng theo yêu cầu mà Đức Giê-su đã tỏ bầy cho chúng ta là những môn đệ chân chính của Thầy.

Và cho dù vô tội. Nhưng hôm nay Đức Giê-su đã hoà mình vào dòng chảy của những con người tội lỗi để thay thế chúng ta thì giờ đây qua bí tích rửa tội, chúng ta được mời gọi mặc lấy Đức Ki-tô, trở nên một với Đức Ki-tô, có nghĩa là qua bí tích rửa tội chúng ta đuợc mời gọi trở thành một Đức Kitô khác.

Vì thế: vẫn biết rằng chúng ta chỉ được rửa tội một lần trong đời, nhưng trong cuộc sống thường ngày chúng ta phải sống và giữ lời hứa rửa tội trong suốt cuộc đời. Có nghĩa là buớc vào con đuờng của Người, mặc lấy cuộc sống và sứ vụ của Người, để càng ngày càng trở nên giống Người hơn. Và đó chính là Tin Vui, mà chúng ta những người đã được lĩnh nhận bí tích rửa tội cần đem đến cho thế giới hôm nay. Amen!

Wednesday, 29 December 2021

HÃY ĐỂ THIÊN CHÚA TỎ MÌNH!

 

Trình thuật Tin Mừng hôm nay kể lại việc tìm kiếm của các nhà khôn ngoan thông thái, còn được gọi là các chiêm tinh gia. Họ chuyên nghiên cứu sao trời và tin rằng mỗi người chúng ta có một ngôi sao chiếu mệnh. Và vào đúng lúc Đức Giê-su sinh ra thì họ đã nhìn thấy một ngôi sao lạ xuất hiện trên bầu trời và theo kinh nghiệm dựa trên sự hiểu biết của họ thì ngôi sao đó ám chỉ một con người sẽ làm thay đổi bộ mặt thế giới mới được sinh ra. Họ đã theo dấu ngôi sao lên đường tìm kiếm và thờ lậy.

Như những người tìm kiếm, chúng ta cảm phục sự hy sinh, lòng can đảm, vượt qua bao gian khổ trên hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh. Nhưng thật ra, điều mà chúng ta cần để ý là qua biến cố này chúng ta nhận ra việc Thiên Chúa tỏ mình cho muôn dân, chứ không còn chỉ riêng cho dân Do Thái mà thôi. Nguồn ơn cứu độ được ban cho mọi người.

Như vậy, thưa anh chị em.

Biến cố tỏ mình của Đức Giê-su cho muôn dân hôm nay giúp chúng ta nhận ra chiều kích tràn đầy của Mầu Nhiệm Giáng Sinh. Giáng Sinh dù thế nào vẫn chỉ là cuộc viếng thăm của Thiên Chúa dành cho dân Israel, dân riêng của Ngài. Với Lễ Hiển Linh, mầu nhiệm đó đạt đến mức toàn diện. Thiên Chúa sinh ra làm người và tỏ mình cho muôn dân muôn nuớc, bao gồm cả chúng ta. Việc tỏ mình là sáng kiến của Thiên Chúa, không ai có thể yêu cầu hay buộc Ngài phải làm chuyện đó. Nhưng, nếu chúng ta không nhận biết, không đón nhận và không loan báo cho nhau thì quả là một điều thiếu sót. Như thế, biến cố này còn đóng một vai trò thật quan trọng trong hành trình niềm tin và cách sống đạo của chúng ta.

Hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh không dễ dàng. Dù có ngôi sao dẫn đuờng, nhưng ngôi sao lúc ẩn lúc hiện. Cũng có lúc các ông bị mất dấu; không phải do các ông đi lạc; nhưng ngôi sao không xuất hiện thì biết lối nào để đi. Trong hoàn cảnh đó, họ không hề thất vọng; tiếp tục tìm kiếm bằng cách dò hỏi những ai đã được tiên báo về sự xuất hiện của con trẻ Giê-su. Họ đã hỏi các thượng tế và kinh sư về thời gian và nơi chốn của vị lãnh tụ, đấng chăn dắt dân Thiên Chúa sẽ ra đời.

Với chi tiết này chúng ta thấy rằng các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó cũng là những người khôn ngoan thông thái. Họ còn hiểu biết đạo Chúa. Thế mà, những điều họ biết là cái biết của lý trí, dựa theo kinh điển mà không hề cất bước đi tìm cho nên cái khôn ngoan của họ, những điều họ biết cũng chẳng giúp gì cho họ. Còn Vua Hê-rô-đê cũng biết; nhưng điều nhà vua biết không đem vua lại gần Chúa; trái lại cái biết đó lại là nguyên nhân khiến cho vua lo sợ. Phát sinh từ nỗi sợ hãi hoang tưởng, sợ mất quyền hành; vua đã tìm cách tiêu diệt và giết hết những ai là mầm mống đe doạ sẽ lật đổ ngai vàng của ông. Cho dù như thế, nhưng Thiên Chúa vẫn dùng họ như dụng cụ khai lối chỉ đường cho người khác. Thiên Chúa luôn soi sáng cho những ai tha thiết tìm ơn cứu độ, cho dù trên hành trình tìm kiếm, nhiều lúc chúng ta cảm thấy ánh sáng khi ẩn, khi hiện, đường đi không rõ và tương lai lại mịt mù.

Ngoài ra, sự việc tỏ mình của Thiên Chúa trong thân phận của trẻ thơ Giê-su hôm nay chỉ trọn vẹn khi Người đã cho đi tận cùng cuộc sống của mình. Chính việc cho đi và tự hiến sau cùng của Đức Giê-su mới là cuộc tỏ mình huy hoàng nhất về chân tuớng đích thật của Người qua biến cố Phục Sinh. Vào ngày đó, con người của Đức Giêsu được bao phủ trọn vẹn thần tính của Thiên Chúa. Và cũng chính nhờ ơn Phục Sinh mà chúng ta nhận ra thần tính của Đức Chúa. Các môn đệ là nhân chứng về cuộc Hiển Linh Phục Sinh. Niềm tin của chúng ta hôm nay cũng dựa vào lời chứng của các tín hữu tiên khởi; đó chính là: Thiên Chúa đã tỏ mình trong thân phận con người của Đức Giêsu, Người đã ở giữa chúng tôi và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người từ Chúa Cha mà đến.

Như vậy, với trình thuật Hiển Linh, Thiên Chúa tỏ mình cho mọi người biết rằng: trong Chúa không ai là người ngoài cuộc hết. Tất cả đều được mời gọi đón nhận và làm chứng về ơn cứu độ. Ai ai cũng đựợc diễm phúc làm con của Ngài. Ai ai cũng được mời gọi sống để tỏ bầy sự hiện diện của Thiên Chúa. Đây chính là hồng ân và sứ mạng mà Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta.

Thưa anh chị em,

Thiên Chúa đã làm người, đã tỏ chân tướng đích thật của Ngài cho chúng ta nhận biết. Nhưng chúng ta đã làm gì để tỏ ra cho người khác nhận biết sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống mình? Cũng có lúc chúng ta cảm thấy Chúa rất gần gũi, Người đang ở sát bên mình và thúc giục chúng ta ra đi để chu toàn sứ mạng. Với ý ngay lành chúng ta tuởng như là Chúa rất cần chúng ta để làm cho Danh Người cả sáng. Nhưng thực tế lại khác, có những giây phút buồn chán khi đối diện với muôn ngàn khó khăn khiến chúng ta dễ có khuynh hướng buông xuôi và bỏ cuộc… Trong hoàn cảnh như thế, chúng ta lại gán cho Chúa ý nghĩ của mình là Chúa bỏ rơi con. Thật ra, Thiên Chúa không chán nản, không hề thất vọng về ta. Ngài luôn luôn dùng đủ mọi cách thức để bộc lộ, lôi kéo và hướng dẫn chúng ta.

Vì thế, giống như hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh, trong cuộc sống chúng ta cũng nhận ra dấu của ngôi sao, các dấu chỉ thời đại mà Chúa dùng để soi sáng và mời gọi chúng ta. Tất cả đều là ánh sáng của Chúa. Ngay cả có những lúc ánh sao bị biến mất thì Chúa lại dùng đường lối khác, như những con người giống Hê-rô-đê và những vị học giả thông thái am tường đạo Chúa. Thiên Chúa vẫn dùng họ, không chừa một ai, để hỗ trợ, động viên, nhắn gửi cho các nhà chiêm tinh và mỗi người chúng ta một sứ điệp là ta vẫn đáng tin, đừng chán nản, hãy tiếp tục lên đuờng và căng buồm ra khơi.

Như vậy, sứ mạng làm cho người khác nhận ra Thiên Chúa nơi mình không nằm xa và ở ngoài khả năng của chúng ta. Nó nằm ngay trong bản thân, giữa gia đình, qua mối dây liên hệ giữa vợ chồng và con cái, giữa các kẻ tin và người không tin, giữa những ai đủ can đảm để cho Mầu Nhiệm Nhập Thể của Thiên Chúa tỏ mình qua các việc làm như:

-          Trao cho nhau nụ cuời, dành cho nhau các câu nói cảm thông hơn là trách móc, ghen tỵ và oán than nhau.

-          Đến với nhau bằng trái tim biết rung động để khoan hồng, dung thứ và đón nhận những thiếu sót và bất toàn của nhau.

-          Mở rộng đôi tay nhân ái để đón tiếp hơn là loại bỏ, hất hủi và xua đuổi nhau.

Nói chung, đó là các việc nói lên hành trình tìm kiếm và thực thi Lời Chúa bằng chính cuộc sống mình. Tất cả đều là lời mời gọi, là các cơ hội để Thiên Chúa được tỏ mình qua lối sống chứng nhân, tuy bình thường nhưng lại chứa đựng quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa nơi mình.

Cầu xin cho mọi người có lối sống nêu trên để qua đó, chúng ta có nhiều cơ hội bộc lộ thân thế và nguồn ơn cứu độ của Người cho muôn dân. Amen!

 

 

Wednesday, 22 December 2021

GIA ĐÌNH TÌM GẶP NHAU TRONG CHÚA.

 


Những dòng suy niệm về Lễ Thánh Gia năm nay được gửi đến anh chị em trong tâm tình của ngày Đại Lễ Mừng Chúa Giáng Sinh. Trước tiên, chúng tôi xin gửi đến quí cụ, quí ông bà và anh chị em lời nguyện chúc bình an. Ước mong niềm vui và ân huệ của Đấng Em-ma-nu-en, có nghĩa là ‘Thiên Chúa ở cùng chúng ta’ được ứng nghiệm trong từng ngày sống của chúng ta. 

Chu kỳ phụng vụ năm nay xếp hai Lễ Giáng Sinh và Thánh Gia được cử hành vào một cuối tuần, sát bên nhau. Trong Lễ Giáng Sinh, chúng ta mừng và tưởng nhớ cuộc thăm viếng vĩ đại của Thiên Chúa, Đấng đã chia sẻ kiếp người với chúng ta; Người không chỉ chia sẻ một chút ít; nhưng chia sẻ toàn diện. Người đến trong hoàn cảnh riêng của từng người. Người tìm kiếm và làm bạn với người tội lỗi và mất hướng đi. Và khi đến trong thân phận con người, Đức Giê-su cũng cần có một gia đình, một gia đình bình thường như mỗi gia đình của chúng ta. Gia đình của Chúa cũng không có ngoại lệ. Vì thế, chúng ta hân hoan mừng Lễ Thánh Gia để khám phá rằng có Chúa hiện diện thì gia đình có tất cả, và nếu không có Chúa thì các thành viên trong gia đình, dù là gia đình của Chúa, cũng dễ dàng lạc mất nhau.

Bài Tin Mừng của Lễ Thánh Gia năm nay kể lại việc tuân giữ lề luật của Thánh Giu-se và Đức Mẹ. Hàng năm, các ngài lên Giê-ru-sa-lem để tham dự các nghi lễ theo luật dậy. Nhưng lần này thì khác, có Đức Giê-su đi cùng. Người đã đến tuổi khôn, độ tuổi trưởng thành để tham dự các nghi thức tế tự dành cho người lớn, có nghĩa là tuy theo chân cha mẹ tham dự các nghi lễ, nhưng ý nghĩa sâu xa của các nghi lễ thì Người hiểu rõ. Trong khi đó, cha mẹ của Người cũng tham dự, nhưng chưa hẳn các ngài đã thấu hiểu sâu xa điều mà các ngài vẫn trung thành tuân giữ.

Khi mọi nghi lễ kết thúc, cha mẹ Người lên đuờng trở về nhà, trong khi đó Đức Giê-su vẫn còn ở Giê-ru-sa-lem mà các ngài không hề hay biết. Sau khi lạc mất Đức Giê-su, đến ngày thứ ba mới tìm thấy Người. Chi tiết ngày thứ ba mới tìm thấy Người và câu trả lời của Đức Giê-su “Sao cha mẹ lại tìm con?” làm cho chúng ta nhớ lại cũng vào buổi sáng ngày Phục Sinh, các thiên thần bên ngôi mộ trống đã hỏi các bà: “Sao các bà lại tìm Người sống ở giữa kẻ chết?” Ánh sáng Phục Sinh giúp chúng ta tìm thấy Chúa là Đấng đang hiện diện giữa chúng ta, thế mà nhiều khi chúng ta lại tìm kiếm Chúa trong đất dành cho kẻ chết, cho nên chúng ta lạc mất nhau.

Thưa anh chị em,

Khi công bố đoạn Tin Mừng này trong lễ Thánh Gia năm nay, Hội Thánh muốn nhắc nhở chúng ta một chân lý sâu xa đã hiện diện trong đời sống gia đình Thánh Gia, và đây cũng là điều mà mọi gia đình công giáo nên thực hiện. Đó là mọi thành phần trong gia đình phải xếp việc tìm kiếm và vâng phục ý định của Thiên Chúa lên hàng đầu. Và, đây chính là nền tảng căn bản trong cuộc sống gia đình.

Trước tiên chúng ta nhận ra việc tìm kiếm và vâng phục của Đức Giê-su. Người tùng phục và vâng nghe lời dậy bảo của cha mẹ mình. Nhưng không vì thế, Người lại quên đi bổn phận chu toàn sứ mạng cuả Thiên Chúa. Người đến để thực thi ý định của Thiên Chúa. Và một điều vô cùng đặc biệt đã xẩy ra ở đây cũng như trong suốt hành trình thực hiện sứ vụ là nhờ sự tìm kiếm và vâng phục của Người mà cha mẹ của Người cũng đi vào con đuờng làm trọn Thánh ý của Thiên Chúa.

Nói thì nói như thế, nhưng tiến trình tìm kiếm và vâng phục ý định Thiên Chúa của Thánh Giu-se và Đức Mẹ không phải là việc đã xẩy ra một sớm một chiều. Hối hả, bồn chồn và lo lắng trong khi tìm kiếm, để đến khi tìm thấy đuợc con của mình lại nghe Đức Giê-su giải thích về việc mà Người đang làm là việc trong nhà Cha, hai ông bà cũng chẳng hiểu lời Đức Giê-su vừa nói.

Việc tìm rồi gặp, gặp xong lại mất, mất rồi lại tìm thấy là những gì đuợc lập đi lập lại trong hành trình tìm kiếm của các ngài. Phải chờ cho đến khi ơn cứu độ được hoàn tất qua Mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Giê-su thì cha mẹ Người mới hiểu rõ. Những gì bây giờ chưa được khai sáng thì trong ngày Đức Giê-su hoàn tất ơn cứu độ thì mọi sự sẽ được tỏa sáng và lộ rõ như ban ngày.

Như vậy, suy đi nghĩ lại những gì không hiểu là điều cần thực hành trong đời sống đức tin. Điều này cũng có thể áp dụng và đem lại hiệu quả một cách hữu hiệu trong nếp sống gia đình. Chúng ta thường có khuynh hướng nói mà không suy, cho nên những điều ta nói dễ mất lòng người khác hơn. Suy đi nghĩ lại để khám phá ra ý định của Thiên Chúa cần mình nói gì, làm gì bao giờ cũng là thái độ sống của người biết lắng nghe, biết quan tâm và tìm các giải pháp tốt đẹp cho đời sống chung trong gia đình.

Thưa anh chị em,

Suy gẫm và noi gương đời sống gia đình Thánh Gia qua trình thuật Tin Mừng theo Thánh Lu-ca hôm nay giúp cho chúng ta nhận ra phương pháp sống thế nào cho gia đình được hạnh phúc. Cho dù khác nhau về hoàn cảnh địa lý, phong tục, thời gian … Nhưng nếu mọi thành phần trong gia đình của các tín hữu biết đặt trên căn bản của việc tìm kiếm và thực hành ý Thiên Chúa như gia đình Thánh Gia thì chúng ta sẽ dễ dàng tìm đuợc điểm hội tụ, điểm chung để gặp gỡ và giúp nhau hàn gắn những sứt mẻ do bản tính con người tạo nên.

Như Thánh Giu-se, Đức Maria đã lạc mất con thế nào thì trong cuộc sống gia đình, với tất cả khó khăn mà các gia đình phải đối diện luôn là tiếng còi báo động cho các thành phần trong gia đình có thể lạc mất nhau. Trong hoàn cảnh đó, mọi phần tử trong gia đình phải nỗ lực tìm kiếm; noi gương và theo sát chân các Đấng trong gia đình Thánh gia để tìm kiếm. Cuộc tìm kiếm này không phải là việc làm dễ dàng. Nhiều khi, nó kéo dài cả một đời người. Cần có sự quyết tâm và kiên trì trong việc tìm kiếm Chúa và tìm kiếm nhau trong Chúa. Và, chỉ có Đức Giê-su mới làm cho gia đình hiệp nhất và bình an khi chúng ta trao gửi lòng mến và tình thương cho nhau.

Vì thế, hãy ý thức rằng trước khi chúng ta thuộc về nhau thì mỗi cá nhân trong gia đình thuộc về Chúa trước. Do vậy, dù cha mẹ có thương con đến mức độ nào thì các ngài cũng không đuợc phép áp đặt, cuỡng ép và bắt các con phải làm theo ý mình. Thay vì lạc mất con như Đức Mẹ và Thánh Giu-se, đôi khi cha mẹ cũng cần đánh mất ý riêng của cha mẹ mà khám phá ra ý muốn ngay lành của từng người con trong gia đình để hỗ trợ và hướng dẫn chúng theo ý Chúa. Bởi vì, mỗi một người con là một bầu trời mà Chúa gửi đến cho các bậc làm cha làm mẹ khám phá những nét kỳ diệu của Thiên Chúa nơi các con.

Nói như thế thì gia đình là cái nôi, là môi trường vô cùng quan trọng để chuẩn bị cho con cái vào đời. Trong tinh thần đó, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong tâm thư gửi cho các gia đình, Ngài đã ghi lại: "Thiên Chúa đồng hoá với con người, với những người trong gia đình. Thiên Chúa là một với người cha, người mẹ, người bạn trăm năm, người con cái trong gia đình." Như vậy, thật là chí lý khi chúng ta xác quyết rằng gia đình là ngôi trường đầu tiên dạy chúng ta những bài học căn bản của kiếp người; dậy chúng ta biết yêu thương, phục vụ, biết từ bỏ và quên mình.

Chúng ta có thể cho rằng gia đình Thánh gia Nagiarét được diễm phúc hơn mọi gia đình khác, vì có Đức Giêsu hiện diện giữa các ngài. Nhưng nếu xét cho cùng thì các Ngài cũng không có đặc quyền, đặc lợi hơn chúng ta. Các Ngài cũng cần tìm kiếm thánh ý của Thiên Chúa; và các Ngài cũng cần phải có đức tin sâu xa và vững mạnh lắm mới có thể chu toàn trọn vẹn vai trò của mình.

Như vậy, muốn gia đình mình được gọi là gia đình Thánh thì mọi thành phần trong gia đình cần học để vâng phục ý định của Thiên Chúa qua việc chuyên cần suy niệm Lời Ngài. Đúng như lời chúc phúc của Thánh Phao-lô “Nguyện cho Lời Chúa cư ngụ dồi dào trong anh em” để các thành phần trong gia đình của anh chị em sẽ là đền thờ Chúa ngự và cùng giúp nhau tìm kiếm và sống theo ý Chúa. Amen!