Wednesday, 18 October 2023

THUỘC VỀ THIÊN CHÚA.


Anh chị em thân mến,

Có một thực tế làm cho các vị lãnh đạo quan tâm, đó là việc tham gia vào công tác kiến tạo và đổi mới ‘môi trường’ theo tinh thần của Phúc Âm vẫn còn xa lạ với lối sống đạo của nhiều tín hữu. Họ vẫn thờ ơ và tỏ ra thiếu quan tâm với những gì đang xẩy ra trong xã hội. Một số người có khuynh hướng tách rời tôn giáo ra khỏi cuộc sống của người công dân. Nói cách khác, cuộc sống của chúng ta có thể chia thành nhiều mảng. Việc thờ phượng và yêu mến Chúa dừng lại trong các nghi lễ và bị cầm tù tại các khuôn viên nhà thờ. Khi tham dự nghi lễ xong, vừa bước chân ra khỏi nhà thờ thì chúng ta đã trở về với cuộc sống khác, một con người thuộc về trần thế. Với lối sống như thế, chúng ta dần dần sẽ thiếu nhậy cảm với những điều tạo ra các bất công, không nhìn thấy các nguyên nhân tạo ra cuộc sống giai cấp và thiếu công bình trong đời sống.

Công cuộc xây dựng và mở mang Nuớc Chúa là bổn phận và trách nhiệm của mọi tín hữu. Vì thế, chúng ta phải nỗ lực dùng cả cuộc sống để chu toàn nhiệm vụ của Chúa trao ban. Nhưng trên thực tế, chúng ta lại thường chia đời sống thành nhiều mảnh: như theo đạo rồi quên đời, theo Chúa rồi bỏ thế gian. Hẳn anh chị em vẫn còn nhớ rằng vì yêu thuơng thế gian mà Thiên Chúa đã sai người Con duy nhất của Người đến thế gian đó sao! Và nhờ vậy, mà thế gian đã được cứu độ. Vì thế, cả hai mặt ‘đạo và đời’ cần đuợc gắn bó với nhau. Đó là điểm mà chúng ta cần lưu tâm trong lúc suy niệm bài Tin Mừng hôm nay. Để làm được việc này, chúng ta hãy tìm hiểu cách hành xử rất mực khôn Ngoan của Chúa khi trả lời vấn nạn mà các thủ lãnh đặt ra để gài bẫy Chúa.

Trong các tuần vừa qua, Đức Giê-su đã đối diện với sự đối kháng của những nhà lãnh đạo tôn giáo thời của Người. Hôm nay, trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su gặp phải tình huống căng thẳng hơn. Đối thủ của Người bao gồm đời và đạo. Họ là những người thuộc nhóm Hê-rô-đê, là những người có địa vị trong guồng máy của đế quốc La-Mã và nhóm Pha-ri-siêu, họ nghiêm chỉnh trong việc tuân giữ luật lệ Do Thái. Tuy hai nhóm người này là đối thủ của nhau, nhưng hôm nay họ liên kết với nhau để cố gắng làm mất uy tín của Đức Giê-su hầu tiêu diệt Người.

Trước khi đặt câu hỏi, họ tán dương và ca tụng Đức Giê-su là Người tôn trọng sự thật, là Đấng chỉ bảo đường lành, là Thầy dậy đường công chính. Những lời ca tụng của họ không phát sinh từ ý ngay lành cho bằng bộc lộ ác ý để gài bẫy Người. Họ dương dương tự đắc và nghĩ rằng Đức Giê-su sẽ bị bí với câu hỏi mà họ nghĩ rằng rất phức tạp, đó là “có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không?”

Nếu câu trả lời của Đức Giê-su là “không” thì nhóm người thuộc nhóm Hê-rô-đê sẽ bắt Chúa vì tội xúi giục dân chúng làm loạn qua việc không nộp thuế cho đế quốc La-Mã. Còn nếu Đức Giê-su trả lời "có" thì những người phe Pha-ri-siêu sẽ thừa dịp này mà tố cáo Chúa là người thân với chính quyền bảo hộ, hà hiếp và bóc lột dân chúng. Người không xứng đáng là người lãnh đạo tôn giáo (vì không làm theo ý của họ!)

Theo như cách suy nghĩ và lối suy luận của họ thì Đức Giê-su chắc chắn bị rơi vào bẫy. Người sẽ không còn đường thoát. Đức Giê-su không còn con đường nào khác ngoại trừ có hay không. Một là phải nộp thuế hai là không nộp thuế. Đường nào cũng dẫn Đức Giê-su vào ngõ cụt. Nhưng câu trả lời của Đức Giêsu làm cho cả hai nhóm không bắt bẻ được Người, đồng thời Đức Giêsu còn nhắc cho họ biết sự thật đã được mạc khải từ khi tạo dựng đó là con người thuộc về Thiên Chúa thì hãy trả lại cho Người những gì mà Thiên Chúa đã dựng nên. Còn những gì mà họ đang nhìn thấy trước mắt thì hãy trả cho Xê-da.

Thật vậy,

Có vật gì hay một thứ gì hiện diện trong trời đất này mà không thuộc về Thiên Chúa hay Thượng Đế hay chăng? Thiên Chúa đã tạo dựng nên mọi sự từ hư không, và đỉnh cao của chương trình tạo dựng của Thiên Chúa là con người, con người là “hình ảnh Người.” Sự sống đang luân chuyển trong ta đã được diễn tả qua việc thổi hơi, ban sự sống, trao sinh khí cho con người. Vì thế không có gì chúng ta có được mà không phát sinh và ban tặng từ Người.

Vậy, nếu không trả về cho Thiên Chúa những gì thuộc về Người, không hướng về Thiên Chúa những gì trong vũ trụ hay tất cả những gì ta đang hưởng dùng thì đó là thái độ bất trung. Một khi, chúng ta chiếm mất vị trí của Thiên Chúa, tự mình làm chủ, lấy mình làm tiêu chuẩn cho mọi phán đoán, bộc lộ tính kiêu ngạo và hất Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống mình và tha nhân thì chúng ta sẽ chuốc lấy tranh chấp, hận thù, bạo lực và hủy diệt mà thôi

Vì thế, bao lâu con người không nhìn nhận Thiên Chúa là Cha yêu thương, là Chủ tể của mình, không qui hướng tất cả những gì con người có được về Người, không để cho Thiên Chúa chiếm chỗ nhất trong cuộc sống của mình, không cảm nhận lòng thương xót và tính quảng đại của Thiên Chúa đang hoạt động trong ta thì bấy lâu con người không thể xây dựng một xã hội nhân bản, không thể nào xây dựng một xã hội hiệp nhất và an bình, trong đó mọi người yêu thương, kính trọng và mến mộ nhau như anh chị em trong gia đình có Thiên Chúa là Cha, đó là ý của câu trả lời của Đức Giê-su: trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa.

Hơn thế nữa, khi nói điều này, Đức Giê-su không có ý đưa ra nguyện tắc chia quyền ‘Chúa một nửa, vua một nửa’, hay là phần thiêng liêng thì thuộc về Chúa, còn phần đời thuộc về vua. Người cũng không tranh dành uy quyền với các vị vua trần gian; bởi vì uy quyền tối thuợng và vững bền qua muôn thế hệ thuộc về Thiên Chúa; còn các vị vua, ông chúa, bà hoàng hay các vị thủ lĩnh trên thế gian đều là những người thừa hành; họ nối tiếp nhau cai trị thiên hạ; nhưng có ông vua hay bà chúa nào trường tồn quá một trăm năm đâu! Chỉ có uy quyền của Thiên Chúa mới tồn tại qua muôn thế hệ.

Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể bán cái và trả lại trách nhiệm trông coi và xây dựng vũ trụ này cho Thiên Chúa. Trách nhiệm đó đã được trao ban cho chúng ta. Chúng ta cần thi hành bổn phận cao quý và đầy thử thách này. Muốn được như thế, hãy noi gương Chúa.

Trong khi thi hành sứ vụ mà chúng ta gọi là truyền giáo, giới thiệu và mở mang Nước Chúa, Đức Giêsu đã tỏ bầy cho chúng ta nhận biết về một Thiên Chúa không chỉ ở trên cao, nhưng Người đang đồng hành với cảnh ngộ và cuộc sống của từng người. Người nhập thể và chia sẻ mọi tình huống của con người: ai đau ốm Người chữa cho lành; ai gặp hoạn nạn, Người thuơng cứu giúp; ai đói khát, Người nuôi ăn; ai tội lỗi, Người ban ơn tha thứ; thậm chí Người hồi sinh cả kẻ đã chết… Người chu toàn mọi sự trong mọi người. Nhưng, có một điều thật rõ ràng là Đức Giêsu không làm thay chúng ta. Người trao và mời gọi chúng ta tiếp tay. Người không thể cứu giúp và làm cho mọi bịnh nhân thuộc mọi thời đại khác nhau được chữa khỏi; Người cũng chẳng làm cho mọi người đói, thuộc về các thời đại khác nhau được no nê. Đó là phần vụ của con người ở các thời đại khác nhau.

Do đó, khi chúng ta tiếp cận người nghèo, đến với những người bị bỏ rơi, tiếp đón những người bị khước từ là lúc chúng ta đang cố gắng hết sức để cho Thiên Chúa họat động trong toàn bộ, cũng như trong mọi lãnh vực của cuộc sống chúng ta.

Vì thế, sứ điệp của bài Tin Mừng hôm nay, không chỉ được thu gọn trong việc đóng thuế xây dựng quốc gia nơi chúng ta đang sống hay là việc mở mang Nuớc Chúa. Nhưng, qua cuộc sống, chúng ta thực hiện để cho Thiên Chúa trở nên mọi sự trong chúng ta. Và, chúng ta, cũng như mọi sự của chúng ta, đều thuộc về Người. Hơn thế nữa, chúng ta hãy sống mà trả lại cho Người, không chỉ quan tiền của Xê-da, mà còn là mọi sự của chúng ta nữa. Amen!

 

 

Wednesday, 11 October 2023

NIỀM VUI CỦA HIỆN DIỆN


Thưa anh chị em,

Trong các sách Tin Mừng, Đức Giê-su có lối kể truyện thật đặc biệt. Các câu chuyện Người kể làm chúng ta phải suy nghĩ, chấp nhận thách đố và thay đổi. Như trong câu chuyện ‘hai người con’. Sau khi nghe xong, chúng ta khám phá ý định của Chúa là muốn chúng ta thưa xin vâng và sống điều xin vâng đó trong suốt cuộc đời. Với dụ ngôn ‘những người làm công sát nhân’, Đức Giê-su nhắc nhở cho chúng ta nhớ lại bổn phận của mình, luôn là những người làm công trong vườn nho, còn Thiên Chúa mới là chủ nhân, chúng ta không được phép tiếm quyền. Hôm nay, trong dụ ngôn tiệc cưới, Đức Giê-su mời gọi chúng ta thay đổi lối sống.

Vì thế, chúng ta đừng tìm hiểu và đọc các câu chuyện trong các dụ ngôn theo nghĩa đen mà phải tìm ra chân lý mà dụ ngôn ẩn chứa để thay đổi cách sống sao cho phù hợp với sự mới mẻ mà Đức Giê-su muốn dậy bảo.

Trước tiên chúng ta hãy tưởng tượng.

Anh hay chị đã bao giờ nhận được lời mời đến tham dự một bữa tiệc mà bạn thực sự không muốn tham dự? Bạn đã làm gì về điều đó? Tôi cá là bạn đã không ngược đãi, lạm dụng và giết người báo tin hay nhân viên đưa thư. Thế mà, đó là những gì đã xảy ra trong câu chuyện hôm nay.

Anh hay chị đã bao giờ hết lòng hết dạ khoản đãi những khách mời, cuối cùng họ lại không đến chưa? Các việc chuẩn bị như dọp dẹp nhà cửa, nấu ăn, trang trí phòng ăn thật ấm cúng. Mọi việc đã chuẩn bị sẵn sàng, gia nhân đã được chỉ bảo trong việc tiếp đón khách. Nhưng đến giờ khai tiệc vẫn còn một số khách không đến tham dự. Trong hoàn cảnh đó anh hay chị sẽ làm gì? Tức giận rồi cho gia nhân đi đốt nhà họ hay sao? Có lẽ bạn sẽ không làm điều đó. Thế mà, đó là những gì đã xẩy ra trong câu chuyện hôm nay.

Câu chuyện mà Đức Giê-su kể hôm nay tạo một cú sốc cho người nghe. Tuy nhiên chúng ta không nên hình dung và đi đến một kết luận cho rằng Thiên Chúa là một vị vua giận dữ, đã đối xử với những người không theo ý Ngài bằng cách sai quân binh đến hủy diệt dân tộc mình và đốt cháy thành phố của họ như đã được trình bầy trong dụ ngôn. Tất cả không phải sự thật mà Tin Mừng loan báo.

Dụ ngôn ‘tiệc cuới’ hôm nay ám chỉ đến bữa tiệc ‘cánh chung’, bữa tiệc trong Nước Thiên Chúa, trong đó chúng ta thấy dung mạo của một vị Thiên Chúa rất nhân từ, kiên tâm trong công việc. Bữa Tiệc do Ngài làm chủ. Ngài tự ý mở tiệc và cho gia nhân đi mời mọi người. Cho dù, khi gặp phản ứng khước từ của nhóm khách đầu tiên, nhà vua đã có nhận định là họ không xứng đáng. Lối nói này dẫn chúng ta thấy hành động sau đó của nhà vua cho gia nhân đi mời mọi người. Qua đó, chúng ta mới thấy tư cách được mời không phải vì họ xứng đáng, nhưng đây chính là tâm huyết và niềm vui của Ngài. Điều đặc biệt ở đây là Thiên Chúa không giữ ‘niềm vui’ cho riêng mình, nhưng Ngài đã tự ý chia sẻ niềm vui đó qua việc sai các sứ giả, hết nhóm này đến nhóm khác, mời tất cả mọi người, ở tất cả mọi nơi - từ các nẻo đuờng và trong các hang cùng ngõ hẻm - đến tham dự tiệc cuới.

Nhưng giữa hai nhóm được mời tham dự tiệc cưới có điểm khác biệt.

Sự khác biệt không phải là những người thuộc nhóm thứ nhất xứng đáng hơn những người thuộc nhóm sau. Những vị khách được mời đầu tiên là những người nhận được lời mời và sự ưu ái của nhà vua. Nhưng những vị khách được mời thứ hai cũng vậy. Và người đàn ông xuất hiện không mặc áo cưới cũng vậy. Họ đều được mời. Họ đều được ưu ái. Không ai trong số họ đã làm bất cứ điều gì để có thể cho rằng mình xứng đáng được mời. Chúng ta cũng thế.

Sự khác biệt không phải là nhà vua thích nhóm này hơn nhóm khác. Động lực duy nhất của nhà vua là muốn chia sẻ niềm vui, san sẻ trong bữa tiệc do Ngài khoản đãi. Điều này nói lên lòng đại lượng và tâm tình san sẻ của Thiên Chúa cho nhân loại. Thiên Chúa muốn mọi người tham gia vào niềm vui và những sinh hoạt trong gia đình của Ngài. Những người được mời đều có cơ hội như nhau. Chúng ta cũng thế. Cơ hội luôn chờ đợi sự cộng tác và đón nhận của chúng ta.

Sự khác biệt không phải là một số khách tốt và những người khác xấu. Không có sự phân biệt hoặc đánh giá nào được thực hiện dựa trên hành vi, niềm tin, thái độ sống hay lối hành xử đạo đức. Ngược lại, với lần mời thứ hai, nhà vua cử người hầu của mình ra các đường phố chính với chỉ thị “gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới.” Và gia nhân đã làm như chỉ thị: đi ra các nẻo đường, gặp ai, không phân biệt tốt xấu, sang hèn, giầu nghèo, có địa vị hay không, mời hết khiến cho phòng tiệc cưới đã đầy khách dự tiệc. Chúng ta cũng thế, không phân biệt tốt xấu, ai ai cũng được mời.

Có sự khác biệt giữa hai nhóm. Đó là cách thức hiện diện. Những vị khách được mời lần thứ hai đã hiện diện. Họ vào chật kín phòng tiệc. Trái lại, những người được mời đầu tiên lại không có mặt. Họ có lý do chính đáng, như đến các trang trại, tham quan các cơ sở kinh doanh hay đi buôn. Điều mà họ thiếu sót là sự sống đích thực chỉ có thể tìm thấy được trong Nước Thiên Chúa, trong các bữa tiệc do Thiên Chúa khoản đãi mà thôi. Chúng ta được mời và chấp nhận lời mời bằng sự có mặt mật thiết bên nhau trong Nước của Ngài. Từ đó, chúng ta nhận ra mình thật xứng đáng. Xứng đáng không phải vì mình nhưng vì Chúa nhận ra mình thật xứng đáng được yêu thương, xứng đáng được đồng bàn. Đó là lúc Chúa thay đổi chúng ta.

Còn về người khách không mặc y phục lễ cưới trong nhóm thứ hai, chúng ta sẽ nói thế nào đây? Người ta có thể xếp anh vào loại người có niềm tin mà không có việc làm như được mô tả ở đoạn 2 trong thư của Thánh Gia-cô bê, Ngài nói “Đức tin mà không có việc làm là đức tin chết”, giống như đi vào phòng tham dự tiệc cưới mà không có y phục lễ cưới thì đáng bị ném ra ngoài.

Nhưng hôm nay, tôi nhận ra một điều khác ở người khách này. Khi bị hỏi: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà không có ý phục lễ cưới?” thì anh ta ngậm tăm, miệng câm và không nói được gì. Có một cái gì thiếu nơi anh. Anh không nói được điều nào hết! Anh tuy có mặt nhưng thật ra đã không hiện diện. Thân xác anh bất động ở đó, nhưng tâm hồn và các sự khác của anh đã thoát khỏi phòng tiệc. Anh có mặt như không có mặt. Cứ như thể anh không thực sự hiện diện nơi đó.

Sự thật này đã xẩy ra trong kinh nghiệm sống của chúng ta. Đã bao lần thân xác ta ở đó, nhưng lòng của mình đã bay tận chốn nào rồi! Tình trạng ‘đồng sàng dị mộng’ hay ‘lãnh cảm’ là thế đó. Sự thật này cũng đã xẩy ra trong cuộc sống của chúng ta với Chúa. Đã bao nhiêu lần, thân xác chúng ta trong nhà thờ mà lòng trí lại ở tận nơi đâu. Giống như thế, trong các mối tương quan, đã bao nhiêu lần chúng ta có mặt như không có mặt. Sống chung một nhà mà không muốn nhìn mặt nhau thì coi như người đó đâu còn hiện diện nữa.

Sau cùng, chúng ta hãy nhớ rằng: tiêu chuẩn mà chúng ta được mời tham dự tiệc cưới hoàn toàn không dưạ trên lòng đạo đức, thánh thiện hay là phẩm chất tốt lành của chúng ta. Lời mời được phát sinh bởi Thiên Chúa, từ lòng quảng đại của Người, Đấng tha thiết mời gọi chúng ta trước là hiện diện rồi mới chia sẻ niềm vui với Người. Nhưng lòng quảng đại, nhân từ và kiên tâm chờ đợi của Thiên Chúa không bao giờ là một cái cớ khiến chúng ta tự mãn và coi thuờng rồi không hợp tác với Ngài. Chính việc chọn lựa không hợp tác của chúng ta giống như người không có y phục lễ cưới đã được mô tả trong dụ ngôn. Đó có thể là nguyên nhân khiến chúng ta tuy có mặt nhưng không hiện diện. Tự mình loại mình ra khỏi bữa tiệc của niềm vui.

Vậy, mỗi khi gặp nhau trong các lần gặp mặt, các bữa ăn, nhất là qua các bữa tiệc lòng mến hay còn gọi là Thánh Lễ, chúng ta sẽ mang đến bữa tiệc một sự hiện diện đích thật, không giả dối; đong đầy yêu thương và tha thứ cho nhau; chấp nhận con người với những yếu đuối của nhau; luôn mở ra để đón tiếp và chấp nhận nhau; tay bắt, mặt mừng và với niềm hân hoan để cùng có mặt, cùng nhau chia sẻ niềm vui mọi ngày cho đến tận thế. Amen!

Wednesday, 4 October 2023

VƯỜN NHO CỦA CHÚA.


Anh chị em thân mến,

Trong phần kết luận của bài Tin Mừng tuần trước, Đức Giê-su đã nói rõ cho mấy ông lãnh đạo của dân Do Thái biết rằng những người thu thuế và các cô gái điếm là những người con ngoan ngoãn, vâng lời Thiên Chúa. Họ đã được mô tả như người con bướng bỉnh ngoài miệng nhưng sau đó lại ngoan ngoãn đón nhận lời rao giảng của Đức Giêsu và vâng theo ý muốn của Thiên Chúa. Trong khi đó, người con thứ hai là hình ảnh của các thủ lãnh, ngoài miệng thơn thớt ‘dạ thưa, con vâng’ nhưng cuộc sống lại bộc lộ sự chống đối, và đôi khi biến thành các hành vi tàn ác như được mô tả qua câu chuyện tá điền sát nhân trong bài Tin Mừng hôm nay. Câu chuyện như sau:

Có một ông chủ kia trồng được vườn nho. Ông rào giậu chung quanh. Trong vườn ông khoét bồn đạp nho và một tháp canh. Các chi tiết này ám chỉ cho chúng ta biết vườn nho thuộc về ông. Nhưng ông không tự mình trồng nho mà lại cho các tá điền thuê để canh tác. Sau đó, ông trẩy đi phương xa cho đến mùa thu hoạch mới sai sứ giả của ông đến để thu hoa lợi. Đến lúc này thì công việc kinh doanh vẫn hoạt động bình thường, cho đến khi sự cố xẩy ra.

Trước khi tìm hiểu xem điều gì đã xẩy ra, xin mời anh chị em thử tưởng tượng xem có người làm thuê nào dám hành hạ và đánh đập những sứ giả mà ông chủ phái tới để thu hoa lợi hay không? Giả như những người đại diện của chủ bị hành hạ thì ông chủ sẽ có thái độ như thế nào? Hơn thế nữa, với tình hình của một quốc gia đang bị đô hộ thì người dân có quyền thế gì. Mọi thứ quyền lực thường nằm trong tay đế quốc, qua trung gian của mấy ông chủ, những người có mối quan hệ với đế quốc đang thống trị họ. Trong tình hình đó, ông chủ vườn nho (như mấy ông chủ đồn điền) sẽ sai quân binh đến để dẹp bọn tá điền phản loạn, làm gì có việc sai thêm nhóm khác và sau cùng lại gửi con ông đến để chịu chết như dụ ngôn kể lại. Và, thật nực cười khi chúng ta nghe lý do mà họ giết cậu con trai, đó là để đoạt gia tài mà cậu được thừa kế. Dù cậu có bị giết thì gia tài vẫn thuộc quyền ông chủ, cho đến khi nào mới về tay những kẻ làm thuê.

Trong câu chuyện, chúng ta biết rằng: vườn nho thuộc về Thiên Chúa. Người vẫn kiên tâm chờ đợi, không thu động nhưng rất tích cực, bằng cách tiếp tục sai hết lớp thợ này đến lớp thợ khác đến để canh tác trong vườn nho của Người. Sau cùng Người sai người con thừa tự, hy vọng rằng họ sẽ nể Người mà cộng tác với người con đó. Nhưng than ôi! Họ đã nhẫn tâm giết luôn người con. Tuy nhiên, việc con người nhẫn tâm và tàn ác cũng không thắng nổi sức mạnh và công trình của Thiên Chúa. Thật vậy, Đức Giê-su đã nói: “…Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.” Tảng đá mà Đức Giêsu nói ở đây là chính bản thân Người, là thân thể của Đức Ki-tô.

Sau khi kể xong câu chuyện, Đức Giê-su mới bộc lộ ý của Người qua câu hỏi: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn đã giết các sứ giả và người con thừa tự của ông? Câu trả lời của họ thật rõ ràng: Ông sẽ tru diệt bọn ác nhân và trao cho nhóm tá điền khác canh tác, để cứ khi mùa gặt đến, họ sẽ nộp hoa lợi cho ông.

Sau câu trả lời thật rõ ràng, họ thấy chính họ trong câu chuyện. Họ hiểu ý mà Đức Giê-su kể trong câu chuyện hôm nay. Người có ý mời gọi các vị lãnh đạo, các chức sắc hãy nhận ra sứ điệp của Người mà thay đổi cách sống. Nhưng họ không động lòng để hối cải. Than ôi, họ ngoan cố tiếp tục tìm cách bắt Đức Giê-su!

Tuy nhiên, câu chuyện không kết thúc ở hành động khuớc từ của họ. Thiên Chúa, Đấng làm chủ vườn nho tiếp tục mời gọi và sai các nhóm tá điền khác đến để canh tác. Nói cách khác thì vườn nho không bao giờ bị bỏ hoang! Một ngôi nhà mới sẽ được cất lên, một triều đại mới sẽ được khai sinh trên hòn đá tảng là chính Đức Kitô. Đây chính là công trình của Thiên Chúa, Đấng làm chủ vườn nho của Người.

Theo thiển ý của tôi, khi nhắc lại công trình của Thiên Chúa, Thánh sử muốn đề cao quyền làm chủ vườn nho thuộc về Thiên Chúa. Người nhắc chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa có dự án của Người. Cho dù con người có bất trung hay hành xử bất kính và bạo lực cũng không phá hủy được chương trình yêu thương của Người.

Họ nghĩ là họ đã thành công trong ý đồ xấu xa của họ là loại bỏ Tảng đá. Nhưng, với bàn tay của Thiên Chúa, do công trình của Người, tảng đá đó trở nên tảng đá góc tường.

Họ nghĩ rằng họ đã giết được Con Thiên Chúa. Nhưng, Đức Giê-su qua sự chết, Người đã chiến thắng thần chết. Qua việc chết đi cho ý riêng, Người đã biểu lộ lòng vâng phục ý của Thiên Chúa. Sau cùng, Thiên Chúa đã siêu tôn Người Con và tiếp tục làm chủ công trình của Người.

Thưa anh chị em,

Đối với các thành viên trong cộng đoàn của Thánh Mát-Thêu thì câu chuyện này có thể được giải thích đó là việc dân Do Thái đã lạm dụng vai trò canh tác vườn nho của Thiên Chúa. Họ được mô tả như những người làm thuê, nhưng lại không chấp nhận thân phận của mình, trái lại họ đã cư xử như một ông chủ; không có lòng nhân từ và kiên nhẫn. Với cách hành xử rất thô bạo, bằng bạo lực họ đã cuớp quyền sở hữu, giết các sứ giả do chủ sai đến. Họ, từ vị trí của những người làm công, đã thiết lập các qui tắc, rồi cuớp đoạt và tự hành xử như một ông chủ. Họ tìm cách loại bỏ Người. Vì quyền lợi riêng tư nên họ đã từ chối đón nhận Đức Giêsu và nguồn ơn cứu độ của Người.

Còn chúng ta, việc canh tác làm cho vũ trụ, vườn nho Hội Thánh, vườn nho gia đình, cộng đoàn hay xã hội được đổi mới và phát triển là trách nhiệm và phần vụ của mọi người. Phần vụ này không thuộc về riêng ai: Do Thái hay dân ngoại, ai ai cũng được mời gọi. Chúng ta hãy hỏi mình rằng chúng ta đã sống như thế nào để xứng đáng với vai trò mà Chúa đã trao phó trong công việc canh tác vườn nho của Người? Nếu không tự xét mình và thay đổi thì chúng ta có thể giống như hàng ngũ lãnh đạo mà Đức Giêsu đã nhắm đến trong bài Tin Mừng hôm nay!

Vẫn biết, cuối cùng thì Nước Thiên Chúa sẽ hiển thắng. Chúng ta không đuợc phép thất vọng. Tuy nhiên, việc sinh hoa lợi là phần phúc mà Chúa đang chờ đợi bàn tay con người. Hãy làm tất cả để vườn nho của Thiên Chúa, thân thể của Đức Ki-tô được sinh hoa kết trái dồi dào và phong phú hơn!

Hãy nhớ rằng vườn nho thuộc về Thiên Chúa, vườn nho là của Người. Chúng ta chỉ là những người cộng tác, hết nhóm này đến nhóm khác, hết thời này đến thời kia, Thiên Chúa vẫn làm chủ. Và, cho dù chúng ta bất xứng, nhưng Thiên Chúa luôn thành tín với dự án của Người. Đừng bao giờ có ý nghĩ chiếm hữu vườn nho cho riêng mình. Đừng bao giờ để cho thành quả của công việc làm thay đổi căn tính phục vụ của mình. Hãy sống trọn vẹn vai trò thừa tác, chu toàn bổn phận của người cộng sự mà làm cho Danh Chúa được cả sáng và Vườn nho của Chúa, là Thân Thể của Đức Ki-tô, được sinh hoa kết trái theo ý Người. Amen!

 

 

Wednesday, 27 September 2023

GIỮA CÓ VÀ KHÔNG, TA CHỌN LỐI SỐNG NÀO?


Trong bài Tin Mừng, Ðức Giêsu trình bầy hai hình ảnh tương phản của hai người con. Cả hai người con đều được người cha đối xử thật thân tình. Ông cha đã cho cả hai cậu con một cơ hội tham gia vào sứ mạng làm cho vườn nho được phát triển. Tuy nhiên, đáp trả của hai người con lại không giống nhau. Người con thứ nhất, miệng thơn thớt thưa vâng nhưng lại không làm, còn người thứ hai, tuy đã nói không nhưng sau đó anh ta nghĩ lại và đã hồi tâm, thay đổi cách sống mà ra làm việc cho cha.

Đối với Thánh Matthew, sự tuơng phản trong lối sống của hai người đuợc thể hiện trong cộng đoàn của Ngài: Một bên là quí vị có chức tước, miệng nói có nhưng tâm hồn lại đóng kín với những giáo huấn mới của Chúa Giê-su. Còn người con thứ hai là hình ảnh của những người bị xếp vào hạng tội lỗi, đã nói không nhưng nay được thay đổi và xin vâng theo lời dậy bảo của Chúa. Họ là những người tuy miệng nói không nhưng lòng vẫn tìm kiếm để vâng nghe tiếng Chúa.

Mở đầu bài Tin Mừng, Chúa Giêsu hỏi các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Các ông nghĩ sao?” Lối đặt vấn đề của Chúa nhằm nhắc nhở họ phải thay đổi cách sống. Họ hãnh diện về lối sống mẫu mực của họ. Họ chủ truơng rằng những gì mà họ đang có như tiền tài, danh vọng, vị trí trong cộng đoàn là phần thuởng và dấu chỉ mà Thiên Chúa phải trao ban để tưởng thưởng cho các việc lành phúc đức và lối sống chu tòan lề luật của họ. Và, với lối sống tuân phục mọi điều khoản trong lề luật dậy bảo thì họ đã trở thành guơng sáng cho nguời khác. Cuộc sống của họ đã đạt đến mức hòan hảo, đâu còn khiếm khuyết mà cần phải thay đổi.

Theo quan niệm và mẫu mực sống đạo của họ thì người cần đuợc thay đổi trước tiên là chính Đức Giê-su. Người xưng mình là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa mà chẳng hề tuân theo luật lệ và các tập tục của cha ông dậy bảo thì nói ai tin; do đó theo quan niệm của họ thì Chúa cần sửa đổi và noi guơng họ!

Nhưng Chúa đã phản đối lối sống vụ luật, dựa vào hình thức của họ và xác định rằng: Trong Nước Thiên Chúa, những ngươì thu thuế, hạng tội lỗi mà họ đã khai trừ ra khỏi cộng đoàn lại là những người chọn lựa đúng. Đám dân đen ít học này đã mở lòng ra để đón nhận lời rao giảng của Thánh Gioan Tẩy Giả và của Chúa, hối cải và trở về đường ngay nẻo chính. Còn họ thì không, cố giữ và ôm chặt lấy truyền thống để bảo đảm cho ngai vàng và nguồn lợi của họ.

Thay đổi lối sống để trở về nẻo chính đường ngay không phải là việc dễ dàng! Nếu có cơ hội, anh hay chị hãy nghiệm lại trong cách sống, chúng ta đã thay đổi đuợc gì! Giả như, nếu có thì cũng chỉ là các thay đổi đem lại lợi ích riêng cho bản thân và gia đình mình. Sau đây là một kinh nghiệm.

Cách đây mấy năm, trong chuyến về thăm thân nhân bên Việt Nam, tôi đã gặp lại gia đình người bạn, sau bao năm xa cách, đời sống của anh chị khá giả và sung túc hơn xưa. Tuy nhiên, cuộc sống mà họ đang thụ huởng cũng phải trả một giá rất đắt và thật chua xót. Anh chị biết điều đó và thản nhiên chia sẻ rằng: Xin cha thông cảm cho cuộc sống của gia đình tôi. Sống đạo trong hoàn cảnh của chúng tôi là điều một điều thật khó khăn; vì nếu phải thay đổi lối sống sao cho phù hợp với niềm tin thì cuộc sống của chúng tôi sẽ khó khăn hơn, sẽ nghèo lắm. Tiêu chuẩn và nếp sống của thế gian thì khác xa đòi hỏi của Nước Thiên Chúa.

Nghe xong tâm sự và trăn trở của người bạn, tôi nhận ra mình cũng như thế. Anh bạn đã nói ra tâm tư của cõi lòng, khó khăn trong việc sống đạo, những điều anh nói thật đáng quí, đáng trân trọng vì anh dám nói thật. Cho dù cuộc sống chưa kiện toàn, nhưng nhìn nhận vị trí của chính mình là bước đầu của sự thay đổi rồi, còn khi nào anh mới đổi thay là việc của Chúa. Anh chị biết điều cần làm. Anh chị còn biết nỗi yếu đuối của bản thân. Hy vọng, một ngày nào đó, với ơn Chúa, anh chị can đảm thực hiện điều mà anh chị xác tín. Ước nguyện của tôi chỉ có thế!

Anh chị em thân mến,

Thái độ của hai người con trong câu chuyện hôm nay nhắc nhở thêm cho tôi một hiện tuợng đang xẩy ra cho các gia đình công giáo. Tôi được nghe kể lại rằng: các bậc phụ huynh thuờng than phiền về việc các cháu bê trễ trong việc phụng tự. Các cháu ít hay hầu như không đọc kinh sáng tối! Các cháu cũng ít tham dự các Thánh Lễ Chúa nhật; may ra một năm được l hay 2 lần. Nói đến ‘lễ buộc’ thì các cháu phản ứng khá gay gắt như ‘xã hội hôm nay, làm gì còn việc ép buộc. Tự nguyện mới có giá trị, tham dự chỉ vì bị bắt buộc thì còn có ích lợi gì!’

Tôi thông cảm cho các nỗi lo âu của quí phụ huynh. Tôi cũng không bàn bạc về những suy nghĩ của các cháu là đúng hay sai? Vẫn biết lo lắng cho tương lai của con cái là bổn phận và ước mơ của cha mẹ. Nhưng, điều chúng ta lo có thay đổi gì trong cuộc sống của các cháu! Nhiều khi, chúng ta lo quá, lo đến mức làm mất đi niềm tin nơi các cháu. Điều đó có ích lợi cho các cháu hay không?

Ngoài các mặt tiêu cực mà các cháu đang làm cho bố mẹ phải đau đầu nhức óc nói trên, tôi lại đuợc nghe quí phụ huynh kể lại việc các cháu tham gia các đoàn bác ái, các nhóm y tế … đi đến các nuớc nghèo thăm hỏi, cứu trợ và làm các việc thiện nguyện hầu giúp đỡ và xoa dịu các vết thuơng của những nguời thiếu may mắn hơn con cái của quí vị. Một điều đáng quí và đáng ngưỡng mộ là tiền vé máy bay và những khoản chi tiêu cần thiết cho chuyến đi thiện nguyện cũng do bàn tay của các cháu làm và để dành.

Tham gia vào các công tác xã hội, quan tâm và giúp đỡ người nghèo của các cháu thật đáng khích lệ và tán thuởng. Phải chăng các cháu là những người con đã trả lời không với kiểu sống nhàm chán của lề luật, những nghi thức máy móc của các nghi lễ và lối sống đạo hoành tráng và phô truơng thanh thế của chúng ta. Việc làm của các cháu thực tế và phù hợp với tấm lòng của các cháu: lo và quan tâm cho kẻ khác. Các cháu có thể là hạng người, tuy miệng nói KHÔNG, cuối cùng lại làm CÓ; từ bỏ để bước ra ‘ngoài đồng’ làm các việc tông đồ giúp đỡ những kẻ khốn cùng.

Lắng nghe, đón nhận Tin Mừng rồi hối cải ra ngoài đồng thực hiện ý Chúa là tiến trình cần theo. Còn nếu chỉ biết dựa vào công nghiệp, hệ thống lề luật mà đòi thuởng công thì quả giống như người con chỉ biết nói vâng vâng dạ dạ, còn lòng đã bị đóng kín. Lòng đã đầy ‘CÁI TÔI’ thì còn chỗ nào trống để mở ra cho tha nhân và làm thế nào đón nhận đuợc Tin Mừng. Trong khi đó, bọn dân đen ít học, có thể là nạn nhân của hệ thống giáo điều mà hàng ngũ lãnh đạo đặt ra, tuy nghèo nàn và thiếu thốn tất cả; nhưng lại dễ mở lòng ra để đón nhận CHÚA VÀ TIN VUI CỨU ĐỘ CỦA NGUỜI.

Ðức Giêsu không có cái nhìn như chúng ta. Người yêu thương những người tội lỗi biết sám hối trở về. Người thường nói: "Ta không đến để kêu gọi những người công chính mà là người tội lỗi. Và “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” Người kiên tâm chờ đợi và hy vọng chúng ta hối cải. Dù đã nói KHÔNG nhiều lần, nhưng chỉ cần một lần thưa CÓ và cố gắng thể hiện trong cuộc sống thì cũng thật xứng đáng để được Cứu độ.

Như vậy, việc sống đạo và chu toàn Thánh ý của Thiên Chúa không chỉ dựa vào lời nói; nhưng bằng hành động. Một trong những việc làm quan trọng mà chúng ta cần thực hiện là nhận biết chính mình, sửa đổi để lệ thuộc vào quyền năng của Thiên Chúa. Đây chính là hồng ân. Chỉ có hồng ân và tình thương của Chúa mới giúp con người thay đổi, nên hoàn thiện và sống đúng giáo huấn của Chúa mà thôi. Amen!

Wednesday, 20 September 2023

BẠN GHEN VÌ LÒNG TỐT CỦA CHÚA SAO?


Anh chị em thân mến,

Dụ ngôn thợ làm vườn nho là một trong những hình ảnh về Nước Thiên Chúa. Chúa Giê-su đã dùng lối kể truyện để giảng dậy cho người cùng thời với Người. Họ nghe xong câu chuyện liền hiểu ý của Chúa. Còn chúng ta hôm nay thì sao? Một vài chi tiết về văn hóa, phong tục và thói quen của những người cùng thời với Chúa sẽ giúp chúng ta trong việc suy niệm bài Tin Mừng hôm nay.

Trước tiên, theo thống kê chúng ta được biết tỷ lệ con số những người không có công ăn việc làm rất cao vào thời Đức Giê-su. Tình trạng này kéo dài đến khi Tin Mừng được biên soạn. Họ thường tụ họp tại các trung tâm thương mại hay các ngã tư đường để chờ được thuê mướn. Đúng như cách thức mà dụ ngôn mô tả, công việc của họ thường bắt đầu từ 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều. Và tiền công của họ nhận được trong một ngày là một quan tiền. Số tiền này đủ trang trải chi phí cho một gia đình.

Về phía ông chủ, ông có cần phải chia ra nhiều thời điểm trong ngày để mướn thợ như trong dụ ngôn đã mô tả hay không? Bởi vì, theo lẽ thường tình thì một ông chủ khôn ngoan trong việc kinh doanh là một con người biết tính toán số thợ cần làm trong ngày chứ không chia nhiều giai đoạn để thuê nhân công như thế. Vậy, việc thuê mướn thợ theo từng giai đoạn như trong dụ ngôn này mang ý nghĩa đặc biệt gì? Có lẽ chúng ta nên chờ đến lúc ông chủ trả lương sẽ thấy rõ ý định của ông hơn.

Việc trả lương theo thứ tự của ông chủ cũng buộc người nghe có phản ứng khác. Giả như ông gọi nhóm đầu tiên đến và trả cho họ theo đúng hợp đồng, rồi họ ra về thì chẳng có vấn đề gì cả. Nhưng ông lại trêu chọc người nghe bằng cách trả một quan tiền cho những người được thuê sau cùng, thì những người thuộc nhóm được mướn trước phải có ý nghĩ là họ sẽ được đối xử một cách công bằng và thỏa đáng so với công sức mà họ đã vất vả đổ ra từ lúc 3g chiều, 12 giờ trưa, 9 giờ và 6 giờ sáng. Họ căn cứ vào cách đối xử của ông chủ với nhóm sau cùng và suy luận rằng họ làm nhiều thì sẽ được tiền công nhiều hơn. Sau cùng, họ giận vì ước muốn và ý nghĩ của họ không được đáp trả.

Thứ tự trả lương và việc thuê nhân công của ông chủ khiến chúng ta phải suy nghĩ rằng không có một ông chủ nào lại làm như thế cả. ‘Nhưng như thường lệ, các tình tiết trong câu chuyện mà Đức Giê-su kể thường có yếu tố khác lạ để kích thích phản ứng của người nghe. Như thế, những tín hữu mà Thánh Mát-thêu nhắm đến, cả chúng ta nữa khi nghe dụ ngôn này thì sẽ nhận ra sứ điệp của dụ ngôn: Thiên Chúa rất công bằng, tuy nhiên sự công bằng của Thiên Chúa không bị bó buộc theo lối tính toán của con người và cũng không làm giảm bớt sự rộng lượng của Thiên Chúa. Người muốn ban cho ai tùy theo ý muốn của Ngài. Và không có luật nào buộc Thiên Chúa phải tuân thủ theo ý muốn của con người.

Thật vậy, ngay từ ngày đầu tiên được đón nhận Tin Mừng, cộng đoàn của Thánh Mát-thêu bao gồm các tín hữu gốc Do Thái và dân ngoại. Họ đã phải đối diện với các vấn đề như được trình bầy trong bài Tin Mừng hôm nay. Những người tín hữu đạo gốc, cậy mình có tổ phụ là A-bra-ham, I-sa-ac và có một truyền thống lâu dài được xây dựng, bồi dưỡng bởi các ngôn sứ thì đương nhiên họ phải được phần thưởng cao hơn và nhiều hơn nếu so với đám dân ngoại mới nhập đạo chứ. Thế mà những người mới gia nhập lại được hứa hẹn là sẽ có phần thưởng như những người đã vất vả từ lúc tảng sáng đến giờ thì làm gì có công bằng! Ai mà chịu được lối cư xử như thế!

Ngày nay, lối suy nghĩ dựa trên tiêu chuẩn so sánh rồi phân bì và ghen tỵ này vẫn còn. Mình là đạo gốc, được sinh ra và thuộc dòng giống của các Thánh Tử Đạo, thế mà giờ đây lại bị xếp ngang hàng với những người mới nhập đạo, thậm chí còn có cả những người mang tiếng là “đạo vợ” hay “đạo gạo” như câu mà chúng ta nghe dạo nào “theo đạo có gạo mà ăn!” thì ai chịu nổi! Nhưng thật là trớ trêu, kết quả cho thấy những người tân tòng lại có niềm tin sâu sắc và bền vững hơn dân đạo gốc chúng mình!

Anh chị em thân mến,

Câu chuyện trong dụ ngôn hôm nay còn nhắc cho chúng ta nhớ rằng sự thèm muốn và ghen tị gắn liền với cuộc sống của con người. Chúng ta thèm muốn những gì Chúa ban cho người khác hơn mình. Vì thế, khi suy tư trình thuật hôm nay, tôi nhìn ra chính mình trong câu chuyện. Tôi vẫn còn phân bì, ước muốn và ghen tỵ trong cách cư xử và lối sống của tôi. Nhiều lần không nói ra, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn bực bội, đố kỵ và ghen tương với những gì mà người khác nhận được từ Chúa. Như vậy, không phải chỉ có một CÓ mà là BA CÓ: CÓ đố kỵ, CÓ ghen tương và CÓ phân bì.

Tôi chủ trương viết hoa chữ CÓ để nhắc nhở mình phải dè chừng, đừng để cuộc sống bị tính phân bì và đố kỵ làm chủ. Môt cách cụ thể, tôi xin phép thú nhận rằng: tôi, đã nhiều lần, chứng kiến sự thành công và thăng cấp của người khác, ngoài miệng nói lời chúc mừng mà trong lòng vẫn không được vui chút nào, thậm chí lại nghĩ rằng tôi mới là người xứng đáng để đứng vào vị trí đó! Không chỉ có thế, còn mong cho người đó thất bại để thỏa tính ghen tị và không muốn ai hơn mình của tôi.

Tuy nhiên, Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay không lên tiếng khiển trách hay phản đối cách suy nghĩ của những người cằn nhằn lối cư xử của Người. Đức Giê-su nhẹ nhàng và tế nhị nhắc cho họ biết là ông chủ chưa hề đối xử bất công với họ. Ông có quyền và tự do trong cách quản lý và phân chia tài sản. 

Thật vậy, Chúa chưa hề đối xử bất công với ai trong chúng ta. Chúa thật quảng đại khi rộng ban cho chúng ta hơn những điều chúng ta dám ước mong hay cầu xin. Câu hỏi “Tôi không được phép làm những gì tôi chọn với những gì thuộc về tôi? Hay bạn ghen tị vì tôi rộng lượng?” làm nổi bật điểm chính của dụ ngôn, đó là ân huệ, lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa là sở hữu của Ngài và Ngài muốn sử dụng như thế nào thì tùy ý Ngài, chúng ta lấy quyên gì mà so sánh, phân bì, đố kỵ và ghen tương!

Thưa anh chị em,

Chúng ta hãy nhớ rằng được kêu gọi là thành viên trong gia đình của Thiên Chúa là một vinh dự, là một hồng ân được trao ban từ Thiên Chúa. Người không trả công cho chúng ta để làm việc cho Người. Trái lại, những gì chúng ta có, toàn là quà tặng của Người trao ban.

Hẳn anh chị em còn nhớ lời cầu xin của người anh cả trong dụ ngôn Tình phụ tử trong Tin Mừng theo Thánh Lu-ca ‘xin hãy đối xử với con như người làm công của Cha’ đã được Đức Giê-su sửa thành ‘con không biết mọi sự của Cha là của con hay sao.’ Anh chỉ muốn là người làm công còn Chúa lại muốn anh nhớ rằng, tương quan Cha - con mới là mối dây đích thật mà Thiên Chúa muốn anh thiết lập và xây dựng.

Từ đó chúng ta biết rằng Thiên Chúa không trả công cho chúng ta khi cho phép chúng ta làm việc để mở mang Nước Chúa. Bổn phận đó là một hồng ân, một sự tín thác trong yêu thương, phát sinh từ lòng rộng rãi của Thiên Chúa, Người muốn ban cho chúng ta những gì mà Chúa muốn chúng ta đón nhận. Và chúng ta gọi đó là quà tặng.

Nếu anh hay chị muốn tặng một thứ gì đó cho người khác với kỳ vọng hoặc hy vọng rằng họ sẽ làm điều gì đó cho anh chị để đổi lại thì đó không phải là một món quà mà đó là một khoản đầu tư; thậm chí và tệ nhất có thể coi là hối lộ.

Quà tặng được trao ban nhưng không, hoàn toàn miễn phí. Nếu anh hay chị nghĩ rằng mình xứng đáng nhận được thứ gì đó và sau đó nhận được nó thì đó không phải là một món quà mà là một khoản thanh toán mà mình được hưởng hay có thể coi như hoàn trả lại một thứ mà chúng ta đã khẳng định trong lòng từ trước.

Quà tặng không mang tính chất giao dịch. Chúng ta không thể kiếm được quà tặng, chúng ta chỉ có thể nhận được chúng.

Như vậy, chúng ta có quyền gì mà ghen tị khi Thiên Chúa thể hiện lòng tốt lành và rộng lượng trong việc trao ban tặng vật cho con người hay sao?

Tốt nhất là chúng ta không nên so sánh, phân bì rồi ghen tương. Hãy noi gương tấm lòng quảng đại, nhân từ, yêu thương và luôn tha thứ của Thiên Chúa. Hãy nhớ lại cách cư xử của ông chủ trong dụ ngôn. Ông đã không làm thiệt hại đến ai và cũng không ăn bớt của ai. Trái lại, ông đã quan tâm đến từng người, bằng cách cung cấp cho họ và gia đình những gì họ cần để sống. Chỉ có như thế, chúng ta mới chấp nhận, không ghen tương và không phân bì với nhau. 

Vì vậy, với tâm tình tạ ơn, chúng ta tán dương và ca tụng lòng rộng ban của Thiên Chúa, Đấng đã ban phát cho chúng ta, không chỉ đủ dùng, còn dư dật để làm quà cho người khác nữa. Amen!

Wednesday, 13 September 2023

THA NHƯ CHÚA THA!


Trong lúc suy niệm bài Tin Mừng hôm nay, tôi nhớ lại vụ tai nạn đã xẩy ra tại Sydney khoảng hơn ba năm trước đây. Mời anh chị em cùng ôn lại biến cố tang thương đó. Vào chiều tối Thứ Bẩy, ngày 1 tháng 2 năm 2020, tại thị trấn Oatlands, thành phố Parramatta, phía Tây Sydney. Một ông tài xế đã uống rượu quá chén, không kiểm soát được tay lái nên đã đâm vào đám trẻ em đang đi trên vệ đường khiến cho ba em nhỏ của gia đình Abdallah, Anthony lớn nhất 13 tuổi, Angelina 12 tuổi và Sienna, em nhỏ nhất mới được 8 tuổi bị chết thảm; cô em họ, Veronique Sakr cũng bị chết tức tưởi trong vụ tại nạn đó.

Tôi thật bàng hoàng và xúc động khi nghe đến biến cố tang thương này. Với lòng kính trọng, tôi cảm phục tấm lòng can đảm, vị tha và bao dung của người mẹ, chị Leila Abdallah, đang đau khổ vì sự mất mát quá tang thương khi mất đi ba người con. Chị đã tuyên xưng: “Từ tận đáy lòng, tôi sẵn sàng tha thứ cho người gây ra tai nạn. Tôi không ghét anh.” Và Daniel chồng của chị, cha của ba em nhỏ, trong nước mắt thổn thức nói: “Các con của chúng tôi đã đến một nơi tốt hơn!”

Chị đã trở thành tấm gương sáng lạng với một con tim thật vĩ đại khi tha cho kẻ đã giết ba người con của chị. Một đứa con chết thảm đã như một lưỡi gươm đâm vào trái tim của chị, thế mà chỉ trong một khoảnh khắc ba người con và một đứa cháu của chị đã chết thảm khốc. Còn niềm đau nào hơn nỗi đau mà chị đang phải gánh chịu. Thế mà, chị đã không oán thù, trái lại đã tha thứ cho kẻ đã gây ra nỗi đau đoạn trường mà gia đình chị đang phải gánh chịu. Vì thế, tôi khâm phục tấm lòng bao dung và sự tha thứ của chị, nó xuất phát từ mối quan hệ giữa gia đình chị với Chúa, như lời chị nói “tôi có thể làm được như thế vì tôi và gia đình luôn có mối quan hệ thân mật với Thiên Chúa, Đấng mà tôi mến yêu.”

Thưa anh chị em,

Tha thứ là chủ đề mà chúng ta cùng nhau suy niệm hôm nay. Tha thứ cần được áp dụng trong mọi tầng lớp của xã hội mọi thời. Hơn bao giờ hết, con người ngày hôm nay cần tha thứ cho các lỗi lầm của nhau.

Tha thứ là một trong các môn học mà chúng ta đã học từ thủa ấu thơ, bây giờ đang học và sẽ còn học cho đến hết đời. Khi còn nhỏ, chúng ta dễ dàng tha thứ cho nhau. Trẻ con nô đùa nghịch ngợm đụng đến nhau là chuyện thường tình. Đau quá, nổi nóng chỉ muốn quại vào mặt nhau. Nhưng khi nghe thấy tiếng “tôi xin lỗi” từ trong miệng của bạn phát ra thì chúng ta sẽ nguôi cơn giận và sẵn sàng đáp trả “không sao hết, tôi tha thứ cho cậu.” Thế là huề cả làng.

Đến khi lớn lên, học khôn đủ thứ. Nhưng chỉ có việc tha thứ là học mãi không xong. Học mãi mà vẫn chưa thực hiện được. Chúng ta có biết đâu khi tha cho tha nhân là tha cho chính mình. Giận hờn và ghen ghét chỉ làm cho mình thêm đau khổ. Đã bao nhiêu đêm mất ngủ, trằn trọc chỉ vì giận hờn, ghen ghét rồi tính kế nhằm trả thù và triệt hạ nhau.

Các nhà nghiên cứu cho thấy rằng, việc tha thứ rất tốt cho người ban phát nó, tha thứ cho kẻ hại mình sẽ làm giảm bớt cơn tức giận, ít nguy cơ bị trầm cảm, không còn lo lắng và sợ hãi. Hiệu quả này còn mang lại lợi ích cho hệ thống miễn dịch và tim mạch nữa. Thật vậy, một khi đã tha cho họ rồi lòng sẽ cảm thấy thật thư thái và bình an. Tất cả đều là người thân.

Nhưng trên thực tế, cuộc sống không dễ dàng một chút nào. Chừng ta dễ bị tổn thương, về tinh thần cũng như thể xác. Và khi chúng ta hay người mà chúng ta yêu thương bị tổn thương thì việc tha thứ thường là điều mà chúng ta ít nghĩ tới. Chúng ta đòi quyền được lắng nghe, được bồi thường hay đòi sự thông cảm của những ai có trách nhiệm. Tuy nhiên, tất cả chỉ là thứ yếu. Điều quan trọng là tha cho chính mình và tha cho kẻ làm mình bị tổn hại

Chắc chắn về mặt lý thuyết, chúng ta nghe vô số các hướng dẫn cụ thể để tha thứ, nhưng khi bắt đầu áp dụng vào cuộc sống thì chúng ta lại chùn bước. Bởi vì chúng ta chưa biết tha thứ và cũng chẳng biết bắt đầu tha thứ như thế nào?

Đó cũng là điều mà Phê-rô hỏi Đức Giê-su trong phần mở đầu bài Tin Mừng hôm nay. Không đợi câu trả lời của Thầy mình, Phê-rô lau chau và ra vẻ ta đây đã gợi ý rằng có phải bẩy lần không? Gợi ý của Phê-rô khi dùng con số bẩy không phải là tình cờ, đó là con số biểu thị sự hoàn hảo. Phê-rô không chỉ muốn được khen là trả lời đúng, mà còn muốn được số điểm tuyệt đối từ Đức Giê-su nữa. Nhưng Đức Giê-su cũng thật hài hước khi trả lời cho Phê-rô biết rằng tuy con số bẩy thật hoàn hảo, nhưng quá ít, phải là bẩy mươi lần bẩy cơ! Mức độ hoàn hảo của Đức Giê-su buộc Phê-rô hôm nay vượt quá mức hoàn hảo mà ông đề ra. Có nghĩa là tha thứ liên tục, tha thứ là điều không thể đếm được, tha vô hạn định, tha liên miên, tha không ngừng, tha cho đến hết đời, tha tuyệt đối!

Quá khó, thảo nào, chúng ta chưa làm được. Tạ ơn Chúa, vì câu trả đã được tìm thấy trong câu chuyện rất quen thuộc sau đây. Truyện kể như sau: Có một người giúp việc kia nợ ông chủ mười ngàn nén vàng, một khoản nợ mà ông ta và gia đình có làm lụng cả đời cũng không sao trả hết. Thế mà với cử chỉ sấp mình van xin lòng nhân từ hay thương xót của ông chủ mà ông đã được tha và không phải trả nợ nữa.

Thế mà, vừa từ trong nhà chủ bước ra, ông gặp người bạn chỉ thiếu nợ ông một trăm quan tiền. Một khoản nợ quá nhỏ so với mười ngàn nén vàng mà ông vừa được chủ tha. Thế mà, không cần hỏi thăm và cũng không tìm hiểu nguyên do, anh liền tóm cổ người bạn đòi trả nợ. Người bạn của anh cũng nằm trong hoàn cảnh giống như anh là không có gì để trả nợ. Nhưng bạn anh chỉ xin hoãn lại, chứ không xin tha bổng, rồi anh ta sẽ trả hết. Nhưng anh ta không chịu, cứ tống bạn mình vào ngục cho đến khi trả xong nợ. Đã bị tống vào ngục thì làm sao có cơ hội trả xong nợ, kết quả sẽ chết rục tù mà nợ vẫn còn.

Thấy sự việc xẩy ra như thế, các bạn của anh ta mới trình sự kiên cho ông chủ. Chủ gọi anh đến và trao cho anh đúng án phạt mà anh đã áp dụng cho người mắc nợ anh. Sau cùng, trong phần kết luận, Đức Giê-su đã nói: “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.” (Mt 18:35)

Như vậy qua câu chuyện này, Đức Giê-su trách những ai đã được tha thứ mà không biết tha thứ cho đồng loại mình. Tha thứ là việc làm chứ không bằng lời nói. Tha thứ không chỉ là điều kiện để được tha thứ mà còn là hành vi chia sẻ tình yêu, lòng thương xót và việc tha thứ của Thiên Chúa. Còn hơn thế nữa, khi tha cho nhau là lúc chúng ta làm chứng và tuyên xưng lòng thương xót của Thiên Chúa, Cha trên trời, Đấng hằng quan tâm, săn sóc và sẵn lòng tha thứ, ngay cả trước khi chúng ta van xin Người.

Tha thứ các lỗi lầm của nhau vì chính mình đã được tha trước là chủ đề của bài Tin Mừng hôm nay. Tha thứ là hiệu quả của lòng thương xót mà Thiên Chúa đặt trong con tim của mỗi người, đó là hành vi phát nguồn từ Thiên Chúa. Và đó là nét đặc trưng của người môn đệ. Nói khác đi, tha thứ phải là lối sống của người môn đệ.

Sau cùng, chúng ta nên nhớ rằng: những gì chúng ta đang thụ hưởng hoàn toàn phát sinh từ lượng ân sủng vô biên của Thiên Chúa. Nhất là, trong lúc chúng ta còn là tội nhân mà Thiên Chúa đã không ngần ngại sai Con duy nhất của Ngài đến tự hiến, xóa bỏ món nợ, một món nợ mà thế gian không bao giờ có thể trả được.

Sau cùng, tuy biết tha thứ không phải là việc dễ làm, nhưng chúng ta phải làm. Đó là trọng tâm mà sứ điệp Tin Mừng hôm nay đòi hỏi. Tha thứ sẽ dẫn chúng ta đi sâu vào mầu nhiệm tình yêu và tha thứ của Thiên Chúa. Càng tha càng thiếu, tha bao nhiêu thiếu bấy nhiêu và càng thiếu càng cần đến ân huệ của Thiên Chúa để tha thứ cho nhau nhiều hơn nữa.

Cầu cho anh chị em biết tha thứ như gương sáng của chị Leila Abdallah khi tha cho kẻ đã gây ra cái chết cho ba người con của chị. Hy vọng lời tuyên xưng của chị Leila Abdallah: “Từ tận đáy lòng, tôi sẵn sàng tha thứ cho người gây ra tai nạn. Tôi không ghét anh” cũng là lối cư xử của chúng ta dành cho nhau.

Hãy tha thứ cho nhau vì Chúa đã tha cho ta trước. Amen!

Wednesday, 6 September 2023

GIÚP NHAU CÙNG TIẾN BƯỚC


Tin Mừng hôm nay giới thiệu bài học ‘ba bước’ giúp nhau cùng tiến trong việc xây dựng cộng đoàn, đó là làm thế nào giúp nhau hoàn thiện? Làm thế nào giúp người khác nhận ra lỗi lầm của mình để sửa đổi? Đây là những việc cần làm chứ không cần nói. Tuy nhiên, trên thực tế của cuộc sống, chúng ta vẫn còn bị vấp ngã để thực hiện lời chỉ dẫn của Chúa hôm nay. Vì thế, chúng ta cần lưu tâm để tập luyện, không nên trì hoãn, không nên chán nản. Trong Chúa, chúng ta tiến bước, mỗi ngày một bước. Tuy chậm, nhưng chắc chắn vì có Chúa cùng bước.

Đức Giê-su giới thiệu một tiến trình kêu gọi kẻ có tội, người có lỗi trở về hòa giải với Chúa và gia đình của Người. Đức Giê-su không nói rõ đây là tội gì hay lỗi xúc phạm đến ai. Nhưng trong thân phận làm người, có ai lại không có tội! Tội cá nhân nhiều vô kể. Tội với cộng đoàn cũng không thiếu, ví dụ như tội biển thủ công quỹ, lợi dụng chức vụ hà hiếp người khác về mặt tinh thần hay thể xác. Nói chúng tội nào cũng đáng cho chúng ta quan tâm mà sửa chữa. Và tiến trình sửa chữa theo tinh thần của bài Tin Mừng hôm nay là đưa người có tội trở về hiệp thông với Chúa và cộng đoàn chứ không nhằm kết án họ. Muốn đạt được thành quả này, con người phải yêu thương và tha thứ cho nhau chứ đừng xét đoán vì tất cả chúng ta đều đã từng bị vấp ngã, từng là tội nhân thì chúng ta dựa vào tiêu chuẩn nào để xét đoán. Hãy giúp nhau sửa đổi để hoàn thiện hơn! Nào, chúng ta cùng bước nhé.

Chúa nói, nếu ai đó phạm tội, trước tiên bạn nên gặp người đó và chỉ ra lỗi cho họ để họ hối cải mà trở về chứ không phải kể tội rồi lên án. Giả như ta là người đầu tiên biết, thì cũng không đuợc phép nói cho nguời khác biết. Trong tình bác ái, đừng chờ người đã phạm lỗi đến với ta; nhưng hãy đi bước trước đến và đối thọai với họ; giúp họ nhận ra việc làm sai trái; rồi nhẹ nhàng đưa họ về với Chúa, về với cộng đòan. Giả như họ nhận ra lỗi lầm và nghe ta thì ta đã lợi được người anh em rồi.

Trên thực tế, chúng ta thường quên nguyên tắc này. Khi khám phá ra lỗi lầm của ai, thay vì đối thọai với họ, chúng ta lại đi nói nhỏ cho người khác biết. Cứ vài lần ‘nói nhỏ’ như thế thì chẳng bao lâu cả làng, cả xóm đều biết. Đến khi cả làng, cả xóm đã biết thì cơ may giúp họ nhận ra lỗi lầm để hối cải dường như không còn. Như anh chị em biết là chẳng ai muốn người khác biết những điều xấu của mình; thì cũng đừng bao giờ nói về những điều xấu của họ cho người khác. Cộng đòan Kitô- hữu không có lối sống “vạch lá tìm sâu” hay “bới lông tìm vết.”

Giả như bước thứ nhất không thành công thì kêu thêm một hay hai nhân chứng nữa, điều này có thể hiểu rằng tội mà người đó phạm đã được nhiều người biết đến. Chúng ta gọi nhân chứng đến để chinh phục chứ không tạo áp lực. Nếu bước thứ hai cũng không làm cho người có tội thức tỉnh thì trình cho cộng đoàn và nếu người đó vẫn không nghe thì chúng ta sẽ coi họ như những người thu thuế hoặc người ngoài cuộc. Nhưng, cho dù là như thế, chúng ta đừng quên rằng những người thu thuế, những ai sống bên lề xã hội vẫn là những người bạn tốt của Chúa, được Chúa thương yêu.

Các bước trong diễn trình nói trên quan trọng, nhưng điều quan trọng hơn hết là mục tiêu của toàn bộ tiến trình không phải để lên án hay kết tội mà là phục hồi. Tuy nhiên, muốn cho hối nhân trở về thì người có tội phải nhận ra sự nguy hiểm của tội và mức độ ảnh hưởng và tác hại của tội trong việc xây dựng và sinh hoạt cộng đoàn mà người đó là thành viên.

Anh chị em thân mến,

Đã là người môn đệ của Chúa, chúng ta không được phép mất đi niềm hy vọng nơi chính mình và tha nhân. Chúa không thích, đúng hơn là Chúa ghét tội, nhưng Người lại thích làm bạn với kẻ có tội. Người có tội luôn được Chúa thương yêu và quan tâm một cách đặc biệt để họ biết quay về. Thật vậy, chúng ta đừng bao giờ mất hy vọng cho bản thân và cho cả những tội nhân tồi tệ nhất. Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, mọi người đều có thể ăn năn, được tha thứ, được hòa giải với Thiên Chúa và trở về với gia đình Hội Thánh.

Trong Kinh Lậy Cha, chúng ta thường kêu cầu: “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người cò lỗi với chúng con.” Nói khác đi, chúng ta chỉ có thể tha thứ cho nhau khi chúng ta cảm nhận sự tha thứ của Thiên Chúa, và nhờ vào sự tha thứ mà chúng ta lĩnh nhận từ Thiên Chúa, chúng ta mới có thể tha thứ cho nhau. Hai điều này nối kết chặt chẽ với nhau. Hành động tha thứ vừa là nguyên nhân để chúng ta có thể tha thứ cho nhau, đó cũng là hậu quả của việc Thiên Chúa tha thứ cho mình. Chúng ta không thể giữ điều này và bỏ điều kia.

Tóm lại, Chúa ban cho chúng ta những bước đi rất thực tế để giúp nhau hoàn thiện và xây dựng cộng đòan. Tất cả các tín hữu đều có bổn phận và trách nhiệm đối với nhau. Chúng ta được gửi đến để sống cho nhau, chứ không sống cho riêng mình. Mỗi người, dù sống trong ơn gọi nào cũng đều được mời gọi sống cho nhau. Và như vậy, thì ngày hôm nay, anh hay chị giúp tôi nhận ra lỗi lầm để sửa đổi, ngày mai sẽ đến phiên tôi giúp anh chị. Ai là nguời không phạm tội. Vì vậy, truớc tiên hãy nhận ra các nỗi yếu đuối của bản thân, rồi với trải nghiệm được Thiên Chúa tha thứ và thương yêu đó chúng ta sẽ khiêm nhường hơn trong việc sửa sai và góp ý để giúp người khác kiện tòan. Amen!