Thursday, 8 November 2018

CỦA CHO KHÔNG BẰNG CÁCH CHO



Trình thuật Tin Mừng của Chúa Nhật tuần này chia ra hai phần rõ rệt. Phần thứ nhất nói về cách sống của mấy ông kinh sư, thuộc về hàng ngũ của những người lãnh đạo tôn giáo Do thái thời Đức Giê-su và ảnh hưởng cách sống của họ kéo dài cho đến khi Thánh Mác-cô soạn tác Tin Mừng cho giáo đoàn mà Ngài coi sóc. Phần thứ hai là cách hành xử của bà góa, đại diện cho một trong những con người đáng thương nhất trong xã hội Do Thái thời đó.
Trong phần thứ nhất, Đức Giê-su nói cho dân chúng về cách sống và lối hành xử quyền bính của mấy ông kinh sư. Thánh Mác-cô nói rất vắn gọn, không dài dòng, đi thẳng vào mục tiêu mà Ngài muốn nhắm đến trong lời cảnh báo cuối cùng là nếu họ không thay đổi thì sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn các người khác, bởi vì họ đã đuợc ban cho nhiều hơn. Tuy nhiên, để giúp cho chúng ta thấy rõ hơn về cách hành xử mà chúng ta hay gọi là ‘lối sống giả hình’ của các ngài thì chúng ta hãy đọc thêm chương 23 của Tin Mừng theo Thánh Mat-thêu nữa nha.
Lối sống giả hình của họ được thể hiện qua dáng vẻ bên ngoài để được tán dương như: từ cách đeo hộp kinh thật lớn, mang tua áo thật dài và thường xuất hiện công cộng. Thật ra việc đeo hộp kinh và mang tua áo không có gì là xấu bởi lề luật quy định như thế. Thế nhưng cái sai lầm và đáng trách là họ đeo hộp kinh lớn hơn và còn kéo tua áo dài ra để cho người khác nhìn thấy mà tán dương, còn tâm hồn thì rỗng tuếch. Ngoài ra, họ làm ra vẻ đạo đức thánh thiện, đọc kinh nhiều giờ trong các nghi lễ phụng tự; nhưng khi trở về cuộc sống thường nhật họ lại ức hiếp, chà đạp và cướp đoạt tài sản của các bà goá. Tất cả các điều này nói lên tâm địa của họ. Tất cả các việc đạo đức chỉ là bình phong che đậy dã tâm của họ. Họ lợi dụng tôn giáo như một phương tiện để thỏa mãn nhu cầu và lợi ích cá nhân của họ và gia đình.
Đó là cách hành xử của các đấng các bậc dưới thời Đức Giê-su và thời sơ khai của Giáo Hội. Còn các nhà lãnh đạo của chúng ta ngày nay thế nào? Lối sống và cách hành xử của các ‘ngài’ trong thời đại hôm nay có khá hơn ngày xưa không?
Tinh thần ‘biệt phái’ vẫn còn! Vẫn còn một số đấng víp-vồ muốn tỏ cho người ta thấy uy quyền của các ngài, xúng xính với các bộ phẩm phục vào các dịp lễ lạc để được kính trọng. Còn quí thừa tác viên cấp dưới lại bị ảnh hưởng bởi ý tưởng là họ được sai đến để ‘cai trị’ hơn là ‘phục vụ’ khiến cho lời nói và việc làm của họ không được thống nhất. Thậm chí, còn một số vị uy nghi trong các bộ lễ phục khiến cho các nghi thức phụng vụ trở nên nặng nề và buồn chán.
Trong thời gian gần đây, chúng ta được nghe rất nhiều về ý định của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trong việc cải tiến cơ cấu của giáo triều bên Rô-ma; và ngài cũng muốn các đấng vip-vồ tại các Giáo hội địa phương áp dụng ý định cải cách này. Tuy nhiên vẫn còn có một số vị trong hàng ngũ cao cấp ở giáo đô không đồng ý với chủ trương của Đức Thánh Cha. Nhưng đại đa số, nhất là thành phần những người thấp cổ bé miệng lại vô cùng hân hoan trước việc làm của Ngài. Đã đến lúc Giáo Hội phải trở về nguồn, trở về với yêu sách của Đức Giê-su trong Tin Mừng. Nhìn lại lịch sử của Hội Thánh, chúng ta phải nhìn nhận rằng Hội Thánh đã từng trải qua các mối nguy cơ gây ra bởi việc lạm dụng uy quyền, cố gắng ngoi lên các vị trí hàng đầu của các vị lãnh đạo hay cách xử dụng các đặc quyền đặc lợi để vinh thân mình mà quên đi vai trò tôi tớ của người môn đệ. Lối sống giáo sĩ trị vẫn là mối nguy hại cho việc canh tân Hội Thánh theo tinh thần của Tin Mừng.
Một cách rất cụ thể, chúng ta phải kể đến các tin buồn về cách hành xử của một vài vị lãnh đạo gây ảnh hưởng không mấy tốt đẹp trong các cơ cấu và tổ chức, trong đó có cơ chế của Hội Thánh Công Giáo. Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã nhắc nhở cho chúng ta thấy tầm nguy hại của lối sống ‘giáo sĩ trị’ hay là sự ‘lạm dụng của các bậc quyền thế’. Các hành vi lạm dụng uy quyền này dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng, thậm chí có những trường hợp dẫn họ đến các hành vi tội ác, để lại các vết sẹo trên thân thể và cuộc đời của các nạn nhân. Quả thật, chúng ta chẳng thể nào hiểu nổi các hành vi của họ!
Thưa anh chị em,
Khi đưa ra sự đối nghịch giữa lối sống và uy quyền giảng dậy của giới kinh sư và các thầy thuộc phái Pha-ri-sêu, Chúa muốn các môn đệ hãy nhìn vào lối sống của họ mà né tránh rồi tìm ra bài học về con đường mới, về lối sống mới mà chính Người là chứng nhân. Cụ thể trong phần kế tiếp của bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã trình bầy hình ảnh và việc làm qua việc hiến dâng lễ vật của bà goá như là gương mẫu mà các môn đệ cần noi theo.
Trưóc khi tìm hiểu việc làm của bà góa và cách đánh giá của Đức Giê-su về việc bà làm, chúng ta cùng nghe một truyện kể được tìm thấy trong kho tàng truyện tích tại các trang mạng. Truyện kể như sau:
            Có một ông kia tuy nghèo, nhưng lại có thú chơi xe. Ông đã phải dành dụm trong một thời gian rất lâu mới có đủ tiền để mua được chiếc xe mà ông yêu thích. Sau khi tậu nó về. Ông không ngại cực khổ, cặm cụi rửa xe, đánh bóng, rồi dành thời gian để ngắm nghía thành quả của mình. Ông coi công việc chăm sóc xe như một sở thích trong đời. Cậu con trai tuy còn nhỏ tuổi, nhưng lại đồng cảm với bố. Cậu thấy bố yêu thích chiếc xe như vậy nên cũng thường xuyên phụ bố rửa xe. Hai bố con làm việc rất vui vẻ.
Một ngày kia, người bố lái xe về nhà sau một trận mưa lớn, chiếc xe dính đầy bùn đất, nhưng ông lại quá mệt, nên nói với con trai: “Hôm nay bố hơi mệt, thôi để hôm khác chúng mình rửa xe nhé con yêu!” Cậu con trai thấy mình đang rảnh rỗi, liền xung phong muốn thay bố rửa xe, và được đồng ý. Tuy nhiên, người bố này lại quên là con trai mình chưa được muời tuổi đời. Ông thản nhiên trở về phòng nghỉ ngơi mà quên không chuẩn bị dụng cụ gì cho cậu bé cả.
Cậu quí tử hào hứng xông ra rửa xe, nhưng lại không tìm thấy khăn lau. Cậu bé chạy vào trong bếp, đột nhiên cậu nghĩ tới cái miếng chùi xoong mà mẹ vẫn thường dùng để chà nồi rất sạch sẽ, cậu liền lấy ngay miếng thép ấy để dùng. Cậu cầm miếng chùi xoong, chạy tới chạy lui chung quanh xe, ra sức chà, hết lần này tới lần khác. Sau khi chà xong, cậu phát hiện trên xe có những vết nguệch ngoạc, cậu sờ lên chỗ đó, lại thấy sần sùi, lồi lõm.
Thấy như thế, cậu sợ quá bèn khóc rống lên và chạy ngay vào phòng ngủ của bố, vừa khóc vừa nói: “Bố ơi, con xin lỗi, bố mau tới xem đi!” Ông bố vội vàng theo con trai chạy ra ngoài, chứng kiến chiếc xe “cưng” của mình mang một bộ dạng thê thảm như vậy. Ông không dám tin vào mắt mình. Nhưng, đó vẫn là sự thật! Ông ngẩn người ra, chết lặng đến cả nửa ngày mà vẫn chưa nói nên lời, mãi sau này ông mới thét lên: “Ối trời ơi! Chiếc xe của tôi, chiếc xe của ta ơi!”
Ông vô cùng tức giận, xông ngay vào trong phòng, ngửa mặt lên trời mà nói rằng: “Hỡi Thượng Đế, Chúa của tôi! Chúa biết, đây là chiếc xe mà con đã dùng hết tài sản đã dành dụm mới mua được; thế mà chưa đến một tháng, giờ này nó đã biến thành như vậy, xin người cho con biết, con nên làm sao? Con nên xử phạt đứa con này như thế nào đây?”
Lời cầu xin vừa chấm dứt, đầu óc của ông đột nhiên trở nên sáng suốt, và này một tư tưởng vừa lóe lên trong đầu: “Trong cuộc sống, mọi chuyện đều không thể nhìn vào cái vẻ bên ngoài mà phải nhìn vào trái tim.”
Trong khi đó, cậu con trai vẫn còn nước mắt đầm đìa. Nhìn thấy con mình như thế, bao nhiêu giận dữ của ông bố từ từ biến mất, ông bước lại gần dự tính trấn an con mình, nhưng cậu con trai vừa thấy bố đến gần, đã sợ lại càng run hơn. Ông ôm đứa con trai nhỏ bé của ông vào lòng rồi ôn tồn nói: “Cảm ơn con đã giúp bố rửa xe; bố yêu con nhiều hơn yêu chiếc xe này nữa!”
Câu chuyện này giúp ta nhận ra cách hành xử của Đức Giê-su trước hành động của bà goá trong bài Tin Mừng, đúng hơn là hai bà góa trong phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay. Hai bà đã dậy chúng ta một bài học, mà tôi đã đuợc nghe cha ông chúng mình dậy bảo rằng “của cho không bằng ý nghĩa hay cách mình cho.” Việc làm của hai bà thật đáng ngợi khen. Họ đã cho đi tất cả những gì mà họ có để duy trì cuộc sống của hai bà và gia đình. Có nghĩa là, họ đã cho đi chính cuộc sống của họ và gia đình. Hành động của họ không chỉ mang tính quảng đại, mà còn nói lên tính liễu lĩnh, biểu lộ một niềm tin vô cùng vững chắc vào Đấng có quyền trên việc sống chết của họ nữa.
Bà goá ở Sa-rép-ta trong bài đọc thứ nhất đã nói: “Tôi chỉ có trong hũ một nắm bột, và trong bình một chút dầu thôi”. Đó là của ăn đường cho bà và gia đình trước khi chết. Thế mà bà và gia đình sẵn lòng hy sinh phần ăn này để cứu ngôn sứ Elia khỏi bị chết đói. Hy sinh như thế nói lên tâm tình dâng hiến của bà. Hiến dâng những gì mình có tức là cho đi chính con người của mình, sự sống của mình. Mấy ai làm được điều này. Quả thật đây là một vấn đề khiến lương tâm chúng ta phải nhức nhối.
Tương tự như thế, ngày hôm nay trước cửa tiền đình của đền thờ Giê-ru-sa-lem và trước mặt bao nhiêu người giầu có đã dâng cúng vào hòm tiền của đền thờ phần dư thừa. Bà góa vô danh của chúng mình lại dâng cúng ít nhất, chỉ vỏn vẹn có hai đồng kẽm. Nhưng đó lại là tất cả những gì bà có. Bà dâng trọn vẹn những gì còn lại để nuôi sống bà. Bà cho đi tất cả.
Đức Giêsu nhìn thấy, không chỉ nhìn vẻ bề ngoài mà còn nhận ra trong phần sâu thẳm trong tâm hồn của những người dâng cúng nữa. Người nói “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.”
Khi nói tới đây, chúng ta không thể nào quên được việc làm của Đức Giê-su. Hành động của bà góa hôm nay có thể được coi như một hình ảnh báo trước việc Đức Giê-su chuẩn bị thực hiện tại Giê-ru-sa-lem trên đồi Gol-go-tha. Người đã hiến dâng chính mạng sống mình làm giá chuộc muôn người. Lễ vật dâng trong đền thờ của bà góa hôm nay loan báo việc tự hiến của Đức Giê-su dâng cho Chúa Cha đấy thôi!
Một lần nữa, trình thuật Tin Mừng hôm nay thuật lại hoàn cảnh và việc làm của bà goá. Bà là hình ảnh của một lớp người lẽ ra được các môn đệ săn sóc, lại trở thành gương sáng, mẫu mực cho những ai muốn trở thành môn đệ của Chúa. Theo Chúa là để dâng hiến tất cả những gì mình có, như bà goá khi dâng cúng số tiền tuy ít, nhưng là những gì bà có. Như vậy, noi gương bà góa trong bài Tin Mừng hôm nay, các môn đệ và chúng ta cũng được dậy bảo để dâng hiến, không chỉ một phần, nhưng là chính cuộc sống mình cho công việc phục vụ đền thờ.
Ước gì trong Chúa chúng ta cũng biết noi gương bà góa trong việc hiến dâng tất cả để xứng đáng là môn đệ chân chính của Đức Giê-su. Amen!


Thursday, 1 November 2018

YÊU LÀ YÊU, CHÚNG MÌNH YÊU NHIỀU,YÊU QUÁ… CỨ YÊU.




           

Vào thời Đức Giê-su, đạo Do Thái có 613 khoản luật, trong đó có 248 lời khuyên và 365 luật buộc. Một cách ngay lành, chúng ta phải nhìn nhận các nỗ lực và cố gắng của họ trong việc tìm hiểu ý nghĩa của các huấn lệnh mà Chúa ban, để giúp họ sống. Nguyên thuỷ, người Do Thái tin rằng, qua tổ phụ Maisen, Thiên Chúa đã ban cho họ các giới răn của Ngài. Từ những giới răn này, sau này những người lãnh đạo như mấy ông kinh sư hay thầy dậy đạo thuộc phái Pha-ri-sêu thường bàn bạc với nhau để tìm hiểu xem điều luật nào lớn và quan trọng nhất.
Trong các sách Tin Mừng, chúng ta hay gặp các tình huống mô tả việc các nhà lãnh đạo đem các khoản luật đến chất vấn nhằm gài bẫy và bắt lỗi Đức Giê-su. Tuy nhiên, hoàn cảnh hôm nay dường như có vẻ hơi khác. Ông kinh sư đến gặp Đức Giê-su lại là người có thiện cảm với Chúa. Ông muốn tìm hiểu xem trong 613 điều luật thì điều nào đứng đầu và quan trọng nhất. Ông xin Chúa một điều, Chuá lại ban cho ông hai. Đó là: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” Đức Giê-su đã nối kết hai điều luật lại với nhau thành một. Người dạy họ và chúng ta rằng: mến Chúa và yêu người thân cận là trọng tâm của cuộc sống.
            Việc tìm hiểu giới răn nào là huấn lịnh quan trọng nhất đã là việc khó; phương chi nói đến việc áp dụng trong cuộc sống; hẳn nhiên còn khó hơn bội phần. Ai trong chúng ta dám vỗ ngực xưng mình là kẻ đã yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức của mình! Lại còn cần thể hiện lòng mến đó cho tha nhân, đặc biệt là những ai ở bên mình.
            Để minh họa điều này, chúng ta cùng nghe một câu chuyện ngụ ngôn. Đối với người Hồi Giáo, thì việc hành hương thánh điạ Mecca là một trong năm việc đạo đức mà họ phải thực hiện ít nhất một lần trong đời. Mục đích của việc hành hương là để tìm kiếm sự tha thứ, dẫn dắt và cứu rỗi linh hồn của họ từ Allah, Thiên Chúa của họ.
Ngày xửa ngày xưa, trong một lần nào đó, chúa tể giống mèo đi hành hương thánh địa Mecca. Trong chuyến hành hương này cũng có chúa tể của loài chuột nữa. Trên đường trở về, vị lãnh đạo của loài chuột mới tự nghĩ rằng ông ta có bổn phận phải đến để chào và chúc mừng chúa tể giống mèo. Khi nghe vị lãnh đạo dân chuột có ý nghĩ này, thì mấy chú chuột đàn em cấp duới lo ngại cho sự an toàn của ông. Họ can gián ông đừng đi bằng các lời lẽ như sau: “Thưa ngài, mèo đã là kẻ thù truyền kiếp của chúng ta, làm sao Ngài có thể tin vào ông ta được”. Nhưng vua chuột đáp: “Ông ta mới đi hành hương thánh địa Mecca về. Người ta nói ông ta đã cầu nguyện năm lần một ngày nữa. Vì thế, ta rất hy vọng là ông chúa của giống mèo đã được biến đổi! các ngươi hãy tin vào Ta.”
Nói xong, ông lập tức khởi hành đến cung điện của chúa mèo. Vừa vào tới cửa dinh, ông nhìn thấy một cảnh tượng vô cùng đẹp. Vua mèo, trong bộ trang phục của người vừa đi hành hương về, đang quì mọp xuống nền nhà để cầu kinh vô cùng sốt sắng. Nhìn thấy thế, vua chuột nhà ta cảm thấy an tâm hơn, bèn tiến vào gần thêm chút nữa. Ngay trong giây phút đó và vô cùng bất ngờ, chúa mèo nhẩy chồm lên để vồ lấy ông. Cũng may cho vua chuột của chúng mình, nhờ nhanh chân hơn nên đã kịp phóng ra ngoài thoát nạn.
Khi vị lãnh tụ loài chuột về đến hang của mình, đàn chuột con đến thăm hỏi và muốn biết kết quả của cuộc gặp gỡ giữa hai ông: chúa mèo và chúa chuột. Họ hỏi ông rằng sau khi tham dự hành hương thánh địa trở về, vua mèo có thay đổi và trở nên thân thiện với họ hay không? Vị lãnh tụ loài chuột đáp: “Những lời góp ý của các ngươi rất thực tế và chính xác. Mèo vẫn là mèo. Khi ông ta cầu nguyện thì dáng vẻ thánh thiện và hiền lành như một người đang tham dự hành hương; nhưng khi nhẩy lên vồ ta thì mèo vẫn hoàn mèo.”
Qua câu chuyện mang tính ngụ ngôn nói trên đã giúp chúng ta hiểu rằng thật là nguy hiểm khi chúng ta tách rời hai huấn lịnh, mến Chúa và yêu người, ra thành hai. Đức Giê-su đã gom hai điều răn này thành một, gắn liền với nhau, không thể tách rời. Yêu Chúa là yêu tha nhân và tình yêu của chúng ta dành cho tha nhân phải được phát xuất từ Tình yêu Chúa. Yêu Chúa như Chúa yêu đã không phải là việc dễ dàng; yêu tha nhân còn khó hơn bội phần. Vì, làm sao chúng ta có thể yêu được con người với đủ mọi khuyết điểm; và đôi khi họ còn được coi như những người trái ý và không cùng phe với chúng ta.
Vẫn biết là khi yêu chúng ta cần cảm xúc. Tuy nhiên cảm xúc đến rồi đi. Nhưng mối tình dành cho Thiên Chúa không chỉ dừng lại ở mặt cảm xúc; nò còn đòi hỏi chúng ta diễn tả bằng hành động. Đó là thứ tình mà Đức Giê-su nhắc lại cho ông kinh sư hôm nay: yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực là yêu Thiên Chúa bằng tất cả những gì chúng ta đang có. Đó là dạng thức của mối tình bác ái, hy sinh, dâng hiến và mưu cầu hạnh phúc cho người mình yêu.
Vì thế, ai yêu mến Chúa thì vâng lời Ngài. Ai yêu mến Người thì tôn thờ Người. Những người cha và người mẹ yêu thương Thiên Chúa thế nào thì họ sẽ nuôi dạy con cái họ trong đức tin. Tình yêu mà cha mẹ dành cho con cái bền vững hơn khi mối tình mà họ trao ban cho nhau và cho con cái được xuất phát từ Tình yêu Thiên Chúa. Một thương gia sẽ trở thành một viên quản lý trung tín và liêm khiết nếu ông xây dựng cuộc sống mình trên nền tảng của giao ước yêu thương giữa Thiên Chúa và ông. Trong mọi trường hợp, tình yêu Thiên Chúa được đánh giá bằng hành vi hiến dâng, biểu hiện bằng việc làm đem lại lợi ích cho người khác.
Đức Giê-su còn mời gọi chúng ta thể hiện trong cuộc sống mình một sự liên kết chặt chẽ, không gì có thể tháo gỡ và tách biệt hai giới răn này ra khỏi nhau. Thật vậy, nhiều lần chúng ta đã lạm dụng cụm từ yêu thương khi mạnh dạn tuyên xưng mình rất yêu Chúa mà lại không nhìn thấy hay làm ngơ trước các nhu cầu của tha nhân là những người đang sống gần bên ta, thế nghĩa là làm sao!
Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay là cơ hội giúp chúng ta đặt lại vấn đề căn bản: Đạo công giáo là đạo gì? Phải chăng đạo công giáo chỉ bao gồm những điều khoản bắt tín đồ phải giữ. Không chỉ là như thế. Thật ra đó là đạo Tình Yêu, đó là con đường yêu thương. Đây không chỉ là bài học của Chúa hôm nay, nhưng chính là con đường Chúa đã đi qua.Vì thế, cách sống đạo của chúng ta không chỉ dựa vào việc đọc kinh ê a, dài dòng, hoặc tổ chức các chuyến hành hương, tụ họp để biểu dương niềm tin tôn giáo; nhưng còn phải và nhất là: Hãy yêu nhau. Chúng ta có chung một mối tình đó là Yêu Chúa yêu người. Khi nói như thế không có nghĩa là con tim của chúng ta bị chia hai: một nửa cho Chúa và phần nửa còn lại cho tha nhân và người hàng xóm láng giềng bên cạnh ta.
Việc đầu tiên chúng ta cần làm là cởi mở cõi lòng để nhận ra có một Đức Chúa duy nhất, chứ không có một thần tượng nào khác ngoài Ngài ra. Môt khi đã nhận ra Ngài là Thiên Chúa duy nhất là lúc chúng ta đầu phục và biết rằng mọi sự chúng ta có trên cõi đời này, ngay cả việc nhận ra Ngài là Thiên Chúa duy nhất cũng được trao ban cho chúng ta bởi Ngài. Nếu mọi sự chúng ta có đều thuộc về Ngài thì làm sao chúng ta có thể cư xử với nhau như người dưng, khách lạ được. Trong Ngài, tất cả chúng ta đều là anh chị em.
Bước kế tiếp là yêu Chúa. Tình yêu Chúa trong ta và tình của ta dành cho Chúa là căn nguyên, là nguồn động lực thúc đẩy chúng ta sẵn sàng ra đi để yêu tha nhân. Chỉ có ai cắm rễ sâu trong Tình yêu của Chúa thì mối tình của người đó dành cho tha nhân mới bền lâu; bằng không cũng chỉ là những cảm xúc nhân loại, nhất thời và chóng qua. Chỉ khi nào chúng ta tiếp cận được với Thiên Chúa của Đức Giê-su thì chúng ta mới đầu phục và tôn thờ Ngài hoàn toàn, và tình của ta dành cho tha nhân mới chân thật và bền vững. Bởi vì, nếu không có Đức Giê-su, chúng ta dễ bị lầm lẫn giữa việc tôn thờ Thiên Chúa và việc tôn sùng ngẫu tượng. Việc tôn sùng ngẫu tượng này còn tạo cho chúng ta một điều rất nguy hiểm; đó chính là thay vì tôn thờ Thiên Chúa thì con người lại đi thờ chính bản thân mình, khiến cho niềm tin bị sai lạc, mù quáng và dẫn đến cuồng tín.
Còn yêu tha nhân thì sao? Yêu Chúa thế nào thì yêu tha nhân như thế; bởi tình yêu dành cho tha nhân phải được phát xuất từ Tình yêu Thiên Chúa. Đây chính là mẫu mực, là tiêu chuẩn của những ai muốn trở thành môn đệ Chúa. Đây là giới răn mới mà Đức Giê-su ban thêm. Ông kinh sư đến gặp Chúa để xin Người ban cho ông giới răn trọng nhất; cuối cùng ông và chúng ta nhận được hai điều bằng nhau và chẳng có điều răn nào khác lớn hơn hai điều ấy. Qua việc yêu thương tha nhân, chúng ta đi vào chương trình và ý muốn của Thiên Chúa. Vẫn biết là như thế. Nhưng chúng ta cũng nên cụ thể hóa tình yêu của chúng ta dành cho những người lân cận bằng hành động. Chúng ta cũng không cần hỏi ai là người thân của mình, mà hãy yêu tất cả mọi người như nhau.
Đây không phải là việc dễ làm. Cho nên chúng ta cần đến Chúa. Chỉ những ai yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực thì sẽ có hành động diễn tả tình yêu của họ một cách cụ thể cho tha nhân. Chúng ta không yêu và trao ban cho người khác những gì mình dư thừa, cũng không chỉ là việc trao ban những gì mình đang nắm giữ; mà là việc trao ban mang ý nghĩa dâng hiến như Đức Giê-su đã thực hiện, bởi vì chúng ta nhận ra hình ảnh của Đức Giê-su nơi người đó. Như chúng ta đã được đón nhận việc phục vụ và dâng hiến của Đức Giê-su thế nào thì tha nhân cũng vậy. Họ thật xứng đáng đón nhận quà tặng của Chúa qua việc trao ban của chúng ta. Như vậy, việc trao ban giữa chúng ta với nhau không phải là việc bố thí; nhưng đó là việc đáp ứng nhu cầu của nhau. Khi làm như thế, chúng ta tôn trọng và giúp cho con người của họ được phát triển toàn diện.
Tóm lại, để trở thành môn đệ của Đức Giê-su, chúng ta được mời gọi yêu mến Chúa và thương tha nhân “hết” lòng, “hết” trí khôn, “hết” sức lực và “hết” mình có nghĩa là dám cho đi tất cả, dâng hiến mọi sự. Trong ngôn ngữ của người Do Thái, các chữ “lòng”, “linh hồn” và “trí khôn” có nghĩa toàn bộ con người. Do đó, ý nghĩa của giới răn hôm nay là “hãy yêu mến Thiên Chúa và thương yêu nhau bằng tất cả con người mình, cho đi tất cả con người mình, dâng hiến toàn bộ con người mình.” Nghĩa là, trong Tình yêu thì không còn sự chia cách, không còn phân biệt giữa người này với người khác. Tất cả đều được hoà hợp trong Tình Yêu, nơi đó không còn biên giới, không còn hận thù, không còn tỵ hiềm hay chia rẽ; mà chỉ có hiệp thông, tha thứ và bình an.

Cầu xin mọi người vui sống trong tình yêu Chúa và thương mến nhau hơn. Amen!


Thursday, 25 October 2018

TRONG CHÚA, CHÚNG TA ĐƯỢC SÁNG MẮT


Hôm nay, chúng ta bắt đầu bài suy niệm bằng một truyện kể về cuộc sống của chú Bảo mù, làm nghề bán vé số dạo trong xứ đạo của chúng tôi khi xưa. Tôi không biết chú từ đâu đến và tại sao chú bị mù. Khi tôi có trí khôn thì đã thấy chú, một tay cầm tập vé số, tay kia với cây gậy dò đường. Chú vừa đi vừa hát bài ‘xổ số kiến thiết quốc gia…’ Tôi là một trong những thân chủ của chú, và từ việc giao dịch đó, mối dây liên hệ của chú cháu chúng tôi càng ngày càng trở nên thân thiết hơn.
Không chỉ có thế, tôi thường được nghe nói rằng: những ai có tật thì có tài. Một trong những tài của chú và có thể của các người mù nói chung là họ phân biệt và nhận ra giá trị của đồng tiền rất chính xác qua xúc giác. Chú chỉ cần cầm đồng tiền trên tay, lật qua lật lại là có thể đoán ra giá trị của nó. Chưa bao giờ chú bị lầm lẫn. Sau này chú lập gia đình và có hai người con, môt trai một gái. Gia đình chú thím sống hạnh phúc cho đến ngày chú mãn phần.
Truyện kể không chỉ có thế. Tôi còn nhớ một lần anh chị em trong nhóm đến thăm gia đình chú. Qua cuộc trao đổi, có một người trong nhóm xin chú chia sẻ về cuộc sống và thân phận mù lòa của chú. Chúng ta có thể nghĩ rằng họ là những người bất hạnh bạc phước. Nhưng chú lại khác, bằng vào một giọng nói dí dỏm, chú chia sẻ rằng chú rất hạnh phúc với những gì đã được trao ban. Đối với chú, những ai không bị mù lòa, có nghĩa là còn đôi mắt mà không biết dùng cặp mắt của mình cho đúng nghĩa, thì dường như họ bị thừa đôi mắt. Chú vui lòng và chấp nhận giới hạn của bản thân. Cho dù chú không nhìn thấy ánh sáng như những người có đôi mắt, nhưng chú vẫn đi ngủ và thức dậy đúng giờ, vẫn thường xuyên tham dự và cảm nhận được ý nghĩa của Thánh lễ. Cho dù chú không nhận ra được vẻ đẹp của mầu sắc, nhưng chú vẫn nhận ra nét đẹp đó bằng óc tưởng tượng và bằng khứu giác để nhận ra mùi hương của hoa.
Câu truyện này nhắc nhở tôi một kinh nghiệm mới đây khi còn làm việc tại trung tâm Hoan Thiện, Keysborough. Tôi đã gặp một cựu tu sĩ dòng Don-Bosco: Anh Nguyễn Quốc Phong, người sáng lập mái ấm Thiên Ân. Anh đến Úc thăm thân nhân. Nhân dịp đó, tôi đã mời anh ra nói chuyện với bà con thuộc cộng đoàn.
Theo như câu chuyện về cuộc đời của anh. Anh bị mù qua một tai nạn giao thông. Với hoàn cảnh như thế, anh đã không thể tiếp tục ơn gọi trong Dòng Thánh Bosco. Anh đã xin trở về nhà. Thoạt đầu, anh không chấp nhận và sống trong nỗi phẫn uất với số phận nghiệt ngã qua biến cố đã xẩy ra cho anh. Nhưng dần dà với ơn Chúa, qua ngày tháng sau này anh nhận ra được một điều là Thiên Chúa vẫn họat động và mời anh lên đường. Mái ấm Thiên Ân, hay còn gọi là trung tâm hướng nghiệp dành cho các em bị khiếm thị được thành hình. Tại nơi đó, anh không chỉ nuôi các trẻ em bị mù, mà còn tạo cho các em tay nghề hợp với năng khiếu của các em. Đến khi lớn khôn, chính các em này là những người thầy dậy các em khác. Có nhiều em đến tuổi trưởng thành, đã lập gia đình, vẫn thường xuyên trở về mái nhà Thiên Ân để cùng đồng hành với anh trong công việc nuôi nấng và tạo ra các công ăn việc làm khác cho các trẻ em bị mù lòa. Anh thật xứng đáng là người cha của gia đình ‘mái ấm Thiên Ân’.
Qua các truyện kể nói trên, chúng ta nên nghĩ rằng những người mà thân thể của họ tuy bị khiếm khuyết, nhưng nghị lực, ý chí và tấm lòng của họ dành cho các công việc bác ái, đem lại ích lợi và hạnh phúc cho tha nhân, có thể vượt xa chúng ta là những kẻ tưởng rằng mình sáng mắt, ai ngờ lại bị khiếm thị. Dành cho họ tấm lòng thán phục và ngưỡng mộ là việc cần; nhưng còn hơn thế nữa, chúng ta nên khám phá nơi họ sự can thiệp của Thiên Chúa, Đấng hiện diện và thường xuyên hoạt động nơi họ.
Anh chị em thân mến.
Anh mù Ba-ti-mê trong bài Tin Mừng hôm nay may mắn hơn vì đã được Đức Giê-su chữa cho khỏi bịnh. Anh không chỉ được sáng mắt mà cõi lòng cũng được sáng để nhìn ra con đường mà theo Chúa.
Trước khi gặp Đức Giê-su, anh không chỉ bị mù lòa mà còn là người ăn xin nữa. Cuộc sống của anh hoàn toàn lệ thuộc vào lòng tốt, của bố thí của khách vãng lai. Việc Đức Giê-su chữa lành cho anh không làm cho chúng ta ngạc nhiên. Bởi vì, cho đến hôm nay không ai trong chúng ta có thể phủ nhận uy quyền của Thiên Chúa hoạt động nơi Người. Tuy nhiên, ý định của Thánh Mác-cô khi sắp xếp trình thuật này khiến chúng ta ngạc nhiên và cần tìm hiểu.
Trong bài Tin Mừng tuần trước, Đức Giê-su đã hỏi lại Gia-cô-bê và Gio-an: “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?” Hôm nay, Người lại hỏi anh Ba-ti-mê: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Hai câu hỏi cùng một ý nhưng cách trả lời lại khác nhau. Lẽ ra, Gia-cô-bê và Gio-an, với kinh nghiệm qua nhiều lần gặp gỡ Đức Giê-su và đã được Người khai mở lòng trí thì câu trả lời của anh Ba-ti-mê “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” phải là câu trả lời của các môn đệ. Trái lại, tham vọng quyền bính đã che lấp tầm nhìn khiến mắt các ông tuy sáng lại trở thành mù, vì thế các ông đã không xin Chúa ơn soi sáng để nhận biết về con người của Thầy mà lại xin chỗ ngồi tốt, địa vị cao.
Vẫn chưa hết, trong phân đoạn mô tả cuộc hành trình trong vùng ngoại biên của Ga-li-lê đến Giê-ru-sa-lem của Đức Giê-su, Thánh sử Má-cô đã bắt đầu bằng việc Đức Giê-su chữa lành cho người mù tại Bết-xai-đa và kết thúc bằng việc Đức Giê-su làm cho anh mù Ba-ti-mê tại Giê-ri-khô là cửa ngõ vào Giê-ru-sa-lem được sáng mắt. Hai người mù này đóng vai trò gì trong việc soạn tác và huấn luyện niềm tin của Đức Giê-su dành cho các môn đệ? Đâu là ý định của Thánh sử. Hai người mù này đã được Đức Giê-su khai sáng thế nào thì con đường của các môn đệ cũng cần sự tác động như thế. Gặp Thầy để tin và bước vào hành trình khổ nạn với Người như thế.
Rồi thêm một truyện khác. Simon Phê-rô đã theo Thầy, vượt qua bao cạm bẫy, nhận được bao lời huấn giáo để có thể tuyên xưng Thầy là Đức Ki-tô; thế mà sau khi nghe thầy loan báo về cuộc khổ nạn, ông đã đứng ra ngăn cản Thầy thực hiện ý định của Thiên Chúa, không chấp nhận cho Thầy mình đi vào vinh quang qua cuộc khổ nạn. Vì thế, ông đã bị Chúa khiển trách là ‘Xatan, lui lại đàng sau Thầy’ Trong khi đó, một con người bị khuyết tật, cuộc sống lệ thuộc vào lòng thương xót của người khác như anh Ba-ti-mê hôm nay, lại đạt được đích điểm khi đã tuyên xưng không chỉ bằng miệng mà còn bằng cuộc sống, là sẵn sàng theo Thầy đi vào Giê-ru-sa-lem, không phải để đón nhận hào quang, mà là để chịu thương khó.
Hai hình ảnh hoàn toàn trái ngược nhau. Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là những người tưởng mình sáng mắt lại trở thành mù tối, còn anh Ba-ti-mê lại trở thành người sáng mắt qua việc gặp gỡ Đức Giê-su. Chính anh đã trở thành gương mẫu cho những ai muốn trở thành môn đệ của Chúa.
Anh Ba-ti-mê đã không dựa vào những giáo điều để tin vào Đức Giêsu. Đức tin của anh đã được xây dựng trên nền tảng của mối tương quan với một con người mà có thể anh chỉ nghe người ta nói; mà anh chưa bao giờ được gặp mặt; vì anh bị mù. Chính điều này giúp anh đào sâu niềm tin của anh vào Đấng mà anh kêu xin. Anh không xin những đồng tiền bố thí từ Đức Giê-su. Được nghe người ta nói; và đúng hơn trong thâm tâm anh thấy Chúa Giêsu là con vua Đavid, là Đấng Messia. Anh nhận ra nơi Người có một quyền năng có thể giúp anh. Anh xin Người dủ lòng thương đến thân phận của anh. Trong khi đó những người sáng mắt theo Chúa lại không nhận ra điều mà họ cần. Trái lại họ lại hành động như một thứ rào cản, ngăn chận người khác đến với Chúa.
Như vậy có một nghịch lý ở đây là người mù đã thấy được nhiều hơn là người sáng mắt. Và những gì đã xẩy đến cho Ba-ti-mê hôm nay là lời mời gọi mà các môn đệ cần phải tìm cho ra câu trả lời trên đường theo Chúa của các ông. Hành trình và nỗ lực để được gặp Chúa của anh Ba-ti-mê cũng là bài học dành cho những ai muốn trở thành môn đệ của Thầy.
Sau đây là các bước nhẩy vọt của anh mù mang tên Ba-ti-mê:
Chúng ta hãy tưởng tượng và hình dung ra cảnh anh mù Ba-ti-mê đang ngồi ăn xin. Nơi anh ngồi là vệ đường. Không ai đi ăn xin tại các nơi hẻo lánh. Họ phải chọn chỗ đông người qua lại như giữa phố xá, rất nhộn nhịp và là nơi tập trung các khách từ bốn phương tuôn về. Ngày hôm đó, tuy rằng mắt anh mù, nhưng đôi tai của anh lại thính, anh Ba-ti-mê nhận ra có đám đông đi qua chỗ anh đang ngồi. Và anh nghe người ta nói rằng trong đám đông, có một người tên là Giê-su, đến từ Na-za-rét, Người đã thực hiện nhiều việc lạ lùng và kỳ diệu. Chỉ cần biết ngần ấy, anh liền la thật to để xin Đức Giêsu giúp đỡ.
Hoàn cảnh của anh cũng giống như hoàn cảnh của những người chạy đến để xin Đức Giê-su giúp mà chúng ta thường được nghe trong Tin Mừng. Bằng vào nỗ lực của bản thân, họ phải vượt qua các rào cản để có thể tiếp cận với Đức Giê-su. Hôm nay cũng thế, đám đông, bao gồm cả những môn đệ của Đức Giê-su, cố gắng làm anh im lặng, thậm chí có một số người muốn đuổi anh đi. Tuy nhiên, không vì việc làm của họ khiến anh nản lòng. Trái lại sự ngăn cản của đám đông càng làm anh quyết tâm hơn. Anh gào thét to hơn, cho đến khi Đức Giê-su để ý đến anh. Cuối cùng, Người nhận ra anh. Người dừng lại và yêu cầu người ta đưa anh đến.
Nghe được những lời cho phép của Đức Giê-su, anh không cần đợi người ta giúp. Tuy vẫn đang bị mù lòa, nhưng đôi tai của anh không bị điếc; anh đã nhận ra hướng của Đức Giê-su đang đứng. Lập tức, anh quăng chiếc áo choàng đang khoác trên người của anh lại đàng sau. Hành động này cho chúng ta nhận ra một điều là anh buông bỏ tất cả, buông cả chiếc áo hộ thân đã bao bọc anh bấy lâu nay, rồi đứng phắt dậy để tiến về phía Chúa.
Nhu cầu được xót thương và niềm tin là động lực và sức mạnh giúp anh vượt qua mọi trở ngại để gặp Chúa. Đến lúc này, câu hỏi của Đức Giê-su “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” và câu trả lời: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được” của anh Ba-ti-mê xem ra hơi dư thừa. Bởi vì, Đức Giê-su đã biết rõ anh mù này cần gì và nhu cầu của anh mù đã được hiển thị quá rõ ràng.
Quả thật không dư thừa chút nào. Bởi vì, như chúng ta đã nói ở phần trên là anh mù đã trở thành gương mẫu cho những ai muốn trở thành môn đệ của Chúa. Thật vậy, câu hỏi của Đức Giê-su dành cho anh mù năm xưa cũng là câu hỏi của Chúa dành cho chúng ta hôm nay: Chúng ta muốn Đức Giê-su làm gì cho chúng ta? Và lời đáp trả xin cho chúng con được thấy cũng cần được lập đi lập lại trong cuộc sống của những ai muốn làm môn đệ của Chúa. Chúng ta không xin Chúa ban cho chúng ta nhìn thấy về mặt thể lý cho bằng nhìn ra việc Chúa làm gì trong chúng ta và cho chúng ta, để mãi mãi chúng ta nhìn ra được sứ mạng mà Chúa muốn chúng ta thực hiện.
Xin cho chúng con đuợc thấy các kỳ công của Chúa thực hiện trong thân phận mỏng dòn và yêú đuối của chúng con. Và, chúng con tin rằng: chỉ có ai để cho thần linh của Chúa hướng dẫn thì mắt người đó mới nhìn ra sứ mạng mà Chúa đã trao ban, để rồi chúng ta có thể hoàn thành sứ mạng đó theo như ý định của Chúa mà thôi. Amen!



Thursday, 18 October 2018

PHỤC VỤ LÀ NIỀM VUI




Trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su dạy chúng ta bài học về quyền lãnh đạo. Người nói rất rõ ai muốn làm lớn thì phải là người phục vụ anh chị em mình. Sứ điệp này có thể đã quá quen thuộc với chúng ta, nhưng xét về mặt thực hành thì nó vẫn là một thách đố với Hội Thánh thuộc mọi thế hệ nói chung và gia đình nhỏ bé hay các nhóm của chúng ta nói riêng.
Khi Thánh Mác-cô trình bầy giáo huấn này của Đức Giê-su thì dường như những người lãnh đạo trong cộng đoàn của ngài cũng có vấn đề! Ngay từ thủa ban đầu, những ai được mời vào chức vụ lãnh đạo đều có các tố chất thật xứng đáng như tinh thần phục vụ và lòng hy sinh. Nhưng không phải lúc nào họ cũng giữ được tấm lòng trung kiên và lửa nhiệt thành như thủa ban đầu như thế. Với tính xác phàm, những nét yếu đuối trong bản tính con người cũng dễ bị lộ diện, từ đó dẫn họ đến chỗ tranh chấp rồi hạ bệ để tranh nhau chỗ nhất. Để đối diện với hoàn cảnh như thế thì không còn có gì hay hơn là trình bầy lại sứ điệp và gương sáng phục vụ của Đức Giê-su. Đấng đã làm gương và dậy cho chúng ta bài học phục vụ. và để có thể hoàn thành sứ mạng này, như Đức Giê-su chúng ta phải biết nương tựa vào Thiên Chúa.
Trình thuật hôm nay được gắn liền với lời loan báo của Đức Giê-su cho các môn đệ biết về cuộc khổ nạn mà Người sẽ phải gánh chịu. Cho dù, đây là lời loan báo lần thứ ba, nhưng hình như các môn đệ vẫn còn mải mê trong cái nhìn, nỗi ước mơ hay tham vọng của họ. Mắt họ chỉ nhìn ra quan niệm về một Đấng Thiên Sai theo nghĩa chính trị, có nghĩa là Đấng Mesia sẽ đ7067202ợc sai đến để giải thoát họ khỏi ách nô lệ, đuổi bọn xâm lược ra khỏi đất nuớc và trả lại cho dân tộc họ chủ quyền của một quốc gia, tái lập thời đại hoàng kim. Các điều này đã được trình bầy qua câu hỏi của họ trong biến cố Chúa về trời như sau: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en hay không?” Chính cái nhìn về một triều đại trần thế như thế nên khi nghe Đức Giê-su loan báo đến hành trình khổ nạn của Người trước khi bước vào vinh quang, thì họ chỉ nghĩ đến một thứ vinh quang trần thế, cho nên hôm nay Gia-cô-bê và Gio-an mới nhanh miệng xin Thầy mình rằng: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.”
Tuy rằng Gia-cô- bê và Gio-an đã nhanh miệng khi đưa ra lời thỉnh cầu rất mực con người như thế. Nhưng điều này không chỉ là ước vọng của hai ông mà thôi, các môn đệ khác cũng có cùng một niềm mơ ước như họ. Giữa các ông đã có một cuộc chiến quyền lực, ai cũng cố gắng dành phần thắng, cố gắng trèo lên ghế cao để được trọng vọng: Trong các ông, ai sẽ là kẻ lớn hơn? Và dĩ nhiên, khi con người có ghế, có địa vị thì dễ sinh ra quyền lực và bị quyền lợi cám dỗ.
Điều đáng buồn là trước thái độ và lời cầu khẩn của Gia-cô-bê và Gio-an đã khiến các môn đệ kia giận dữ. Tình hình bỗng trở nên căng thẳng, tinh thần hiệp nhất giữa các ông đã bị sứt mẻ để nhường chỗ cho một cuộc chiến tranh lạnh; có thể nói các ông bằng mặt chứ không bằng lòng. Vì thế, Đức Giêsu cần hành động ngay, nếu không thì những lời giáo huấn của Người từ trước đến giờ sẽ như ‘nước đổ lá khoai.’ Và, trong phần kế tiếp, Đức Giê-su đã cho họ thấy rõ các tiêu chuẩn khác nhau về sự cao trọng, về vai trò lãnh đạo trong Vương quốc của Thiên Chúa với các vuơng triều thế tục.
Trong các vương quốc tại trần gian thì người ta dùng quyền để cai trị. Như một hoàng đế, ông ta muốn làm gì thì làm, ông có quyền trên sự sống chết của thần dân và thuộc hạ. Như vậy, quyền sinh ra lực và những ai có quyền thì thường dùng quyền để bảo vệ lợi ích của mình. Và như thế họ luôn bị quay cuồng bởi việc nắm giữ quyền lực để phát triển quyền lợi rồi củng cố điạ vị còn nói gì đến việc phục vụ tha nhân.
Trong khi đó, đối với Đức Giê-su, vương quốc mà Người khai mạc là triều đại hồng ân của Thiên Chúa. Huấn chương là Tình yêu và tiêu chuẩn để đánh giá vị trí của các thành viên là việc phục vụ. Sự cao trọng không bao gồm việc bắt người khác phục vụ mình, nhưng là đặt chính mình vào việc phục vụ người khác. Cách thử nghiệm đã được Đức Giê-su phán: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.”
Bài học phục vụ nói lên giao ước Tình yêu của Thiên Chúa đã đuợc khai mạc nơi con người của Đức Giêsu. Người đến để mở ra một con đường, một lối sống yêu thương, vô vị lợi. Nếu tình yêu mà còn mong đáp trả thì còn có thể là tình yêu được hay sao! Lúc đó, tình yêu đã biến thành phương tiện cho bản thân. Như vậy có nghĩa là là tôi yêu người khác vì tôi; và người khác có đáp trả tình yêu cho tôi cũng vì cái lợi mà họ có thể thu hoạch được; như vậy họ cũng yêu chính họ chứ không hề yêu tôi. Một tình yêu cho đi, không cần đáp trả mới là mối tình của Chúa và thuộc về Chúa.
Trong tinh thần và lối sống của Đức Giê-su thì những ai được mời gọi là Con Chúa, trở thành môn đệ của Người là những con người biết cho đi, biết san sẻ và cùng chung chia sứ mạng của Người. Đó chính là điều mà Đức Giê-su yêu cầu Gia-cô-bê và Gio-an hôm nay: “Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?”
Chén mà Đức Giê-su sắp uống và phép rửa mà Người sắp chịu là cuộc sống của Người, và cao điểm là hành trình Thập Giá mà Người sắp đón nhận. Noi khác đi, đó chính là sứ mạng của Người, rất cụ thể, rất sáng tạo và đong đầy hy sinh. Đức Giêsu muốn nói đến sự chọn lựa trong vâng phục ý định của Thiên Chúa nơi Người. Với quyền năng sẵn có, Người có thể sắp xếp cuộc sống hoàn toàn phù hợp với chính Người, nhưng Người đã không làm thế, sẵn sàng dâng hiến, ngay cả bản thân và tất cả những gì Người có chỉ để phục vụ người khác. Có nghĩa là luôn đi tìm và tạo hạnh phúc cho người khác bằng việc quì xuống rửa chân nói lên ý nghĩa phục vụ của Người. Thật đúng như lời Người đã phán: sẵn sàng hiến dâng mạng sống làm giá chuộc cho muôn người và phục hồi tình trạng làm con Thiên Chúa của chúng ta, để chúng ta cũng có thể chia sẻ cuộc sống thần linh với Người.
Đấy là con đường của Đức Giê-su. Và đó cũng là con đường của người môn đệ phải đi; có nghĩa là chúng ta phải sống cuộc sống của Chúa như lời tuyên tín của Thánh Phao-lô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi”, có nghĩa là giống Đức Giê-su, chúng ta luôn đi tìm cách để phục vụ người khác, mong làm đầy tớ mọi người.
Đây không phải là một điều luật trong những điều luật khác nhưng đó là “hiến chương” của Giáo Hội, của cộng đoàn các môn đệ: Mỗi người phải trở nên đầy tớ của mọi người. Trong Giáo Hội, chỉ có một nguyên tắc mà thôi: Đó là phục vụ. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta coi thường năng quyền được trao ban trong Hội Thánh. Uy quyền tuy cần thiết và trong bất cứ một tổ chức hay một tập thể nào thì đều cần có người lãnh đạo, bằng không thì lại rối loạn vì chẳng ai nghe ai!
Chúa không hủy bỏ vai trò của người lãnh đạo; nhưng làm đầu là để phục vụ người khác thì khác với tinh thần làm lớn để bắt người khác cúc cung quì gối mà phục vụ mình. Vì thế, cho hạng giáo sĩ, những người được mời gọi vào các vai trò đặc biệt trong Hội Thánh mà chúng ta thường gọi họ là các thừa tác viên: linh mục, phó tế. Họ cũng nên nhớ rằng năng quyền mà họ đang có đã được Hội Thánh trao ban vì lợi ích chung của cộng đoàn, chứ không thuộc về riêng họ. Họ là những kẻ lãnh nhận quyền thừa tác của Đức Giê-su trong gia đình Hội Thánh. Uy quyền lãnh đạo sau cùng và tối cao vẫn thuộc về Đức Giê-su. Như vậy, làm gì có lãnh tụ theo nghĩa thế gian trong cơ chế của Giáo Hội. Chỉ có những “thừa tác viên”, những “người phục vụ”.
Và những ai đã được Chúa mời gọi chia sẽ quyền lãnh đạo với Người hãy cân nhắc cẩn thận để lời nói và hành động được hợp nhất. Chúng ta ai cũng được mời gọi thực hiện quyền của những kẻ thừa kế, chia sẻ quyền lãnh đạo của Đức Giê-su. Ai được mời gọi sống bậc tu trì thì có trách nhiệm và bổn phận đối với cộng đòan. Ai được mời gọi sống bậc đôi bạn thì có trách nhiệm với nhau và gia đình. Người nào có bổn phận của người ấy. Tất cả đều là môn đệ, đều được gọi để phục vụ. Vì thế phục vụ là bài học mà Chúa muốn dùng để dậy bảo chúng ta.
Phục vụ trong tinh thần hiến dâng vì ích lợi của tha nhân, của muôn người. Đó là con đuờng của Đức Giê-su và cũng là con đường nguyên thuỷ mà Hội Thánh, cộng đoàn của các kẻ tin phải noi gương và bắt chước. Phục vụ đến mức độ sẵn sàng hy sinh ý riêng và thậm chí ngay cả cuộc sống của mình vì lợi ích chung.
Chúng ta cần để ý đến ý nghĩa tích cực mà Đức Giê-su đã đón nhận để nói lên việc hiến dâng mạng sống của Người. Tuy con đường trước mắt là khổ nạn, là đau thương; nhưng Người hân hoan đón nhận, vì đó không phải là án phạt mà Người phải chịu, nhưng đó là hồng ân, quà tặng, niềm vui trong vâng phục cho dù cho đến chết. Đối với Đức Giê-su, Người không nghĩ về cái chết này một cách đau khổ; con đường thập giá đối với Người là “con đuờng phục vụ tuy thống khổ và hy sinh nhưng ngập tràn niềm vui”.
Người đã thể hiện trọn vẹn tinh thần và việc làm phục vụ đó qua nghĩa cử rửa chân cho các môn đệ. Đức Giê-su đã không thể hiện vai trò của một quân vương, mà là vai trò của một người đầy tớ.  Gương của Thầy vẫn còn đó. Câu chuyên về cuộc đời phục vụ của Đức Giê-su vẫn được mời gọi và thể hiện qua cuộc sống của chúng ta.
Hãy nương tựa và trao cho Chúa tất cả yếu đuối, mỏng dòn của chúng ta, vì chỉ với Người, trong Người và nhờ Người, chúng ta mới có thể chu toàn trọn vẹn ơn gọi phục vụ và hiến dâng cuộc sống mình cho tha nhân. Uớc mong nguyện vọng này được thực hiện trong cuộc sống của các kẻ tin, mọi thời, mọi nơi, nhất là trong giây phút này. Amen!

Friday, 12 October 2018

ĐỐI VỚI CHÚA MỌI SỰ ĐỀU CÓ THỂ!



Anh chị em thân mến,

Trình thuật Tin Mừng hôm nay bao gồm 3 phần, liên kết với nhau.

Phần thứ nhất nói về việc tìm kiếm sự sống đời đời của người giầu có.

Phần thứ hai là lời cảnh báo của Đức Giê-su dành cho người giầu.

Và sau cùng là phần thưởng dành cho những ai dám chấp nhận sống từ bỏ.

Trước hết, chúng ta thật kính phục và ngưỡng mộ việc tìm kiếm của người giầu có hôm nay. Ông không chỉ là người giàu mà còn là người đạo đức nữa. Khi Đức Giê-su nhắc lại cho ông nhớ đến các giới răn của Thiên Chúa, thì ông đã mau mắn không chút ngần ngại, hết sức tự tin trả lời rằng: Thưa Thầy, tất cả những điều ấy, tôi đã giữ từ thủa nhỏ. Tuy thế, ông vẫn khao khát tìm kiếm một điều gì cao hơn những gì mà ông đang có, cho nên hôm nay ông mới chạy đến chặn đường Đức Giê-su để xin Người chỉ cho biết cách đạt đến sự sống đời đời làm gia nghiệp.

Cách trả lời của ông nhà giàu hôm nay khiến tôi nhớ lại câu trả lời của cậu con cả trong dụ ngôn tình phụ tử “Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lịnh…” Và lối khoe khoang công đức của người Pha-ri-siêu khi cầu nguyện trong đền thờ: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con…”

Cả ba người cùng một tâm trạng, chạy đến thưa với Chúa về các việc đạo đức và các nỗ lực của bản thân. Họ quên đi điều quan trọng nhất trong cuộc sống của người môn đệ là thiết lập và phát huy mối tương quan giao kết giữa Thiên Chúa và họ. Và, chính trong mối tương quan giao ước với Thiên Chúa như thế sẽ giúp họ hoàn tất được những gì mà Thiên Chúa muốn thành toàn trong cuộc sống của họ.

Cho dù, ông nhà giàu trong bài Tin Mừng hôm nay không được mô tả là người ngạo mạn hay kiêu hãnh, như ông Pha-ri-siêu trong đền thờ hay là dạng người chỉ biết vâng lời mà không hề nhận ra mối tương quan cha con của người con cả. Nhưng, tôi thiết nghĩ, tự trong thâm tâm ông vẫn chưa thoát ra khỏi ý nghĩ cho rằng sự giầu có mà ông có hôm nay là thành quả của việc giữ luật, lối sống đạo của ông từ nhỏ cho đến bây giờ. Vì coi đó là thành quả, cho nên ông không chấp nhận được lời yêu cầu rất thẳng thắn của Đức Giê-su trong phần kế tiếp.

Đức Giê-su đưa mắt nhìn anh bằng cái nhìn trìu mến. Tuy không nói ra, nhưng Người biết rõ ông cần gì. Điều mà Người yêu cầu ông là hãy bán gia tài mà Thiên Chúa trao ban vào tay ông, rồi đem tặng lại cho người nghèo, sau đó ông sẽ được một kho tàng trên trời, rồi hãy đến theo Chúa. Bởi vì, sự sống đời đời mà ông nhà giàu kiếm tìm hôm nay là chính sự sống của Thiên Chúa, được trao ban một cách nhưng không qua Đức Ki-tô, chứ không hoàn toàn lệ thuộc vào công trạng của ông.

Theo lẽ thường tình, chúng ta theo Chúa để tìm sự sống đích thực và vĩnh cửu ở trên trời. Nhưng, hôm nay Đức Giê-su đã đảo ngược vị trí này. Đó là việc Đức Giê-su mời ông nhà giàu này tậu cho mình một kho tàng trên trời trước rồi mới theo Người.

Chúng ta có thể lý luận rằng một khi đã tậu được kho tàng rồi thì cần gì phải theo Chúa nữa. Đó là lối suy nghĩ của con người. Đối với Chúa, việc tậu cho mình một kho tàng chưa hẳn là một bảo đảm vĩnh cửu. Chúng ta cần tiếp tục tìm kiếm, tiếp tục nỗ lực để làm cho kho tàng đó được sinh hoa lợi thêm ra. Hoa lợi này là kết quả của việc chúng ta dùng gia sản để phục vụ những người nghèo khó. Qua lối đầu tư này Thiên Chúa sẽ ban thêm cho chúng ta.

Lời mời gọi bước theo Đức Giê-su không thể dừng lại ở việc sống và thực hiện một số việc làm đạo đức. Theo Chúa không chỉ là việc tuân giữ các khoản luật, nhưng cần được thể hiện bằng việc làm; không cho riêng mình, gia đình và dòng tộc mình; nhưng là cho tất cả mọi người; đặc biệt là giới nghèo, những ai bị thương tích, những con người đang sống trong tình trạng mỏng dòn dễ vỡ. Do đó, Đức Giê-su mời gọi ông sống một số điều cụ thể hơn, đó là: Bán gia tài, tặng cho người nghèo để tậu cho ông có một sản nghiệp trên trời, rồi đi theo Người.

Đề nghị này gồm ba bước gắn bó với nhau:

Thứ nhất là bán gia tài. Gia tài ở đây không chỉ là tiền bạc; nhưng là tất cả những gì ông ta đang có, những gì ông đang sở hữu, đang quản lý. Nó có thể là tiền bạc, thời giờ, sức khoẻ, tài năng. Bán đi là hành động chứng tỏ ông không thuộc về nó, làm chủ nó. Nói khác đi, ông phải nhận ra rằng những gì mà ông đang có không thể là của riêng ông. Đó là của chung. Tất cả chỉ là phương tiện giúp ông dễ dàng hơn trong việc theo Chúa. Có nghĩa là ông không được để cho lòng mình vướng bận những điều đó. Tất cả những gì ông có đều là hồng ân của Chúa ban cho. Đó là của chung, còn ông và chúng ta chỉ là những người quản lý. Bởi thế, tất cả những gì chúng ta có, chỉ để làm vinh danh Chúa và phục vụ tha nhân.

Vì thế, việc kế tiếp mà ông cần nhắm đến là tha nhân, những người nghèo chung quanh ông. Có nghĩa là ông cần chuyên tâm sống nguyên tắc không dính bén và biết chia sẻ. Không nghĩ đến mình, mà còn phải biết nghĩ đến tha nhân, phải mở rộng con tim, giang đôi tay ra để ôm ấp, giúp đỡ nhưng người tất bạt rồi quì xuống mà phục vụ anh em.

Người nghèo không chỉ thiếu tiền thiếu bạc và của cải. Họ còn thiếu tình thương, lời an ủi, niềm khích lệ, sự tôn trọng… Vì thế, chúng ta không chỉ mời gọi trao ban cho họ tiền của, mà còn cho họ thời giờ, sức lực và cả trí tuệ, con người của mình nữa. Nhiều khi, chỉ cần trao cho họ một nụ cười, trả lại cho họ niềm kính trọng như một con người thì còn cao quí hơn các tặng vật.

Sau khi thực hiện các việc làm đó rồi hãy đi theo Chúa. Lúc này, ông không còn bị vướng bận, thảnh thơi để bước vào giai đọan sau cùng của người môn đệ là theo Chúa. Tuy gia tài trên trời đã có; nhưng không vì vậy mà ông và chúng ta lại chểnh mảng và không lo làm cho nó giàu có hơn. Theo Chúa là như thế, là làm giàu cho Chúa những gì đã được tặng ban. Như thế, muốn bước theo Đức Giê-su, con người phải để cho mình hết sức nhẹ nhàng và thanh thản, không còn bị dính bén hay bị bận rộn trong việc tính toán theo thói thế gian, mà phải hoàn toàn nhẹ nhàng và thanh thoát.

Đức Giê-su đã đáp ứng điều mà ông nhà giầu đang kiếm tìm bằng cách chỉ cho ông điều mà ông đang thiếu, điều mà ông cần dứt bỏ để có thể tiến vào hạnh phúc đích thật và viên mãn. Tuy nhiên, trước lời mời gọi của Đức Giê-su, người này đã chùn chân và không dám bước tới, ông đã “sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi vì anh ta có nhiều của cải”.

Thái độ buồn rầu của ông giúp chúng ta nhận ra một điều là ông dám mơ ước, nhưng lại không dám hy sinh để đạt được ước mơ của mình. Có lẽ trong cuộc sống, ông ta chưa bao giờ phải chạm trán và đuơng đầu với một cuộc chiến thật gay go như lúc này. Và, ngay trong giây phút đó, ông mới nhận ra rằng tiền bạc là mục tiêu tối hậu cho cuộc sống của ông. Vì thế, ông đã không thể dứt bỏ được của cải. Ông đành bỏ Chúa để đi.  

Thưa anh chị em,

Như chúng ta đều biết, của cải vật chất không phải là điều xấu, nó là ước mơ của nhiều người. Nhưng nếu cuộc sống của chúng ta chỉ dừng lại ở của cải vật chất, là lúc chúng ta biến của cải thành mục tiêu tối hậu cho cuộc sống. Và, chúng ta sẽ tìm mọi phương thế để đạt cho được nó. Đến lúc đó, ước mơ ban đầu cho dù rất tinh tuyền, như ước mơ làm giàu để phục vụ kẻ khác, có thể sẽ biến dạng thành tham vọng, rồi dẫn chúng ta đi vào con đường sai lạc.

Nói khác đi, một khi chúng ta chỉ đặt mục tiêu cuộc đời vào của cải vật chất, nó sẽ biến chúng ta thành những con người tham lam, sống theo bản năng và thay vì làm chủ nó, chúng ta lại biến thành nạn nhân cho của cải. Lúc đó của cải sẽ biến thành ông chủ sai khiến ta. Ý hướng ngay lành, hướng thượng không còn nữa mà chỉ còn lại là hưởng thụ với những thú vui theo sau. Các điều đó sẽ biến chúng ta thành những con người hoàn toàn lệ thuộc vào sự chỉ huy của tiền của.

Giống như ông nhà giàu hôm nay, các môn đệ cũng nhận ra được sự đòi hỏi thật quyết liệt và gắt gao của Chúa. Chúng ta làm được gì với tài hèn sức mọn, nhưng đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể.

Đó chính là trọng tâm của sứ điệp: Với Chúa, chúng ta làm được tất cả.

Và đó là điều mà Thiên Chúa đã làm trong lịch sử cứu độ, qua những con người như Thánh Phan Sinh, ngài đã từ bỏ nếp sống quí tộc, ra đi làm bạn với ‘bà chúa nghèo hèn’; như mẹ Thánh Tê-rê-sa thành Calcuta, đã từ bỏ nếp sống an toàn trong một tu viện, ra đi làm bạn với những người hấp hối cần tình thương và ơn bình an. Và còn nhiều gương sáng khác nữa.

Các ngài là những mẫu gương của người môn đệ, luôn sẵn sàng chấp nhận để Thiên Chúa thành toàn trong nếp sống của họ, ở mọi thời, mọi nơi; và hôm nay, ngay tại chỗ này có cả chúng ta nữa.

Hãy để Chúa làm, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được. Amen!