Wednesday, 27 January 2021

UY QUYỀN CỦA LỜI RAO GIẢNG

 

Trong các tuần vừa qua, chúng ta đã tham dự ngày khai mạc sứ vụ công khai rao giảng về Nước Thiên Chúa của Đức Giê-su tại sông Gióc-đan. Sau đó còn được nghe kể lại việc Đức Giê-su đã gọi và thiết lập nhóm môn đệ đầu tiên. Đây cũng là cơ hội giúp chúng ta nhớ lại và hâm nóng ơn gọi của chính mình.

Tất cả chúng ta được Thiên Chúa mời gọi tham dự vào sứ mạng của Chúa Kitô trong hoàn cảnh sống của mình. Có người tham gia vào chức vụ mục tử coi sóc và phân phát ân sủng của Thiên Chúa qua các bí tích của Giáo Hội. Có người diễn tả lòng yêu mến của họ qua các phương thức như chăm sóc bịnh nhân, thăm viếng những người bị bỏ rơi, an ủi những ai cô đơn, giúp đỡ những người cùng khốn, binh vực những ai bị áp bức, tham gia vào các công tác truyền giáo và phục vụ những người khổ đau nghèo đói tại các hang cùng ngỏ hẻm ở khắp mọi nơi.

Nói chung, Thiên Chúa gọi ai là vì yêu thương và trọn niềm tín thác nơi người đó. Vì thế, lời đáp trả phải diễn tả và bộc lộ lòng mến của người được gọi dành cho Chúa trước. Lòng mến khi đáp trả không dừng lại ở mặt cảm xúc nhưng cần được diễn tả bằng cử chỉ và hành động như các môn đệ đầu tiên đã làm. Họ đã từ bỏ gia đình, đến nơi Chúa ở, lưu lại với Người, chia sẻ cuộc sống và xây dựng mối thân tình với Thầy. 

Như vậy, tất cả mọi ơn gọi xoay quanh bản thân Chúa Giêsu. Chúa gọi vì yêu con người, và con người đáp trả cũng vì yêu Chúa. Vì thế, trước khi được gọi để lãnh nhận các tác vụ riêng biệt khác để phục vụ Hội Thánh thì chúng ta đều được gọi để trở thành môn đệ, tín hữu của Chúa trước.

Thật vậy, qua bí tích rửa tội, chúng ta đã gia nhập vào hàng ngũ của những người môn đệ, chúng ta là chi thể của Đức Kitô. Để chu toàn vai trò của người tín hữu, chúng ta phải học để nói như Chúa nói, sống như Chúa sống. Đó chính là sứ điệp mà Thánh Mác-cô muốn gửi đến cho chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay.

Truyện kể lại việc rao giảng và chữa lành của Đức Giê-su tại Ca-phác-na-um. Ngày hôm đó là ngày hưu lễ, giống như bao người khác, Đức Giê-su vào hội đường. Chúng ta không biết nội dung lời giảng dậy của Đức Giê-su tại hội đường ở Ca-phác-na-um là gì. Thánh Mác-cô đã ghi lại phản ứng của những người nghe. Họ ngỡ ngàng và nhận ra uy quyền của Thiên Chúa trong lời Người giảng dậy. Người đã giảng dậy như một Đấng có uy quyền. Thẩm quyền của Đức Giê-su không dựa vào truyền thống của tiền nhân như các kinh sư mà dựa trên mối quan hệ giữa Người và Thiên Chúa Cha. Lời rao giảng của Người lôi cuốn và thu hút những người nghe trở về mối quan hệ với Thiên Chúa.

Và cũng trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta được chứng kiến thêm cuộc đối thoại, đúng hơn là cuộc chiến bằng Lời của Đức Giê-su và thần ô uế. Truyện kể về tình trạng của một người bị thần ô uế nhập. Ông tự nguyện đến trình diện với Đức Giê-su. Đây là cuộc chạm trán đầu tiên giữa Đức Giê-su và thần ô uế, một thứ quyền lực chống lại Thiên Chúa. Một cách khác, chúng ta có thể đọc câu chuyện này như một cuộc hiển linh của Đức Giê-su, Đấng được Thiên Chúa sai đến để chiến đấu với quyền lực của ma quỉ. Cuối cùng, Đức Giê-su đã chiến thắng, và qua đó Người đã trục xuất thần ô uế ra khỏi người bị ám và đã trả lại phẩm giá và căn tính làm người cho ông.

Công việc chữa lành và trục xuất thần ô uế ra khỏi ngượi bị sự dữ ám nói lên tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa. Thần ô uế và mọi thứ quyền lực khác đã làm đảo lộn mọi sinh hoạt nhất là tương quan giữa con người và Thiên Chúa thế nào thì nay với uy quyền của Đức Giê-su, Đấng muốn chúng ta biết rằng phẩm giá và căn tính của con người không khi nào bị thống trị bởi quyền lực sự dữ cả. Vì thế, khi chúng ta thiết lập, nối lại tương quan với Thiên Chúa là lúc chúng ta để cho quyền lực của Thiên Chúa trở thành hiện thực và giải thoát mình khỏi quyền lực của sự ác.

Ngày nay, thần ô uế hay các thế lực khác chống lại Thánh ý của Thiên Chúa mặc mầu áo và xuất hiện dưới hình ảnh khác nhau. Nó có thể là tính tự mãn, chủ nghĩa tôn sùng tự do cá nhân, tự mình sắp xếp cuộc sống mình mà quên đi mối giao tiếp và sự hỗ trợ của đồng loại rồi không  cần sự trợ lực của Thiên Chúa nữa. Tất cả các điều đó dần dà kiểm soát cuộc sống khiến cho mọi sinh hoạt bị đảo lộn. Trong tình huống đó, Đức Giê-su yêu cầu lối suy nghĩ và quan niệm đi ngược lại với tính sáng tạo và liên kết mà Thiên Chúa đã thiết lập, thoát ra khỏi chúng ta.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta vẫn biết rằng không bao giờ chúng ta trở nên và giống Chúa hoàn toàn. Và không phải tất cả chúng ta đều có năng quyền xua trừ ma quỷ hay các ảnh hưởng của nó. Chỉ một số người được trao ban cho đặc ân, họ mới có năng quyền trên các tà thần. Tuy nhiên, nói chung, ai trong chúng ta cũng có thể nói lời yêu thương, hành động vì lòng mến. Và đó chính là những điều mới lạ, phi thường mà thế giới này đang cần.

Sau đây là một số chứng từ được ghi nhận để anh chị em cùng suy nghĩ.

Truyện kể như thế này. Cha Peter Robb là linh mục thuộc tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Úc, đã cống hiến gần hết cuộc đời linh mục của Ngài cho công cuộc truyền giáo cho nhóm người dân tộc thiểu số -Dumagat- bên Phi luật Tân. Một lần kia, trong lúc đi vào buôn làng. Ngài nghe thấy tiếng nói rất hung hăng và cử chỉ thật dữ tợn của một chàng thanh niên thuộc buôn làng đó. Hình như anh này đã uống quá chén cho nên không còn kềm chế được bản thân. Có một nhóm nhân viên công lực đi ngang qua. Nhìn thấy cảnh tuợng như thế, họ tính dùng quyền uy và sức mạnh để áp chế và đưa anh này về đồn.

Ngay lúc đó, có một ông thầy giáo già, đã về hưu, đi ngang qua. Thấy hiện tượng đó, ông xin nhân viên cảnh sát cho phép ông gặp để khuyên anh ta. Ông đến gần và choàng tay qua vai người đó rồi nhỏ nhẹ nói: “Jim, đừng làm những chuyện quá trớn. Hãy điềm tĩnh và về nhà đi con.” Qua cử chỉ và lời nói thật thân thương của ông, Jim có vẻ như đã biến thành một người khác. Trông anh không còn giống như người say rượu nữa, miệng lí nhí nói câu chào thầy. Sau đó, anh từ từ đi về huớng mấy ông cảnh sát nói lời xin lỗi rồi đi về nhà trước các cặp mắt đầy ngạc nhiên của các kẻ có quyền. Họ tự hỏi nhau rằng: “Ông thầy này là ai mà chỉ bằng một câu nói đã có thể biến một người đang hung hăng trở nên thuần thục như vậy!”

Đó là truyện xẩy ra bên Phi. Còn bên nhà chúng ta thì sao? Truyện sau đây đã được cố giáo sư Nguyễn Ngọc Lan ghi trong “Chủ nhật hồng giữa mùa tím.”  

Sau năm 1975, có một người bị bịnh phong cùi ra ngồi ăn xin tại chợ Bến Thành. Nhân viên công lực và các chú bảo vệ muốn làm đẹp thành phố, nên đã yêu cầu anh rời đi nơi khác. Anh ta không nghe theo, ngược lại có vẻ tức giận, xem ra có vẻ hơi hung hăng và sẵn sàng cắn người nào muốn đụng vào anh. Trước tình huống đó, không ai dám đến gần, vì sợ bị lây nhiễm. Thấy thế anh ta càng hăng hơn.

Thấy thế, có người đến báo tin cho văn phòng bịnh xá chuyên trị bịnh da liễu gần đó. Nhân viên trực ban lúc đó là dì Hai Loan. Thực ra dì là một nữ tu, nhưng người ta quen gọi là dì cho nên chẳng còn mấy ai nhớ đến thân phận của sơ nữa, chỉ biết đó là dì Hai Loan. Khi nhận đuợc tin báo, dì lập tức đến hiện truờng và nhận ra anh là một trong những bịnh nhân do các dì coi sóc. Nhìn thấy anh, dì tiến đến gần, với một giọng nhỏ nhẹ, cực kỳ dễ thương, dì nói: “Trời ơi! Tại sao con lại ở đây. Các dì và những người bạn của con đang lo lắng cho con. Đứng dậy, rồi đi về nhà với dì.” Không một chút phản kháng, anh lập tức đứng dậy và theo chân dì đi về như một chú chiên con.” Các chú công an, những người qua đường nhìn hiện tượng đó bằng một cặp mắt ngạc nhiên và kính phục. Họ tự hỏi nhau rằng: “Bà này là ai mà lại có uy quyền như thế!”

Anh chị em thân mến,

Uy quyền của ông giáo già bên Phi và của dì Hai Loan tại chợ Bến Thành không lệ thuộc vào vị trí của họ trong xã hội hay phẩm trật trong Giáo Hội. Họ không thuộc về lớp các đấng các bậc. Bàn tay họ cũng chưa được xức dầu năng quyền. Họ là những con người bình thường như mọi người chúng ta. Nhưng mối quan hệ, tình yêu thương của họ dành cho tác nhân đã tạo nên uy quyền khiến lời họ nói có sức mạnh ảnh hưởng trên người khác. Họ nhận ra rằng sức mạnh biến đổi khiến người khác phải nghe theo đều xuất phát từ Thiên Chúa là Đấng mà họ đã gặp gỡ, tin yêu và phó thác. Mối quan hệ thân thiết này tỏa sáng trên lời họ nói khiến cho lời trở thành sức mạnh lay chuyển người khác. Còn phản ứng của dân chúng khi chứng kiến các sự kiện nói trên thì giống như phản ứng của dân thành Ca-phác-na-um đã dành cho Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay: “Thế nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân theo!”

Ước vọng của dân chúng mọi thời đều giống nhau. Họ uớc mong được nghe những lời giảng dậy thực tế và ích lợi cho cuộc sống, nhưng tốt hơn vẫn cần có các chứng từ kèm theo để chứng thực những lời nói hay lời giảng đó được xuất phát từ Chúa. Tôi còn nhớ đã được diễm phúc tham dự cuộc tĩnh tâm do Viện phụ Vuơng đình Lâm hướng dẫn. Nội dung các bài giảng và cách thức truyền đạt cuả ngài rất bình dân, câu văn không chải chuốt, thật mộc mạc và đơn sơ. Nhưng mỗi lời ngài nói đánh động người nghe bằng những dấu ấn khó quên. Lời giảng của Ngài dường như có sức mạnh của lửa, nhằm sưởi ấm tâm hồn nguội lạnh như tôi.

Trở lại với ơn gọi môn đệ của người tín hữu, chúng ta xác tín rằng ai cũng đuợc mời gọi để cổ vũ, hỗ trợ và thi hành sứ mạng của Đức Giê-su mà chúng ta đã được trao ban. Vẫn biết là còn nhiều ơn gọi và đặc sủng khác để xây dựng cộng đoàn dân Chúa. Nhưng, trước tiên chúng ta phải chu toàn bổn phận của người tín hữu bằng lời nói cũng như việc làm. Chỉ có lời rao giảng đi kèm với hành động yêu thương mới chứng thực rằng chúng ta có uy quyền và uy quyền đó từ Thiên Chúa. Ai cũng đuợc Chúa yêu thương. Đây là một hồng ân thật cao cả, một chân lý luôn luôn mới và không bao giờ bị phai lạt. Qua lời nói kèm theo với các chứng từ, chúng ta đuợc mời gọi làm cho người khác nhận ra điều khác lạ và mới mẻ để tôn vinh Chúa. Chỉ có ai dám sống cho cái gì tồn tại mãi mới dẫn họ đến sự sống đời đời. Nói khác đi, thực hiện Lời Chúa, sống yêu thương và sẵn sàng để cho uy quyền của Thiên Chúa được bộc lộ xung quanh cuộc sống của mình đều là khí cụ xua trừ quyền lực của sự dữ và dẫn chúng ta đến cuộc sống vĩnh cửu. Cầu xin được như thế, Amen!

Tuesday, 19 January 2021

SÁM HỐI LÀ BƯỚC ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI MÔN ĐÊ.

 

Hôm nay, Đức Giê-su khai mạc sứ vụ công khai, bắt đầu rao giảng về Nước Thiên Chúa và mời gọi những kẻ đi theo Người rằng “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” Tin Mừng ở đây ám chỉ con người Đức Giê-su, Đấng đang hiện diện giữa họ. Sau lời rao giảng là việc Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên tham dự vào việc loan báo Tin Mừng. Điều này chứng tỏ sự quan tâm của Chúa dành cho việc đào tạo các Tông đồ, nhóm môn đệ đầu tiên, lớp người thừa kế di sản của Người.

Tuần trước, Đức Giê-su đã gọi hai môn đệ đầu tiên. Hôm nay, Người gọi thêm bốn người ở biển hồ Ga-li-lê-a, đó là các ông Si-mon, An-rê, Gia-cô- bê và Gio-an. Cho đến giây phút được gọi, chúng ta không hề biết giữa các ông và Đức Giê-su có mối quan hệ như thế nào? Đây có phải là lần đầu tiên Đức Giê-su gặp họ hay chăng? Chúng ta chỉ biết là hai ông đang quăng lưới còn hai ông kia đang vá lưới. Còn về lai lịch, nguồn gốc, bản tính, chỗ đứng trong xã hội và đền thờ, khả năng chuyên môn, trình độ học vấn của các ông thì chúng ta biết rất ít. Tuy nhiên, có một điều khiến chúng ta phải kinh ngạc đó là trong con người của Đức Giê-su tỏa ra một sức mạnh bí nhiệm thu hút các ông mà các ông không thể cưỡng lại được, cho dù các ông không hề biết Đức Giê-su sẽ dẫn các ông đi đâu.

Hơn thế nữa, dựa trên hoàn cảnh thực tế của xã hội mà các ông đang sống, chúng ta có thể nói nhóm môn đệ đầu tiên, đặc biệt là nhóm mười hai, các Tông đồ của Chúa, đều là những con người bình thường, sinh ra và lớn lên ở Ga-li-lê-a, một tỉnh thuộc phương Bắc của xứ Ít-ra-en. Trong khi đó thủ đô lại ở phía Nam, nơi đền thờ Giê-ru-sa-lem tọa lạc, nơi hàng ngũ các đấng các bậc sinh sống. Vì thế họ, dân phía Bắc bị coi thường và được xếp hạng như dân ngoài luồng. Thế mà họ lại được chọn. Đây không phải là một đặc ân dành riêng cho ai. Người muốn tất cả mọi người trở thành môn đệ. Bản chất của ơn gọi trở thành môn đệ của Chúa thì giống nhau, không phân biệt giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân. Tất cả đều được mời gọi tham dự vào công cuộc mở mang Nước Chúa.

Trên hành trình theo Chúa và nghe Người rao giảng có vô số người. Đa số là những người tội lỗi, bị áp bức, bị chà đạp, bị tẩy chay bởi những ai có quyền lực. Họ quá nghèo về tinh thần lẫn vật chất nên dễ dàng đón nhận lời mời và các thách đố của Đức Giê-su. Tuy nói như thế, nhưng khi gặp khó khăn không phải tất cả những ai theo Chúa đều kiên tâm ở lại với Chúa cả đâu! Hãy nhìn thái độ của họ trên đường khổ nạn của Đức Giê-su thì biết: chẳng còn vài người. Họ bỏ chạy hết chỉ còn lại vài người phụ nữ, nhưng các bà cũng chỉ đứng đàng xa để nhìn rồi khóc!

Còn những ai tự nhận mình là người công chính thì chúng ta không cần phải bàn! Họ quá giầu công đức. Công nghiệp đã choán hết chổ trong lòng làm cho họ kiêu hãnh, ung dung tự đắc. Từ đó mắt họ không còn mở ra được và tai họ cũng bị che lấp bởi những câu tán dương, ca tụng thành tích cho nên họ còn chỗ nào để nghe Lời Chúa đây. Mỗi khi đến với Chúa là một dịp để họ gài bẫy, bắt bẻ Chúa.  Họ thiếu thành tâm khi gặp Chúa. Họ âm mưu khi theo Chúa.

Sự khác biệt của hai nhóm này cũng dễ hiểu: như những nguời đau yếu cần đến thầy thuốc thế nào thì những người tội lỗi cần đến sự tha thứ của Chúa như thế. Còn người công chính, tự nhận mình là kẻ không có tội thì còn cần đến ai nữa.

Tuy nhiên, việc Thiên Chúa yêu thương người tội lỗi không có nghĩa là Ngài dung thứ tội lỗi. Cho dù Đức Giê-su yêu thương tội nhân nhưng Người rất ghét tội. Tình yêu và lòng nhân hậu của Người không miễn trừ việc nhìn nhận lỗi lầm của con người, cũng không cho phép con người lạm dụng lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã đến để giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Người thấu hiểu và thông cảm cho sự yếu đuối của con người và sẵn sàng tha thứ, nhưng con người phải thành thật nhìn nhận tội lỗi của mình và trở lại với Người.

Thưa anh chị em,

Nhìn nhận tội lỗi, bỏ đường gian ác mà trở lại cùng Chúa là sứ điệp mà Thiên Chúa đã dùng miệng ngôn sứ Giô-na nói cho dân thành Ni-ni- vê biết mà ăn năn. Thoạt đầu, Giô-na thoái thác, không dám nhận trách nhiệm còn tìm cách trốn tránh. Tuy nhiên, cuối cùng, trải qua bao gian nan, lịnh truyền của Thiên Chúa cũng được ông thi hành. Thiên Chúa đã chọn và dùng cách thức của Người để gửi Giô-na đến đúng nơi Chúa muốn. Lời tuyên cáo mà Chúa muốn dùng miệng Giô-na thật ngắn gọn, ông nói “còn bốn mươi ngày nữa, Ni-ni-vê sẽ bị phá đổ.” Câu này ẩn chứa lời mời dân chúng tại Ni-ni-vê hãy ăn năn. Kết quả là dân chúng đã trở lại, bỏ đường gian ác và Chúa bỏ ý định và không giáng phạt họ nữa.

Thấy hiệu quả của lời rao giảng quá dễ dàng và quá tốt khiến Giô-na bực mình. Ông ca thán và lý luận với Thiên Chúa rằng Người đâu cần sai ông đi, chỉ cần lòng từ bi và thương xót của Thiên Chúa quá đủ để cứu dân thành Ni-ni-vê rồi. Nghe tiếng than van của ông, Thiên Chúa đã dùng hình ảnh ‘sớm nở tối tàn’ của cây thầu dầu để nhắc nhở ông rằng cho dù ông đã thương hại cho thân phận ‘sớm nở chiều tàn’ của cây thầu dầu mà ông đã không vất vả vì nó, và không làm cho nó lớn lên. Còn Thiên Chúa, chẳng lẽ Người lại không thương xót và đối xử từ bi với dân chúng thành Ni-ni-vê khi chúng đã ăn năn hay sao! (Giô-na 4:10-11)

Như vậy chủ đề ơn gọi và lòng hối cải cũng được án chỉ trong bài đọc một. Chúa không chỉ mời gọi Giô-na tham gia sứ mạng mà còn ban cho ngôn sứ Giô-na một sứ điệp, đó là kêu gọi dân thành Ni-ni vê sám hối. Nhưng trong bài Phúc Âm hôm nay, bốn người được gọi mà không có bất kỳ một lời chỉ dẫn nào từ Chúa hết. Họ trước tiên cũng được mời sám hối và tin để bước vào một tương lai không nằm trong dự án của họ, hoàn toàn không chắc chắn và lẽ dĩ nhiên sẽ sinh nhiều lo ngại.

Bước đầu tiên mà cả hai bài đọc đều nhấn mạnh đó là tâm tình sám hối của người môn đệ cần có để đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa. Lòng sám hối này không xẩy ra một lần, nhưng phải lập đi lập lại từng giây từng phút trong sứ vụ. Càng gần Chúa, càng được trọng dụng bao nhiêu thì càng phải sám hối bấy nhiêu.

Và để đáp trả lời kêu gọi và trở nên môn đệ của Chúa, chúng ta phải sám hối, phải từ bỏ cuộc sống cũ, xếp lại các tham vọng, ích kỷ và những ước mơ cũ ở lại sau lưng; rồi tin vào Tin Mừng, chấp nhận theo Đức Giêsu và sống theo các huấn lệnh của Người. Các điều đó sẽ làm cho chúng ta xứng đáng trở nên môn đệ, thành viên của Nước Thiên Chúa.

Sám hối không chỉ là việc nhận ra mình có tội, xưng tội để hòa giải cho được sạch tội mà thôi; nhưng để tin vào Tin Mừng, nghĩa là tin vào lời giảng dậy, việc làm và lối sống của Đức Giêsu, Đấng sẵn sàng chia sẻ cuộc sống của Người với đời sống của ta, Đấng đã tiêu diệt quyền lực của sự ác trong ta, để nhường chỗ cho sự hiện hiện của Nuớc Thiên Chúa qua Đức Giêsu. Niềm xác tín này là một yếu tố quan trọng trong hành trình của môn đệ. Thiếu vắng nó thì cuộc sống của chúng ta cũng lâm vào cảnh “bị tắc nghẽn”, giống như trường hợp thiếu niềm tin của dân làng Nazareth trong lần Đức Giêsu về cố hương thăm họ.

Chúng ta không thể tách rời các yếu tố: sám hối, từ bỏ, tin, chấp nhận rồi theo Chúa thành các phần riêng biệt để thực hiện. Các yếu tố này xẩy ra cùng một lúc khi chúng ta đưa ra quyết định. Không ai khác có thể làm thay cho chúng ta. Không có việc từ bỏ trước rồi mới thành môn đệ sau. Không có việc hôm nay quyết định với một quyết tâm rõ ràng, rồi mai này khi gặp hoàn cảnh khó khăn sẽ làm tiêu hao nguồn năng lực, và việc dấn thân cho ơn gọi cũng bị suy giảm.

Thời gian chờ đợi, các thử thách trước mắt, sự yếu hèn có thể là nguyên nhân khiến cho lời cam kết mang đầy nhiệt huyết của những ngày đầu tiên bị bóp nghẽn và chết đi. Chỉ có nhờ quyền năng và sống trong sức mạnh của Chúa mới giúp chúng ta vực lại tính năng nổ, bầu nhiệt huyết để sống trung tín với các lời cam kết mà chu toàn sứ mạng của người môn đệ.

Sau cùng, anh chị em nhớ rằng: công việc của chúng ta không chỉ là việc ước nguyện cho Nước Cha mau đến, nhưng thật ra Nước Thiên Chúa đã hiện diện, đang tìm cách xâm nhập vào trái tim và biến đổi chúng ta thành những người môn đệ của Đức Giê-su. Vì vậy, hãy để cho các tiêu chuẩn của Nước Thiên Chúa hướng dẫn và chỉ đạo cuộc sống chúng ta. Hãy để cho tiếng gọi của Đức Chúa chuyển hướng, làm chủ và chiếm đoạt tâm hồn mình và từ đó chúng ta từ bỏ con người cũ, quên đi nếp sống tù túng của tội lỗi mà mặc lấy con người mới, con người hồng ân của Đức Ki-tô, Đấng kêu gọi và làm chủ cuộc sống của mình, những người môn đệ chân chính của Đức Chúa. Amen!

Tuesday, 12 January 2021

CHÚA GỌI.

 

Anh chị em thân mến,

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật tuần này xoay quanh chủ đề ơn gọi. Ơn gọi ở đây nhấn mạnh đến lời mời gọi của Thiên Chúa cho mọi tín hữu, những người được kêu gọi trở thành môn đệ của Chúa. Ai ai cũng được Thiên Chúa mời gọi tham dự vào công việc rao giảng của Chúa Kitô trong hoàn cảnh sống của mình. Có người được gọi sống bậc gia đình; có người được gọi sống độc thân để trở thành các bậc thầy hay trở thành giáo sĩ và tu sĩ. Nói chung ai cũng được mời gọi tham dự vào công việc mở mang Nước Chúa và ai cũng cần đáp trả.

Bài đọc thứ nhất kể lại việc Chúa gọi Sa-mu-en nhưng cậu không hiểu ai đang gọi mình. Mỗi lần nghe thấy tiếng gọi, Sa-mu-en lầm tưởng là Thầy Ê-li gọi, nên mỗi lần nghe thấy tiếng gọi vang lên, cậu đã chạy đến bên Thầy để trả lời. Cuối cùng Thầy Ê-li đã ghép mọi chi tiết lại với nhau và với tư cách là người cố vấn tinh thần, hướng dẫn linh đạo, thầy đã giúp Sa-mu-en nên biết trả lời như thế nào. Thầy đã góp ý cho Sa-mu-en câu trả lời thật tuyệt vời như sau: “Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe”. Và từ đó, Thiên Chúa ở cùng Sa-mu-en. Phần cậu, cậu đã không để rơi mất lời nào của Chúa mà không sinh hoa trái khi trở về với Người.

Và, trong bài Tin Mừng hôm nay, để mời gọi, Đức Giêsu hình như không nói trực tiếp. Người chỉ trả lời cho nỗi khát vọng tìm kiếm khi hỏi những ai đi theo Người rằng “các ông tìm gì?” Thật là một điều ngạc nhiên cho chúng ta khi nghe họ hỏi lại: “Thầy ở đâu?” Câu hỏi của họ có thể hiểu theo nghĩa bình thường là ám chỉ đến nơi cư ngụ của Đức Giêsu. Nhưng, theo nghĩa của Tin Mừng, thì câu hỏi này còn có thể quảng diễn như: Chúng tôi sẽ gặp Thầy ở đâu? Làm thế nào chúng tôi có thể gặp Thầy để được biến đổi? Làm thế nào chúng tôi có thể tiếp cận và chia sẻ cuộc sống với Thầy?

Đứng trước yêu cầu chính đáng của họ, Đức Giêsu không trả lời trực tiếp câu hỏi của họ; Người lại mời họ “Hãy đến mà xem”. Chúa không chỉ cho họ đi đến đâu và xem cái gì? Người chỉ nói “Hãy đến mà xem”. Câu nói này ám chỉ đến cuộc gặp gỡ sống động và riêng tư. Đức Giêsu không trao cho họ một mớ tín điều, yêu cầu họ phải sống theo một vài tiêu chuẩn luân lý của Giáo Hội. Người kêu gọi họ thiết lập và xây dựng mối dây hiệp thông với Người. Phần những kẻ theo Người, họ không được phép đóng vai như những người đứng bên lề, như những quan sát viên. Họ cần dấn thân, chia sẻ cuộc sống và buớc đi với Người, cùng Nguời đi trên các nẻo đường khác nhau mà đến với mọi người.

Như vậy, qua lời chứng và lời giới thiệu của Gio-an Tẩy Giả về Đức Giêsu mà các môn đệ của ông đã bước vào nhà của Người, đi sâu vào trong mối dây thân tình với Đức Chúa. Họ đã để cho chúng ta một bài học là những ai muốn biết Đức Giê-su ở đâu thì phải nhận ra lời mời gọi của Người, rồi đáp trả bằng cách đến với Người. Chúng ta hãy đến rồi sẽ thấy!

Tiến trình của việc tìm kiếm, đón nhận và đáp trả này không thể xẩy ra trong một giây một phút; nhưng đó chính là hành trang của cả đời kiếm tìm. Đến rồi gặp, gặp rồi lại nhớ. Vòng tròn gặp rồi lại nhớ, nhớ rồi phải gặp cứ thế thôi thúc khiến chúng ta đã nhớ lại càng nhớ thêm và cứ như thế tình của Chúa càng gặp càng cắm rễ sâu đậm hơn trong cuộc sống của chúng ta, những người môn đệ của Chúa.

Thưa anh chị em,

Dựa trên kinh nghiệm sống và các chia sẻ của anh chị em, chúng ta nhận biết rằng mối dây hiệp thông của chúng ta với Đức Giê-su không chỉ dựa trên các tiêu chuẩn như tin tưởng, thành thật, cởi mở và đón nhận mà thôi, nhưng nhất là cần lắng nghe bằng trái tim vì cuối cùng Lời mà Đức Giê-su giao tiếp với chúng ta là chính bản thân Người. Khi chúng ta lắng nghe Người, gặp Người rồi thì cuộc sống của chúng ta sẽ thay đổi. Bởi vì Chúa không truyền đạt sự kiện, tin tức hay dữ kiện mà Người truyền ban cho chúng ta chính bản thân Người, tình yêu của Chúa, sự sống và lòng thương xót của Chúa. Và khi chúng ta cho phép mình lắng nghe Lời mời gọi của Chúa, để cho tình yêu và lòng thương xót của Chúa chạm vào chúng ta, tức khắc chúng ta sẽ biến đổi.

Thật vậy, Thiên Chúa có trăm phương nghìn cách để nói với con người. Mỗi người là một cá thể riêng biệt. Và có bao nhiêu cá thể thì có bấy nhiêu cách qua đó Thiên chúa không ngừng dùng để tiếp cận với ta. Và có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu vì sao Thiên Chúa dùng để soi dẫn mở đường cho ta nhận biết và vâng nghe tiếng Ngài.

Cách thức của Thiên Chúa thật diệu kỳ và khó hiểu. Có nhiều trường hợp con người phải kinh qua những đau khổ, những mất mát và đổ vỡ rồi mới nhận ra tiếng Chúa. Như trường hợp của hai anh em mà chúng ta thường được nghe trong Tin Mừng của thánh Luca. Người con thứ trải qua trăm cay nghìn đắng mới nhận ra ý Chúa. Còn ông con cả thì thế nào? Anh chưa bao giờ làm trái lịnh cha. Anh sống trong khuôn mẫu, kích thước của chính anh. Cuộc sống của anh quá êm đềm; êm đềm đến độ anh cũng chẳng cần biết người khác nghĩ gì về anh, và anh cũng chẳng thèm nghĩ đến nhu cầu của người khác. Phải chăng anh chỉ là ‘một xác chết biết đi’. Nhưng mọi sự đều đổi khác khi em anh trở về. Quả thật, anh không có trách nhiệm gì về sự sai lầm của chú em. Nhưng với sự đỗ vỡ của chú ta, qua đó Thiên Chúa dùng để đánh thức anh! Nếu muốn sống thật mối tương quan cha con, anh cần chọn lựa một lối đi mới. Một lối đi khác hẳn lối đi cũ. Lối đi không bị bao vây bởi giáo điều và kinh kệ. Nhưng được phát xuất từ mối dây liên kết giữa anh và Cha.

Phần chúng ta cũng thế. Chuyện mà chúng ta cần bàn ở đây không phải là chọn lựa bậc sống này và coi thường lối sống kia. Nhưng đâu là động cơ thúc đẩy cho việc chọn lựa lối sống của mình? Điều này rất quan trọng; thiếu nó mọi công việc của chúng ta làm chẳng còn giá trị gì; thiếu nó cuộc sống của chúng ta cũng chỉ là thanh la phèng phèng và chũm chọe xoang xoảng. Đó là điều mà thánh Phao-Lô đã nhận lãnh và Ngài cũng muốn truyền lại cho chúng ta bí quyết căn bản và quan trọng đó: “Giả như tôi có nói được thứ tiếng của lòai người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi… Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.” (1 Cor.13:1-13)

Như vậy, để khám phá ra ý định của Thiên Chúa, chúng ta cần sống mật thiết với Người. Chính trong sự kết hợp của tình yêu này chúng ta sẽ được giải thóat để sống với điều đôi khi không giống với sự kỳ vọng của đám đông. Nhưng, chắc hẳn một điều là quyết định hay chọn lựa phát sinh từ lòng yêu mến của chúng ta với Chúa và dĩ nhiên điều đó rất phù hợp với ý Chúa, Đấng không ngừng yêu mến, họat động và cùng ta dấn bước.

Và nếu chúng ta cưỡng lại ý Chúa thì những lời Chúa đã phán cho Phê-rô khi xưa cũng là những điều Người sẽ nói với chúng ta: “Xa tan, lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của lòai người.” (Mc 8:33b) Vì thế, mọi chọn lựa sống theo ý Chúa đều đòi buộc lòng can đảm, vị tha và trên hết mọi sự là lòng yêu mến của chúng ta với lối sống đó.

Tóm lại, Thiên Chúa thăm viếng và nói với ai lắng nghe Người. Thiên Chúa còn dùng những con người đang sống cùng thời với ta giúp ta nhận ra tiếng của Người. Cụ thể, trong các bài đọc hôm nay, chúng ta đã nhìn ra hai gương mẫu giúp người khác nhận ra ý Chúa. Thầy của Samuel đã giúp cho cậu nhận ra và đáp trả lời mời của Chúa. Các môn đệ của Gio-an cũng thế, nhờ lời giới thiệu của Thầy mà họ nhận ra Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a rồi đi theo Người. Họ là những người thầy về mặt tâm linh, hướng dẫn và giúp chúng ta nhận ra ý của Chúa mà đáp trả. Chúng ta biết ơn họ.

Hơn thế nữa, qua mầu nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa vì yêu thương đã ẩn mình trong những từ ngữ và tiếng nói của con người. Vì thế, trong cuộc sống, chúng ta cần mở ra để đón nhận nhau vì ai cũng được Thiên Chúa dùng để sinh ích lợi cho người khác. Thật vậy, không ai có thể nghe được Thiên Chúa nếu người ấy tự khép mình lại, sống cô độc, xa lánh người khác. Và, cho dù chúng ta biết rằng Chúa không hề ép buộc ai. Tuy nhiên, những ai đã nghe lời Chúa thì không thể cưỡng lại ý Chúa được.

Sống với Đức Giêsu, chia sẻ mối thâm tình của Người sẽ đem đến cho ta niềm vui, để rồi lại đến lượt chúng ta là những chứng nhân mời gọi người ta đến chia vui với mình. Vẫn biết bổn phận của người môn đệ là như thế, nhưng liệu chúng ta có dám nói với những người trong cộng đoàn, xóm giáo, gia đình của chúng ta là hãy đến mà xem cuộc sống của chúng ta rồi qua đó họ sẽ thấy Chúa không?

Thật sự, đây là một thách đố cho chúng ta là các môn đệ của Chúa, không phân biệt giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân. Tất cả đều được mời gọi để sống thân tình với Chúa và với kinh nghiệm sống thân mật với Chúa, chúng ta sẽ can đảm tuyên xưng rằng: Hãy đến mà xem chúng tôi, những người môn đệ của Chúa Cứu Thế, yêu mến nhau đến dường nào. Amen!

Tuesday, 5 January 2021

KHỞI ĐẦU HÀNH TRÌNH THEO CHÚA


Anh chị em thân mến,

Trong thời gian qua chúng ta đã mừng kính mầu nhiệm “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” qua thân phận của một hài nhi trong Lễ Giáng Sinh và Lễ Hiển Linh. Ngày hôm nay, qua việc dìm mình trong nước tại dòng sông Gióc-đan, Đức Giê-su hoàn toàn đi vào thế giới của chúng ta. Người hòa nhập vào lớp tội nhân và nên một giữa chúng ta. Giữa Người và chúng ta không còn một rào cản nào. Đức Giê-su không chôn mình trong hoang địa, không xa lánh thế trần, nhưng là người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.

Qua hành động dìm mình vào trong nước hôm nay, Đức Giê-su đã chứng tỏ cho chúng ta thấy tình thương và sự hiệp thông mà Người đem đến. Đức Giê-su đã nên một với con người, và mời gọi chúng ta trở thành một với Người, trong cùng một phép rửa mà Người sẽ trải qua và ban cho chúng ta sau này.

Biến cố Đức Giê-su đón nhận phép rửa bởi Gio-an tẩy giả hôm nay không phải là bí tích rửa tội mà Đức Giê-su có ý định thành lập bởi máu của Người, đem đến cho chúng ta ơn tha tội. Phép rửa của Gio-an giục lòng sám hối. Chính vì điểm này, sẽ có một vài ý nghĩ cho rằng tại sao Đức Giê-su lại đón nhận phép rửa. Việc này chỉ dành cho những người tội lỗi thôi. Cho dù Đức Giê-su đã trở thành người phàm giống chúng ta mọi sự, hẳn nhiên ngoại trừ tội lỗi. Không có tội thì tại sao Đức Giê-su lại để cho Gio-an tẩy giả rửa.

Dù vô tội, Đức Giê-su cũng nhập đoàn với những kẻ đang nghe lời giảng dậy và chịu phép rửa của Gio-an tại bờ sông Gióc-đan. Phép rửa mà Gio-an đã cử hành như là dấu chỉ bộc lộ lòng sám hối, ăn năn và hoán cải để được ơn tha tội. Đức Giê-su đón nhận phép rửa không phài vì Người cần được rửa để được sạch tội, nhưng vì phép rửa này sẽ nối kết người với nhân loại, với cộng đồng tín hữu. Đó là dấu chỉ nói lên tình liên đới, một hành động nhân bản của Con Thiên Chúa, Đấng đã từ bỏ hầu như mọi sự để hòa nhập với con người thời đó.

Phép rửa của Gio-an cũng không nhằm để tha tội nguyên tổ như phép rửa mà chúng ta đã lĩnh nhận bởi sự chết của Đức Giê-su, nhưng qua phép rửa này, Đức Giê-su muốn đắm chìm trong vũng lầy do bản tính nhân loại mà chúng ta gây ra, luôn đi ngược lại ý muốn của Thiên Chúa. Tuy thế, Người không bị chìm đắm để bị đắm chìm trong vũng lầy đó, nhưng Người cất nhấc những con người tội lỗi lên khỏi đống bùn lầy đó và mặc cho họ bộ áo thần thiêng của Con Thiên Chúa.

Thưa anh chị em,

Sau khi đón nhận phép rửa bởi Gio-an, và lúc Đức Giê-su vừa bước từ dưới nước lên thì tầng trời mở ra, Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống và ngự xuống trên Người và có tiếng xác nhận của Chúa Cha phán rằng: Thiên Chúa rất hài lòng về việc làm của Người, Con yêu dấu của Cha.

Các yếu tố nước, Thần Khí và tiếng nói của Cha hiện diện trong phép rửa mà Đức Giê-su lĩnh nhận bởi Gio-an hôm nay gợi lại cho chúng ta trình thuật sáng tạo. Lúc đó cũng có nước, Thần khí Thiên Chúa bay lượn trên nước và có tiếng phán của Thiên Chúa hãy có vũ trụ thì liền có như Lời Chúa phán. Phải chăng, qua phép rửa hôm nay, Đức Giê-su muốn nhắc nhở chúng ta về chương trính sáng tạo của Thiên Chúa được khai mạc bởi Đức Giê-su, người Con mà Thiên Chúa rất yêu mến.

Thật vậy, trật tự mà Thiên Chúa đã tạo dựng đã bị đảo lộn và phá hủy bởi sự bất tuân của con người. Hôm nay, một nền trật tự và công trình sáng tạo mới được khai mạc nơi sự vâng phục của Đức Giê-su. Người khai mạc sứ vụ cứu độ bằng phép rửa tại sông Gióc-đan, bắt đầu một thời đại mới, thời đại của ân sủng. Trong đó, con người được tặng ban những ơn cần thiết. Như một phàm nhân, Đức Giê-su đã phục hồi phẩm giá của con người. Mọi người đều được tôn trọng và đối xử thật công bằng. Ai ai cũng cảm nhận được tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa. Một nền hòa bình vĩnh cửu được hiển trị nói lên triều đại công chính của Thiên Chúa đã hiện diện nơi sứ vụ mà Đức Giê-su khai mạc qua phép rửa của Gio-an hôm nay.

Tâm tình của Đức Giêsu khi cịu phép rửa hôm nay là tâm tình phó thác, bất chấp mọi đối kháng. Cho dù bị chối bỏ hay phải đối diện với thù địch từ bất cứ nơi đâu, Người vẫn kiên trì đến cùng đích. Quả thật là thế. Cả vào lúc, chừng như Người bị huỷ hoại và tận cùng bằng cái chết khổ nhục, Người vẫn nối kết, hài hoà cả triệu triệu người, thuộc mọi thế kỷ chung quanh Người. Công cuộc cứu độ của Người đã giải thoát hết mọi người chúng ta, không phân biệt giới tính, địa vị, sang giầu nghèo hèn, đưa ta về chốn tự do, trả lại cho ta vinh dự và bổn phận của những người làm con cái của Thiên Chúa. Đó chính là ý nghĩa đích thực của sự kiện “Chúa chịu thanh tẩy” bởi Thánh Thần. Đó, là “bài sai” Cha uỷ thác dành riêng cho Chúa.

Cử hành lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa hôm nay còn là cơ hội để ta suy tư về chính ơn thanh tẩy mà ta lĩnh nhận. Đây không là nghi thức công nhận ta trở thành người theo Chúa. Nhưng, là khởi đầu của một hành trình trải dài trong cuộc sống.  Trong bí tích rửa tội chúng ta được mời gọi bước vào một hành trình không có đoạn kết. Phép rửa mời gọi ta dấn bước theo chân Chúa. Vì thế, chúng ta quyết tâm canh tân, làm mới điều chúng ta tin và mạnh dạn làm chứng hành trình theo Chúa của chúng ta. Có nghĩa là trên hành trình đó, chúng ta chỉ mong ước thưc hiện ý Chúa mà thôi.

Tóm lại, theo Chúa, hợp tác với Chúa trong việc đem tin vui đến cho người khác là sứ vụ mà chúng ta cần được hâm nóng trong Thánh lễ chịu phép rửa hôm nay, đánh dấu ngày khai mạc sứ vụ của Đức Giê-su, Đấng đã đến dìm mình dưới nước của dòng sông Gióc-đan để kéo chúng ta lên và bước đi với sứ vụ của Người luôn mãi. Amen!

Tuesday, 22 December 2020

GIA ĐÌNH LÀ NƠI CHÚA SINH?

 


Anh chị em thân mến,

Ngôi Hai Thiên Chúa mà Thánh sử Gio-an còn gọi là Ngôi Lời đã đến ở cùng, ở giữa và ở trong chúng ta. Đó là trung tâm của Mầu Nhiệm Con Thiên Chúa làm người. Thật vậy, biến cố Con Thiên Chúa ra đời nói cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã buớc vào thế giới của nhân loại. Trong thân phận của hài nhi Giê-su, Thiên Chúa đã hiện diện và ôm toàn thể nhân loại vào trong vòng tay yêu thương của Ngài. Ngài không đến để đưa chúng ta ra khỏi thân phận mình, nhưng Ngài đã buớc vào thế giới của mỗi người rồi tìm cách cất nhắc chúng ta lên, để mỗi người đều tìm được cách thức tiếp cận và có thể chạm vào tính siêu việt của Thiên Chúa. Nói cách khác, Thiên Chúa không còn là vị Thiên Chúa ở trên cao. Ngài đã phá bỏ mọi hàng rào ngăn cắt để đến với chúng ta, và từ đó chúng ta có thể nối kết và đến với nhau. Đó chính là ý nghĩa tuyệt vời của Giáng Sinh.

Hãy nhìn vào hoàn cảnh của thế giới hiện nay chúng ta thấy những gì? Chúng ta vẫn đang phải gánh chịu những hiểm họa do Covid-19 gây ra. Tuy rằng mức độ lây nhiễm do Covid-19 gây ra tại một số tiểu bang trên đất Úc đã được khống chế và nằm trong tầm kiểm soát của những người có trách nhiệm. Nhưng nhìn qua thảm cảnh do tình trạng đại dịch bên các nước khác ở Âu Châu, Á châu và Mỹ Châu cũng khiến chúng ta nên nhớ rằng Covid-19 vẫn còn đang nằm đâu đó chờ ngày bộc phát. Chúng ta vẫn phải cẩn thận, nhất là cần tuân theo những quy định giãn cách của chính quyền.

Bên cạnh nạn đại dịch mà chúng ta đang phải gánh chịu, còn có các thiên tai như bão tố, lụt lội, cháy rừng, v.v… Ngoài ra chúng ta còn chứng kiến hay nghe về những cảnh đời thật thương tâm. Còn quá nhiều cảnh đời bất hạnh. Không thiếu những trẻ em sống trong hoàn cảnh éo le trước sự đổ vỡ của cha mẹ mà hậu quả là sự cô đơn và thiếu vắng tình thương mà các cháu phải gánh chịu. Những nạn nhân bị lạm dụng về tinh thần và thể xác bởi việc lạm dụng quyền uy của một số vị lãnh đạo. Còn có những cụ già trong các viện dưỡng lão mòn mỏi ngồi bên khung cửa để trông chờ và đón đợi con cháu đến thăm. Biết bao nhiêu gia đình đã ngậm ngùi tiễn chân người thân qua khung cửa kính tại các bịnh viện trong mùa đại dịch này.

Trong hoàn cảnh của thế giới như thế, người tín hữu có bổn phận gì? Phải chăng chỉ là việc tham dự Đại Lễ Giáng Sinh cho xong bổn phận! Không chỉ như vậy mà thôi. Thiên Chúa vẫn tha thiết muốn được sinh ra trong bất kỳ hoàn cảnh nào! Muốn được như thế, mỗi người chúng ta cần ý thức rằng chúng ta là những quà tặng thật quí giá mà Thiên Chúa đã ban cho thế giới này. Và ngay khi chúng ta sống hoà hợp với người khác là lúc mà chúng ta cũng nhận ra rằng mọi người đều là quà tặng thật độc đáo mà Thiên Chúa đã dựng nên. Thiên Chúa làm người và cư ngụ giữa chúng ta mà.

Như vậy, trong khi cử hành mầu nhiệm Giáng Sinh năm nay, chúng ta có cơ hội để nhắc cho nhau rằng Thiên Chúa đã làm người và ở giữa chúng ta. Trong niềm xác tín rằng Thiên Chúa đang hiện diện, chúng ta đuợc mời gọi để trở về mà ý thức rằng chúng ta là những con người rất đáng yêu và đã đuợc đổi mới. Sự đổi mới này không chỉ xẩy ra cho chúng ta mà thôi đâu, nó đã tác động trên toàn thế giới qua biến cố Con Thiên Chúa giáng trần này.

Và để sống trọn vẹn mầu nhiệm này, chúng ta đuợc mời gọi từ bỏ ‘cái tôi hống hách’, quên đi ‘lối sống kiểm soát và thống trị’ người khác rồi mặc lấy sự tự do của con cái Thiên Chúa mà yêu thương bản thân mình và tha nhân. Đó chính là sứ điệp của Mùa Giáng Sinh này vậy.

Anh chị em thân mến,

Lối sống từ bỏ, hy sinh để yêu thương mà chúng ta học được trong Mùa Giáng Sinh này rất phù hợp với tinh thần và ý nghĩa của việc mừng Lễ Thánh Gia được sắp đặt theo sát Lễ Giáng Sinh vào Chúa nhật ngày 27 tháng 12 này. Đây là một điểm đặc biệt mà chúng ta thấy trong lịch phụng vụ, chu kỳ của năm B-2021 này. Khi làm như thế, Hội thánh muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của gia đình trong hoàn cảnh hiện tại.

Vì thế trước khi tìm hiểu bài học mà Đức Giê-su dậy bảo thì chúng ta hãy nhớ cầu nguyện cho mọi gia đình trên thế giới biết noi gương gia đình Thánh Gia trong việc tìm hiểu và thực hành ý muốn của Chúa. Chúng ta tiếp tục cầu nguyện cho tất cả các gia đình vào lúc này, đặc biệt là những người đang thương tiếc những người thân yêu đã vĩnh viễn từ giã họ mà ra đi bởi Covid-19, và những người đang phải giãn cách xa nhau, cả về thể xác lẫn tinh thần. Chúng ta cũng cầu nguyện cho những gia đình, tuy đã chuẩn bị cho việc đoàn tụ gia đình vào dịp nghỉ Lễ Giáng Sinh này, nhưng nay các dự án của họ đã bị hủy bỏ bởi đợt bùng phát gần đây nhất của Covid-19, ở Sydney và ở các nước khác trên thế giới.

Còn đối với Đức Giê-su thì gia đình của Người không chỉ dừng lại bởi các mối quan hệ dựa trên huyết thống. Người không ca tụng mẹ Người vì lý do huyết nhục. Theo tinh thần của Đức Giê-su thì những ai nghe và thực hành Lời Chúa mới là những người thân của gia đình Người.

Trong gia đình của Người không ai bị loại bỏ. Trong trình thuật Tin Mừng hôm nay mô tả cho chúng ta thấy cuộc gặp gỡ giữa ông già Si-mê-on và em bé Giêsu. Ông đã ẵm em bé Giêsu trên tay và chúc tụng Thiên Chúa. Đây là món quà tặng mà Thiên Chúa đã ban cho ông trong lúc tuổi già.

Trước khi là nguồn ơn cứu độ cho nhân loại thì hài nhi Giêsu đã là quà tặng cho gia đình và những người láng giềng trước. Còn con cái của chúng ta hôm nay thì sao? Chúng có được đón nhận như món quà quí giá từ Thiên Chúa cho gia đình mình hay không?

Tâm tình đầu tiên của cha mẹ dành cho con cái là đón nhận các cháu trong yêu thương. Đề nghị này nghe qua có vẻ hơi thừa, vì có cha mẹ nào lại không yêu thương con mình! Nhưng tâm tình mà chúng ta muốn bàn đến ở đây, không phải chỉ là tâm tình dành cho các cháu trong một chốc một lát, nhưng là một hành trình đón nhận yêu thương của cả đời cha mẹ. Trên thực tế, có nhiều cha mẹ yêu thương con mình rất vụng về. Yêu con mà không dám dành thời gian cho con mình lại có thể nói là yêu sao? Hơn nữa, tình yêu của cha mẹ dành cho con cái cần đồng đều. Đừng làm cho chúng hiểu lầm là chúng không được yêu thương như mấy người con khác trong gia đình. Điều này chỉ tạo sự ghen tương và thù ghét trong tâm hồn con trẻ.

Với đức tin, chúng ta đều biết mỗi người khi sinh ra đều được Chúa trao ban một sứ mạng đặc biệt. Chúng ta chỉ có thể cộng tác với Thiên Chúa trong việc này chứ không thể tự mình định đọat một cách tuyệt đối được. Vẫn biết rằng, vợ chồng cần phải tính tóan trong việc sinh con; theo giáo huấn của Giáo hội. Nhưng thực tế lại khác, nhiều em bé được sinh ra ngòai kế họach của cha mẹ. Vẫn biết đó là ‘accident’; nhưng không vì vậy mà cha mẹ được quyền từ khước sự hiện diện của chúng. Tôi vẫn xác tín rằng nếu con cái không được quyền chọn cha mẹ thì cha mẹ cũng không được phép từ khước chúng. Xua đuổi chúng là hành vi tội lỗi. Và còn hành vi nào tàn nhẫn hơn khi người con vô tội bị hất hủi ngay từ trong lòng mẹ, chưa được mở mắt chào đời, chưa được huởng khí yêu thương đã phải tống khứ ra khỏi lòng mẹ. Chẳng có lý do nào chính đáng để bào chữa cho việc làm này của cha mẹ. Nhưng cha mẹ có đủ lý do để tín thác vào Chúa khi sinh ra chúng. Trong gia đình của Đức Giê-su không ai bị loại bỏ.

Trong gia đình của Đức Giêsu tất cả đều bình đẳng. Ai cũng có một vị trí và bổn phận trước mặt Chúa. Giai cấp chủ - tớ bị xóa bỏ. Không ai có quyền thống trị ai. Mọi thành viên trong gia đình của Chúa đều có nhiệm vụ duy nhất là phục vụ nhau; giúp nhau khám phá và thực hiện Ý Chúa. Đức Giêsu còn yêu cầu tất cả hãy sống như con trẻ; nghĩa là như con trẻ nương tựa vào cha mẹ thế nào thì mọi thành phần trong gia đình của Người hãy nương tựa vào Chúa như là nguồn sống duy nhất như thế.

Nói như thế thì gia đình là cái nôi, là môi trường vô cùng quan trọng để chuẩn bị cho con cái vào đời. Trong tinh thần đó, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong tâm thư gửi cho các gia đình, Ngài đã ghi lại: "Thiên Chúa đồng hoá với con người, với những người trong gia đình. Thiên Chúa là một với người cha, người mẹ, người bạn trăm năm, người con cái trong gia đình." Như vậy, thật là chí lý khi chúng ta xác quyết rằng gia đình là ngôi trường đầu tiên dạy chúng ta những bài học căn bản của kiếp người; dậy chúng ta biết yêu thương, phục vụ, biết từ bỏ và quên mình.

Trong gia đình, cha mẹ trước tiên được mời gọi trở nên những người nêu gương sáng cho con cái. Con cái không được ban tặng để tùng phục hay thi hành ý muốn của cha mẹ, cho bằng tất cả được sai đến để thi hành ý muốn của Thiên Chúa. Đời sống gương mẫu của cha mẹ có sức thu hút thật mãnh liệt, lôi cuốn con cái đến cùng Chúa. Vì như chúng ta được nghe nói: “lời nói lung lay và gương bầy lôi cuốn.”

Hãy xem gương Augustinô. Khi còn trai trẻ, thánh nhân là một chàng trai chơi bời trác táng. Nhưng nhờ lời cầu nguyện và gương sáng của bà mẹ là thánh nữ Monica, cuối cùng Augustinô đã trở lại cùng Chúa.

Chúng ta có thể cho rằng gia đình Thánh gia Nagiarét được diễm phúc hơn mọi gia đình khác, vì có chính Chúa Giêsu hiện diện giữa các ngài. Nhưng nếu xét cho cùng thì các Ngài cũng không có đặc quyền, đặc lợi hơn chúng ta. Các Ngài cũng cần tìm kiếm thánh ý của Thiên Chúa; và các Ngài cũng cần phải có đức tin sâu xa và vững mạnh lắm mới có thể chu toàn trọn vẹn vai trò của mình.

Như vậy, muốn gia đình mình được gọi là gia đình Thánh thì mọi thành phần trong gia đình cần học để vâng phục ý định của Thiên Chúa qua việc chuyên cần suy niệm và sống Lời Ngài. Và lúc đó, chúng ta đã để cho Lời Chúa soi sáng và hướng dẫn như lời ước nguyện của Thánh Phao-lô “Nguyện cho Lời Chúa cư ngụ dồi dào trong anh em.” Từ đó, mọi thành phần trong gia đình của anh chị em như: cha và mẹ, người cha hay người mẹ đơn thân, con cái và cháu chắt sẽ xứng đáng là những ngôi đền mà Chúa sinh ra và cùng giúp nhau tìm kiếm và sống theo Thánh Ý Chúa. Amen!

 

Tuesday, 15 December 2020

TRONG XÁO TRỘN VÀ NGỔN NGANG VẪN CÓ NIỀM VUI

 

Chúng ta bước sang tuần thứ Tư Mùa Vọng. Chỉ còn vài ngày nữa là đến Lễ Giáng Sinh. Bầu khí mừng Lễ Giáng Sinh năm nay xem ra không được tưng bừng và nhộn nhịp như các năm trước. Chúng ta vẫn đang phải gánh chịu những hiểm họa do Covid-19 gây ra. Tuy rằng mức độ lây nhiễm do Covid 19 gây ra tại Úc đã được khống chế và nằm trong tầm kiểm soát của những người có trách nhiệm. Từ đó, tình hình cũng được nới lỏng hơn. Nhà thờ và các nơi thờ phượng được mở cửa lại, số người tham dự tăng hơn. Nhưng nhìn qua thảm cảnh do tình trạng đại dịch bên các nước khác ở Âu Châu, Á châu và Mỹ Châu cũng khiến chúng ta nên nhớ rằng Covid-19 vẫn còn đang nằm đâu đó chờ ngày bộc phát. Chúng ta vẫn phải cẩn thận trong việc tiếp xúc, nhất là cần tuân theo những quy định giãn cách của chính quyền.

Bên cạnh nạn đại dịch mà chúng ta đang phải gánh chịu, còn có các thiên tai như bão tố, lụt lội, cháy rừng, v.v… ngoài ra chúng ta còn chứng kiến những cảnh thật thương tâm. Vẫn còn nhiều cảnh đời bất hạnh. Không thiếu những trẻ em sống trong hoàn cảnh éo le trước sự đổ vỡ của cha mẹ mà hậu quả là sự cô đơn, thiếu vắng tình thương mà các cháu phải gánh chịu. Những nạn nhân bị lạm dụng về tinh thần và thể xác bởi việc lạm dụng quyền uy của một số vị lãnh đạo. Còn có những cụ già trong các viện dưỡng lão mòn mỏi ngồi bên khung cửa để trông chờ và đón đợi con cháu đến thăm. Biết bao nhiêu gia đình đã ngậm ngùi tiễn chân người thân qua khung cửa kính tại các bịnh viện trong mùa đại dịch này. Làm sao chúng ta có thể vui khi lâm vào những tình huống như thế này!

Nói gì thì nói, trong niềm tin Kitô giáo, chúng ta tin rằng Chúa vẫn đến trong hoàn cảnh riêng của từng người.  Khi bước vào trần gian, Người đã không ngần ngại bước đến với con người trong hoàn cảnh mỏng dòn, bội ước và đầy tham vọng của họ. Đây là sáng kiến của Thiên Chúa. Chính Người đã đi bước trước để làm gương cho con cháu Người. Người chấp nhận con đường nhập thể để hòa mình và chia sẻ mọi hoạn nạn khổ đau của con người.

Như mọi người, Con Thiên Chúa bắt đầu con đường đến với con người bằng cách mặc lấy thân phận của một thai nhi. Việc nhập thể này không tùy thuộc vào sự cộng tác của người nam, như lời Mẹ đã thưa với sứ thần trong bài Tin mừng hôm nay rằng Mẹ không biết đến việc vợ chồng. Trước thắc mắc hợp lý này, sứ thần đã tiết lộ cho Mẹ biết có việc gì mà Thiên Chúa không làm được. Nếu chúng ta tin rằng vũ trụ và mọi việc xẩy ra trong đó là do bàn tay của Thiên Chúa thì việc làm cho một trinh nữ thụ thai có là gì đâu với quyền năng của Người. Vấn đề chủ yếu của chúng ta là tin chứ không phải lý luận. Dù chúng ta khôn ngoan đến đâu, giải thích tường tận đến mức độ nào thì biến cố thụ thai của Mẹ hôm nay vẫn là một mầu nhiệm hay một phép lạ mà chỉ có thể đáp trả và đón nhận bằng lòng tin.

Tất cả nói lên sự trung tín của Thiên Chúa, Đấng yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin thì được cứu độ. Việc nhập thể là việc của Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa là nhân vật chính. Thiện Chúa nhập thể chứ không phải chúng ta. Tuy là phép lạ, nhưng con đường đến làm người cũng cần có một bà Mẹ. Hình ảnh của  người Mẹ này đã được tiên báo ngay sau khi con người sa ngã và sự xuất hiện của Mẹ đã được ám chỉ và nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong Cựu Ước. Và hôm nay, qua việc truyền tin của sứ thần và lời xin vâng, Mẹ đã chính thức xuất hiện trong lịch sử cứu độ và trong các chặng đường cứu độ mà Con Mẹ, Đức Giê-su sẽ đi vào.

Ngay trong giây phút này và xuyên suốt hành trình sống, tình yêu và ân huệ của Thiên Chúa bao bọc Mẹ. Tuy được chở che như thế, nhưng Mẹ vẫn phải trải qua trăm cay nghìn đắng như lời tiên báo của cụ Si-mê-ôn về Mẹ như sau: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” Lời tiên báo này đã trở thành sự thật khi Mẹ ngậm ngùi đứng dưới chân Thánh Giá chứng kiến Con Mẹ chết. Lúc đó tâm hồn Mẹ cũng chết lặng. Nhưng không dừng lại. Cả một hành trình đầy phiêu lưu, vượt qua mọi thử thách, nhưng Mẹ vẫn một niềm cậy trông để sống lời xin vâng đó. Mẹ là Đấng đầy ân phúc vì có Chúa ở cùng. Mẹ là nguồn suối yêu thương không bao giờ cạn.

Con của Mẹ, hài nhi Giê-su và toàn thể nhân loại sau này đã được cưu mang và lớn lên trong tình yêu đó để chúng ta có thể nói rằng: với sự cộng tác trọn vẹn và phó thác của Mẹ đã khiến một biến cố phi thường xẩy ra một cách thật bình thường. Mẹ là người đã sẵn sàng vuợt qua mọi rào cản, mọi xáo trộn, mọi nghịch cảnh để Con Thiên Chúa bước vào cuộc đời Mẹ và bước vào thế giới qua cung lòng của Mẹ. Như mọi bào thai, Đức Giê-su, Con Thiên Chúa đã đón nhận sự nuôi dưỡng, chăm sóc từ những giọt máu đào và dòng sữa yêu thương của Mẹ.

Nói về Mẹ thì không bao giờ hết, chẳng có ngôn ngữ nào trên trần gian có thể giúp con người bộc lộ và diễn tả hết tâm tình về Mẹ, nhất là tình yêu của người Mẹ, một thứ tình không có gì trên trần gian có thể bộc lộ ý nghĩa trọn vẹn của nó. Tình yêu đích thực có sức mạnh khủng khiếp như thế, thay đổi và hoán cải. Thật vậy, Thánh Gio-an nói với chúng ta rằng Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu có sức mạnh biến đổi của và bởi chính Thiên Chúa. Đây không chỉ là chuyện xảy ra với Mẹ mà là chuyện xảy ra với toàn thế giới. Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã sai Con Một của Ngài để chúng ta có được sự sống nhờ Con của Người.

Chính tình yêu đích thực đã đánh động, cảm hóa và làm cho con người phải thay đổi. Bởi tình yêu, Mẹ đã được đặt để trổi vượt hơn mọi loài thụ tao. Vì yêu thương mà Thiên Chúa đã ban tràn đầy ân sủng cho Mẹ. Sau cùng, với tâm tình tạ ơn, Mẹ đã xin vâng bằng chính cuộc sống phó thác của Mẹ. Trong tâm tình đó chúng ta học và nhận ra rằng chỉ có sống trong yêu thương mới lĩnh nhận đủ năng lực để thay đổi, và sau đây là một trải nghiệm.

Truyện kể sau đây tuy mang tính hư cấu nhưng phản ảnh một sự thật nói lên động lực giúp con người thay đổi. Câu chuyện được kể lại như sau: Có một thanh niên kia, sinh ra và lớn lên trong một gia đình đạo hạnh. Cả nhà, cả xóm đều là người công giáo. Nhưng anh thuộc loại ngỗ nghịch và có chất phản loạn. Anh gia nhập băng đảng, phá làng phá xóm, nổi tiếng ăn chơi, trộm cắp, xì ke, ma túy, cướp của, thứ nào anh cũng thử qua. Nói chung anh là loại người bại hoại trong xóm giáo. Cuối cùng anh bị bắt đi tù. Trong trại tù anh có nhiều thời gian để suy nghĩ về những thói hư tật xấu và tự hứa sẽ thay đổi. Đến ngày mãn hạn tù. Anh hân hoan bước ra và tràn đầy hy vọng vào cuộc sống tương lai.

Trong khi thi hành án treo trong thời gian còn lại, anh đã gặp và làm quen với một thiếu nữ, chị mới từ nơi khác dọn đến. Mối quan hệ của họ giống như những nhân vật trong tiểu thuyết ngôn tình. Vừa gặp mặt tưởng chừng như đã quen biết nhau lâu rồi. Họ yêu nhau, cưới nhau và sống hạnh phúc bên nhau.

Sau này, anh đã tâm sự: “Trước khi tôi gặp nhà tôi, có vẻ như tôi không biết những từ xinh đẹp, tôn trọng và yêu mến có ý nghĩa gì! Nhưng khi tôi gặp vợ tôi và cảm nhận sự yêu thương của nàng, tôi dường như nhìn thấy vẻ đẹp trên khắp thế giới, đâu đâu cũng là màu hồng. Tôi trân trọng từng giây từng phút bên cạnh nhà tôi, dường như cả thế giới này đều tập trung quanh nàng. Tôi, nhìn lại những việc làm trong thời gian qua, cảm thấy kinh hoàng khi khám phá ra trong quá khứ tôi đã lạm dụng tình yêu và sự tín thác của người khác chỉ để đạt sự khoái cảm cho riêng mình. Vì vợ tôi, từ ngày đó tôi không dám có những ý nghĩa tục tĩu với người khác nữa. Tôi đã ngừng hút thuốc và chỉ uống rượu nhẹ mang tính xã giao từ ngày quen cô ấy. Tôi ngạc nhiên về mức độ hoán cải và thay đỗi trong cuộc sống của tôi. Tôi cảm ơn Chúa vì tình yêu của Chúa đã ban cho chúng tôi qua việc gặp gỡ vợ tôi. Nàng đã và đang mang lại ý nghĩa và giá trị cho tất cả những gì tôi làm trong cuộc sống.”

Tuy rằng tình yêu nhân loại vẫn còn bị giới hạn, nhưng với sự chân thật mà họ trao cho nhau trong tình yêu có thể làm con người thay đổi, phương chi là mối tình chung thủy của Thiên Chúa, Đấng yêu chúng ta mãi mãi. Cụ thể là cuộc viếng thăm của Thiên Chúa mà sứ thần truyền tin cho Đức Maria cưu mang hôm nay là một biến cố vô cùng trọng đại diễn tả mối tình tuyệt hảo của Thiên Chúa dành cho dân của Người. Ngày hôm nay, khi ôn lại mối tình cao cả trong hành trình nhập thể này cũng là cơ hội giúp chúng ta vui lên, vì Chúa đã đến và cư ngụ giữa chúng ta để qua việc đón nhận Người, chúng ta sẽ là những cánh tay nối dài nguồn suối tình yêu của Thiên Chúa cho nhau.

Ước chi lời sứ thần “không có gì mà Thiên Chúa không thể làm được’ đã ứng nghiệm qua cuộc sống xin vâng của Mẹ thế nào thì cũng tác động trong cuộc sống xin vâng của chúng con như thế. Amen!

 

Thursday, 10 December 2020

CHỨNG NHÂN LÀ AI?

 


Người ta nói ‘con đường dài nhất là con đường từ đầu đến bàn tay’. Khi nói như thế, họ thường ám chỉ đến những người nói nhiều mà làm lại ít hay không làm gì cả. Nói thì ai nói mà chẳng được, nhưng biến lời nói thành việc làm là điều thật khó khăn. Và một khi ‘ngôn hành hợp nhất’, nghĩa là lời nói đi đôi với việc làm thì lời mà chúng ta nói sẽ có hiệu quả hơn nhiều. Lúc đó, chứng nhân đã sống đúng với chứng từ của mình. Trong trường hợp như thế, chứng nhân không có lối sống chạy theo đám đông, hay làm để chiều lòng người khác; nhưng là sống thật với điều mà người đó xác tín và lối sống như thế luôn để lại gương sáng cho người khác noi theo. Quả thật, tuy chứng từ cần thiết nhưng người sống trong thế giới ngày nay cần nhiều chứng nhân hơn các chứng từ.

Trở lại hoàn cảnh thực tế mà chúng ta đang sống. Ai cũng có thể nhìn ra mức độ mà chúng ta bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa thế tục. Các bậc phụ huynh đang phải đối diện với những xáo trộn bởi quan niệm và cách thức sống đạo do con cái họ gây ra. Đối với các ngài thì việc sống đạo hầu như tập trung trong nhà thờ với các nghi thức phụng tự. Làm gì cũng được miễn sao chu toàn bổn phận như tuân giữ các giới răn, và nhất là đừng bao giờ bỏ tham dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật. Trái lại, con cháu của họ xem ra không mấy thiết tha và mặn nồng với các nghi lễ phụng vụ. Bù vào đó là tinh thần công bằng và cách xử thế tôn trọng sự thật của các cháu rất đáng được tôn dương. Bởi thế, hai bên khó gặp nhau. Cuối cùng phần thua vẫn nghiêng về phía cha mẹ.

Thật ra, trước khi trách các cháu, chúng ta cũng nên dành đôi phút trong Mùa Vọng này để nhìn lại chính mình. Chúng ta hãy tự hỏi là mình đã chuẩn bị môi trường và lối sống đạo như thế nào để con cái của chúng mình có thể đứng vững trước sự bành trướng của nền văn minh thế tục. Một môi trường lành mạnh, một thói quen đạo đức phải được xuất phát từ trong gia đình. Gia đình là cái nôi, là môi trường đầu tiên đào tạo và có sức ảnh hưởng trên tương lai của các cháu sau này.

Sau đây là một vài thí dụ cụ thể. Tuy rất cũ, nhưng lại được chúng mình lập đi lập lại nhiều lần. Vẫn biết chửi thề không phải là tội trọng, chỉ hơi khó nghe, nhưng cũng khiến cho con người thoát được nỗi bực tức nếu biết dừng lại đúng lúc. Tuy nhiên, làm sao chúng ta có thể dậy con cái mình bớt tật xấu này trong khi đó mỗi khi mở miệng ông bố luôn bắt đầu bằng câu “ĐM mày, tao đã bảo là đừng chửi thề, thế mà mày lại cứ văng tục” Hay có bà mẹ kia dậy con mình đừng nói dối. Nhưng ngay sau đó, mẹ dặn con rằng: nếu Bác A gọi điện thoại cho mẹ thì con hãy nói với bác là mẹ con dặn con nói với bác rằng mẹ con không có mặt ở nhà nhé. Rồi có câu chuyện mà các cháu kể lại cho nhau rằng mẹ hay dặn tôi là đừng nói về người khác, thế mà mẹ có thể ngồi hằng giờ bên điện thoại với bạn của mẹ để nói về chuyện của người khác.

Đấy là những trường hợp cụ thể mà chúng ta thường gặp thấy trong cuộc sống hàng ngày. Với lối giáo dục, dậy bảo con như thế thì làm sao chúng ta có thể thuyết phục các cháu về lối sống đạo của mình. Tuy nhiên, điều làm tôi cảm phục khi được nghe một số phụ huynh đã nhìn nhận rằng họ cũng phải chịu trách nhiệm vì đã không làm gương sáng cho con cháu. Qua lời than van này, quí vị đã giúp tôi nhớ lại rằng, điều kiện tiên quyết của người làm chứng là sống đúng chứng từ của mình. Đây cũng là điều mà các nhà lãnh đạo các tôn giáo thường quả quyết rằng con người ngày nay cần nhiều nhân chứng sống hơn bao giờ hết. Và, Gioan Tẩy giả trong bài Tin Mừng hôm nay là guơng mẫu trong sứ mạng làm chứng như thế.

Anh chị em thân mến,

Trước khi tìm hiểu để rút ra bài học chứng nhân mà Gio-an để lại, chúng ta hãy ôn lại bối cảnh xã hội và các sinh hoạt tôn giáo dưới thời Gio-an xuất hiện. Hẳn anh chị em vẫn còn nhớ rằng đời sống và các sinh hoạt tôn giáo của dân Do Thái được nuôi dưỡng bởi truyền thống ngôn sứ. Các vị ngôn sứ đã đóng một vai trò thật quan trọng trong việc nuôi dưỡng niềm tin của dân chúng hướng về ngày cứu độ. Tiên tri Ma-la-ki là vị ngôn sứ đã xuất hiện khoảng 450 năm trước khi Gioan đến. Khoảng thời gian 450 năm không là một giai đoạn ngắn, ít nhất cũng trải qua 4, 5 thế hệ. Vì không được huớng dẫn bởi các ngôn sứ, cho nên thời gian này có thể được ví như khoảng thời gian dân Do Thái mò mẫm trong đêm tối. Và như vậỵ, họ không chỉ mong chờ mà còn rất cần được Ánh sáng dẫn đường chỉ lối!

Với một bối cảnh như thế, và lòng dân chúng đang mong chờ vị Cứu Tinh, Đấng Cứu Thế sẽ đến để giải thoát họ khỏi ách nô lệ, cứu thoát họ khỏi cảnh lầm than. Vì thế, khi nghe tin Gioan xuất hiện, họ từ Giê-ru-sa-lem, khắp miền Giu-đê và vùng lân cận sông Gio-đan hân hoan kéo đến nghe ông giảng. Trái lại, thái độ của các vị lãnh đạo đền thờ lại khác. Họ sai các thầy tư tế và mấy ông thuộc phái Lê-vi đến chất vấn ông. Nhân dịp này, Gio-an đã làm chứng cho họ biết Ngài không phải là Đức Ki-tô, cũng chẳng phải là Ê-li-a hoặc là ngôn sứ gì cả. Ngài chỉ là tiếng hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đấng Cứu Thế đến như ngôn sứ Isaia đã nói.” (Ga 1: 20-23) Rồi mấy người trong nhóm Pha-ri-sêu lại hỏi tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đức Kitô. Gio-an trả lời: “Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi, và tôi không đáng cởi quai dép cho Người.” (Ga 1: 26-27)

Giả như Đức Giê-su không xuất hiện và Gio-an không nói sự thật về vai trò của ông thì khách quan mà nói trong bối cảnh xã hội và tôn giáo như thế; Thánh Gio-an Tẩy giả, với lối sống khổ hạnh và lời rao giảng có sức lôi cuốn mãnh liệt, có thể bị ngộ nhận là Đấng Cứu Thế mà tòan dân đang mong chờ. Gioan đã không chỉ làm chứng bằng lời nói; nhưng gương can đảm, sống theo sự thật làm cho chúng ta phải cảm phục. Gioan đuợc ví như cây sậy phất phơ trước gió, nhưng Ngài đã không ngã gục trước quyền lực của những người đến hỏi tội ông. Gio-an cũng không đánh lừa dân chúng. Ngài can đảm nói lên vai trò của nhân chứng về sự thật. Và vì sự thật mà Ngài đã bị xử tử, bị giết chết. Đó chính là con đường mà ngôn sứ phải đi: chỉ biết nói sự thật cho dù phải chết.

Gioan không phải là ánh sáng mà chỉ là nhân chứng của ánh sáng. Ánh sáng đích thật là Chúa Giêsu. Vì thế khi Đức Kitô bắt đầu sứ vụ công khai thì vai trò của Gio-an phải lu mờ. Cũng như Gio-an, chúng ta phải biết chấp nhận sự thật về mình, sự giới hạn của mình, không giả tạo, không qui công về mình cái mà mình không có, điều mà mình không làm. Bằng không, chúng ta có thể trở thành những con người bất mãn và chỉ biết đòi hỏi.

Đây là sự cao trọng trong sứ mạng của Gio-an. Chính vì biết mình là ai, và cần phải làm gì trong chương trình của Thiên Chúa, nên Gio-an đã trở thành con người vĩ đại như lời ca tụng của Đức Giêsu: “Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn Gioan tẩy giả. Tuy nhiên kẻ nhỏ nhất trong Nước trời còn cao trọng hơn ông.” Bởi vì, vai trò của Gio-an dù có cao trọng đến đâu thì ông vẫn chỉ là người dọn đường; còn chính Chúa Giê-su và những kẻ thuộc về Người mới thuộc về Nước Trời. Đó là giáo lý mới, tin vui mà Chúa Giê-su đã đem lại. Chính Gio-an cũng phải thay đổi lối nhìn và cách sống sao cho phù hợp với những yêu sách của Tin Mừng về Nước Trời. Với Đức Giêsu, trong Vương Quốc của Người, chúng ta hãy cứ để cho ‘cỏ lùng và lúa tốt” cùng mọc lên, cho ‘chiên và dê’ cùng sống chung. Việc phân xử là của Chúa. Thời gian phân xử cũng thuộc về Ngài. Còn bây giờ, chúng ta hãy noi gương Chúa Cứu Thế, đi trên con đuờng mà Người đã đi, chiếu hy vọng đến những nơi tăm tối, đem tin vui tận hang cùng ngõ hẻm của thế giới; rao giảng Đấng có quyền làm cho “kẻ què được đi (trên con đường của Chúa), người điếc được nghe (tin vui cứu độ), người mù được nhìn thấy (ánh sáng) và kẻ chết được sống lại từ cõi chết”.

Tóm lại, vai trò của Gio-an là giới thiệu và dọn đường cho Đấng Cứu Thế; còn Chúa Giêsu và chúng ta là niềm hy vọng, niềm vui, nguồn sống sung mãn của Thiên Chúa cho người khác. Có như thế, niềm vui trong khi cử hành lễ Giáng Sinh không phải là việc tưởng niệm biến cố đã xẩy ra trong quá khứ; nhưng là tiếp tục công việc mà Chúa Giêsu đã làm cho những người bị thương tật, những con người bị bỏ rơi mà chúng ta nói đến ở phần trên. Ước mong ân huệ của đêm Giáng Sinh sẽ biến cuộc đời của chúng ta trở thành nhân chứng của niềm vui; niềm vui này giống như niềm vui mà sứ thần đã loan báo: “Hôm nay Đấng cứu Thế đã sinh ra” không phải tại Bê-lem nhưng bởi lối sống của chúng tôi, là những người có nhiệm vụ cao trọng hơn Gio-an Tẩy giả.

Vui lên hỡi anh chị em vì ngày cứu độ của Thiên Chúa chúng ta đã gần kề. Amen!